Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong thần khí dũng lạc.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn

* Tưởng Niệm & Tri Ân * *** Lm. Anrê Dũng Lạc ***

Điểm Nhấn

Tin Thời Sự

Điểm Sách

Văn Hóa - Biên Khảo

Văn Hóa & Niềm Tin

Hội Nhập Văn Hóa

Bản Tin Dũng Lạc

Bộ Kinh Tộc Việt

Chữ Quốc Ngữ

Văn Học - Nghệ Thuật

Dũng Lạc Slide Show

Gọi Nắng Vào Tim

Những Cuộc Thi Viết

Đồng Xanh Thơ

Vườn Ô-liu - Trang Văn

Góp Nhặt Thơ

Thánh Nhạc

Hội Họa

Làng Văn Hữu Dũng Lạc

Tâm Linh - Tôn Giáo

Sứ Điệp

Thần Khí - Chữa Lành

Lời Chúa Mỗi Ngày

Bẻ Bánh Lời Chúa

Tin Vui Thời Điểm

Mẹ Maria

Vị Thánh Trong Ngày

Các Thánh Việt Nam

Mục Vụ Gia Đình

Tư Tưởng Văn Hóa Việt

  Kinh Thánh Công Giáo
  Lớp Vô Nhiễm
 Biên Tập - Tác Giả
 Văn Hóa Biên Khảo
  Đông Lan
  Đỗ Hữu Nghiêm, Gs.
  Đỗ Mạnh Tri
  Đỗ Quang Chính, sj.
  Đỗ Xuân Quế, Lm.
  Cao Phương Kỷ, Lm
  Hoàng Đình Hiếu
  Hoàng Kim Toan, Lm
  Hoàng Sỹ Quý, SJ.
  Kim Ân
  Kim Định
  Lê Đình Thông, phd.
  Lê Hữu Mục, Gs.
  Lê Ngọc Bích
  Lê Văn Lân, MD.
  Mặc Giao
  Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
  Nguyễn Ước
  Nguyễn Công Bình, Ls.
  Nguyễn Chính Kết
  Nguyễn Cung Thông
  Nguyễn Khắc Dương
  Nguyễn Khắc Xuyên
  Nguyễn Long Thao
  Nguyễn Sơn Hà
  Nguyễn Thái Hợp, Gm.
  Nguyễn Tiến Cảnh, MD.
  Nguyễn Trí Dũng
  Nguyễn Trọng
  Nguyễn Văn Thành
  Nguyễn Văn Trung
  Nguyễn Vy Khanh
  Nguyễn Xuân Quang, MD.
  Nguyên Nguyên
  Phùng Văn Hóa
  Phan Đình Cho, Lm
  Phạm Đình Khiêm
  Phạm Hồng Lam
  Trần Cao Tường, Lm.
  Trần Hữu Thuần
  Trần Mạnh Trác
  Trần Ngọc Báu
  Trần Ngọc Thêm, Gs
  Trần Phong Vũ
  Trần Văn Đoàn
  Trần Văn Cảnh
  Trần Văn Kiệm, Lm.
  Trần Văn Toàn, Gs.
  Trần Vinh
  Vũ Đình Trác, Lm
  Vũ Hùng Tôn, Lm
  Vũ Kim Chính, Lm
  Vũ Thành, Lm
  Vĩnh An
 Văn Học Nghệ Thuật
  Đàm Trung Phán
  Đàm Trung Pháp, Gs.
  Đỗ Thảo Anh
  Đồng Xanh Thơ Nha Trang
  Đồng Xanh Thơ Sài Gòn
  Đồng Xanh Thơ Xuân Lộc
  Đường Phượng Bay
  Bùi Nghiệp
  Cát Đơn Sa
  Cao Huy Hoàng
  CLB Thánh Nhạc
  Du Tử Lê
  Duy Hân
  Gã Siêu
  Gioa-Kim
  Hàn Mặc Tử
  Hạnh Đức
  Hương Kinh Trà Lũ
  Hoài Việt
  Hoàng Diệp, Lm.
  Hoàng Kim Tốt, Lm.
  Hoàng Thị Đáo Tiệp
  Hoa Văn
  Joseph Trần Việt Hùng, Lm
  Lê Đình Bảng
  Lê Miên Khương
  Lê Ngọc Hồ
  Lưu Minh Gian
  Mặc Trầm Cung
  Mi Trầm, Lm.
  Ngô Duy Linh, Lm.
  Nguyễn Đức Cung
  Nguyễn Hùng Sơn
  Nguyễn Phú Long
  Nguyễn Thị Hồng Diệp
  Nguyễn Thị Kim Loan
  Nguyễn Thị Phượng
  Nguyễn Trung Tây, Lm
  Nguyễn Văn Hiển
  Nguyễn Văn Sướng
  Nguyễn Xuân Văn, Lm
  Nhóm Thánh Vịnh Nauy
  Nhất Chi Vũ
  Nt Goretti Võ Thị Sương
  Phạm Huyền
  Phạm Trung
  Quyên Di
  Sông Thanh
  Sr. Hoàng Yến
  Sr. Sương Mai
  TC. Phan Văn Khải
  Thái Anh
  Thanh Sơn
  Tin Yêu
  Trà Lũ
  Trịnh Tây Ninh
  Trọng Nhân, Lm
  Trăng Thập Tự, Lm.
  Trầm Tĩnh Nguyện
  Trần Mộng Tú
  Trần Ngọc Chương
  Trần Ngọc Mười Hai
  Trần Ngọc Thu
  Trần Thu Miên
  Trần Trung Đạo
  Tuấn Kim
  Vũ Thái Hòa
  Vũ Thủy
  Vân Đỳnh
  Việt Hải - Los Angeles
  ViVi
  Xuân Ly Băng
  Xuân Minh
 Tâm Linh Tôn Giáo
  Đỗ Tân Hưng
  Đặng Xuân Thành, Lm.
  Đinh Quang Thịnh, Lm.
  Bùi Tuần, Gm.
  Lê Công Đức, Lm.
  Lê Quang Vinh
  Mai Tá
  Minh Anh gp Huế, Lm.
  Ngô Phúc Hậu, Lm.
  Nguyễn Cao Siêu, S.J.
  Nguyễn Hữu An, Lm.
  Nguyễn Kim Ngân
  Nguyễn Lợi, Lm
  Nguyễn Tầm Thường, sj.
  Nguyễn Văn Nội
  Nguyễn Văn Thư, Lm
  Nguyễn Văn Thuận, HY
  Phạm Hoàng Nghị
  Phạm Văn Tuệ, Lm.
  Tý Linh
  Têrêsa Ngọc Nga
  Trần Mỹ Duyệt
  Trần Minh Huy, Lm.
  Vũ Văn An
  Võ Xuân Tiến, Lm.
 Nhiếp Ảnh
  Cao Tường
  Diệp Hải Dung
  Nguyễn Đức Cung
  Nguyễn Ngọc Danh
  Sen K
  Tâm Duy, Lm
Nối kết - Links
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo1
Truyền Thông - Công Giáo2
Hải Ngoại - Quốc Tế - Quốc Nội
  Văn Hóa - Biên Khảo
ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ - BÀI 3: HỆ THỐNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ TẠI ĐHQG

1. Thế nào là tín chỉ, đào tạo tín chỉ.
2. Sứ Mệnh, Mục Đích, Mục Tiêu của ĐHQG.
3. Hệ thống đào tạo tín chỉ tại ĐHQG.
4. Kết luận: những đề nghị.

******************

III. HỆ THỐNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ TẠI ĐHQG 

Trường hợp ĐHQG, một khi đã có mục đích rõ ràng, đó là đào tạo giới lãnh đạo, thì việc quan trọng mà chúng ta phải đặt ra, đó là, người lãnh đạo cần phải có khả năng gì? Và làm thế nào để giúp học viên đạt được khả năng đó.

Chỉ khi nhận ra được điều này, chúng ta mới có thể xây dựng một lập trình đào tạo (curriculum), thiết lập “syllabus” tức là thiết lập (1) các lớp học (căn bản hay phụ thuộc), (2) các buổi thảo luận (seminar), thí nghiệm (experiment class), thực tập (practicum) và (3) đưa ra những chương trình nghiên cứu (research-project) (để phát huy khả năng). Lúc bấy giờ ta mới có thể xác định môn “buộc chính” (obligatory, Pflichtfach), môn “buộc phụ” (mandatory, Wahlfach), môn theo ý thích hay môn “tự chọn” (optional, Freifach), vân vân. Cũng lúc bấy giờ, ta mới có thể quy định một môn học cần bao nhiêu tín chỉ (mỗi tín chỉ bao nhiêu tiết học, bao nhiêu tiết tập); mỗi môn thảo luận cần bao nhiêu tín chỉ (bao nhiêu tiết thảo luận, bao nhiêu tiết thực tập, bao nhiêu tiết tự sửa soạn, tự nghiên cứu). Thường thì môn chính đòi hỏi một số lượng tín chỉ (thực tập, thí nghiệm) gấp đôi môn phụ, và môn phụ gấp đôi môn tự chọn. Thí dụ, nếu môn chính đòi hỏi 8 tín chỉ, thì môn phụ cần 4 tín chỉ, trong khi môn tự chọn chỉ có được 2 tín chỉ.

 

3.1. Khả Năng của Người Lãnh Đạo 

Trong qúa khứ, ta thường dùng những mỹ từ như “thấy xa, biết rộng” dành cho giới lãnh đạo nhưng chỉ giải thích, thấy xa, biết rộng theo nghĩa “bác học” (biết nhiều, biết rộng). Thực ra, biết xa biết rộng chỉ là một điều kiện, nhưng chưa đủ để tạo ra nhà lãnh đạo.

Theo thiển kiến của người viết, ta có thể tóm khả năng của giới lãnh đạo vào 3 điểm chính: (1) khả năng nhận ra những vấn nạn (nguyên nhân, hậu qủa, cách thế) của thời đại, của đất nuớc, của nhân loại, hay những vấn nạn của một chính sách, một chế độ, một hệ thống... (2) khả năng tìm ra giải đáp tốt nhất (hiệu quả nhất, không gây ra những hậu qủa xấu, v.v.) cho những vấn nạn trên, và (3) nhất là nhìn ra hướng đi mới của nhân loại, xã hội, và đất nước, để có thể vạch ra hướng đi cho dân tộc, đất nước, hay cho ngành chuyên môn, hay tạo ra ý nghĩa mới cho cuộc sống, v.v.. Nói theo triết lý Tam tài, người lãnh đạo là người biết được nguyên lý “thiên thời và địa lợi”.

Cả ba khả năng trên đều mang các tính chất: (1) sáng tạo (tìm ra giải pháp, tìm ra được đường hướng mới, ý nghĩa mới), (2) nhận thức sắc bén (phê phán sâu sắc, phân tích kỹ lưỡng, tổng hợp chặt chẽ, hiệu qủa), (3) kiến thức sâu rộng (trí chi cách vật).

Ngoài ba khả năng trên, khả năng quản lý, tổ chức, điều hành. Những khả năng này đòi hỏi sự hiểu biết tâm lý, cũng như những kiến thức ngôn ngữ (sức thuyết phục, năng lực biểu tả ngôn ngữ), xã hội (văn hóa, tập tục), khoa học. Ta có thể tóm khả năng này vào nguyên lý “nhân hòa”.[25]

Vậy nên, khả năng của giới lãnh đạo phải là “thiên thời, điạ lợi, nhân hòa”. Để đạt tới mục tiêu này, lập trình tín chỉ phải theo một hệ thống hợp lý: tạo cho học viên những khả năng đó. Mà để tạo những khả năng như vậy, thì đào tạo gồm hai phần chính: (1) đào tạo năng lực, và (2) đào tạo khả năng.

 

3.2. Lập Trình (curriculum academicum)  

Khi đã nhận ra mục tiêu rõ ràng đó là đào tạo năng lực và khả năng lãnh đạo, chúng ta có thể xây dựng một lập trình cho ban Cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ như sau:

 

Đào Tạo Năng Lực

Đào tạo năng lực đòi hỏi 1/2 tổng lượng tín chí. Nói cách khác, nếu cử nhân cần 120-140 tín chỉ, thì lập trình đào tạo năng lực cần quãng 60 tín chỉ. Trong lập trình sau đại học, những môn học đào tạo năng lực không cần thiết nữa (vì đã đủ năng lực có được vào những năm đại học), do đó các môn học, thảo luận, nghiên cứu tập trung vào đào tạo khả năng nhiều hơn.

Đào tạo năng lực bao gồm:

(a) Giúp học viên nắm vững những phương pháp căn bản để làm việc, tự học, tự luynệ tập. Những phương pháp này bao gồm phương pháp suy tư, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, v.v. Những phương pháp tạo ra năng lực căn bản chung cho mọi môn như kỹ thuật đọc sách, tóm lược, phân tích, tổng hợp: dậy vào những lục cá nguyệt đầu.

(b) Giúp học viên luyện tập phương pháp chuyên biệt của mỗi ngành: đó là năng lực chuyên môn cho từng bộ môn khác nhau: thí dụ như phương thế làm thống kê, phỏng vấn, làm thí nghiệm, cách sử dụng công cụ (dụng cụ), cách viết luận văn, cách dùng ngôn ngữ, cách đi tìm vấn nạn (phê phán), v.v.

(c) Tất cả lập trình đào tạo (curriculum) cho những lục cá nguyệt đầu nhắm tới giúp mỗi học viên có những năng lực kể trên. Lập trình này gồm các lớp: lớp tập cách thảo luận (proseminar), tập quan sát (observations, experiments), tập đọc sách, tóm luợc sách (texte-reading), tập viết luận văn (paper-writing), v.v. Nói tóm lại, tất cả các lớp hay thảo luận đều quy về phương pháp, tức tạo ra năng lực (kỹ năng) căn bản để học tập và nghiên cứu.

   Vậy nên, khi thiết lập lập trình trong những lục cá nguyệt đầu tiên, ta cần phải chú ý tới:

-         Những môn học công cụ chung cho tất cả

-         Những môn học căn bản làm công cụ hay nền tảng cho bộ môn khác nhau

-         Những môn học chuyên môn tạo ra năng lực cần thiết.

(d) Đào tạo những bộ môn này, ta thường tạo ra những mô hình hữu hiệu nhất và áp dụng vào giáo dục. Mô hình hữu hiệu gồm các bước, các động tác những phương cách hữu hiệu nhất (mà ta chỉ cần theo một cách máy móc và đúng phương thức). Hiệu qủa sẽ tới một cách dễ dàng hơn. Đây là những mô hình các đại học Mỹ đã tạo ra sau bao năm kinh nghiệm học hỏi. Mô hình này (mà ta nhầm lẫn dồng nghĩa với tín chỉ) được Hạnh Nguyên tóm lại (một cách lạc quan) như sau: “Với hình thức này, người học chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức và quản lý thời gian, nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu” (bài đã dẫn).

Thực ra tác gỉa Hạnh Nguyên chỉ nói đúng một phần. Trong việc đào tạo năng lực, một hình thức mà ta từng xây dựng sau bao năm sửa đổi học tập, thường có hiệu qủa cao hơn những cách thế khác mà ta đương mò mẫm, hay hơn hẳn những cách thế “thiếu thí nghiệm” hay “thiếu kinh nghiệm”, thiếu hệ thống. Nhưng khi theo một mô hình nào đó, ta thường mang tính chất “máy móc” nhiều hơn. Do vậy, sinh viên thường thụ động hơn. Những tác động căn bản, những phương thức cơ bản, từ bước một tới bước hai, không thể thay đổi một cách dễ dàng. Thành thử, cần phải nói, đó là, chỉ khi mà ta nhắm đến đào tạo khả năng, lúc ấy người học mới chủ động thực sự. Sự việc học viên có thể tự tạo cho mình một hình thức mới, chứng tỏ khả năng sáng tạo của mình, trong khi sự kiên học viên học bắt chước, hay phản xạ, chỉ là lối đào tạo năng lực hay kỹ năng mà thôi.

 

Đào Tạo Khả Năng

Đào tạo khả năng đòi hỏi nhiều hơn là đào tạo năng lực. Sự khác biệt về đào tạo một chuyên viên (hay thợ giỏi) với một kỹ sư, hay sự chênh lệch giữa một kỹ sư và một nhà phát minh sáng tạo nói lên sự khác biệt giữa hai cách thế đào tạo năng lực và khả năng. Vậy nên, đào tạo khả năng đòi hỏi nhiều sáng tạo, tự ý thức, tự phê bình, tự sửa sai, v.v.

-         Những Môn học sáng tạo giúp học viên có những tư tưởng mới

-         Những Môn học Chuyên môn giúp tới sáng tạo công cụ

-         Những Phương thế tạo ra khả năng, phát triển khả năng đi tìm vấn nạn và đi tìm giải đáp

Nói cách chung, đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ, không phải là đào tạo chuyên viên cấp cao, nhưng đào tạo những người lãnh đạo, đi tìm những kỹ thuật mới, những tư tưởng mới, những vấn nạn, những giải đáp hữu hiệu, những phương hướng mới, v.v.

 

3.3. Giáo Trình (Syllabus) 

Khi đã phân ra hai loại đào tạo: đào tạo năng lực (kỹ năng) và đào tạo khả năng, chúng ta có thể chia giáo trình thành hai cấp: cầp đào tạo năng lực (kỹ năng), và cấp đào tạo khả năng (khả năng chuyên môn).

Trong giai đoạn thứ nhất, tất cả các giáo trình căn bản (syllabus) nhắm đến đào tạo năng lực, kỹ năng. Các môn học thường theo hình thức được xây dựng trên những nguyên tắc sau đây:

(1)  Thông tin về Giảng viên, về thời khắc biểu, về nơi làm việc, giờ giấc cho sinh viên...

(2)  Thông tin về điều kiện theo học, cách thế giảng dạy hay thí nghiệm, hay thực tập

(3)  Thông tin về môn học: mục tiêu, phương pháp, nội dung, qúa trình giảng dậy, sách học, sách tham khảo

(4)  Thông tin về cách thi, thời gian thi, hệ thống cho điểm, cách thế tăng điểm thưởng, v.v.

(5)  Những thông tin cần thiết về đạo đức trong nghiên cứu, hay trong thi cử (Aggie Honor Code).

(6)  Những thông tin cần thiết khác như về chính sách giáo dục không phân biệt giới tính, mầu da sắc tộc, chính trị, tôn giáo... 

Trong giai đoạn thứ hai đào tạo vể khả năng, ta cũng theo một lập trình tương tự như các giáo trình của giai đoạn thứ nhất. Nhưng đặc biệt them vào:

(7)  Thông tin về nhiệm vụ tự nghiên cúu, các sinh hoạt hàn lâm (seminars, conferences, symposia, colloquia) mà sinh viên phải tham gia.

(8)  Thời khắc biểu cho nghiên cứu sinh về nghiên cứu, viết luận luận án, gặp giảng viên...

(9)  Những diều nghiên cứu sinh phải thực hiện

(10)        Những sách, tài liệu, thí nghiệm... sinh viên phải đọc, phải làm.. 

 

Dưới đây là một thí dụ về cách viết một giáo trình, hay syllabus.

 

Khoa Triết Học

Ban Cử Nhân Triết Học

Môn học Lịch Sử Tư Tưởng Âu châu vào Thế Kỷ thứ 19

Giảng viên: Tiến sĩ Nguyễn Quang Hưng

2 Tín chỉ:

 

(1) Thông tin về Giảng viên

 Giảng viên: Nguyễn Quang Hưng (xin sinh viên gọi tôi Thầy Hưng).

-         Tiến sĩ ĐH Passau, Cộng Hòa Liên Bang Đức

-         Giảng viên chính Bộ môn Lịch sử Triết họcTây phương

-         Phòng làm việc: Phòng số ..., Khoa Triết Học.

-         Giờ cho sinh viên: Mỗi Thứ hai 10.00-11.30, Mỗi thứ ba: 14.00-15.00; mỗi thứ sáu 15.00-16.00. Ngoài ra có thể gặp theo hẹn.

-         Điện thoại:

-         E-mail:

-         Gia trang cá nhân (Homepage)

(2) Thông tin về Điều kiện, cách thế giảng dậy và điểm thi:

-         Lớp học này chỉ dành cho những sinh viên đã theo các lớp lịch sử triết học cổ đại, trung cổ và cận đại. Lớp học thuộc ban Cử Nhân Triết Hoc.

-         Lớp học bao gồm: bài giảng của giảng viên dựa theo tập sách của Karl Loewith, From Hegel to Nietzsche - The Revolution of Thought in 19th Century (Holt, 1961), và thảo luận. Học viên phải tham dự các buổi thảo luận, và tự trình bầy về 1 đề tài liên quan do giảng viên giao cho

-         Điểm lớp bao gồm:

- Tham dự lớp             10  (1)

- Thi giữa lục cá nguyệt     20  (2)

- Báo cáo                 20  (2)

- Bài viết                  20  (2)

- Thi kết thúc              30  (3)

Tổng cộng                100 (10)

-         Thời gian và Nơi thi: Theo thông báo của Khoa (Đại học)

(3) Thông tin về Nội Dung Lớp Học & Mục Đích Lớp Học

-         Mục đích: Nhắm giúp học viên có một cái nhìn bao quát về sự cải biến của tư tưởng nhân loại, đặc biệt vào thế kỷ thứ 19 tại Âu châu. Đồng thời gợi ý cho học viên biết cách tư duy và phê phán bằng cách học và phê phán những nhà tư tưởng thời danh vào thế kỷ 19.

-         Nội dung: Lớp học gồm 14 bài giảng thuyết và 14 giờ thảo luận, như sau: BG. 1: Sự biến động của Âu châu, và sự phát sinh tư tưởng mới; BG 2: Cách mạng Pháp và sự Tìm kiếm Tự chủ trong Khoa học; BG 3:... (và vân vân).

-         14 giờ thảo luận bao gồm các bài báo cáo của mỗi học viên liên quan với mỗi đề tài trên. Sau mỗi báo cáo, sẽ có phần thảo luận mọi người phải tham dự.

-         Sách tham khảo: Ngoài tập sách của Loewith, Giảng viên sẽ có 1 danh mục các đề tài liên quan, cũng như một số tài liệu tham khảo (công bố trong bảng kê mục, hay sẽ công bố trong giờ lớp). Sinh viên yêu cầu phải tham khảo những tài liệu này.  

(4) Thông tin về Thi và về Cách thế Cho Điểm và Khiếu nại

Sẽ tổ chức hai kì thi viết: Giữa Lục Cá Nguyệt và Kết thúc @0 điểm cho kì thi Giữa và 30 điểm cho kì thi Kết thúc. Tổng cộng 50 (5) điểm. Thơi gian và nơi thi do Khoa (Đại học) xếp đặt.

-         Đề thi rút từ tập sách của Loewith (đã nói trên), và từ Giáo trình của giảng viên.

-         Mỗi kì thi, giảng viên ra 3 đề tài, thí sinh được quyền chọn 2 trong 3 đề tài trên. Mỗi đề tài chiếm một nửa tổng số điểm thi (10 cho kì thi giữa, và 15 cho kì thi kết thúc).

-         Điểm thi sẽ được công bố 1 tuần (7 ngày) sau kì thi. Thí sinh nào không đồng ý với điểm thi, có thể khiếu nại (với đơn khiếu nại viết tay, hay đánh máy) với Giảng viên trong vòng 1 tuần. Qúa thời hạn, Giảng viên có quyền không chấp nhận đơn khiếu nại.

-         Khiếu nại bao gồm: (1) đơn khiếu nại viết tay, với những lí do, (2) bài thi (nếu giảng viên đã trả lại cho thí sinh) (3) các tài liệu liên quan về đề thi (không rõ ràng, hay sai, hay dễ hiểu nhầm, về câu trả lời), (3) nêu lí do tại sao muốn đổi (thêm) điểm, v.v. (4) nếu vì tính sai điểm, thì phải nêu ra rõ ràng (có bản copy).

-         Đơn khiếu nại sẽ không được chấp nhận nếu thí sinh không theo phương thức trên.

(5) Thông tin về viện Tham dự lớp và Báo cáo (miệng) và Bài báo cáo (viết).

Để có thể thu thập kiến thức, và hiểu được sự phát triển của các nền tư tưởng, học viên yêu cầu phải tham dự đều đặn lớp. Nếu không có lí do mà không dự lớp qúa 3 lần, sẽ bị từ chối không được tham dự hai kì thi.

Tham dự lớp bao gồm: (1) Nghe, và đặt câu hỏi cũng như đối thoại về những nội đung bài giảng, (2) Chấp nhận một đề tài do Giảng viên giao cho, tự nghiên cúu, và trình bầy quãng 10-15 phút trước lớp, cũng như (3) viết thành một bài Báo cáo khoa học (quãng 5 trang giấy). Điểm tham dự bao gồm (1) tham dự (10 điểm), (2) Báo cáo miệng (20 điểm), và (3) Bài báo cáo khoa học (20 điểm).

(6)  Thông tin về Luật Viết bài:

-         Học viên không được phép sao, chép bài của bất cứ ai.

-         Những trích dẫn phải nêu rõ nguồn gốc, tác giả, tác phẩm, nhà xuất bản, nơi xuất bản, thời gian, trang sách, v.v.

-         Nếu bị phát hiện sao chép (tức đạo văn), sinh viên sẽ bị đánh trượt và đưa ra hội đồng kỷ luật.

 

3.4. Giảng Dậy và Nghiên Cứu

   Như chúng tôi nhấn mạnh ở trên, Đại học tầm mức thế giới hay Đại học Đẳng cấp Quốc Tế rất chú trọng về nghiên cứu, nhưng không chỉ vì thuần túy nghiên cứu, mà mục đích là để tìm ra hướng mới cho thế giới, tìm ra những khó khăn, và tìm ra những giải đáp cho thế giới và con người. Nói cách khác, nghiên cứu mục đích chính vẫn là để phục vụ xã hội và con người. Nói cách khác, nghiên cứu là để đào tạo. và như vậy, nghiên cứu không thể tách rời khỏi giáo dục, giảng dậy. Như vậy, ĐH không thể và không được phép chỉ đóng gọn mình vào vai trò nghiên cứu mà thôi. ĐHQG cùng lúc là trung tâm nghiên cứu nhưng với mục đích để rao truyền kiến thức, đào tạo càng nhiều nhân tài, càng đông các tài năng lãnh đạo. Đây là sự khác biệt giữa các ĐH như Harvard, Princeton, MIT, Caltech, Stanford, Oxford, Cambridge... và Bell Lab hay ITT Lab hay Max Planck Institut (Đức), Centre national de recherche scientifique (?) (Pháp) hay Viện Nghiên Cứu Trung Ương (Hàn Lâm Viện Trung Hoa, Đài Loan). Nên có sự tách biệt giữa ĐHQG và Viện Khoa Học, hay Viện Khoa Học Xã Hội (Việt Nam).

Giảng dậy hay không phải chỉ giảng bài hay, mà phải cung cấp kiến thức mới cho học viên, giúp học viên đạt tới những năng lực căn bản, và khả năng để phát triển. Nghiên cứu là đi tìm kiến thức mới, là đi tìm phương thế tạo ra năng lực, phát triển năng lực, và nhất là kích thích khiến học viên phát hiện và phát triển khả năng vô tận của mình. Kết qủa nghiên cứu cũng là thước đo mức phát triển của đại học nói chung, và chất lượng của sinh viên cách riêng. Chính chất lượng này khiến xã hội tin tưởng vào giáo dục đại học và biểu hiện rõ rệt nhất cái năng lực và khả năng của học viên.

Trong phạm vi nghiên cứu, vì tri thức như biển đại dương nên không thể có một đại học nào có thể dẫn đầu tất cả mọi ngành. Và như vậy, hay hơn cả là phải tìm những đối tượng nghiên cứu (và học hỏi) thiết thực, gần gũi với đời sống của dân Việt và người dân vùng Đông Nam Á. Đó là đi tìm những vấn nạn cũng như những giải đáp cho người Việt và vùng Đông Nam Á. Chỉ như vậy chúng ta mới dễ dàng phát huy được khả năng, và tạo ra năng lực cần thiết. Và chỉ khi nào có thể giải quyết thỏa đáng những vấn nạn của người Việt, thì đại hoc mới xứng đáng là đấu óc của Việt Nam. Tương tự, chỉ khi nào đại học ta có thể giải quyết được những vấn nạn của vùng Đông Nam Á, thì ta mới được công nhận là đại hcọ lãnh đạo. Đại học đẳng cấp thế giới luôn có tham vọng đi tìm những vấn nạn hoàn vũ, những giải đáp hoàn vũ và những hướng đi cho toàn nhân loại.

Tác giả Trần Văn Đoàn
   dunglac@gmail.com