Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong thần khí dũng lạc.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn

* Tưởng Niệm & Tri Ân * *** Lm. Anrê Dũng Lạc ***

Điểm Nhấn

Tin Thời Sự

Điểm Sách

Văn Hóa - Biên Khảo

Văn Hóa & Niềm Tin

Hội Nhập Văn Hóa

Bản Tin Dũng Lạc

Bộ Kinh Tộc Việt

Chữ Quốc Ngữ

Văn Học - Nghệ Thuật

Dũng Lạc Slide Show

Gọi Nắng Vào Tim

Những Cuộc Thi Viết

Đồng Xanh Thơ

Vườn Ô-liu - Trang Văn

Góp Nhặt Thơ

Thánh Nhạc

Hội Họa

Làng Văn Hữu Dũng Lạc

Tâm Linh - Tôn Giáo

Sứ Điệp

Thần Khí - Chữa Lành

Lời Chúa Mỗi Ngày

Bẻ Bánh Lời Chúa

Tin Vui Thời Điểm

Mẹ Maria

Vị Thánh Trong Ngày

Các Thánh Việt Nam

Mục Vụ Gia Đình

Tư Tưởng Văn Hóa Việt

  Kinh Thánh Công Giáo
  Lớp Vô Nhiễm
 Biên Tập - Tác Giả
 Văn Hóa Biên Khảo
  Đông Lan
  Đỗ Hữu Nghiêm, Gs.
  Đỗ Mạnh Tri
  Đỗ Quang Chính, sj.
  Đỗ Xuân Quế, Lm.
  Cao Phương Kỷ, Lm
  Hoàng Đình Hiếu
  Hoàng Kim Toan, Lm
  Hoàng Sỹ Quý, SJ.
  Kim Ân
  Kim Định
  Lê Đình Thông, phd.
  Lê Hữu Mục, Gs.
  Lê Ngọc Bích
  Lê Văn Lân, MD.
  Mặc Giao
  Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
  Nguyễn Ước
  Nguyễn Công Bình, Ls.
  Nguyễn Chính Kết
  Nguyễn Cung Thông
  Nguyễn Khắc Dương
  Nguyễn Khắc Xuyên
  Nguyễn Long Thao
  Nguyễn Sơn Hà
  Nguyễn Thái Hợp, Gm.
  Nguyễn Tiến Cảnh, MD.
  Nguyễn Trí Dũng
  Nguyễn Trọng
  Nguyễn Văn Thành
  Nguyễn Văn Trung
  Nguyễn Vy Khanh
  Nguyễn Xuân Quang, MD.
  Nguyên Nguyên
  Phùng Văn Hóa
  Phan Đình Cho, Lm
  Phạm Đình Khiêm
  Phạm Hồng Lam
  Trần Cao Tường, Lm.
  Trần Hữu Thuần
  Trần Mạnh Trác
  Trần Ngọc Báu
  Trần Ngọc Thêm, Gs
  Trần Phong Vũ
  Trần Văn Đoàn
  Trần Văn Cảnh
  Trần Văn Kiệm, Lm.
  Trần Văn Toàn, Gs.
  Trần Vinh
  Vũ Đình Trác, Lm
  Vũ Hùng Tôn, Lm
  Vũ Kim Chính, Lm
  Vũ Thành, Lm
  Vĩnh An
 Văn Học Nghệ Thuật
  Đàm Trung Phán
  Đàm Trung Pháp, Gs.
  Đỗ Thảo Anh
  Đồng Xanh Thơ Nha Trang
  Đồng Xanh Thơ Sài Gòn
  Đồng Xanh Thơ Xuân Lộc
  Đường Phượng Bay
  Bùi Nghiệp
  Cát Đơn Sa
  Cao Huy Hoàng
  CLB Thánh Nhạc
  Du Tử Lê
  Duy Hân
  Gã Siêu
  Gioa-Kim
  Hàn Mặc Tử
  Hạnh Đức
  Hương Kinh Trà Lũ
  Hoài Việt
  Hoàng Diệp, Lm.
  Hoàng Kim Tốt, Lm.
  Hoàng Thị Đáo Tiệp
  Hoa Văn
  Joseph Trần Việt Hùng, Lm
  Lê Đình Bảng
  Lê Miên Khương
  Lê Ngọc Hồ
  Lưu Minh Gian
  Mặc Trầm Cung
  Mi Trầm, Lm.
  Ngô Duy Linh, Lm.
  Nguyễn Đức Cung
  Nguyễn Hùng Sơn
  Nguyễn Phú Long
  Nguyễn Thị Hồng Diệp
  Nguyễn Thị Kim Loan
  Nguyễn Thị Phượng
  Nguyễn Trung Tây, Lm
  Nguyễn Văn Hiển
  Nguyễn Văn Sướng
  Nguyễn Xuân Văn, Lm
  Nhóm Thánh Vịnh Nauy
  Nhất Chi Vũ
  Nt Goretti Võ Thị Sương
  Phạm Huyền
  Phạm Trung
  Quyên Di
  Sông Thanh
  Sr. Hoàng Yến
  Sr. Sương Mai
  TC. Phan Văn Khải
  Thái Anh
  Thanh Sơn
  Tin Yêu
  Trà Lũ
  Trịnh Tây Ninh
  Trọng Nhân, Lm
  Trăng Thập Tự, Lm.
  Trầm Tĩnh Nguyện
  Trần Mộng Tú
  Trần Ngọc Chương
  Trần Ngọc Mười Hai
  Trần Ngọc Thu
  Trần Thu Miên
  Trần Trung Đạo
  Tuấn Kim
  Vũ Thái Hòa
  Vũ Thủy
  Vân Đỳnh
  Việt Hải - Los Angeles
  ViVi
  Xuân Ly Băng
  Xuân Minh
 Tâm Linh Tôn Giáo
  Đỗ Tân Hưng
  Đặng Xuân Thành, Lm.
  Đinh Quang Thịnh, Lm.
  Bùi Tuần, Gm.
  Lê Công Đức, Lm.
  Lê Quang Vinh
  Mai Tá
  Minh Anh gp Huế, Lm.
  Ngô Phúc Hậu, Lm.
  Nguyễn Cao Siêu, S.J.
  Nguyễn Hữu An, Lm.
  Nguyễn Kim Ngân
  Nguyễn Lợi, Lm
  Nguyễn Tầm Thường, sj.
  Nguyễn Văn Nội
  Nguyễn Văn Thư, Lm
  Nguyễn Văn Thuận, HY
  Phạm Hoàng Nghị
  Phạm Văn Tuệ, Lm.
  Tý Linh
  Têrêsa Ngọc Nga
  Trần Mỹ Duyệt
  Trần Minh Huy, Lm.
  Vũ Văn An
  Võ Xuân Tiến, Lm.
 Nhiếp Ảnh
  Cao Tường
  Diệp Hải Dung
  Nguyễn Đức Cung
  Nguyễn Ngọc Danh
  Sen K
  Tâm Duy, Lm
Nối kết - Links
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo1
Truyền Thông - Công Giáo2
Hải Ngoại - Quốc Tế - Quốc Nội
  Bản Tin Dũng Lạc
BẢN TIN DŨNG LẠC SỐ 5 - CHỦ ĐỀ: TRUYỀN THÔNG    Attach file

Chủ đề : Truyền Thông

...Có file dạng PDF kèm Attach file

Nội dung

·        Lời ngỏ / Ban Biên Tập Bản Tin Dũng Lạc

·        Sắc lệnh Inter mirifica của Công Ðồng Vatican I I về « Truyền Thông Xã Hội » / Giáo Hoàng Học Viện (dịch)

·        Vài nét về Truyền Thông Xã Hội tại Việt Nam / Lm Antôn Nguyễn Ngọc Sơn

·        Bản tin Hiệp Thông, số 29-30, tháng 5 và 7 năm 2005 

·        Một kế hoạch dịch thuật / Lm Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh

·        Mục vụ Văn hóa là gì ? / Trần Văn Cảnh

·        Có cần lập một Ban Mục Vụ Văn Hóa trong mỗi Cộng Ðoàn Công Giáp không ?/ Lm Trần Cao Tường

·        Vấn đề « Triết lý giáo dục » / P. Nguyễn Thái Hợp, O.P.


LỜI NG

« Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. »

Ca ông bà khuyên phải chọn bạn mà chơi, chọn thầy mà học, chọn sách mà đọc, chọn báo mà xem, chọn tiếng mà nghe, chọn hình mà nhìn, chọn phim mà coi, chọn « nét » mà lên,…Tắt một điều : phải có tin tức và tri thức. Nhưng không phải tin tức và tri thức nào cũng làm mình «rạng» ra. Vì quả thực, có những tin tức và kiến thức làm mình thành «đen». Vai trò của các phương tiện truyền thông tin tức và tri thức quả thật quan trọng. Trong lãnh vực đức tin và ở Việt Nam, các mục tử giữ đàn chiên Chúa đã hơn một lần thao thức và đặt vấn đề : Phải xử lý và kiểm soát các phương tiện truyền thông thế nào ? Phải hướng dẫn việc xử dụng các phương tiện truyền thông làm sao ?

Truyền thông gồm đủ mọi sản phẩm tin tức và tri thức, được ghi giữ trên nhiều phương tiện chất liệu chuyên chở : giấy (gỗ, lá, tre,..), phim nhựa, băng nhựa, đĩa nhựa, khóa điện tử,… được thực hiện và phổ biến qua nhiều kỹ thuật chuyên nghiệp : sách, báo, ca, kịch, tranh, ảnh, truyền thanh, truyền hình, mạng lưới điện tử internet, intranet,…Trong lãnh vực văn hóa Việt Nam và đức tin Công giáo, các vị lãnh đạo giáo hội cũng như những người làm văn hóa, thông tin, giáo dục đã hơn một lần băn khoăn và tự hỏi : Phải sản xuất và phát triển những phương tiện truyền thông nào ? Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có những phương tiện truyền thông nào ? Phải sáng tác, dịch thuật những gì ? In ấn và phổ biến những tài liệu nào ? Phải tổ chức mục vụ văn hóa làm sao ? Phải giáo dục theo chiều hướng và triết lý nào ?

Góp phần trả lời những vấn đề trên, Bản Tin Dũng Lạc số 5_010508, ngoài những bài thường xuyên về « văn hóa và đức tin », hân hạnh gởi đến quí độc giả quan điểm và đóng góp của một số tác giả quen thuộc về chủ đề « Truyền Thông ».

Xin kính chúc quí độc giả mọi điều an lành.

Trần Văn Cảnh

Nhóm Chủ Trương Mạng Lưới Dũng Lạc

A. Liên Lạc: Lm. Trần Cao Tường, Nguyễn Long Thao, Trần Vinh.

● email:  dunglac@gmail.com ; 


B. Chủ Biên - Phụ Trách
1. Tủ Sách Dũng Lạc:
Lm. Trần Cao Tường, Nguyễn Trí Dũng, Trầm Tĩnh Nguyện, Nguyễn Trường Khoan, Lê Thị Kim Loan.
2. Văn Hóa - Biên Khảo: Trần Văn Cảnh, Lm. Nguyễn Thái Hợp, op.,  Đỗ Hữu  Nghiêm, Lm. Cao Phương Kỷ, Trần Văn Toàn, Nguyễn Đăng Trúc.
3. Văn Học - Nghệ Thuật: Lm. Trăng Thập Tự, Cao Huy Hoàng, Trần Mộng Tú, Trần Thu Miên, Quyên Di, Lê Đình Bảng, Lê Ngọc Hồ. 

4. Tâm Linh - Tôn Giáo: Lm. Nguyễn Tầm Thường, sj., Đỗ Tân Hưng

5. Phòng Ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền: Nguyễn Đức Cung, Cao Tường, Nguyễn Ngọc Danh.. 

6. Dũng Lạc Slide Show: Vũ Thái Hòa. 

7. Bản Tin Dũng Lạc: Lm. Phạm Văn Tuệ, Trần Văn Cảnh. email : bantindunglac@gmail.com 

8. Thời Điểm: Phạm Hoàng Nghị, Nguyễn Long Thao, Trần Vinh, Anthony Lê...

9. Điểm Sách: Trần Hữu Thuần

10. Webmaster: email :  admindunglac@gmail.com 

Về Mục Lục

SẮC LỆNH INTER MIRIFICA CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II VỀ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI (4-12-1963)

LTS: Bản Tin Dũng Lạc số 5_010508 xin giới thiệu một vài đoạn, trích từ văn bản đầu tiên và quan trọng nhất về truyền thông xã hội của Công đồng Vatican II. Toàn bài có thể dễ dàng tìm thấy trong Bản Tin HIỆP THÔNG, số 29-30, tháng 5-7, năm 2005.

 LỜI MỞ ĐẦU

 1. (Ý nghĩa từ ngữ)

 Trong những phát minh kỳ diệu về kỹ thuật, mà tài năng con người, nhờ Thiên Chúa trợ giúp, đã tìm ra từ thụ tạo, nhất là trong thời đại chúng ta, Người Mẹ Giáo Hội, đặc biệt ân cần đón nhận và theo dõi những phát minh tác độïng mãnh liệt tới tinh thần con người và cả những phát minh tạo nên những phương thế mới để truyền thông một cách hết sức dễ dàng đủ loại tin tức, tư tưởng và định hướng. Tuy nhiên giữa những phát minh này, trổi vượt hơn cả là những phương tiện tự bản tính không những có thể tác động và ảnh hưởng đến từng cá nhân, mà còn đến chính công chúng và toàn thể cộng đồng nhân loại như báo chí, điện ảnh, phát thanh, truyền hình và những thứ khác tương tự. Do đó, những phương tiện này đáng được gọi là những phương tiện truyền thông xã hội.

 2. (Lý do thúc đẩy Công đồng quan tâm đến vấn đề này)

 Người Mẹ Giáo Hội cũng biết rằng những phương tiện đó, nếu được sử dụng đúng đắn, sẽ phục vụ hữu ích cho nhân loại vì chúng đóng góp một cách hiệu quả vào việc giải trí, đào tạo tinh thần cũng như việc củng cố và mở rộng Nước Chúa. Giáo Hội cũng biết rằng con người có thể sử dụng chúng ngược lại với ý định của Đấng Tạo Hoá, và làm nguy hại cho chính mình. Hơn nữa, lòng Mẹ hiền hết sức xót xa khi thấy những thiệt hại rất thường xảy ra cho xã hội loài người do việc cố ý dùng sai những phương tiện này.

 Vì thế, ý thức được sự quan tâm của các giáo hoàng và các giám mục đến vấn đề rất quan trọng này, Thánh Công đồng nghĩ rằng mình có nhiệm vụ đề cập đến những vấn đề chính yếu liên hệ đến những phương tiện truyền thông xã hội. Hơn nữa, Thánh Công đồng cũng tin tưởng rằng giáo thuyết và chỉ thị được trình bày sau đây không những sẽ ích lợi cho ơn cứu độ của các Kitô hữu mà còn cho cả sự tiến bộ của toàn thể cộng đồng nhân loại.

 CHƯƠNG I

GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI

 3. (Nhiệm vụ của Giáo Hội)

 Vì Giáo hội Công giáo được Chúa Kitô thiết lập để mang lại ơn cứu độ cho hết mọi người do đó có nhiệm vụ phải rao giảng Phúc Âm, nên Giáo hội Công giáo cũng nhận thấy mình có bổn phận dùng cả phương tiện truyền thông xã hội để loan báo ơn cứu độ và dạy con người sử dụng chúng cách đúng đắn.

 Như thế, Giáo Hội đương nhiên có quyền sử dụng và sở hữu bất cứ loại nào trong các phương tiện truyền thông xã hội, tuỳ theo sự cần thiết hay lợi ích cho việc giáo dục Kitô hữu và cho việc phục vụ ơn cứu độ các linh hồn. Các vị chủ chăn đáng kính có nhiệm vụ huấn luyện và hướng dẫn các tín hữu sao cho họ biết dùng những phương tiện này để đạt tới ơn cứu độ và sự toàn thiện của mình cũng như của toàn thể gia đình nhân loại.

 Ngoài ra, giáo dân đặc biệt có bổn phận làm cho các phương tiện này thấm nhuần giá trị nhân bản cũng như giá trị Kitô giáo, để chúng đáp ứng đầy đủ sự mong đợi lớn lao của xã hội nhân loại và đúng với ý định của Thiên Chúa.

 9. (Bổn phận của khán, thính giả)

 Tất cả mọi người sử dụng, nghĩa là những độc giả, khán giả và thính giả, nhận được thông điệp qua các phương tiện, từ việc tự do lựa chọn của cá nhân mình, đều có những bổn phận đặc biệt. Thật vậy, việc lựa chọn đúng đắn đòi họ phải cổ vũ những gì có giá trị thật sự về mặt đạo đức, khoa học, nghệ thuật; và phải tránh những gì gây nên hay tạo dịp cho chính họ bị thiệt hại về phần thiêng liêng, hoặc có thể trở nên gương xấu khiến cho người khác bị nguy hiểm, hoặc ngăn cản các việc truyền thông tốt, làm lợi cho các việc truyền thông xấu. Điểm cuối cùng này thường xảy ra khi người ta trả tiền cho những người khai thác những phương tiện này chỉ vì lý do lợi nhuận.

 Vì thế, để chu toàn luật luân lý, chính những người sử dụng không được coi nhẹ bổn phận phải tìm hiểu đúng lúc những lập trường đã được phê chuẩn của cơ quan vị thẩm quyền về những vấn đề đó, và phải tuân giữ những lập trường đó theo tiêu chuẩn lương tâm ngay thẳng. Hơn nữa, để chống lại những thông tin gây ảnh hưởng xấu một cách dễ dàng hơn, và để chắc chắn theo đuổi thông tin tạo ảnh hưởng tốt, họ phải chú tâm hướng dẫn và đào luyện lương tâm mình bằng những phương thế thích hợp.

 11. (Bổn phận của các nhà sản xuất)

 Trách nhiệm luân lý chính yếu đối với việc sử dụng đúng đắn những phương tiện truyền thông xã hội quy về các nhà báo, nhà văn, diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất, người thực hiện, người làm chương trình, nhà phát hành, người bán chương trình, những nhà phê bình * và tất cả những ai, bằng cách này hay cách khác, góp phần vào việc thực hiện hay phổ biến những sản phẩm truyền thông này. Trong hoàn cảnh hiện tại của nhân loại, mọi người đều thấy rõ rằng những người đó mang những trách nhiệm hết sức quan trọng, vì chính họ, trong khi thông tin và tạo áp lực lên công chúng, có thể hướng nhân loại đi vào con đường tốt đẹp hay xấu xa.

 Bởi thế, họ có bổn phận tìm cách phối hợp hài hoà những yếu tố kinh tế, chính trị hay nghệ thuật để chúng không bao giờ đi ngược lại với lợi ích chung. Muốn đạt tới điều đó một cách dễ dàng hơn, chính họ phải tham gia vào những hiệp hội liên quan đến nghề nghiệp của mình vì những hiệp hội này bắt buộc các hội viên tôn trọng nguyên tắc luân lý trong những hoạt động và  trách nhiệm nghề nghiệp, và nếu cần, buộc họ công khai cam kết tuân giữ một bản luật luân lý7*.

 Họ phải luôn nhớ rằng phần lớn các độc giả và khán thính giả là thanh thiếu niên. Những lớp người này cần sách báo và phim ảnh để giải trí lành mạnh và tâm hồn hướng đến những lý tưởng cao đẹp. Hơn nữa, họ phải giao cho những người xứng đáng và chuyên môn để thực hiện việc truyền thông những điều liên quan đến tôn giáo sao cho việc này được hoàn thành với tất cả sự tôn trọng thích đáng.

 CHƯƠNG II

PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI VÀ VIỆC TÔNG ĐỒ

 14. (Sáng kiến của người Công giáo)

 Trước hết, phải cổ vũ báo chí lành mạnh. Tuy nhiên, để độc giả thấm nhuần đầy đủ tinh thần Kitô giáo, cũng phải thúc đẩy và phát triển báo chí chính thức của Công giáo9*, nghĩa là báo chí - hoặc do chính giáo quyền hoặc do những người Công giáo trực tiếp đề xướng và điều hành - được công khai xuất bản trong tinh thần xây dựng, củng cố và cổ vũ những công luận phù hợp với luật tự nhiên, với giáo lý và quy luật Công giáo, cũng như để phổ biến và giải thích đúng đắn những sự kiện liên quan đến đời sống Giáo Hội. Nên khuyên các tín hữu cần phải đọc và phổ biến báo chí Công giáo để họ biết phán đoán mọi biến cố theo quan điểm Kitô giáo.

 Phải dùng mọi phương thế hữu hiệu để phát động và nâng đỡ việc sản xuất và trình chiếu những phim ảnh có ích cho việc giải trí lành mạnh, cho nền văn hoá và nghệ thuật của nhân loại, nhất là những phim ảnh dành riêng cho giới trẻ. Muốn thế phải nâng đỡ và đồng thời phối hợp nỗ lực, sáng kiến của những nhà sản xuất và những nhà phân phối có lương tâm, phải dùng lời phê bình thiện ý hay giải thưởng để hỗ trợ quảng bá những phim ảnh có giá trị và phải liên kết những rạp chiếu do người Công giáo và người đứng đắn khai thác.

 Cũng thế, phải giúp đỡ hữu hiệu những buổi phát thanh, truyền hình lành mạnh, nhất là những chương trình phát thanh, truyền hình thích hợp với gia đình. Phải khéo léo cổ vũ những chương trình Công giáo, để nhờ đó dẫn đưa khán thính giả tham dự vào đời sống Giáo Hội và làm cho họ thấm nhuần những chân lý tôn giáo. Nếu cần cũng phải lo thành lập các đài Công giáo, tuy nhiên phải cẩn thận lo liệu cho chương trình phát ra của các đài này có chất lượng và hiệu quả cao.

 Hơn nữa, nên lo liệu cho nền kịch nghệ cao quý và cổ truyền, một nghệ thuật từ nay được phổ biến sâu rộng nhờ những phương tiện truyền thông xã hội, biết hướng về việc giáo dục khán thính giả về mặt nhân bản cũng như đạo đức.

 15. (Huấn luyện các tác giả, soạn giả, nhà sản xuất...)

 Để đáp ứng những nhu cầu vừa trình bày, phải đào tạo kịp thời những linh mục, tu sĩ và giáo dân để họ có đầy đủ khả năng chuyên môn thích đáng trong việc sử dụng những phương tiện này vào mục đích tông đồ.

 Trước hết, phải huấn luyện giáo dân vững chắc về kỹ thuật, giáo thuyết và luân lý, bằng cách tăng thêm số trường học, phân khoa và học viện, để các nhà báo, nhà làm phim, người soạn chương trình phát thanh, phát hình và những người liên hệ, có thể được huấn luyện đầy đủ, thấm nhuần tinh thần Kitô giáo, nhất là học thuyết xã hội của Giáo Hội. Cũng phải đào tạo và giúp đỡ các nghệ sĩ để họ dùng tài nghệ mình phục vụ xã hội con người một cách thích hợp. Sau cùng, phải chuẩn bị kỹ lưỡng các nhà phê bình văn chương, phim ảnh, phát thanh, truyền  hình và các người khác nữa... để mỗi người hoàn toàn thấu triệt nghề nghiệp của mình; lại phải chỉ dạy và khuyến khích họ luôn đưa ra những nhận định nhấn mạnh đúng mức khía cạnh luân lý.

  19. (Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông)

 Để thi hành bổn phận mục vụ tối cao về những phương tiện truyền thông xã hội, Đức Giáo hoàng có một Uỷ ban riêng của Toà Thánh.

  KẾT LUẬN

 23. (Chỉ dẫn mục vụ)

 Để mọi nguyên tắc và tiêu chuẩn về những phương tiện truyền thông xã hội của Thánh Công đồng này được thi hành, Thánh Công đồng trực tiếp uỷ nhiệm cho Cơ quan của Toà Thánh đã nói ở số 19, với sự giúp đỡ của những nhà chuyên môn thuộc các quốc gia khác nhau, lo xuất bản một tập sách chỉ dẫn mục vụ.

 24. (Lời khuyên kết thúc)

 Hơn nữa, Thánh Công đồng này tin tưởng rằng mọi con cái Giáo Hội sẽ tự nguyện đón nhận và cẩn thận tuân giữ những giáo huấn và tiêu chuẩn trong Sắc lệnh này. Như thế, khi sử dụng những phương tiện đó, họ không bị thiệt hại, trái lại, cũng như muối và ánh sáng, họ ướp mặn trái đất và soi sáng thế gian. Ngoài ra, Thánh Công đồng mời gọi mọi người thiện chí, nhất là những người nắm giữ các phương tiện trên, hãy chăm lo quy hướng chúng về mục tiêu duy nhất là giúp ích cho xã hội loài người, vì vận mệnh của xã hội này ngày càng lệ thuộc vào việc sử dụng đúng đắn những phương tiện truyền thông. Nhờ vậy, cũng như xưa Danh Chúa đã được tôn vinh qua những công trình nghệ thuật cổ kính, nay Người cũng được vinh danh qua những phát minh mới, đúng như lời Thánh Tông đồ: “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13,8).

 Tất cả và từng điều đã được ban bố trong Sắc lệnh này đều được các Nghị phụ Thánh Công đồng chấp thuận. Và dùng quyền Tông đồ Chúa Kitô trao ban, hợp cùng các Nghị phụ khả kính, trong Chúa Thánh Thần, chúng tôi phê chuẩn, chế định và quyết nghị, và những gì đã được Thánh Công đồng quyết nghị, chúng tôi truyền công bố cho Danh Chúa được vinh quang.

 Roma, tại Đền Thánh Phêrô, ngày 4-12-1963

Tôi, PHAOLÔ, Giám mục Giáo hội Công giáo

Tiếp theo là chữ ký của các Nghị phụ

(Nguồn : http://hdgmvietnam.org/demo/Ban-Tin-Hiep-Thong-Chi-Tiet/default.aspx?BTHTNo=29-30&string_date=5/1/2005&string_dateto=7/1/2005&pageno=4&pk=29)

Về Mục Lục

VÀI NÉT VỀ HIỆN TRẠNG TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM

“Hiện tượng truyền thông hiện nay thúc đẩy Giáo Hội phải xem xét lại về mục vụ và văn hoá để có thể thích ứng được với thời đại của chúng ta. Hơn ai hết, các mục tử phải gánh lấy trách nhiệm này. Mọi điều khả thi đều phải được đưa ra thực hiện để Tin Mừng có thể thấm nhập vào xã hội, kích thích con người lắng nghe và chấp nhận sứ điệp của Tin Mừng" (x. Gioan Phaolô II, Tông huấn Pastores Gregis, số 30, 2003; Tông thư Sự phát triển nhanh chóng về Công nghệ Truyền thông, số 8, ngày 24-1-2005). Lời nhắn nhủ trên đây của ĐTC Gioan Phaolô II như đang mời gọi những người có trách nhiệm trong Giáo Hội quan tâm đến truyền thông.

 Để giúp các mục tử cũng như bạn đọc hiểu biết đôi nét về hiện trạng truyền thông xã hội tại Việt Nam, chúng tôi xin cung cấp một ít thông tin và số liệu liên quan tổng hợp được từ các sách báo chính thức của nhà nước. Một ít số liệu chúng tôi lấy từ cuốn Niên Giám Thống kê 2003 do Tổng cục Thống kê xuất bản tại Hà Nội năm 2004 và có lẽ phải chờ đến giữa năm 2006 mới có số liệu tổng kết của hai năm 2004-2005. Chúng tôi sắp xếp các thông tin trong bài này theo từng mục: sách, báo, phim ảnh, phát thanh, truyền hình và Internet… và chia thành hai phần: phần đầu nói chung về Việt Nam, phần sau nói riêng về Giáo hội Việt Nam.

 1. HIỆN TRẠNG TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI TRONG CẢ NƯỚC

 Việt Nam là một đất nước theo xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nên các phương tiện truyền thông xã hội đều nằm dưới quyền quản lý chặt chẽ của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương. Các phương tiện này là những công cụ được sử dụng để bảo vệ trật tự an ninh xã hội và cũng có thể gây mất trật tự an ninh nếu người dân không biết sử dụng đúng đắn. Theo quan điểm này, quyền tự do phát biểu liên quan đến việc thông tin và nhận thông tin đã bị hạn chế. Tuy nhiên, bắt đầu từ thời kỳ mở cửa, năm 1992, dân chúng đã dần dần có thể tham gia vào một số lĩnh vực truyền thông như xuất bản sách báo, làm phim, truy cập các nguồn thông tin từ mạng Internet hoặc mở các websites với sự cho phép và quản lý của chính quyền. Hiện nay, nhà nước có chủ trương xã hội hoá các hoạt động văn hoá, thể thao, y tế, giáo dục nhưng chưa rõ ràng về thông tin (Báo Tuổi Trẻ, ngày 27-7-2005, tr.1).

 Ngoài nhận định chung trên đây, trong mỗi lĩnh vực truyền thông riêng biệt, mức độ cởi mở hay hạn chế cũng khác nhau tuỳ theo từng địa phương và trình độ hiểu biết của người dân. Thí dụ, ta thấy có sự khác biệt giữa thủ đô Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh với nhiều tỉnh thành khác về việc kiểm duyệt nội dung sách báo, phim ảnh. Tuy nhiên, theo xu hướng phát triển của các phương tiện truyền thông hiện nay, dù Nhà nước đã cố gắng nhưng khó lòng kiểm soát việc sử dụng và cả những lạm dụng đối với các phương tiện này. Cụ thể, các máy in màu được bán tự do cho các công ty và tư nhân khiến việc in ấn sách báo kéo theo cả việc in thêm, in lậu, in nối bản. Hoặc điện thoại di động và truyền hình kết nối với mạng Internet dẫn đến việc thu nhận và phát tán những phim ảnh đồi truỵ.

 Vì thế, việc tìm hiểu về hiện trạng truyền thông xã hội hy vọng giúp người Kitô hữu thấy được một vài vấn đề và cả những lạm dụng nguy hại trong lĩnh vực này.

 1.1. Sách

 Số đầu sách trong cả nước năm 2003 là 14.059 so với 13.515 vào năm 2002 và được in thành 222,8 triệu bản. Đây là số bản in chính thức nhưng trong thực tế có hàng triệu cuốn sách in thêm ngoài số lượng đăng ký hoặc in lậu không có phép do nhiều lý do như để tránh xuất bản phí cao (trung bình từ 5-7% tính trên giá bán ấn phẩm và không được giảm theo luỹ tiến về số lượng nên càng in nhiều càng phải đóng phí nhiều), không muốn trả tác quyền hoặc chi phí thực hiện khâu chế bản…

 Trong số đầu sách đó, có 9.755 do Cục Xuất bản Trung ương cấp giấy phép và 4.304 do Sở Văn hoá Thông tin địa phương cho phép. 13.934 là sách quốc văn với 221,976 triệu bản và chỉ có 125 đầu sách ngoại văn với 864.000 bản. Nếu tính theo đề mục có 4.872 đầu sách giáo khoa với số lượng 201,686 triệu bản, chiếm hơn 90% bản in.

 Số lượng sách ở Việt Nam, ngoài sách giáo khoa, vẫn còn rất ít so với tỷ lệ người dân: 21 triệu bản sách so với 80 triệu dân hiện nay - như vậy cứ 4 người mới có 1 cuốn sách. Tỷ lệ này thấp so với các nước phát triển và nhiều nước trong khu vực.

Giá trị sách soạn ra chưa cao, thí dụ sách văn học: năm 2003 có 2.359 đầu sách với 3.116.000 bản: như vậy mỗi đầu sách chỉ được in trung bình 1.300 bản. Sách kỹ thuật có 2.495 đầu sách với 3.940.000 bản, trung bình 1.500 bản/đầu sách. Sách khoa học xã hội có 1.968 đầu sách với 4.012.000 bản, trung bình 2.000 bản/đầu sách. Chỉ có sách thiếu nhi có 2.240 đầu sách với 9.218.000 bản, trung bình 4.100 bản/đầu sách. Chỉ có sách ngoại văn có số in cao: 125 đầu sách với 864.000 bản, trung bình 6.700 bản/đầu sách.

 - Ngoài ra, ta cũng cần phải kể thêm 28,054 triệu bản văn hoá phẩm gồm những bưu thiếp, tờ bướm quảng cáo, nhãn băng đĩa các loại… (x. Tổng Cục Thống kê, Niên Giám Thống kê 2003, tr. 504).

 1.2. Báo

 Số lượng báo và tạp chí phát hành năm 2003 là 653,4 triệu bản so với 655,570 triệu bản năm 2002 (x. Tổng Cục Thống kê, Niên Giám Thống kê 2003, tr. 504). Tính đến ngày 20-6-2005, cả nước có hơn 700 tờ báo, tạp chí, gần 1.000 bản tin, phụ trương và 14.000 nhà báo chuyên nghiệp (Tuổi Trẻ, 20-6-2005, tr. 1).

 Số lượng phát hành của một vài tờ báo lớn trong nước (tính đến 6-2005):

 * Nhật báo: Tuổi Trẻ 350.000, Thanh Niên 165.000, Sài Gòn Giải Phóng 130.000, Người Lao Động 85.000, Lao Động 80.000, Hà Nội Mới 32.000.

 * Tuần báo, bán nguyệt san và nguyệt san: Công An TP. HCM 500.000, Thế Giới Phụ Nữ 150.000, Sài Gòn Tiếp Thị 85.000, Tiếp Thị và Gia Đình 67.000, Thời Trang Trẻ 65.000, Tiền Phong 110.000, Phụ Nữ Việt Nam 110.000, Thế Giới Mới 80.000, Kiến Thức Ngày Nay 90.000, Gia Đình và Xã Hội 80.000, Phụ Nữ TP. HCM 75.000, Phụ Nữ Chủ Nhật 80.000.

 Có khoảng 20 tờ báo đã thực hiện báo điện tử trực tuyến, đa số ở TP. HCM.

 Nhận định: Từ mười năm trở lại đây, báo chí Việt Nam phát triển mạnh, nội dung phong phú, đa dạng, hình thức đẹp, phong cách thể hiện ngày càng gần gũi với đời sống. Trong đội ngũ nhà báo nhiều người được đào tạo chuyên nghiệp, có trình độ, bản lĩnh và phẩm chất đạo đức. Báo chí Việt Nam đã có nhiều dấu hiệu hoàn chỉnh như một diễn đàn của nhân dân trong đấu tranh chống tiêu cực, lãng phí, tham nhũng, trong vai trò giám sát các cơ quan điều hành xã hội và góp phần dân chủ hoá đời sống. Khác với giai đoạn 1975-1985, báo chí lúc đó còn gò bó, giáo điều như nhà báo lão thành Trần Bạch Đằng đã nhận xét (Tuổi Trẻ, 20-6-2005, tr. 3). Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn thấy sự phát triển thiếu cân đối, khoa học của nhiều loại hình báo chí dẫn đến tình trạng thông tin chồng chéo, gây lãng phí như có quá nhiều tờ báo nói về thời trang, nhà đẹp, quảng cáo hàng hoá cao cấp, dẫn đến việc chạy theo thương mại, khai thác tình dục, tội ác, kích thích tính tò mò của người đọc hơn là tìm cách giáo dục và phát triển toàn diện con người cũng như xã hội.

 1.3.  Cơ sở in

 Việt Nam có khoảng 500 cơ sở in lớn nhỏ, tập trung nhiều nhất ở thủ đô Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, với 4 phương pháp in chính: in typo, offset, helio và in mạng (in lụa), cộng thêm với cả ngàn cơ sở in lụa, chưa kể các công ty, hoặc tư nhân có những máy in nội bộ như máy photocopy, máy in laser màu và đen trắng có thể làm ra những ấn phẩm "lưu hành nội bộ" mà không xin phép xuất bản. Những ấn phẩm loại này vượt khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước, phổ biến những nội dung tốt, xấu khác nhau.

 Nhận định: Các bộ sách giá trị, dày công nghiên cứu chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ngoài ra, ngành xuất bản thường phải đối mặt với việc in thêm, in lậu, tệ nạn sao chép, vi phạm bản quyền như sửa đổi chút ít và thay tên tác giả… Ngành Văn hoá Thông tin phải đối mặt với việc chưa thống nhất cách đánh dấu giọng theo ngôn ngữ học (thí dụ các từ "hoá", "hoè", "huệ", "huý",…), cách phiên âm tên riêng tiếng nước ngoài (thí dụ Tổng thống "Bush" hay "Bu-sơ") trong các ấn phẩm hoặc trên các thông báo của truyền hình, các bảng quảng cáo… 

1.4. Thư viện

 

Cả nước hiện nay chỉ có một thư viện trung ương, 61 thư viện tỉnh, thành phố, 587 thư viện quận, huyện, 12 thư viện thiếu nhi với tổng số sách là 16.270.000 cuốn (x. Niên Giám Thống kê 2003, tr. 502).

 Hầu hết các thư viện trung ương hay tỉnh thành chưa được trang bị các máy móc điện tử và sách báo điện tử để người đọc có thể truy cập. Ý niệm về thư viện điện tử hãy còn xa lạ với rất nhiều người. Nhìn chung, nhiều người Việt chưa có thói quen đọc sách.

 1.5. Phim ảnh

 Do sự phát triển của truyền hình, Internet, số lượng rạp chiếu phim và khán giả đến xem phim ít hơn so với 10 năm trước đây. Năm 2003, có 104 rạp chiếu phim trong cả nước với 294.700 buổi chiếu do 418 đơn vị hoạt động ngành phim ảnh so với năm 1995 có 220 rạp, 438.300 buổi chiếu của 530 đơn vị (x. Niên Giám Thống kê 2003, tr. 503).

 Đây là xu hướng chung của thế giới do sự phát triển những phương tiện truyền thông mới. Ngày nay muốn xem một phim hay, người ta có thể tải trực tiếp từ mạng Internet xuống hoặc mua đĩa DVD ghi sẵn và xem tại nhà hay hội trường của công ty, xí nghiệp với máy vi tính và data projector. Những rạp chiếu phim hiện đại thường có những thiết bị nghe nhìn đặc biệt để xem những loại phim không thể xem được ở nhà như các loại phim 3 chiều hoặc với màn ảnh rộng 1800 hoặc các hiệu ứng đặc biệt về âm thanh và hình ảnh.

 Vài năm gần đây, Nhà nước mới cho các công ty phim ảnh tư nhân được phép tham gia vào việc sản xuất các phim Việt Nam.

 Nhận định: Nói chung, phim ảnh Việt Nam còn yếu cả về mặt nội dung và kỹ thuật so với các phim nước ngoài nên chưa thu hút được khán giả. Đài truyền hình đã dành "giờ vàng" cho phim Việt Nam trên các đài truyền hình, nhưng số lượng phim còn rất ít, chưa sản xuất được 50 phim một năm, nên không đủ phim để chiếu.

 1.6. Truyền thanh

Theo báo cáo của Bộ Văn hoá Thông tin, ngày 19-1-2005, tại Hội nghị Toàn quốc về Công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực truyền thanh:

 - Hệ thống phát thanh ở Việt Nam có hàng trăm đài phát sóng, riêng Đài Tiếng Nói Việt Nam là đài quốc gia thuộc chính phủ, trực tiếp quản lý 11 đài với công suất 8.000 KW. Địa phương: 64 đài phát thanh trực thuộc Uỷ ban Nhân dân tỉnh thành. Ngoài ra, có 612 đài phát thanh cấp huyện; 7.916 truyền thanh cấp xã.

 - Đài Tiếng Nói Việt Nam (Voices of Vietnam) có 6 hệ chương trình: VOV1: thời sự, chính trị; VOV2: văn hoá đời sống; VOV3: âm nhạc, thông tin giải trí; VOV4: dành cho dân tộc thiểu số; VOV5: dành cho người nước ngoài; VOV6: dành cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài. Tổng thời lượng của 6 hệ chương trình: 452 chương trình với 191 giờ mỗi ngày, hiện phủ sóng 95% diện tích lãnh thổ và 87% số dân cư.

 Số lượng máy thu thanh: khoảng 11 triệu cái, bình quân 7 người 1 máy.

 Nhận định: Hệ thống phát thanh liên tục được cải tiến, tăng thời lượng phát sóng, mở rộng nội dung và đối tượng. Tuy nhiên, chất lượng của các chương trình phát thanh chưa đồng đều, nhiều chương trình còn nghèo thông tin và kém sinh động. Hiện nay, người dân ở tỉnh thành ít nghe đài phát thanh. Người dân ở thôn quê, vùng sâu vùng xa thường nghe đài nhiều hơn. Các đài địa phương là những phương tiện hữu ích để phục vụ đời sống cộng đồng, phát triển kinh tế, xã hội, phòng chống thiên tai, tệ nạn. Tuy nhiên, một số đài phát thanh cấp xã chỉ phát đi nội dung nghèo nàn như đọc đi đọc lại những bài tuyên truyền chính trị, nhiều đài gây phiền hà cho dân chúng vì phát vào những giờ nghỉ trưa hay tối.

 1.7. Truyền hình

 Theo báo cáo của Bộ Văn hoá Thông tin, ngày 19-1-2005, tại Hội nghị Toàn quốc về Công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực truyền hình:

 - Đài Truyền hình Việt Nam (Vietnam Television) là đài quốc gia trực thuộc chính phủ hiện phát trên 5 kênh: VTV1 (chính trị, tổng hợp), VTV2 (khoa học, giáo dục), VTV3 (thể thao, văn hoá, thông tin kinh tế, giải trí), VTV4 (thông tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài), VTV5 (chương trình tiếng dân tộc). Ngoài ra, đài còn trực tiếp quản lý 4 trung tâm truyền hình khu vực chuyên sản xuất và phát sóng các chương trình. Cả nước có gần 50 đài phát sóng truyền hình quốc gia phát lại các chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam và 800 trạm phát lại truyền hình với công suất nhỏ.

 - Cả nước hiện có khoảng 10 triệu máy thu hình và có 85% số hộ gia đình được xem truyền hình. Mỗi ngày trung bình người dân xem truyền hình khoảng từ 2-3 giờ.

 - Hệ thống truyền hình trả tiền được triển khai với 19 đơn vị dịch vụ với nhiều loại hình công nghệ như truyền hình cáp (CATV: Cable Television), truyền hình kỹ thuật số mặt đất, truyền hình viba đa điểm (MMDS: Microwave Multipoint Distribution System), truyền hình trực tiếp qua vệ tinh tới nhà (DTH: Direct To Home) phục vụ nhu cầu cho khoảng 350.000 hộ thuê bao. Hiện nay Đài Truyền hình Việt Nam thuê đường truyền vệ tinh MEASAT cho hệ thống truyền hình trả tiền này (Pay TV).

 Đài Truyền hình Việt Nam đang phối hợp với cơ quan bưu chính viễn thông thử nghiệm các dạng phục vụ mới để truyền hình trên mạng Internet với độ phân giải cao.

 Nhận định: Trong những năm qua, Đài Truyền hình Việt Nam đã không ngừng tăng thời lượng và nâng cao chất lượng chương trình cả về nội dung, kỹ thuật, nghệ thuật và hình thức thể hiện. Đài Truyền hình Việt Nam còn xây dựng được mạng truyền hình toàn quốc từ trung ương đến địa phương, đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật. Tuy nhiên, chất lượng chương trình chưa đồng đều của nhiều đài truyền hình thuộc các tỉnh, thành phố, công suất máy phát lớn mà nhiều đài không đủ khả năng tự sản xuất các chương trình nên tìm cách khai thác các chương trình phim, văn nghệ, thể thao của nước ngoài một cách thiếu chọn lọc, gây nên sự lãng phí về công suất máy phát và có nguy hại cho bản sắc văn hoá dân tộc. Phần lớn thời lượng phát sóng dành để chiếu phim, chủ yếu là phim nước ngoài, nhất là phim Trung Quốc, Hàn Quốc. Việc quản lý nội dung các chương trình truyền hình nước ngoài thu trực tiếp từ vệ tinh còn lỏng lẻo gây nên việc phổ biến những nền văn hoá xa lạ với dân tộc, gây hại cho đạo đức qua những phim ảnh cổ vũ đời sống phóng túng, buông thả, chạy theo hưởng thụ vật chất. Người dân chưa biết cách xem truyền hình trong gia đình nên tốn nhiều thời giờ, sức khoẻ, tiền bạc, ảnh hưởng đến công việc, học hành của con cái.

 1.8. Điện thoại

 Điện thoại trước đây được xem là một phương tiện truyền thông giữa cá nhân với cá nhân nên không phải là phương tiện truyền thông xã hội. Tuy nhiên với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện nay người sử dụng điện thoại có thể nói chuyện trực tiếp với nhiều người cùng một lúc và ở nhiều nơi trên thế giới. Tại Việt Nam, người ta đã bắt đầu triển khai công nghệ này và điện thoại bây giờ cũng được xếp vào một trong những phương tiện truyền thông xã hội.

 Ở Việt Nam người ta vẫn sử dụng nhiều điện thoại cố định. Theo số liệu của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông, cả nước hiện có 10.900.000 máy do Bộ Bưu chính Viễn thông quản lý, trong số đó máy cố định chiếm 52,89%, còn lại là điện thoại di động thuộc hệ thống Vinaphone (091) chiếm 26,73%, Mobiphone (090) chiếm 18,98%, Cityphone chiếm 1,4%. Chúng ta chưa tính số máy trong hệ thống Viettel do quân đội quản lý và hệ thống Sfone (khoảng 1 triệu) do công ty tư nhân liên doanh với Hàn Quốc quản lý. Theo xu thế phát triển trên thế giới, số điện thoại di động sẽ được sử dụng nhiều hơn điện thoại cố định vì những tiện ích như không cần dây dẫn, gọn nhẹ, có những chức năng như tính toán, lưu trữ thông tin, nghe đài, nối mạng Internet, thậm chí cả ghi âm, chụp ảnh, quay phim…

 Trong một số tỉnh, thành nhiều em học sinh học cấp I cũng đã được cha mẹ trang bị điện thoại di động để có thể liên lạc trong việc đưa đón, hoặc giúp cha mẹ kiểm soát việc tham dự giờ học. Tuy nhiên, điện thoại di động cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp khi các em lạm dụng những chức năng hay tiện ích để vui chơi giải trí, thu nạp những đoạn phim đồi truỵ, bạo lực ảnh hưởng xấu đến việc học hành.

 Nhận định: Điện thoại cố định hay di động chỉ là những phương tiện mà nếu  biết sử dụng đúng đắn sẽ mang lại nhiều hiệu quả tốt đẹp. Nhiều người dân Việt Nam hiện nay chưa được đào tạo về kỹ năng sử dụng điện thoại nên đã mất nhiều thời giờ, sức khoẻ, tiền bạc và gây thiệt hại cho cả cộng đồng.

 1.9. Internet và mạng thông tin toàn cầu

 Tuy chỉ mới bắt đầu tham gia vào mạng Internet và nghiên cứu những công nghệ thông tin từ thập niên 90 nhưng Việt Nam đã có những tiến bộ tột bực so với nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á. Hiện nay, có 7,5 triệu người dùng Internet, chiếm 9,1% tổng số dân và cao hơn cả tỷ lệ người sử dụng trung bình của châu Á (8,4%) (x. Tuổi Trẻ, 7-7-2005, tr. 1).

 

Công nghệ Thông tin Việt Nam tuy tăng trưởng khá nhanh trong khu vực nhưng so với bản đồ công nghệ thông tin thế giới vẫn ở mức thấp: chỉ số xã hội thông tin được xếp thứ 53/53, chỉ số chính phủ điện tử  xếp thứ 97/173 nước, chỉ số truy cập số (IDA) đứng thứ 122/178, tỷ lệ vi phạm bản quyền đứng cuối bảng 86/86 (x. Người Lao Động, số 3349, ngày 6-7-2005, tr. 1).

 Số máy vi tính cá nhân được lắp đặt trong các trường học, tổ chức kinh tế-xã hội cũng như trong gia đình hiện nay ước tính đã lên tới khoảng hơn 5 triệu máy và số máy vi tính sản xuất trong nước cũng như nhập từ nước ngoài càng ngày càng tăng. Nhà nước đã có những chương trình phổ cập về vi tính cho mọi học sinh và phổ biến cho cả đồng bào ở nông thôn cũng như ở vùng sâu vùng xa. Tuy khuyến khích sử dụng vi tính và Internet nhưng người ta vẫn chưa dạy cách sử dụng thế nào cho đúng và mang lại hiệu quả thiết thực. Trong một cuộc điều tra do Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương Đoàn tổ chức tại Hà Nội, ngày 17-4-2005, trong tổng số 80% học sinh THPT truy cập Internet có tới 92% để nghe nhạc, chỉ có 5% truy cập để học tập (x. Tuổi Trẻ, 18-4-200, tr.1). Dịch vụ Internet được mở ra ở khắp nơi chủ yếu để đáp ứng nhu cầu giải trí cho 90% người đến truy cập. Nhiều dịch vụ mở ra những phòng VIP hạng sang và nhiều nơi chiều khách hàng bằng cách truyền những phim ảnh đồi truỵ từ máy chủ sang những máy con. Điều này làm băng hoại đạo đức, nhất là đối với các thanh thiếu niên như chúng ta đã thấy một số bài đăng trên các tờ báo (An ninh Thế giới, số 435, ngày 19-3-2005, tr.1,4; Phụ Nữ, số 55, ngày 22-7-2005, tr.1,14; Tuổi Trẻ, 25,26,27-7-2005).

 Nhận định: Internet là phương tiện thông tin đầy uy lực và ngày càng phổ biến vì được kết nối với nhiều phương tiện khác như điện thoại di động, truyền hình… vì thế, việc học hỏi cách sử dụng là điều đáng khuyến khích và cần thiết trong thời đại hiện nay. Nhưng nếu người sử dụng không được đào tạo về mặt đạo đức và nhân bản, họ sẽ dễ dàng chiều theo những cuốn hút đầy ma lực của những trò giải trí rẻ tiền, đề cao bản năng, thú tính, hoặc khơi dậy tính tò mò trong những trang web khiêu dâm đầy trên mạng Internet. Do đó, rất cần mở những lớp đào tạo kỹ năng sử dụng Internet, nhất là cho giới thanh thiếu niên.

 2. GIÁO HỘI VIỆT NAM VÀ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

 Đứng trước hiện trạng truyền thông xã hội tại Việt Nam, người Kitô hữu chúng ta tự hỏi Giáo Hội nên làm gì và có thể làm gì để đáp ứng với những nhu cầu và những vấn đề đặt ra cho cộng đồng dân Chúa. Chúng tôi chưa có câu trả lời cũng như những giải pháp cụ thể vì đó là việc vượt quá khả năng của chúng tôi.

 Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ nêu một số những hoạt động của cá nhân hay tập thể mà chúng tôi biết trong lĩnh vực truyền thông và một vài vấn đề để gợi ý suy tư cho cộng đồng dân Chúa. Chúng tôi sắp xếp những hoạt động và vấn đề theo từng mục như ở phần thứ nhất.

 2.1. Sách Công giáo

 Kể từ khi thành lập Nhà Xuất bản Tôn giáo thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ, ngày 29-4-1999, các sách kinh, tác phẩm, giáo trình giảng dạy, văn hoá phẩm thuần tuý tôn giáo của các tổ chức tôn giáo đều qua con đường này để đến với độc giả, tín hữu. Từ năm 1999-2003, Nhà xuất bản này đã xuất bản 714 ấn phẩm, 205 văn hoá phẩm với 4,2 triệu bản in trong đó Phật giáo: 490, Công giáo 140, Tin Lành: 45, Phật giáo Hoà Hảo: 26, Cao Đài: 2, Hồi Giáo: 3 (x. NXB Tôn giáo, Bản tin tổng kết, 4-2004).

 Riêng năm 2004, Công giáo có 58 ấn phẩm so với 150 của Phật giáo, 2 của Cao Đài, 5 của Phật giáo Hoà Hảo và 1 của Hồi giáo.

 Trong lĩnh vực sách Công giáo, những sách xuất bản chính thức chỉ là một phần rất nhỏ so với các sách in không chính thức. Nhiều tác giả hay tập thể chỉ muốn in với số lượng nhỏ, trong thời gian rất ngắn để đáp ứng nhu cầu của công việc hay của cộng đồng nên đã dùng phương pháp nhân bản bằng máy photocopy, in bìa, đóng xén như một cuốn sách in và lưu hành nội bộ để tránh thời gian xét duyệt bản thảo, sửa chữa bản văn, nộp các phí xuất bản.

 Trong tình trạng hiện nay hầu hết những sách Công giáo không thông qua sự kiểm duyệt của Giáo Hội về mặt giáo lý để có Nihil Obstat và Imprimatur, nên đã có một số những tài liệu không đúng với giáo lý đức tin Công giáo.

 Nhận định: Người Công giáo Việt Nam chúng ta nên gìn giữ truyền thống tốât đẹp của cha ông: sáng tạo và phổ biến chữ quốc ngữ cũng như nền văn minh Kitô giáo qua rất nhiều những tài liệu sách báo bằng tiếng Hán, tiếng Nôm, tiếng Việt còn lưu lại cho đến ngày nay. Các xứ đạo hoặc cá nhân nên bảo tồn những sách cổ hoặc có thể lưu trữ trong nhà truyền thống của giáo phận hay của Giáo hội Việt Nam. Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN) nên thành lập một quỹ bảo trợ để in ấn và phổ biến những tài liệu cổ này cho mọi người được biết như linh mục Vinh Sơn Nguyễn Hưng, thuộc tổng giáo phận TP.HCM, đã dịch hàng trăm sách Nôm cổ trong mấy năm qua.

 2.2. Báo Công giáo

 Cả nước hiện nay có gần 6 triệu người Công giáo nhưng số lượng phát hành của báo Công giáo có thể nói là rất ít so với báo chí nói chung. Điều này cho thấy người Công giáo chưa quan tâm lắm đến việc truyền thông qua báo chí. Miền Bắc có tuần báo Người Công giáo Việt Nam với số lượng in khoảng 2.500 bản. Miền Nam có tuần báo Công giáo và Dân tộc với số lượng phát hành từ 13.000-15.000 bản và Nguyệt san Công giáo và Dân tộc với số lượng phát hành 3.500 bản. Cả hai tờ báo này do Uỷ ban Đoàn kết Công giáo chịu trách nhiệm. Báo Công giáo và Dân tộc vừa kỷ niệm tròn 30 năm phát hành với những bước cải tiến từ nội dung đến hình thức.

 Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng có một bản tin chính thức với giấy phép của Cục Báo chí, tên là Bản tin Hiệp Thông, phát hành hai tháng một kỳ với số lượng in 2000 bản. Bản tin này đang được các sư huynh dòng La San chuẩn bị đưa lên mạng Internet. Hy vọng trong một ngày gần đây, tờ báo sẽ là nhịp cầu nối kết các thông tin Công giáo và website của HĐGM qua tờ Hiệp Thông, là diễn đàn cho các tổ chức, cá nhân Công giáo ở Việt Nam.

 Nếu so sánh với nguyệt san Giác Ngộ của Giáo hội Phật giáo mỗi tháng ra 9.000 bản và được dùng làm tài liệu đào tạo huấn luyện cho các tăng, ni, Phật tử, chúng ta cần đặt lại vấn đề đổi mới cho Bản tin Hiệp Thông này. Tuần san Giác Ngộ của Giáo hội Phật giáo phát hành 5.000 bản.

 Nhiều toà giám mục cũng phát hành nội bộ những bản tin vắn gồm thư mục vụ của Giám mục giáo phận, một số những tin tức quan trọng, những bài giảng Chúa nhật và những thông báo cần thiết và số lượng từ vài chục đến vài trăm bản mỗi tháng.

 Nhận định: Nhiều người tín hữu Việt Nam chưa hiểu tầm quan trọng của báo chí Công giáo và ảnh hưởng mãnh liệt của nó trong nội bộ Giáo Hội cũng như ngoài xã hội. Theo Giáo huấn của Công đồng cũng như của Toà Thánh cần phải tích cực ủng hộ và giúp đỡ các tờ báo Công giáo để có thể giới thiệu Tin Mừng cho mọi người. Các tu sĩ, giáo dân nên theo học ngành ngữ văn và báo chí để trở thành những nhà chuyên nghiệp trong lĩnh vực truyền thông phổ biến nền văn hoá sự sống và nền văn minh tình yêu của Đức Kitô. Để thống nhất đường hướng chung của Giáo Hội trong hoạt động cũng như trong nhận thức các linh mục trong các xứ đạo nên ủng hộ, giới thiệu và phổ biến Bản tin Hiệp thông của HĐGM cho giáo dân. Tuy nhiên, chính Bản tin Hiệp thông cũng cần phải đổi mới cả hình thức lẫn nội dung để người giáo dân cảm nhận được đây là tờ báo của họ chứ không phải chỉ dành cho linh mục, tu sĩ. Điều này mời gọi sự cộng tác của nhiều thành phần dân Chúa trong hoàn cảnh thiếu thốn và hạn chế của tờ báo hiện nay.

 2.3. Cơ sở in Công giáo

 Trước năm 1975, ở miền Nam có một vài cơ sở in lớn của Công giáo như Nguyễn Bá Tòng Ấn loát Công ty (NAC) hoặc do người Công giáo quản lý như Kim Châu, sau đó được Nhà nước tiếp quản và một số nhà sách tự đứng ra in ấn và phát hành các sách báo Công giáo như nhà sách Đa Minh, Thánh Gia… ở TP. HCM.

 Hiện nay, Giáo hội Công giáo Việt Nam không còn cơ sở in nào, nhưng một số người Công giáo vẫn liên kết với các công ty in để thực hiện các ấn phẩm Công giáo. Nhiều tư nhân Công giáo mở các cơ sở đóng sách, photocopy, in lụa và đã góp phần thực hiện các ấn phẩm này.

 Một số sinh viên Công giáo đã tốt nghiệp kỹ sư ngành in sau 4 năm học ở Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. HCM, khoa Kỹ thuật in được mở từ 16 năm nay. Các kỹ sư này, nếu biết động viên, cũng có thể cộng tác trong các công việc in ấn của Giáo Hội.

 2.4. Thư viện Công giáo

 Ở Việt Nam hiện nay, Giáo hội Công giáo chưa có thư viện chính thức về thần học Công giáo. HĐGMVN đã có dự án xây dựng tại TP. HCM thư viện loại này với các sách chuyển từ Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X (Đà Lạt) xuống, khoảng 40.000 đầu sách và nhận thêm các sách báo khác sau năm 1975, cả loại sách điện tử.

  Ngoài ra, một số dòng tu như dòng Đa Minh, Dòng Tên, Dòng Phanxicô, Dòng Don Bosco và các Đại Chủng viện đều có những thư viện với số sách khá lớn. Trong đó phải kể đến Dòng Đa Minh và Chủng viện Thánh Giuse TP. HCM với lượng sách tới 10.000-20.000 tựa.

 Nhiều toà giám mục chưa lưu ý đến vấn đề này để lập ra một nơi tra cứu cho các linh mục, tu sĩ, giáo dân về sách báo. Các xứ đạo cũng nên có những tủ sách Công giáo và khuyến khích việc đọc sách cho mọi người, nhất là cho giới trẻ.

 2.5. Phim ảnh Công giáo

 Ở Việt Nam hầu như chưa có phim ảnh chính thức của Giáo hội Công giáo. Ngay trong phạm vi toàn cầu, cũng có rất ít sản phẩm loại này dù rằng việc thực hiện các cuốn phim bằng các phương tiện nghe nhìn hiện đại ngày nay dễ hơn xưa rất nhiều. Người ta vẫn thu hình những cuộc lễ lớn của giáo phận hay Giáo Hội như Đại hội La Vang, tang lễ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và bán những băng đĩa này cho giáo dân một cách không chính thức.

 

Ngoài ra, một vài cá nhân cũng chuyển dịch hay lồng tiếng Việt các phim ảnh có giá trị như Cuộc đời Đức Giêsu, Mẹ Têrêsa Calcutta hoặc các phim Kinh Thánh có nội dung giáo lý. Các phim này được phổ biến nội bộ với số lượng phát hành không nhiều, vì việc sao chép, in lại một cách bất công vẫn còn xảy ra hoặc do không muốn mất thời gian chờ đợi để có giấy phép chính thức.

 Nhận định: Nhiều nơi chưa ý thức tầm ảnh hưởng của phim ảnh trong đời sống đạo cũng như trong việc dạy giáo lý. Nếu sản xuất được nhiều phim ảnh lành mạnh, không nhất thiết phải là phim đạo, các gia đình, các xứ đạo có thể chiếu cho tín hữu, nhất là cho giới trẻ, như luồng nước trong lành hoà vào dòng phim ảnh nhiều khi kém chất lượng về mặt đạo đức như hiện nay. Với nhiều chương trình làm phim như Power Point và máy thu hình cá nhân, chúng ta có thể thực hiện các phim giáo lý đẹp, hấp dẫn, khiến cho việc dạy và học giáo lý trở nên dễ dàng và lôi cuốn. Tuy nhiên muốn thực hiện được các phim này, nhiều dòng tu và giáo dân nên cộng tác với nhau để bổ túc cho những mặt thiếu sót của nhau về kịch bản, kỹ thuật thu hình, lồng tiếng, dịch thuật cũng như về nội dung thần học, giáo lý, văn hoá, nghệ thuật…

 2.6. Truyền thanh Công giáo

 Giáo hội Việt Nam không có đài phát thanh riêng. Tuy nhiên, người Công giáo Việt Nam vẫn có thể theo dõi những thông tin qua các chương trình Việt ngữ của đài phát thanh Vatican và Đài Chân lý Á Châu (Veritas of Asia) phát đi từ Philippines. Đài này do Đức ông Phêrô Nguyễn Văn Tài làm giám đốc kỹ thuật. Đài rất cần sự cộng tác của các linh mục, tu sĩ và giáo dân từ Việt Nam bằng việc viết bài suy niệm, cung cấp thông tin… để nội dung càng ngày càng phong phú và nếu có thể được cả sự hỗ trợ về mặt tài chính của HĐGMVN như nhiều hội đồng giám mục châu Á khác đã làm cho chương trình phát bằng tiếng địa phương

LM. ANTÔN NGUYỄN NGỌC SƠN

(Nguồn : http://hdgmvietnam.org/demo/Ban-Tin-Hiep-Thong-Chi-Tiet/default.aspx?BTHTNo=29-30&string_date=5/1/2005&string_dateto=7/1/2005&pageno=21&pk=48)

Về Mục Lục

BẢN TIN HIỆP THÔNG

Số 29-30, Tháng 5 và 7 năm 2005

LTS. Bản Tin Dũng Lạc số 5_010508 xin giới thiêu cùng quí độc giả một tài liệu tổng hợp đầy đủ nhất hiện nay về chủ đề "Giáo Hội và Truyền thông Xã hội". Ðó là  Bản tin HIỆP THÔNG số 29-30, tháng 5 và 7 năm 2005, bản tin chính thức của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam.

Lời nói đầu 

Vài nét về tiểu sử Đức Tân Giáo Hoàng: Bênêđictô XVI 

Điện văn chúc mừng của HĐGM Việt Nam 

PHẦN I: MỘT VÀI VĂN KiỆN CƠ BẢN VỀ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

Sắc lệnh Inter Mirifica của Công đồng Vatican II về truyền thông xã hội (4-12-1963) 

Những văn kiện của Hội đồng Giáo hoàng về truyền thông xã hội

Huấn thị Thời đại mới (Aetatis Novae) (22-2-1992) 

Giáo Hội và Internet (22-2-2002) 

Đạo đức trong Internet (22-2-2002) 

Đạo đức trong truyền thông (4-6-2000) 

Đạo đức trong quảng cáo (22-2-1997) 

PHẦN II: CÁC BÀI ViẾT THEO CHỦ ĐỀ

Thần học truyền thông - Nền tảng cho việc truyền thông xã hội - F. Paul A. Soukup, SJ 

Tầm quan trong của các phương tiện thông tin và truyền thông đối với Giáo hội trong triều đại của Đức Gioan Phaolô II - Lm. Bùi Tiếng 

Các tổ chức truyền thông xã hội của Giáo Hội - VP FABC - bản dịch 

Rao giảng trên mái nhà - Lm. Giuse Hoàng Kim Toan 

Gia đình và sự truyền thông - Anthony Roman 

Đi tìm các đẹp trong nghệ thuật thánh Việt Nam - Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn 

Tu sĩ Việt Nam với truyền thông - Út Nghèo, DĐMNN 

Truyền Thông và sứ vụ linh mục - Lm. Giuse Hoàng Kim Toan 

Đôi nét báo điện tử ở Việt Nam - Kim Vi 

Truyền hình tương lai - Minh Thụy (chuyển dịch) 

Lịch sử văn minh nhân loại theo nhãn quan truyền thống - Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn 

Vài nét về hiện trạng truyền thông xã hội tại Việt Nam - Lm. Antô Nguyễn Ngọc Sơn 

PHẦN III: ĐÀO TẠO KỸ NĂNG SỐNG VỀ TRUYỀN THÔNG

Cách đọc báo - Em-Ty 

Cách sử dụng điện thoại - Bảo Trâm 

Sử dụng Internet trong gia đình - Sư huynh Phan Huy Hà, FSC 

Trang nhật ký - Anh Tôn 

PHẦN IV: TIN TỨC

Sinh hoạt của Giám hội toàn cầu 

Sinh hoạt của Giám hội Việt Nam 

Đức Gioan Phaolô II từ trần

Điện văn chia buồn của HĐGM Việt Nam 

Thông báo của Ban biên tập

(Nguồn : http://hdgmvietnam.org/demo/Ban-Tin-Hiep-Thong/default.aspx?tDate=Th%E1%BB%A9+t%C6%B0%2C+30%2F04%2F2008&tTime=+5%3A22%3A33+PM&MonthYear=5-2005)

Về Mục Lục

SÁCH ĐẠO:

2. MỘT KẾ HOẠCH DỊCH THUẬT

Đại Hội Dân Chúa 2010 đang được đón chờ như một sự kiện có thể tạo cho Giáo Hội tại Việt Nam một đà tiến mới. Nhân dịp này, chúng con xin đóng góp vài suy tư, có thể không ăn khớp nhiều với đề cương được vạch ra nhưng nếu có thể góp phần gián tiếp cách nào đó thì cũng vui rồi. Chúng con xin nói về chuyện sách vở và viết lách, với 5 bài. Đây là bài 1: in ấn, phát hành và gia tăng số người đọc sách; bài 2 nói về: một hướng dịch thuật; bài 3: gia tăng số người viết; bài 4: một bản dịch Thánh Kinh chính thức; bài 5: Ngài và Người.

Để xây dựng tòa nhà văn hóa cho Giáo Hội Việt Nam, cần bắt đầu lại từ chỗ phải bắt đầu: dịch thuật.

1. CẦN CÓ MỘT KẾ HOẠCH DỊCH THUẬT

Chúng ta nói nhiều đến thích nghi, đối thoại, hội nhập… tuy nhiên sẽ rất khập khiễng nếu chúng ta chưa có được bản dịch Việt ngữ những tài liệu nguồn mạch của Kitô Giáo.

Dù đã có mặt tại Việt Nam gần 500 năm, ngoài Thánh Kinh, Cộng Đồng Công Giáo chưa có bản dịch các Giáo Phụ, các Công Đồng, các Văn Kiện Toà Thánh,... (Đài Loan, Đại Hàn, Inđônêsia, Nhật và Thái Lan đã thực hiện đến mức nào? Nghe đâu người ta đã làm xong hầu hết!) Ngay cả Thánh Kinh, cho đến nay ta vẫn chưa có một bản dịch chính thức. Chưa đủ quan tâm đến “Nguồn”, việc “hội nhập văn hoá” và đối thoại với thiên hạ có nguy cơ dựa trên cái nghèo nàn chủ quan chứ không phải trên cái phong phú bao la và khách quan của truyền thống Hội Thánh.

Kho tàng của Hội Thánh cụ thể đã được các cha Dòng Tên tuyển dịch vào bộ Sources Chrétiennes, NXB Du Cerf. Quyển mới xuất bản tháng 01-2008 được đánh số 519, trung bình mỗi quyển 380 trang, toàn bộ sách ước lượng gần 200.000 trang. Chuyển dịch khối lượng này sang tiếng Việt là một công việc mênh mông. Để thực hiện xong phần cơ bản, một kế hoạch 5 năm hay 10 năm không đủ, cần phải có một kế hoạch 25 năm dọn mừng kỷ niệm 500 năm Kitô Giáo Việt Nam (1533-2033). Năm 2008 này, ta còn đúng 25 năm nữa. Nếu dịp dọn mừng 500 năm ta không làm nổi thì e sẽ chẳng bao giờ làm được!

Một công cuộc như thế cần được tổ chức cách có hệ thống. Cần có một Uỷ Ban Giám Mục lo riêng cho công cuộc dịch thuật. Uỷ Ban này không dịch thuật nhưng định hướng, điều phối và khích lệ. Uỷ Ban này sẽ đưa ra một chương trình tổng thể, mời gọi các Dòng cũng như các nhóm phiên dịch đảm nhận. Những đơn vị đảm nhận sẽ hoàn thành công việc mình trong vòng 15 năm để kịp tiến dần tới tổng kết trong 5 năm tiếp đó.

Các Dòng tại Việt Nam ngày nay nói chung đều đã lớn mạnh, nhiều Dòng đã có học viện riêng khá bề thế, việc phiên dịch một số tài liệu cao cấp không còn là một thách đố quá lớn nhưng là dịp để khẳng định chính mình. Một số Dòng chưa có nhân sự về lãnh vực này nhưng có tài lực, vì sự nghiệp chung, cũng có thể nhận và thuê người làm.

Ngoài các Dòng, cần khuyến khích quy tụ thêm những nhóm dịch thuật mới, làm việc có kỷ luật và kiên trì. Có được dăm ba nhóm dịch thuật lớn, cùng trao đổi kinh nghiệm, sẽ giúp công việc ngày càng đạt chất lượng.

Uỷ Ban đặc trách của HĐGMVN sẽ có một Ban Tu Thư đánh giá công việc các nhóm. Nếu HĐGMVN có một vài ban dịch thuật thì những ban này cũng nên được xếp ngang hàng với các nhóm dịch thuật khác chứ không đóng vai trò trọng tài.  Vai trò trọng tài là của Ban Tu Thư. Ban Tu Thư sẽ dùng mạng Internet để giúp các nhóm trao đổi kết quả và kinh nghiệm.

Một công cuộc như thế đòi phải đầu tư cực lớn, nhiều chục tỉ đồng, để tài trợ, trao những giải thưởng có giá trị cho những cá nhân hay tập thể đã làm xong những công trình giá trị, tài trợ để hoàn thiện những bản dịch chưa đạt cũng như để hỗ trợ những nhóm phiên dịch mới.

Nhiều công trình xây cất đó đây của Giáo Hội Công giáo Việt Nam lên đến nhiều chục tỉ, trong đó có những công trình bị coi là lãng phí. Nếu giảm bớt được một công trình loại ấy để đầu tư cho công cuộc dịch thuật thì quý biết bao. Thiết tưởng có thể xin Văn phòng Phối Kết Mục Vụ Hải Ngoại động viên các cộng đoàn Việt Kiều đóng góp tài chánh cách riêng cho công cuộc rất tốn kém này.

Khi công cuộc dịch thuật như thế tiến triển, việc đào sâu Hán Việt nơi lớp trẻ sẽ gia tăng, và việc san định thuật ngữ Kitô Giáo cho tiếng Việt cũng sẽ ngày càng hứa hẹn hơn.

2. TIẾN TỚI THỐNG NHẤT TỪ VỰNG

Theo biên bản buổi họp ngày 06-12-2007, Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin đã thành lập nhóm thực hiện “Từ Vựng Công Giáo Việt Nam”, do cha Phêrô Nguyễn Chí Thiết làm trưởng nhóm. Biên bản cũng cho biết hiện đã có rất nhiều loại Từ Điển liên quan đến công giáo đã được xuất bản, được in, nhưng là những sách hoặc dịch từ tiếng nước ngoài, hoặc là những mảng rời rạc, khiếm khuyết. Với định hướng là “tâm thức Việt Nam”, nhóm này sẽ cố gắng làm việc khoa học, nghiên cứu đến nơi đến chốn, để biên soạn cuốn “Từ Vựng Công Giáo Việt Nam” có chất lượng. Dự tính kết quả sẽ thấy được cụ thể trong 10 năm tới.

Quả là một dự án đầy an ủi và hy vọng. Để công việc sớm đạt kết quả tối đa, chúng con xin góp một ý nhỏ về cách làm việc. Đó là, mặc dù những từ điển hiện có còn nhiều khuyết điểm, xin hãy chọn một trong những quyển ấy để bắt đầu thay vì bắt đầu lại từ số không. Nếu bắt đầu lại từ số không, công trình mới sẽ luôn có cùng một nguy cơ chủ quan và bất toàn như bất cứ công trình nào trước nó. Chọn một quyển có sẵn, xin mọi người góp ý để loại dần những bất toàn của nó, kiểm tra lại từng từ, khẳng định phần ưu việt đã có được rồi tiếp tục bổ sung dần từng từ một, nhất định sẽ mau hơn là bắt đầu từ đầu (Bản dịch Sách Lễ Rôma 1992 đã phế bỏ bản dịch trước đó để làm lại từ đầu, nhưng rồi mười năm sau đã phải có một bản dịch mới để phục hồi nhiều điểm rất hay của bản dịch bị phế bỏ!).

Chúng con xin đề nghị chọn quyển Từ Điển Công Giáo của Nguyễn Đình Diễn, NXB Tôn Giáo 2001 làm khởi điểm. Tại sao? Tại vì đây là quyển có lượng từ ngữ phổ thông vượt trội hơn bất cứ quyển nào khác. Ngôn từ cần xây dựng phải là ngôn từ cho đại chúng, không được phép cầu kỳ nhưng cần hết sức dễ hiểu. Dĩ nhiên không thể tránh được những thuật ngữ rất chuyên môn, nhưng nếu ngay từ đầu chúng ta chọn đứng về phía đại chúng thì rồi những thuật ngữ chuyên môn chọn được cũng sẽ dễ hiểu hơn.

Hơn nữa, tác giả Nguyễn Đình Diễn không hề tạo thêm một từ mới nào mà chỉ sử dụng vốn từ sẵn có trong lòng đại chúng Công giáo. Kinh nghiệm này rất đáng quan tâm. Ngôn ngữ không hình thành từ những công trình nghiên cứu khoa học nhưng được chắt lọc từ cuộc sống. Từ cái nhìn ấy, có hai việc cần làm trước khi làm quyển từ vựng, nếu không sẽ là chuyện đặt cái cày trước con trâu.

Việc thứ nhất là duyệt lại mấy chục kinh đọc hằng ngày của Công đồng Đông Dương 1923. Các kinh này hiện vẫn đang được dùng thống nhất tại 26 giáo phận. Chỉ duyệt lại chứ không dịch lại. Duyệt lại nhằm bảo tồn và tôn tạo gia sản của tiền nhân chứ không phế bỏ để làm cái mới. Vốn từ trong mấy chục kinh này là căn bản đầu tiên để thống nhất thuật ngữ Công giáo tiếng Việt. Việc duyệt lại sẽ khẳng định những thành tựu rất quý giá của truyền thống, ví dụ, được rỗi (được tự do, từ đó, cứu rỗi: giải cứu cho được tự do, khác với cứu độ: đưa qua đò), hay Hội Thánh (Giáo Hội Phật Giáo, Giáo Hội Cao Đài, vv… nhưng chỉ có Công Giáo và Tin Lành mới gọi được là Hội Thánh), đồng thời cũng thay thế những từ và kiểu nói đã lỗi thời bằng những từ và kiểu nói mới có nghiên cứu cẩn thận. Việc này hiện chưa có ban bệ nào đảm nhận, thiết tưởng nhóm Từ vựng có thể dành vài tháng duyệt lại các kinh này, tung ra cho mọi người góp ý rộng rãi trước khi đúc kết xin HĐGMVN phê chuẩn.

Việc thứ hai cần làm để tạo nền móng thực dụng cho quyển từ vựng là một bản dịch Thánh Kinh chính thức. Điều này chúng con sẽ nói riêng ở bài thứ tư. Quyển thuật ngữ sẽ ưu tiên chọn những từ được bản dịch chính thức sử dụng và điều chỉnh những gì cần điều chỉnh để các bản dịch Thánh Kinh chính thức về sau được hoàn bị hơn. Bản dịch Thánh Kinh chính thức là việc của UBGM về Thánh Kinh nhưng cần được tiến hành với sự cộng tác của nhóm Từ vựng để hai công trình ăn khớp với nhau.

Quyển Giáo Luật hiện đã có bản dịch chính thức, sẽ cung cấp lượng từ vựng về giáo luật. Ba công trình khác khác hiện đang được xúc tiến để tiến tới bản dịch chính thức, cũng cần có sự cộng tác của nhóm Từ vựng. Đó là bản dịch quyển Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch các sách Phụng Vụ và bản dịch các văn kiện Công Đồng Vaticanô II. Với sự cộng tác như thế, những công trình ấy sẽ thêm chất lượng và công việc của nhóm Từ vựng sẽ vừa có tiến độ nhanh vừa hồn nhiên và sát thực tế. Lượng từ vựng rút từ những công trình trên đây có lẽ đã chiếm hơn ba phần tư số từ vựng phổ thông cần san định. Lượng từ vựng còn lại sẽ nặng phần chuyên môn, không ảnh hưởng nhiều đến ngôn ngữ thường nhật của Dân Chúa, có lẽ nhóm làm việc chỉ cần đầu tư thêm một vài năm là xong.

Qua các bài giảng ở nhà thờ, trên đài phát thanh, trên sách báo, ta thấy ngôn ngữ nhà đạo dường như ngày càng giả tạo và xa lìa dân chúng. Điều đáng chờ đợi là quyển Từ vựng đang san định sẽ thành phương tiện định hướng, giúp ngôn ngữ nhà đạo lại trở nên trong sáng và dễ hiểu. Đây là điều hết sức quan trọng bởi vì tôn giáo của chúng ta là tôn giáo của Lời, của Mặc Khải. Nhắm mục tiêu ấy, nhóm Từ vựng cần có một trang web riêng để nhiều người ở nhiều nơi có thể cùng theo dõi và góp ý kịp thời.

Với sự hợp tác đa phương như thế, hy vọng nhóm Từ vựng có thể hoàn thành một công trình hài lòng mọi người trong vòng 10 năm. 

3. ĐÀO TẠO KHẢ NĂNG DỊCH THUẬT HỌC HÁN VIỆT

Thời gian qua, nhóm phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ đã đào tạo được một số dịch giả trẻ. Hiện nay, có một linh mục đang giúp một nhóm chủng sinh tập dịch thuật, tập trung vào các tiểu thuyết Công Giáo. Cũng có một giáo dân đã mở vài khoá chia sẻ kinh nghiệm dịch thuật cho một số người trẻ. Đó là những nỗ lực đào tạo đáng mừng tuy nhiên số người được đào tạo ra còn quá ít.

Để dịch trung thực, người dịch cần nắm vững ba điều: lãnh vực mà nội dung tác phẩm thuộc về, ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích. Về các lãnh vực khác nhau của tư tưởng Kitô Giáo nơi các tác phẩm “Nguồn”, số người nắm vững không thiếu, nhất là với số lượng những người du học hiện nay; về ngoại ngữ thì ngày càng có nhiều người sở trường tiếng Anh, số người chuyên sâu tiếng Pháp và tiếng Latinh ngày càng hiếm; tuy nhiên điều đáng buồn và đáng lo hơn cả lại ở chỗ số người hiểu tiếng Việt cho thật rõ ngày càng ít đi. Chuyện này không chỉ riêng trong giới Công giáo mà là thực trạng chung. Cứ xem những bản dịch hiện hành, cả chính thức lẫn tư nhân, thì rõ. Cách riêng là những từ có gốc Hán Việt, nhiều linh mục cũng như tu sĩ trẻ không còn nắm vững cấu trúc cũng như ý nghĩa các từ Hán Việt. Có đến gần một nửa dùng từ yếu điểm ở chỗ lẽ ra phải nói là nhược điểm. Chúng ta không bao giờ nói đại nhà mới, nhưng suốt mấy năm liền khắp nơi đã dùng cụm từ đại năm thánh mà không ngượng miệng! Mọi thảo luận về hội nhập văn hoá sẽ vô nghĩa khi ta thiếu mất nền tảng đầu tiên là hiểu cho đúng Tiếng Việt. Vừa sính dùng Hán Việt vừa không nắm vững nó, ta đi đến chỗ lố bịch.

Thiết tưởng chương trình các Chủng Viện Việt Nam ngày nay cần dành ít là 60 tiết học nhập môn để giúp chủng sinh có một hiểu biết tối thiểu về Hán Việt. Hy vọng việc nhập môn này sẽ gợi hứng cho có thêm người dấn thân học kỹ về Hán Nôm. Thiếu sự đào tạo Hán Việt ở chủng viện, quyển Từ Vựng sẽ không đủ sức ổn định ngôn ngữ Kitô Giáo cho người Việt vì lẽ sẽ không thiếu các linh mục và tu sĩ tự đề ra những từ ngữ lạ lùng đến quái đản và bắt đàn em hoặc giáo dân dùng!

4. TRÂN TRỌNG CÁC DỊCH GIẢ

Có một vị thầy đáng kính của chúng con đã nằm xuống. Thầy làm chủ được cả tiếng Pháp và tiếng Việt, có thể dịch rất nhanh. Trong tuổi già, thầy dịch thuật kiếm chút tiền nuôi sống gia đình. Một linh mục Salêdiêng và bản thân chúng con đã động viên và thầy sẵn lòng dành ưu tiên cho sách vở Công giáo. Khả năng tài chánh của hai anh em chúng con, một tu sĩ và một kẻ làm thơ, chỉ đủ chi trả cho vài quyển sách. Khi dàn xếp được để thầy có thể giúp cho những công việc đích đáng cho Hội Thánh thì mức thù lao rõ là quá thấp không sống nổi, thầy đành chuyển sang dịch sách Phật!

Vượt trên chuyện thù lao cho, còn phải đặt vấn đề vinh danh những người đi trước, khẳng định thành tựu của những người đã khuất, tôn trọng công trình của họ, cũng như đặt vấn đề nâng đỡ công cuộc của những người đang làm việc âm thầm. Xin nêu vài trường hợp.

Bản dịch quyển “Tự Thuật” của Thánh Âu Tinh trước đây đã được in ronéo, không ghi tên dịch giả nhưng các linh mục và tu sĩ ở Sài Gòn ai cũng biết là do Đức Cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ dịch. Năm 2007 NXB Tôn Giáo đã đứng ra in lại (“St. AUGUSTIN, Les Confessions, TỰ THUẬT”) một cách rất đáng đặt vấn đề. Sau những lời rào đón, là 36 trang “lời người dịch” không hề có trong bản dịch của Đức Cha Micae. “Lời người dịch” kết thúc như sau: “Trong số hai mươi lăm ngàn vị thánh mà Giáo Hội đã tôn vinh, chúng tôi đã chọn lấy năm vị để tượng trưng trong tác phẩm này” (trang 44). Tiếp theo là trọn quyển sách “Thánh Augustinô, vị thánh của trí tuệ”, tiếp đến là 10 trang “tiểu sử tác giả” trích từ 10 trang đầu ấn bản ronéo của Đức Cha Micae. Cả ba phần lại được khéo léo đặt dưới một tựa đề chung trên đầu các trang sách là “cuộc đời thánh Augustinô”. Thật ra phần “lời người dịch” và phần “Thánh Augustinô, vị thánh của trí tuệ” là trọn quyển sách đầu tiên trong bộ sách năm quyển do vị khác đã dịch. Những trang đầu được sửa đổi đi một ít cho khác với ấn bản rônêô đã lưu hành. Thủ thuật lắp ghép trên đây khiến những người đã biết bản dịch của Đức Cha Micae cầm sách lên không thể nào ngờ rằng đó là bản dịch của ngài. Dịch giả bộ sách năm cuốn cũng không thể ngờ rằng cả một dịch phẩm của mình bị cuỗm lót vào đấy.

Lời phi lộ rào đón đầu sách nói rằng “cho đến nay, người mượn đọc bản dịch cũng như chúng tôi chưa biết ai là dịch giả của ấn phẩm”. Lời phi lộ ấy không ký tên ai và đã kết thúc như sau: “Bằng mấy lời phi lộ này, chúng tôi xin dịch giả cho phép in ấn, và nếu có yêu cầu về quyền lợi dịch thuật, chúng tôi xin chịu trách nhiệm đáp ứng, chỉ cốt mong sao tác phẩm nổi tiếng này đến được với độc giả Việt Nam bằng Việt ngữ với tâm nguyện học hỏi giáo lý và văn hóa Kitô giáo qua thánh Augustinô. Địa chỉ liên lạc: tontien1958@hcm.fpt.vn”.

Lời rào đón không đủ trung thực, người đứng tên thực hiên quyển sách đã làm sách Công giáo ở Sài Gòn mấy chục năm quá rõ ai là dịch giả; đàng khác lời rào đón không giải thích được tại sao lại ghép nguyên một quyển sách khác vào trước bản dịch của Đức Cha Micae.

Chúng con không biết có bao giờ Đức Cha Dịch Giả yêu cầu gì về “quyền lợi dịch thuật” chăng nhưng chắc hẳn ngài rất đau lòng vì chỉ mới 10 dòng đầu tiên in lại bản dịch của ngài (trang 163) đã có hơn 10 sai lỗi trong đó có những lỗi trầm trọng khiến nội dung bị hiểu sai:

“Aurelius Augustinus” trở thành “Anre Jus Augustinus”.

“Người còn có một em trai, Navigius, và một em gái, sau này làm bề trên một nữ tu viện” trở thành: “Ngài còn có một em trai và một em gái, người em gái sau này trở thành một nữ tu.” Chúng con không có giờ để đối chiếu từ dòng 11 đến dòng cuối cùng của tác phẩm. Tuy nhiên chẳng cần đối chiếu, chỉ đọc thôi cũng đủ thấy sách trình bày rất đẹp nhưng bên trong, một bản dịch rất giá trị đã bị biến thành một đống rác.

Trách nhiệm thuộc về ai? Người viết bài này xin nhân danh một độc giả có “tâm nguyện học hỏi giáo lý và văn hóa Kitô giáo qua thánh Augustinô” để đặt câu hỏi với ông Giám đốc Nhà Xuất Bản Tôn Giáo và những người đứng ra thực hiện quyển sách.

Một câu hỏi khác: Đến bao giờ Giáo Hội Công Giáo Việt Nam với sáu triệu thành viên mới được quyền có một nhà xuất bản riêng để in ấn sách vở theo nhu cầu của mình?

Trường hợp thứ hai là bộ Tổng Luận Thần Học của Thánh Tôma, do Lm Giuse Nguyễn Ngọc Châu, giáo phận Qui Nhơn, bỏ ra hai mươi năm để thực hiện, cặm cụi đánh máy và sửa kỹ từng chữ một. Một lần nọ, cha Giuse đã giao toàn bộ bản dịch cùng với tất cả số tiền dành dụm của ngài vào tay con với ước nguyện bản dịch được in ra đúng như ngài đã dịch. Sáng hôm sau, nhớ ra một vị nào đó có điều kiện chu toàn việc ấy thuận lợi hơn con, ngài đã xin lại cả bản thảo lẫn số tiền. Không lâu sau khi ngài qua đời, bản dịch đã được in ra nhưng con thấy là không đúng với nguyện vọng của ngài. Thiết tưởng trước hết người được ủy quyền cần làm đúng nguyện vọng của vị dịch giả quá cố đã cống hiến cả công sức và tiền bạc dành dụm chắt chiu cho đại cuộc. Sau đó ai muốn hiệu đính và có tầm cỡ để hiệu đính thì cứ thực hiện một ấn bản khác, ghi rõ tên tuổi người chịu trách nhiệm hiệu đính. Đôc giả có quyền được đối chiếu để biết độ chênh giữa bản dịch nguyên thủy và bản hiệu đính.

Không thiếu những trường hợp khác như thế.

Trường hợp thứ ba là bản dịch “Kinh Thánh” của cha Nguyễn Thế Thuấn. Cho đến nay, chưa một bản dịch Thánh Kinh Việt ngữ nào có được tính khoa học bằng bản của cha Thuấn. Đây là một công trình hết sức quý báu cho việc nghiên cứu Thánh Kinh của các sinh viên thần học cũng như những người giảng thuyết. Cũng chính bản dịch này đã làm dậy lên phong trào học hỏi Lời Chúa những năm liền trước và sau ngày thống nhất đất nước. Thế nhưng có những lý do thực tế khiến nó đang có nguy cơ bị đẩy lùi vào bóng tối. Thiết tưởng đã đến lúc phải phục hồi chỗ đứng của bản dịch cha Nguyễn Thế Thuấn. Vì ích lợi cho việc học hỏi Thánh Kinh cách sâu xa, bản dịch này cần được hỗ trợ để in lại và phát hành sâu rộng cho đại chúng, nhất là cho các sinh viên thần học sử dụng. Hơn nữa, thiết tưởng cần có một nghĩa cử vinh danh ngài, như một Trung Tâm Nghiên Cứu Kinh Thánh mang tên ngài chẳng hạn.

Đặt vấn đề vinh danh các bậc có công đã đi trước là để khẳng định một nguyên tắc làm việc hết sức quan trọng: Muốn khỏi xây đi đắp lại mãi những nền móng và không chôn vùi thành tựu của những người đi trước, cần phải tôn tạo chứ không coi thường hay đạp đổ, quá oan uổng cho những đóng góp thật cao quý và đầy giá trị. 

Sau nữa, chúng con cần nhắc đến công trình phiên dịch các tác phẩm Hán Nôm của cha Nguyễn Hưng, một công trình hết sức quý báu nhưng thật âm thầm lặng lẽ, cần được biểu dương và giới thiệu rộng rãi. Bên cạnh đó có lẽ còn có những nỗ lực khác tương tự, ở quy mô nhỏ hơn, cần được phát hiện, biểu dương và trợ giúp.

5. MỘT GIẢI THƯỞNG DỊCH THUẬT

Dịch là việc khô khan, mệt mỏi, phần đông rất ngại làm. Cần được quan tâm và nâng đỡ cụ thể bằng những giải thưởng giá trị. Ngoài những giải thưởng trong nước do Ủy Ban Đặc Trách của HĐGMVN chủ xướng, cũng có thể vận động những giải thưởng từ những tổ chức mạnh thường quân ở nước ngoài quan tâm đến vấn đề này.

- Giải thưởng cho những dịch phẩm đã có:

* Các dịch giả đã có sách in không chính thức, xin hoàn thiện lại bản dịch, ghi rõ danh tính và gửi về dự thi.

* Các dịch phẩm trúng giải sẽ được yêu cầu hiệu đính thêm những mặt còn yếu và được xuất bản chính thức ở trong hoặc ngoài nước.

- Giải thưởng cho những dịch phẩm mới:

* Những tác phẩm tự chọn

* Những tác phẩm được Ban Tu Thư yêu cầu

6. THU THẬP VÀ HOÀN THIỆN NHỮNG DỊCH PHẨM ĐÃ CÓ

Chúng ta mừng 50 năm HĐGMVN. Trong 50 năm qua đã có khá nhiều sách vở được phiên dịch, vàng thau lẫn lộn. Một số rất ít có ghi tên dịch giả, còn đại đa số không ghi. Việc không ghi tên dịch giả và cả việc lấy danh nghĩa dịch giả tập thể, không rõ người nào chịu trách nhiệm, đã là một trong những nguyên nhân đưa đến những bản dịch vội vã, không đạt chất lượng. Trong khi nhiều văn kiện Tòa Thánh không có bản dịch thì một số sách ăn khách và một số văn kiện có đến hai hoặc ba bản dịch khác nhau.

Dù phẩm chất khác nhau, đây là một khối lượng đáng kể, cần được thu thập, tuyển chọn và có kế hoạch hoàn thiện. Nếu có một Ủy Ban Giám Mục đặc trách và một Ban Tu Thư như nói trên thì thiết tưởng đây là công việc đầu tiên Ban Tu Thư cần làm. Nhờ việc tìm xác định tên tuổi các dịch giả để trao đổi hợp tác hoàn thiện các bản dịch, Ban Tu Thư sẽ quy tụ được một lượng nhân sự đáng kể, gồm những người có khả năng dịch thuật, yêu thích dịch thuật hoặc ít ra đã có một kinh nghiệm dịch thuật. Việc tổ chức hợp tác hoàn thiện các bản dịch sẽ giúp các dịch giả nâng cao tay nghề. Cũng từ đó có thể tiến tới một website trao đổi kinh nghiệm phiên dịch, những tuần hội thảo và những khóa học.

Công việc này cũng cần một ngân khoản rất lớn. Tuy nhiên, khi đã có hệ thống phát hành rộng rãi (xin xem bài 1), việc xuất bản các bản dịch này cũng có thể thu được lợi nhuận giúp trang trải phần nào. (Trước đây các dịch phẩm này thường chỉ mới được in ấn thô sơ, với số lượng phát hành ít, nhu cầu các nơi hiện vẫn còn lớn).

LỜI KẾT

Chỉ riêng bộ sách phụng vụ thôi, mà đã hơn 40 năm rồi chúng ta vẫn chưa xong được một bản dịch hoàn chỉnh. Sự kiện ấy nếu không làm nản lòng thì cũng đủ cho thấy việc phiên dịch không đơn giản. Tuy nhiên, nếu có một cái nhìn cao vọng hơn, rộng hơn và xa hơn, tổ chức làm việc cách có kế hoạch, nhất định mọi chuyện sẽ nhanh hơn và có phẩm chất hơn. Công cuộc này đòi sự dấn thân của ba thành phần trong Giáo Hội Việt Nam:

- Phương hướng, tổ chức và điều hành: Đây là việc thuộc thẩm quyền HĐGMVN.

- Nhân sự thực hiện: Công cuộc bao la, cần sự góp phần của rất nhiều người: những linh mục triều tha thiết với việc này, các tu sĩ nam nữ cũng như những giáo dân có khả năng trong nước và ngoài nước. Cách riêng ước gì các Dòng đều quảng đại hy sinh cho ích chung. Những Dòng nhập cuộc hẳn sẽ không thiệt thòi tí nào mà được lợi rất lớn: Công cuộc này sẽ là môi trường tự luyện rất hữu hiệu cho những thành viên cầu tiến trong Dòng.

- Kinh phí: Sự tốn kém sẽ vượt ngoài khả năng của một ngân quỹ HĐGM. Cần sự yểm trợ của các cá nhân và đoàn thể tín hữu Việt Nam trong và ngoài nước. Bài này cũng xin gửi đến các bậc hằng tâm hằng sản một lời ngỏ: Đây là một công cuộc cần được quý vị nâng đỡ, một công cuộc lớn lao, quan trọng và đầy ý nghĩa của Giáo Hội Việt Nam, một công cuộc sẽ có hiệu quả truyền giáo lâu dài hằng thiên niên kỷ. 

Thấm thoát, chúng ta đã bước vào kỷ niệm 475 năm Kitô Giáo Việt Nam, cũng là kỷ niệm 20 năm các Hiển Thánh. Bỗng chốc, đại lễ mừng 500 năm Kitô Giáo Việt Nam đang chờ ta trước mặt. Năm 1978, bước lên ngai Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II vói chào năm 2000, có người tưởng đâu Ngài đang dùng ngoa ngữ. Thế nhưng rồi chính Ngài đã chủ trì Năm Đại Toàn Xá và giờ đây năm hồng phúc ấy đã trôi qua gần một thập kỷ! Cuộc chuyển mình mừng kỷ niệm 500 Kitô Giáo Việt Nam có thể gợi hứng rất nhiều cho các chương trình mục vụ tại Việt Nam và là cơ hội quý hiếm có thể thúc đẩy Cộng Đoàn Dân Chúa Việt Nam hoàn thành nhiều công trình lón lao còn dang dở hoặc chỉ mới khởi đầu.  Một trong những công trình ấy là phiên dịch các tài liệu nguồn của Kitô Giáo.

Trại Bồ Câu Trắng, 16.01.2008

Lm. Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh

Về Mục Lục

 

MỤC VỤ VĂN HÓA LÀ GÌ ?

Mục vụ văn hóa là gì ? Nhận định đầu tiên mà ai cũng nghĩ đến là cho rằng Mục vụ văn hóa là làm mục vụ bằng những dụng cụ văn hóa, như sáng tác văn thơ, diễn thuyết, làm báo, viết sách, trữ sách, mở mạng lưới tin học. Những dụng cụ, dẫu là dụng cụ văn hoá, cũng chỉ là những dụng cụ, có thể được xử dụng để làm việc tốt mà cũng có thể được xử dụng để làm việc xấu ; có thể được xử dụng cho khoa học, kỹ thuật, chính trị, kinh tế, hay tôn giáo, văn hoá, xã hội. Cái hiểu lầm này còn một khuyết điểm thứ hai là mới chỉ nói đến một số dụng cụ mà bỏ quên một số dụng cụ khác, như văn nghệ, ca nhạc, hát xướng, kịch ảnh,… Khuyết điểm thứ ba là mới chỉ nói đến dụng cụ mà chưa nói đến chất liệu, tức là cái nội dung mà những dụng cụ ấy chuyên chở và phổ biến. Khuyết điểm thứ tư là cái hiểu lầm này không rõ rệt nhận ra được những mục tiêu, là yếu tố căn bản để định nghĩa, phân loại và định giá mục vụ văn hoá.  

Nói như vậy là có ý minh định rằng : Mục vụ văn hoá trước hết là một hành động có mục tiêu mục vụ, mà mục đích là thực hiện « Lời Chúa truyền cho các môn đệ phải đi rao truyền Phúc Âm cho muôn dân (Mt, 28, 19-20), Lời giáo huấn của Giáo Hội khuyên xử dụng những kho tàng văn hoá để phổ biến và giải thích cho muôn dân sứ điệp của Chúa Kitô ( Gaudium et Spes, 58, Ad Gentes, 12-34), đặc biệt là truyền thống tâm linh Á châu (Acclesia in Asia, 6), qua mọi lãnh vực và hình thái của văn hoá : văn học, nghệ thuật cũng như xã hội, giáo dục ; bác học văn tự cũng như bình dân truyền khẩu ». Trong một cuộc trao đổi điện thư với Cha Trần Cao Tường, chủ nhiệm Mạng Lưới Dũng Lạc, tôi có hỏi Ngài xem thế nào là Mục Vụ Văn hoá. Ngài trả lời tôi « Anh hỏi muc vụ văn hoá này là gí thì anh đã trả lời rồi. Ðây là mục quan trọng nhất của MLDL, góp tư liệu xây nhà Niềm Tin và Văn Hóa Việt ». Trong thơ trước đã biên cho Ngài, tôi đã xác nhận rằng : « Mục vụ văn hoá là : 1- Dùng văn hóa để giới thiệu CHÚA cho dân tộc Việt Nam và để đưa dân tộc Việt Nam về với CHÚA ; 2- Ngiên cứu, phổ biến và làm nổi những đóng góp của GIÁO HỘI VIỆT NAM vào VĂN HÓA VIỆT NAM ; 3- Tìm ra những nét rung cảm của VĂN HÓA VIỆT NAM dẫn lối vào ÐỨC TIN CÔNG GIÁO ». Hàng năm, trong mỗi giáo xứ, nhiều ít, thế nào cũng có một số tân tòng người lớn nhận phép rửa gia nhập Giáo Hội. Ðó là kết quả của tất cả những hoạt động mục vụ, trong đó có mục vụ văn hóa.   

Mục Vụ văn hoá thứ đến, vì là những hoạt động, muốn làm tốt, cần phải được quản trị tốt, nghĩa là phải có một quản trị mục vụ. Nếu có một quản trị tài chánh, một quản trị kỹ nghệ, một quản trị thương mại, một quản trị nhân viên, để quản trị các hoạt động tài chánh, kỹ nghệ, thương mại, nhân viên… thì cũng phải có một quản trị mục vụ để quản trị các hoạt động mục vụ. Quản trị là một ngành nghiên cứu giúp quản trị gia có những phương pháp và dụng cụ để làm tốt việc mình phải làm.

Quản trị mục vụ trước nhất là bảo đảm được đường hướng mình đưa ra là chính đáng, là đúng đường (1) ; để từ đó, suy xét theo thiên thời và địa lợi, để xác định được mục tiêu và kết quả muốn đạt, chọn lựa được những hoạt động văn hoá thích đáng, dựa theo những dụng cụ và chất liệu văn hóa thích ứng. Những hoạt động mục vụ văn hoá có thể chọn lựa theo tiêu chuẩn dụng cụ. Và dụng cụ có thề lấy từ những dụng cụ văn hoá (hội học thuyết trình, báo chí, sách vở, thư liệu, mạng lưới tin học,..) những dụng cụ giáo dục (trường học, đào tạo, dậy nghề, khoá trình tiên khởi, khóa trình liên tục, …), những dụng cụ xã hội (gặp gỡ, giúp đỡ, liên đới,…). Những hoạt động mục vụ văn hóa cũng có thể chọn lựa theo tiêu chuẩn chất liệu văn hoá, như những tình cảm, những suy tư, những ý tưởng, những phong tục, những kiêng kỵ, cấm đoán, bổn phận, trách nhiệm, những cảnh và cách sống, những công ăn việc làm, những lễ giỗ, cúng bái, những tôn giáo, những lý thuyết triết lý, những kỷ vật, dấu tích văn hóa, những nghệ thuật mà các công trình văn hoá đã để lại, như văn chương, ca kịch, kiến trúc, hội hoạ…

Quản trị mục vụ sau nữa là bảo đảm được chất lượng cao của việc mình làm, hầu đạt được một kết quả hữu hiệu, theo và trên mục tiêu dự tính. Ðể được vậy, những hoạt động mục vụ cần có những phương pháp tối thiểu, giúp quản trị gia cũng như các cộng tác viên chuẩn bị tốt, làm việc tốt, kiểm tra tốt và cải tiến tốt (Phương pháp PDCA, P như « Plan », D như « Do», C như « Check » và A như « Act » (2)). Những phương pháp này có nhiều điểm chung giống như những phương pháp của các ngành quản trị khác. Xin nhắc lại năm nguyên tắc quản trị nhân viên mà Tôn Tử đã đưa ra : trí, tín, nhân, dũng, nghĩa. Cũng xin nhắc lại tám nguyên tắc phương pháp tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000 : 1- vì nhu cầu mục vụ, 2- gương lãnh đạo của ban giám đốc, 3- sự cộng tác của toàn giáo dân, 4- qui tắc tiến trình, 5- tổ chức hệ thống, 6- cải thiện và cầu tiến liên tục, 7- quyết định theo dữ kiện khách quan, 8- chia phần kết quả cho mọi người tham gia. 

Nói rộng hơn và tổng quát hơn, thì có thể bảo rằng quản trị mục vụ văn hoá bao gồm những nguyên tắc tổng quát của chính sách và những hoạt động cụ thể đã được chính sách thiết kế và hướng dẫn (3). Năm nguyên tắc căn bản có thể giúp lựa chọn, thực hiện, mở rộng và cải tiến hoạt động mục vụ văn hoá. Thứ nhất, hoạt động phải có chính nghĩa, hợp với Phúc âm của Chúa Kitô và dậy bảo của Giáo hội ; Nó có thể lay chuyển lòng người, khiến họ dám tự nguyện dấn thân, dám hy sinh công, của, thời giờ, sức khoẻ, mạng sống. Thứ hai, hoạt động phải có thiên thời, cân nhắc lợi hại, nghĩa là thích hợp với môi trường của cộng đoàn mà trong đó nó được thực hiện. Thứ ba, nó phải có địa lợi, tức là phải hợp với tình huống hiện thực bây giờ và ở đây, hợp với khả năng và sức lực của cộng đoàn. Thứ tư, hoạt động phải được thực hiện do một đội ngũ tướng tốt tối thiểu, tức là nhân lực, lãnh đạo, cán bộ, thừa hành,...có khả năng về nhiều phương diện, khả năng kỹ thuật, khả năng giao tế, khả năng truyền thông, khả năng tác phong, khả năng nhân bản, khả năng thiêng liêng,…Thứ năm, hoạt động phải được thực hiện trong một khuôn khổ pháp chế tối thiểu, với một sự tôn kính, tham dự, thông phần tối thiểu, có trật tự và thứ bậc, theo chức phận và năng  khiếu. 

Ở bất cứ một đơn vị nào của giáo hội : hội đoàn, giáo xứ, giáo phận, mục vụ văn hoá đều cũng đã được thực hiện ở hai nhóm công việc có liên hệ hỗ tương, là những sinh hoạt cụ thể và những trăn trở suy tư chính sách. Thường thì mục vụ văn hóa đã được bắt đầu bằng những sinh hoạt cụ thể. Rồi những sinh hoạt cụ thể này tích luỹ, sinh hoạt trước kéo theo sinh hoạt sau, sinh hoạt này kéo theo sinh hoạt khác ; những kinh nghiệm từ từ cô đọng lại, lôi cuốn suy nghĩ, cải tiến hoạt động, phát sinh ra những nguyên tắc nền tảng. Hoạt động suy nghĩ ra chính sách. Chính sách phát triển và cải tiến hành động.  

Lập được chính sách, quả là một công việc quan trọng. Nhưng chính sách sẽ vô nghgĩa và trống rỗng, nếu không có những hành động cụ thể. Nói khác đi, nếu câu hỏi hỏi rằng « Làm thế nào để phác thảo một chính sách mục vụ văn hoá ? » là quan trọng để đưa ra được những nguyên tắc căn bản để hành động, thì loạt câu hỏi liên hệ đến sự thực hiện những hành động mục vụ văn hoá mới là quyết định, thực tế và hữu hiệu. Những hành động văn hoá nào đã được thực hiện, có thể được thực hiện, phải được thực hiện, theo ưu tiên nào ? Nên thiết lập một chương trình hành động mục vụ như thế nào, theo những tiêu chuẩn nào, trong lãnh vực nào ?

Những sinh hoạt cụ thể cho mục vụ văn hóa trong một giáo xứ, tùy nhu cầu và phương tiện, có thể có rất nhiều hình thức khác nhau. Linh mục Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh, trong bài « Sách Ðạo », đăng trên Bản Tin Dũng Lạc số 3, 01.03.2008, trang 26 đã nêu lên  những sinh hoạt sau đây mà Ban Văn Hóa Giáo Xứ có thể làm : « lớp học tình thương,  bồi dưỡng Anh Văn, vi tính vv… Rất nhiều việc BVHGX có thể làm:

- Trang thông tin của giáo xứ

- Báo tường các đoàn thể

- Khuyến học, khen thưởng học sinh giỏi

- Giới thiệu các trang mạng Công giáo cho các bạn trẻ

- Sinh hoạt tết cho học sinh hai năm cuối và sinh viên của giáo xứ

- Thánh lễ nhân ngày nhà giáo hoặc dịp hè, cho các thầy cô công giáo

- Tổ chức hội thi đọc sách

- Tổ chức giải sáng tác văn thơ, báo tường

- Tổ chức phòng đọc sách và giúp đăng ký mua sách, băng, đĩa, phim đạo

- Vận động tư nhân lập quầy bán ảnh tượng và sách vở Công giáo tại giáo xứ ».

Chú thích :

(1). Trần Ðông Nam, Lê Xuân Mai ; Tôn Ngô binh pháp ; Thanh Hoá : Nhà xuất bản Thanh Hoá ; 1996, tr. 24-25

Tôn Ngô binh pháp, bọn Tào Tháo mười nhà chú thích (Ngô Văn Triện dịch) ; tr. 23-24

(2) Nguyễn Trung Tín, Phạm Phương Hoa, Quản lý có hiệu quả theo phương pháp DEMING, TP HCM: NXB Thống Kê, 1996, tr. 11-36

(3). Trần Văn Cảnh; Mục vụ Văn hóa, http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=chapter&id=53&ib=284&ict=3059

(4). Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh (lm); Sách đạo, 1. In ấn, phát hành và gia tăng số người đọc sách, http://www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=3334

 

Về Mục Lục

Có cần lập một Ban Mục Vụ Văn Hóa trong mỗi Cộng Đoàn Công Giáo không?

Chưa kịp trả lời thì tôi đã phải giật mình đọc mấy hàng chữ của ĐGH Gioan Phaolô II. Năm 1982 khi thành lập Hội Đồng Giáo Hoàng về Văn Hóa, ngài đã nói riêng với Đức Hồng Y Poupard với niềm xác tín qua kinh nghiệm đời mình: “Nếu không có một chương trình mục vụ về văn hóa thì chẳng có chăm sóc mục vụ gì cả.”

Thế là thế nào?! Từ bao năm nay mình vẫn làm mục vụ, lo làm lễ, cử hành các bí tích, rao giảng Lời Chúa trong các thánh lễ, sinh hoạt hội đoàn... cho xứ đạo có thể chạy được, mà ngài lại bảo “chẳng có chăm sóc mục vụ gì cả” là làm sao!

Thì ra cho đến hôm nay, tôi cũng như nhiều người được đào tạo mang một mô thức và một tâm thức (tức một cách nhìn và cách hành xử) để thi hành một nhiệm vụ vỏn vẹn trong lãnh vực nhà thờ, “bó rọ” trong một cộng đoàn, gọi là mục vụ thiêng liêng, còn những mảng đời khác xem ra tôi cũng chẳng để tâm cho đủ, như mục vụ xã hội cũng chỉ coi là một vài việc làm bác ái nào đó... Và tuyệt nhiên chẳng để bao phần trăm sức lực và chất xám cho mục vụ văn hóa, vì xem ra chẳng có gì “ăn uống” với nhiệm vụ của mình cả, như là chuyện của người khác, nếu có ai làm chuyện đó thì mình cũng nghĩ đó chỉ là chuyện thêm hoa hoè hoa sói như đồ trang sức mà thôi!

KIỀNG MẤY CHÂN?


Thế là kiềng ba chân chỉ còn có một thì làm sao ĐGH Gioan Phaolô không bảo là “chẳng có chăm sóc mục vụ gì cả”. Và liệu có đứng vững như vậy được không trong đà tiến mới mà không chao đảo không? Kinh nghiệm của ĐGH Gioan Phaolô II khi bước chân ra khỏi nhà thờ là đã phải đối diện và đương đầu với một xã hội có thực, vẫn gọi là dấn thân trần thế. Một xã hội mà tiêu chuẩn nhiều khi đối nghịch với niềm tin đạo Chúa, một nền văn hóa vô thần và duy vật, vì con người được xác định rõ ràng bằng văn bản của “sư phụ” là “con vật kinh tế” mà!


Và ĐGH Biển Đức XVI thì lại hay nói tới một nền văn hóa của thần chết tương đối hóa mọi giá trị để chỉ còn một giá trị tôn thờ “duy con vật” của xã hội tục hóa Âu Mỹ và những nước chậm tiến đang rướn cổ đuổi theo với những khủng hoảng đang thấy được, như những lớp di dân từ vùng thôn quê vào thành phố kiếm công việc làm ăn, bị bứng ra khỏi cái nôi vẫn coi là yên ổn từ nhiều năm nay nên phải lay lất như cái cây bị bật rễ! Chả lẽ đó không phải là việc mục vụ của mình vì họ không thuộc xứ đạo mình sao?!

Mục vụ là công việc chăn nuôi thì việc chăm sóc phải thấy rõ nhu cầu của con người ngày nay gồm ba chiều kích, không thể thiếu một chiều kích nào được. Và bây giờ nhiều người thấy rõ cái mô thức mục vụ kiềng ba chân, chỉ thiếu một chân là đã mất cân bằng:

- Mục vụ thiêng liêng.

- Mục vụ xã hội.

- Mục vụ văn hóa.

NHỮNG THAO THỨC CÓ THỰC

Mấy năm gần đây về phía giáo dân đã có những bài viết đề cao mục vụ văn hóa và nói lên tầm quan trọng trong đà tiến của xã hội khi phải đối diện với nhiều chiều kích mới mà nhiều khi ra khỏi nhà thờ mình thấy lảo đảo! Lý do dễ hiểu là một tuần nhiều người chỉ đến nhà thờ được một giờ đã là loại khá, nghe lời Chúa và lời giảng khoảng 10 phút mà nhiều khi chưa kịp lọt tai, đang khi phải sống với đời sống thực với tất cả số thời giờ còn lại, giữa những trạng huống rất ngược với những điều vừa nghe trong nhà thờ, chưa kể là những giao tiếp với những bạn bè và hội đoàn xã hội và chính trị, cũng như rất đông người ngoài Công giáo hay những văn hóa phẩm giải trí hoặc thăng tiến vượt ra khỏi tầm tay của nhà thờ. Đâu là cách hành xử của mình như một người Công giáo sống đạo giữa đời? Đâu là chiều kích ngôn sứ của người “được sai đi loan báo Tin Vui”?


Trên Mạng Lưới Dũng Lạc góp tư liệu xây nhà văn hóa & niềm tin, trong trang Mục Vụ Văn Hóa (www.dunglac.net/mucvuvanhoa) đã có loạt bài rất đáng chú ý của Gs. Trần Văn Cảnh về Sinh Hoạt Văn Hóa của Giáo Xứ Việt Nam ở Paris, và tập tài liệu giới thiệu chính sách mục vụ văn hóa.

“Trong điện văn gởi cho Giáo Xứ Việt Nam Paris ngày 25.06.1996, nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Giáo Xứ, «Ðức Thánh Cha khuyến khích các tín hữu Việt Nam Paris dùng việc cử hành đại lễ kỷ niệm 50 năm thành lập giáo xứ của họ như khởi điểm của một giai đoạn mới trong đời sống cộng đoàn giáo xứ, mà thuỷ chung trung tín với văn hoá việt nam của họ và liên đới với dân tộc việt nam của họ, hầu trở thành những chứng nhân phát huy tinh thần Phúc Âm giữa đồng bào và anh em của họ.”

Linh mục chính xứ đã ghi nhận việc này khi viết: «Là một cộng đoàn sắc tộc tại thủ đô Paris, Giáo Xứ Việt Nam không thể không là một « cộng đoàn văn hoá». Văn hoá phản ánh nếp sống riêng của dân tộc ta, văn hoá ăn sâu vào cách sống đạo của người công giáo việt nam, văn hoá cần thiết để hội nhập vào xã hội Pháp tiếp đón chúng ta. Vì thế, ngay từ khi mới thành lập, tại trung ương đã có quán cơm xã hội, nghĩa là đã có «các món ăn việt nam», đã có báo chí, nghĩa là những tờ báo «chữ việt nam», đã có những buổi học tập, diễn thuyết bằng tiếng việt dành riêng cho «đồng bào việt nam», vừa để bảo toàn tinh thần văn hoá dân tộc, vừa chuẩn bị cho họ «hội nhập vào văn hoá và xã hội Pháp.”

Tiếp đến là loạt bài viết của ông Nguyễn Long Thao “Hoạt động văn hóa của giáo xứ Việt Nam tại Paris”. Đây là bài viết đặc sắc, nói lên một nỗ lực cụ thể về sinh hoạt văn hóa nơi một xứ đạo. Bài viết này đã tạo được độ rung mạnh nơi các cộng đồng Công giáo Việt khi phải nhìn lại những ưu tiên về mục vụ hiện nay. Một trong những phản ứng rất tích cực là bài viết của ông Trần Vinh “Nhân đọc bài Hoạt động văn hóa của giáo xứ VN tại Paris của Nguyễn Long Thao.”

Một cách cụ thể, giáo xứ Việt Nam tại Paris đã có một Ban Mục Vụ Văn Hóa rõ ràng, với một số sinh hoạt đã đạt thành quả

* Báo Giáo Xứ Việt Nam, Paris: Từ 1975 tới nay đã thực hiện 206 số. Nội dung luôn có những bài về Lễ Tết, các tập tục cưới hỏi, tín ngưỡng dân gian, các đề tài văn học, các tác giả, về tiếng Việt, những tâm tình yêu thương, nhớ nhung quê hương đất nước, v.v.

* Giáo xứ đã tổ chức được 44 cuộc diễn thuyết do các học giả và giáo sư, trong số đó nhiều đề tài về văn hóa dân tộc: Đời Sống Thôn Quê Việt Nam Với Vấn Đề Điền Địa, Đời Sống Tín Ngưỡng Của Dân Tộc Việt Nam, Thi Ca Dân Tộc, Hôn Nhân Xưa Và Nay, Quan Niệm Về Trời, Giáo Dục Việt Nam Qua Tác Phẩm Đoạn Tuyệt, Thờ Cúng Tổ Tiên, Mê Tín Dị Đoan Của Người Việt Nam, Việt Nam Văn Hóa, Văn Minh Và Văn Chương, Thi Sĩ Hàn Mặc Tử, Vua Quang Trung, Alexandre De Rhodes-400 Năm Sinh Nhật, Sự Nghiệp Văn Hóa Và Kiến Trúc Của Cụ Sáu Trần Lục, Mạn Đàm Về Thơ, Học Giả Petrus Trương Vĩnh Ký, Nhà Văn Hóa Huỳnh Tịnh Của, v.v.

* Giáo xứ đã xuất bản 54 cuốn sách. Chỉ riêng cuốn Đức Tin Và Văn Hóa ra năm 2004 đã bao gồm tới 13 bài khảo luận văn hóa rất công phu và hữu ích: Niềm Tin Trong Văn Hóa Việt Nam (gs. Tạ Minh Khánh), Đất Việt Là Quê Hương Của Đạo Trời (ls. Lê Đình Thông), Chữ ‘Trời’ Trong Một Số Cổ Thi Quố Âm Việt Nam (bs. Nguyễn Văn Ái), Đồi Chiếu Các Tín Ngưỡng Và Tôn Giáo Ở Việt Nam Với Kitô Giáo (lm. Mai Đức Vinh), Đức Tin Công Giáo Và Niềm Tin Phật Giáo (ls. Nguyễn Thị Hảo), Đạo Nào Cũng Giống Nhau? (lm. Mai Đức Vinh), Âm Nhạc Cổ Truyền Việt Nam (gs. Phương Oanh), Hội Nhập Văn Hóa Qua Thánh Ca Việt Nam (gs. Hồng Nhuệ), Đức Hiếu Thảo (Bình Huyên), Tôn Kính Tổ Tiên (lm. Mai Đức Vinh), Đóng Góp Của Thơ Công Giáo Vào Việc Truyền Bá Tin Mừng (phó tế Phạm Bá Nha), Thư Mục Báo Chí Công Giáo Việt Nam (lm. Trần Anh Dũng),Cây Văn Hóa Việt Nam Trồng Tại Giáo Xứ Paris (gs. Trần Văn Cảnh).

Và ông Trần Vinh kết luận: “Tác giả Nguyễn Long Thao đã nhận xét thật xác đáng: ‘Chính sách mục vụ văn hóa giáo xứ luôn đặt việc rao giảng Tin Mừng trong bối cảnh hội nhập văn hóa Việt Nam, lúc thì đức tin Kitô giáo được lồng trong khuôn mẫu văn hóa Việt Nam, lúc thì văn hóa Việt Nam được trình bầy dưới chiều kích niềm tin Kitô giáo.’”

THỬ NHÌN QUA NHỮNG CHIẾN LƯỢC TRUYỀN BÁ “SỨ ĐIỆP” MANG CHẤT THUYẾT PHỤC

Những quảng cáo trên Tivi hằng ngày vẫn được gọi là những sứ điệp (message), có ý truyền thông một “tin mừng” nào đó tạo chất thuyết phục và ham thích. Hãng Sony, bia Budweiser, nước Coke dù đã chế ngự thế giới rồi mà vẫn cứ tiếp tục nhồi vào máu, ám vào tim mọi người qua những quảng cáo liên tục, khiến cho thiên hạ không mua không được.


Muốn thành công truyền đạt một “sứ điệp”, các hãng thường phải dành khoảng một phần ba ngân sách. Quảng cáo trên Tivi trong giải Superbowl chỉ trong 30 giây đã phải trả 3 triệu Mỹ kim mà người ta cũng sẵn sàng bỏ tiền ra, vì chuyện đó sẽ đạt kết quả gấp bội.

Vào thời đại truyền thông đại chúng, ai cũng rao truyền quảng bá một điều gì đó, từ quảng cáo đến những khuynh đảo của đảng phái chính trị! Ai cũng tìm cách lôi kéo người khác theo mình, mua hàng hóa của mình. Và họ đã đạt thành công nhờ những kỹ thuật cao độ, tạo được tính thuyết phục. Người ta tin là vì được nghe nói tới nhiều, xem tận mắt những trình bày hấp dẫn mang lại tiện ích. Người ta đã tạo được đòn tâm lý là mọi người đều thích món hàng đó, rất hợp thời!

Sở dĩ các lái buôn thành công trong việc xỏ mũi thiên hạ mà lôi đi, vì họ đã áp dụng đúng chiến thuật gồm bốn điểm:

1. Tạo ra niềm tin rằng cứ mua mấy thứ sản phẩm đó là thế nào cũng ngon lành hạnh phúc. Trong quảng cáo, ai cầm lon nước Coca uống cũng vui vẻ yêu đời quá sức; ai dùng loại xà bông gội đầu đó thì tóc cũng óng mượt bay bay như mây trời.

Đ
âu có ngờ là người mẫu này có thể chả dùng loại xà bông đó, nhưng vẫn phải cười tươi, nhe răng đúng độ bài bản, đứng trong phòng studio cho những tay lấy ảnh chuyên nghiệp vẽ vời: năm sáu loại đèn chiếu khác nhau từ nhiều góc cạnh cho nét mặt nổi lên như ba chiều vậy, cho tóc long lanh mầu nắng thủy tinh; rồi để quạt máy thổi từ góc phòng cho tóc bay bay. Thế là ăn ảnh đứt đi chứ. Rồi ngầm bảo rằng đẹp như vậy là do xà bông gội đầu loại đó. Thế là người ta cứ răm rắp tuân lệnh mà mua về. Vẫn có nhiều kẻ tin hơn kinh Tin Kính!

2. Tạo cảm tưởng tin rằng mọi người đang dùng sản phẩm đó cả, hợp thời và văn minh quá sức. Vậy là nếu không mua thì tự cảm thấy lạc hậu chẳng giống ai. Thôi đành cũng phải gồng mình chứ biết sao.

3. Cứ ám ảnh bằng ấn rất nhiều hình ảnh qua mọi hình thức, để thành phản ứng tự động mà không cần suy nghĩ đúng sai. Chẳng hạn như những hình ảnh của công ty Disney xuất hiện trong bất cứ gì liên hệ tới đời sống hằng ngày của trẻ, từ sách học đến những chương trình hoạt họa và các đồ chơi.

Đ
ây là một khám phá của khoa tâm lý thời mới: đa số các phản ứng và hành động của con người đều do những hình ảnh trong đầu, chứ không phải là những suy tư lý luận. Vì nhiều hình ảnh chả hợp lý tý nào mà nhiều người vẫn theo. Vậy là người ta cứ "nhất trí" suy nghĩ bằng những hình ảnh đó, hành động theo kiểu những hình ảnh đó. Vậy là “văn hóa toàn cầu” đạt đích.

4. Tạo ấn tượng cứ phải leo thang thêm cho hợp thời. Bất cứ một sản phẩn nào vừa ra lò thì ngay ngày sau đã thấy giới thiệu một thứ mới nâng cấp "up-grade". Vừa mua xong cái máy này chưa kịp sử dụng đã thấy bị lỗi thời, vì kìa một mặt hàng mới cùng loại hấp dẫn hơn nhiều đa xuất hiện. Cứ thế mà sinh bất mãn kinh niên. Lại phải lo nâng cấp hay thay thế cái mới. Và chả bao giờ thỏa, vì các tay làm ăn luôn tìm ra cái mới hơn nữa để chiêu dụ thôi thúc lên cơn thèm khát nhức nhối không cùng!

Joseph Kincheloe và Shirley Steinberg trong khảo cứu về Mức Ảnh Hưởng Tới Lớp Trẻ đã cho biết rằng hiện nay hai công ty Disney và McDonald's có mãnh lực đào tạo cách suy nghĩ và hành động của trẻ mạnh hơn cả hệ thống trường tiểu học.

Cách đây mấy năm, chỉ nguyên ba hãng Gatorade, Hanes, và MCI WorldCom đã phải trả từ 42 tới 47 triệu Mỹ kim một năm cho thần tượng thể thao môn bóng rổ là Michael Jordan để thuê anh chàng này tươi cười cầm chai nước ngọt Gatorade, sử dụng điện thoại hay mặc đồ Hanes.

Chưa kể một điều khác khủng khiếp hơn, đó là tiền trả của hãng Nike cho một mình Michael Jordan quảng cáo trong vòng mấy chục giây cho giầy Nike nhiều hơn là tổng số tiền lương của tất cả nhân công làm cho hãng Nike. Thế mới biết ai mua giầy Nike là đã phải trả tiền cho Michael Jordan nhiều hơn là giá trị thật của đôi giầy.

Vì chiến thuật của hãng nhằm làm sao tạo ra được ấn tượng là ai cũng thích giầy Nike, dân sành điệu là phải đi giầy Nike, vì đi giầy đó thì sẽ đầy hoạt lực và hiệu năng như Mike Jordan như lời “rao truyền” thôi miên: “Hãy như Mike!” (Be like Mike). Mặc đồ có dấu Nike là theo được đà tiến bộ, vì kìa tất cả mọi cầu thủ chơi giải Túc Cầu Thế Giới hay giải Super Bowl đều mặc đồ Nike.

Và ban cầm đầu hãng Nike mỗi tháng hay cuối năm ngồi lại tính sổ sẽ vỗ tay cười chiến thắng vì chiến thuật của mình thành công trông thấy, vì đã xỏ mũi sai khiến được bao người ngoan ngoãn nghe lệnh mình, ít người có thể cưỡng lại được. Nguyên một mình Michael Jordan qua quảng cáo đã làm cho hãng Nike thu lợi thêm được trên 5 tỷ tiền Mỹ.

MÌNH ĐÃ CÓ SÁCH LƯỢC MỤC VỤ VĂN HÓA CHƯA?

Ngày nay ai cũng nói tới kinh tế toàn cầu, văn hóa toàn cầu. Nhưng có dịp đào sâu hơn, người ta ngỡ ngàng nhận ra chính truyền thông đã có quyền lực đào tạo cách suy nghĩ và hành xử của con người trong thời đại mới, theo một giá trị và một mẫu mực giống y như nhau, bên Đông cũng như bên Tây.


Trước khi có toà đại sứ Mỹ tại Hà nội thì đã có CNN. Đây là tiếng nói của tổ chức siêu quyền lực lèo lái “khắp tứ phương thiên hạ” đi vào chiều hướng toàn cầu hóa theo một “trật tự mới” (novus ordo seclorum) như đại ấn tín (the great seal) được công khai in trên tờ một đồng tiền Mỹ.

Vào thời đại ai cũng mạnh bạo và hiên ngang truyền đạt “sứ điệp” một cách thành công, thì có thể mình chỉ loanh quanh mấy sinh hoạt trong một xóm đạo, qua mục vụ thiêng liêng và mấy hoạt động hội đoàn, với những cách chuyển đạt đã lỗi thời, không còn đủ lực hấp dẫn! Nhiều người chỉ đến nhà thờ mỗi tuần được một lần, “chính sách mục vụ” dành cho việc truyền thông sứ điệp Tin Vui chỉ vỏn vẹn có 10 phút qua phần Lời Chúa và chia sẻ, mà không chắc được mấy chữ lọt vào tai! Không phải là vì “thế gian” quá khoẻ lấn lướt, mà có thể mình chưa cảm thấy được sức mạnh của lãnh vực truyền thông để hình thành một chính sách mục vụ văn hóa, diễn đạt làm cho Tin Vui vui thật.

Giáo dân Việt Nam rất rộng lượng. Kêu gọi góp tay làm ân nhân xây nhà thờ thì rất hào hứng. Sở dĩ vậy vì mục vụ cho đến nay vẫn đặt nền từ đơn vị xứ đạo, nên mọi sinh hoạt của mình chỉ quanh quẩn trong một làng nhỏ, một xóm đạo, nhu cầu và tầm nhìn cũng có biên giới ở đó. Một linh mục sau thời gian thụ huấn cũng được cử về một “đơn vị”, có nhiệm vụ cho “đơn vị” đó chạy được. Đó là một tâm thức đã được hình thành từ nhiều năm và nhiều đời thành một cái nếp suy nghĩ và nếp hành xử, mà chưa kịp nhận thức và đạo tạo một tâm thức mới với những nhạy cảm mới.

CÓ CẦN MỘT BAN MỤC VỤ VĂN HÓA KHÔNG?


Ở hải ngoại, người Công giáo Việt Nam trước đây rất tha thiết hỗ trợ xây lại các nhà thờ, bây giờ thì lại nhạy cảm về những chương trình giúp người nghèo, đặc biệt là người cùi.


Nhưng lãnh vực tuyền thông và văn hóa thì xem ra vẫn được xếp loại “xa xỉ phẩm”, đang khi ai cũng thấy quyền lực của nó trong thế giới ngày nay. Có nhiều “cơ quan ngôn luận” ăn nói ngổ ngáo sai lệch, mà nếu mình có đọc qua thì chỉ bảo là chuyện tầm phào, nhưng đâu có ngờ là nhiều người đang đọc nó mà coi là những khám phá mới lạ thích thú. Truyền thông đại chúng là vậy, không thể coi thuờng được.

Vậy mà một bản “sứ điệp” qua một bài giảng có hay mấy cũng chỉ tới tai được trung bình một ngàn người trong vòng năm tới mười phút, và tầm đi xa được có mấy chục thước tới cửa nhà thờ. Từ lý thuyết trong đạo, ở cuối lễ có “chúc anh chị em đi bình an”, người tín hữu nhận sứ mạng được Chúa sai đi rao giảng Tin Mừng. Nhưng thử hỏi mình đã làm gì và bằng cách nào để truyền đạt sứ điệp đó?

Đ
ã là sứ điệp thì phải nói ra được, diễn ra được, loan báo được, có nội dung đàng hoàng, để người khác có thể cảm nhận. Sứ điệp này phải mang chất thuyết phục, làm mê thích, mang lại kết quả cao.

Trong bức thư thành lập Hội Đồng Giáo Hoàng về Văn Hóa vào năm 1982. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết: Một đức tin không kiến tạo văn hóa là một đức tin không hoàn toàn được chấp nhận, không được nghĩ suốt, và không được sống cách trung tín.

Tại sao giáo dân đã được đào tạo để nhạy cảm làm ân nhân xây những cái cột nhà thờ lớn, mà không được trồng tỉa nên một tâm thức xây ngôi nhà văn hóa Công giáo có liên hệ tới sứ mạng loan báo Tin Vui.... Xây cất nhà thờ là điều cần thật, nhưng xây ngôi nhà văn hóa Công giáo cho đạo mình có thể bén rễ sâu vào đại chúng, vào tâm thức người mình thì chắc chắn phải cần hơn trong lúc này.

Đ
ó là chính sách đầu tư cho những chương trình huấn luyện chất xám, về sách vở, về mạng lưới vi tính, về cơ sở văn hóa....Có thể đây là một thiếu sót lớn trong chương trình giáo dục tôn giáo? Chả lẽ mỗi lần nói đến truyền giáo là chỉ nghĩ về chuyện đi lên mấy buôn làng người Thượng?

Đ
ường hướng và chính sách truyền đạt sứ điệp Tin Mừng cho đất nước mình và người mình phải là một kế sách thống nhất từ trên, từ Hội Đồng Giám Mục, từ những chương trình đào tạo. Mục vụ văn hóa có là một môn học cần thiết trong chương trình huấn luyện trong các chủng viện và dòng tu? Có kế hoạch nào đào tạo cảm quan dành đúng chỗ cho những sinh hoạt mục vụ văn hóa trong các xứ đạo?

Khi từ trên đã thống nhất đuờng hướng, những vị lãnh đạo đã thấy rõ môi trường, phương thức và mục tiêu đã chọn lựa ưu tiên trong chính sách loan truyền Tin Vui cho thời đại mới, thì tự nhiên giáo dân cũng rung cảm. Và một tâm thức mới có thể hình thành. Và lúc đó mới có được những ân nhân sẵn sàng góp tay xây ngôi nhà văn hóa Công giáo.

Về điểm này, ông Nguyễn Long Thao đã nhận xét: “Thế nhưng, nếu chúng tôi không lầm thì các giáo xứ Việt Nam hiện nay ở hải ngoại, hầu như chỉ chú ý đến mục vụ thiêng liêng, một chút về mục vụ xã hội. Còn mục vụ văn hóa, ngoài cái công tác dậy Việt ngữ cho các em thiếu nhi ra, giáo xứ rất lơ là về mục vụ văn hóa, coi đó là một thứ xa xỉ phẩm. Nếu có sinh hoạt mục vụ văn hóa nào đó thì cũng chỉ là công tác cá nhân, không phải là sinh hoạt chính của giáo xứ. Một bằng chứng cụ thể là tại San Jose, California nơi có số giáo dân đông vào hàng thứ nhì trên nước Mỹ, thế mà không có một tờ báo Công giáo nào, còn các sinh hoạt văn hóa khác chỉ “năm thì mười họa”!

Chúng ta cứ thường nghe phải nỗ lực rao giảng Tin Mừng. Nhưng lời kêu gọi trên đây liệu có ý nghĩa gì và liệu có hữu hiệu hay không nếu không dùng phương tiện mục vụ văn hóa.

CHỪNG NÀO MỚI BẮT ĐẦU KẺO SỢ RẰNG QUÁ MUỘN?


Thế giới bây giờ tiến quá nhanh với những vấn đề mới và nhu cầu mới. Kinh nghiệm từ các giáo hội Âu châu cho thấy, nếu mình không đáp ứng kịp mà chỉ lo giữ cơ cấu thể chế, thì một lúc nào đó người ta sẽ bỏ mình, bỏ đạo mà chạy theo các “bùa” hộ mạng. Lúc đó thì mình chỉ còn biết lẽo đẽo chạy theo đàng sau một cách tội nghiệp. Điều này cũng có thể đúng cho cả Việt Nam trong lúc chuyển mình tiến lên kinh tế thị trường.


Đ
GH Biển Đức quả là một người rất nhạy bén đã nhìn thấu những dấu chỉ thời đại qua văn hóa, nhận định cặn kẽ về những chuyển biến này để tìm ra giải pháp cho giáo hội trong lúc lịch sử đang sang trang.

Nhìn vào sách vở Công giáo bằng tiếng Việt mình, trước đây vốn đã nghèo nàn thưa thớt, mà từ thời điểm 1975 thì quả là một lỗ hổng quá lớn! Lớp người ra đi hay ở lại đều trải qua một giai đoạn kinh hoàng. Phải mất một thời gian dài chao đảo không an cư làm sao lạc nghiệp?! Mà ở trong nước thì lo bơi lội để sống sót đã là phúc rồi.

Thành thử ra mấy chục năm trời hầu như không có một công trình nào bề thế về văn hóa Công giáo trừ những bài báo rải rác đó đây, hay những tiếng than van mà chẳng biết bắt đầu từ đâu! Bây giờ hơi tạm “hoàn hồn” thì thế hệ đầu đã đến tuổi ngồi thở, mà thế hệ trẻ thì chưa được sửa soạn để sẵn sàng!

Nhiều người đã bắt đầu bàn tới một thư viện online, một hệ thống có tổ chức để dịch những sách quá cần thiết đáp ứng nhu cầu giáo hội Việt Nam đã nhiều năm thiếu vắng sách vở, một mạng lưới văn hóa Công giáo, nhưng điều quan trọng vẫn là ai làm, làm bằng cách nào, và ai có thể bắt đầu?!

MỘT VÀI NỖ LỰC GÓP TAY ĐI TỚI

Cuối tháng Giêng năm 2008, một cuộc họp mặt của tác giả Đồng Xanh Thơ được tổ chức tại toà giám mục Phan Thiết, do nhà thơ Cao Huy Hoàng điều hợp. Sau hai tập góp nhặt thơ Công giáo “Thơ Đọng Đầu Nguồn” từ những bài thơ từ ngày có đạo Chúa tại Việt Nam, do nhà thơ Lê Đình Bảng chủ biên, cũng như “Góp Nhặt Thơ Công Giáo Hôm Nay” (tập 1) do linh mục nhà thơ Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh chủ biên, cuộc họp mặt này ghi mốc một nỗ lực đáng kể sau một năm góp sức và được đưa lên Mạng Lưới Dũng Lạc. Cả hai tập thơ trên cũng đã được đưa vào Tủ Sách Dũng Lạc. Và hiện cũng đang có một dự tính cho việc hình thành một Trang Văn Xuôi Vườn Non Ô-liu để trồng những cây viết trẻ.


Nhiều người đã từng thao thức về tình trạng văn hóa và văn học Công giáo chưa được phổ biến đúng tầm mức. Và ai cũng ước mong: “Giá mà mỗi người Công giáo, giáo phẩm cũng như giáo dân, ý thức hơn về ưu tiên đầu tư xây ngôi nhà văn hóa Công giáo nhiều hơn, thì cái không khí sách vở Công giáo sẽ bớt vắng vẻ tiêu điều đi, và Đạo Chúa có chiều phát triển thêm lên và sâu rộng hơn nơi đại chúng!”

Nhưng nếu chỉ trăn trở hay ngồi ước ao “giá mà…” để chờ người khác làm thì biết chờ đến bao giờ?! Kinh nghiệm các cuộc phục hưng ngay cả một dân tộc như Nhật cũng bắt đầu bằng những nhóm người dám xích lại với nhau mở tới một tâm thức mới và một chiều hướng mới đi trước cả Minh Trị Thiên Hoàng. Chỉ một nhóm nhỏ như Tự Lực Văn Đoàn cũng đã thổi được một luồng gió mới về văn học và xã hội cho thời chuyển tiếp.

Có thể đây cũng là thời điểm đã đến lúc chín mùi. Từ đầu năm 2005, với nhiều nỗ lực và kiên trì, một số anh em, gồm cả linh mục và giáo dân, đã mạo muội thử tạo ra một mạng lưới như mảnh đất để nhiều người có thể góp tay với nhau mà góp phần vào công việc cùng xây ngôi nhà Văn Hóa Công Giáo, lấy tên là Mạng Lưới Dũng Lạc (www.dunglac.org và www.dunglac.net).

Mạng Lưới mang tên thánh Dũng Lạc, vị thánh tiêu biểu các thánh Việt đã được thế giới tuyên dương, tức là trân trọng cả một đạo sống đức tin Công giáo trong tinh thần Việt, trong căn cước và lý lịch Việt, với một đường hướng hội nhập văn hóa, cũng như góp phần thăng tiến văn hóa Việt.

Mạng Lưới Dũng Lạc đã và đang thực hiện:

1. Ý thức góp phần Công giáo vào gia tài chung của Mẹ Việt Nam để xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên, như biểu hiệu Cánh Chim Dũng Lạc bay lên trong logo MLDL. Như vậy, vừa hội nhập văn hóa vừa phải thăng tiến văn hóa như nghiên cứu của Ủy Ban Giáo Hoàng về Văn Hoá trong ‘Hướng Tới Một Tiếp Cận Mục Vụ Văn Hóa’ (Toward a Pastoral Approach to Culture). Trong chiều hướng này MLDL cũng hân hạnh được nhiều người ngoài Công giáo cùng góp mặt.


Em sẽ múa điệu Văn Lang Vũ Bộ
Nhịp trống đồng gọi màu nắng ca dao.
      (Nguyễn Ngọc Danh)


2. Gom góp những tác phẩm và tư liệu về văn hóa và văn học Công giáo từ những ngày đầu tiên đầu thế kỷ 17 khi hạt giống Tin Mừng Đạo Chúa gieo vào mảnh đất quê hương Việt Nam. Hiện đã có những cuốn sách từ thời trước cha Đắc Lộ và những vị truyền giáo đầu tiên, những tập Góp Nhặt Thơ Công giáo từ thế kỷ 17, Nhân Vật Công Giáo từ thế kỷ 17, và nhiều cuốn sách quí và hiếm trong Tủ Sách Dũng Lạc. Trong đường dài mong sẽ có thể tiến tới một thư viện Công giáo online.

3. Mời gọi các cây viết Công giáo cùng góp tay vun trồng và xây dựng, coi đây là sứ mạng chung, để làm sao tạo ra được một mảnh đất mà mỗi người đều có thể đóng góp được một điều gì cho việc cùng nhau xây dựng ngôi nhà Văn Hóa Công giáo. Có người đóng góp những bài viết suy tư như về hội nhập văn hóa và mục vụ văn hóa; có người gom vào những tác phẩm, dần dà sẽ thành một cái gì lớn dần lên. Trong chiều hướng này, điều thật lạc quan là hiện đã có được trên 80 người góp mặt làm thành như Ban Biên Tập. Mỗi người đều có một Trang website riêng để gom góp những gì liên hệ cho dễ thấy và dễ tìm.

4. Trồng các mầm non: Những trang Văn Thơ Trẻ cũng đang được mở ra như trang Đồng Xanh Thơ, Vườn Non Ô-liu... Vì như kiểu nói của linh mục nhà thơ Trăng Thập Tự: “Không ai sẽ gặt được gì nếu đã không có người gieo. Ta phải gieo và ta sẽ gieo gì đây để, 30 năm nữa, mừng 500 năm Kitô giáo Việt Nam, con em chúng ta có đưa mắt nhìn vào mảnh vườn văn thơ Công Giáo sẽ khỏi phải lại gặt lấy một tiếng thở dài?”

CÓ GÌ MỪNG ĐỂ HÃNH DIỆN LOAN BÁO KHÔNG?

Đầu năm 2008, nhóm Sứ Điệp từ Boston tái ngộ với số 11, và bắt đầu đưa lên Mạng Lưới Dũng Lạc. Tập san có chủ đích rõ là chuyển đạt sứ điệp Tin Mừng bằng văn học nghệ thuật, với sự góp mặt của nhiều cây viết ngoài Công giáo trong chiều hướng đi tìm chân thiện mỹ với nhau. Nhóm đang có dự định buổi gặp gỡ trao đổi chí hướng với một số nghệ sĩ Công giáo trong sứ mạng chuyển đạt sứ điệp.


Một trong những niềm vui phục vụ, là từ ngày nhiếp ảnh gia Nguyễn Đức Cung và tôi chủ trương phòng ảnh nghệ thuật và chiêm/niệm/thiền, đã có nhiều người ngoài Công giáo thưởng ngoạn và khuyến khích: “Một tấm ảnh đúng là bằng một ngàn lời nói, vượt qua ranh giới tôn giáo để cống hiến những phút giây ấm lòng.”

Cũng từ đầu năm 2008, Bản Tin Dũng Lạc, với nội dung chủ yếu xoay quanh chủ đề chính là Văn Hóa và Đức Tin, đã bắt đầu phát hành hàng tháng dưới dạng báo điện tử, do nhóm Mạng Lưới Dũng Lạc chủ trương và Gs. Trần Văn Cảnh và Lm. Phạm Văn Tuệ điều hợp.

Quả thực, đã là tin mừng thì không chỉ để “răn bảo” nhau mấy phút trong nhà thờ, mà phải được truyền đi, nói cho người khác nghe nữa. Bản tin này phải mang chất thuyết phục vể cả nội dung lẫn cung cách diễn đạt. Người ta phải “đầu tư” bằng một ngân sách lớn để nói hay và hay nói về món hàng của họ. Nói tới rồi nói lui, nghiên cứu thị trường, đổi chiến thuật đều đều, đồi kiểu quảng cáo... để đạt kết quả cao.

Những nhà truyền giáo dòng Tên đầu tiên đến Việt Nam vào đầu thế kỷ 17 đã dành ưu tiên số một cho vần đề nghiên cứu văn hóa và tiếng nói trước khi đổ nước “con muốn vào lòng người Hoa Lang không?” Rồi bẵng đi cả mấy thế kỷ tự nhiên cái ưu tiên này bị gác sang bên cạnh mãi mới có được bộ sách của linh mục Léopold Cadière. Ngày nay, đi vào cụ thể, chúng ta đang chọn lựa chính sách nào, mục tiêu nào, phương cách nào, trong việc truyền đạt sứ điệp Tin Vui?

Linh mục Trăng Thập Tự trong bài chia sẻ về văn học nghệ thuật Công giáo đã có nhận xét rất chính xác: “Vào các nhà sách đời, ta có thể dễ dàng tìm được nhiều sách Phật Giáo, cách riêng của Thiền Tông, nhưng sách Công Giáo hầu như không có quyển nào. Sách Thiền Học lối cuốn cả người Công Giáo vì được viết với những phong cách và thể loại rất đi vào lòng người. Muốn có được cùng một sức lôi cuốn, cần có một lớp người cầm bút sống và cảm nghiệm Tin Mừng thật sâu xa... Trong một cuộc chiến tranh nhân dân, bên nào giành được giới văn học nghệ thuật thì sớm muộn sẽ chiến thắng. Đó cũng là một khoé cửa giúp ta nhìn về tương lai công cuộc phúc âm hoá tại Việt Nam.”

“Tiến tới một công việc quy mô cả nước, muốn kết quả, cần có nhiều nhân sự đủ khả năng và cơ động? Ví dụ, một trang mạng có sức lôi cuốn bạn trẻ cần phải có một nhóm người đủ năng lực và làm việc thường xuyên… Chúng con nghĩ đến những Dòng tu lớn, cả dòng nam và dòng nữ… Thiết tưởng, trong các văn kiện chính thức của nhiều Dòng, đã có hàm chứa việc truyền giáo qua con đường văn học nghệ thuật.”

Biết rằng văn học nghệ thuật quan trọng như vậy trong vấn đề truyền giáo, nhưng có chương trình nào hỗ trợ và huấn luyện những cây viết, về nội dung sứ điệp, về phương thức chuyển đạt, về nghệ thuật sáng tác...? Và đã có kế hoạch nào cho thị trường tiêu thụ các tác phẩm Công giáo?

MỤC VỤ VĂN HÓA, MỘT SỨ VỤ THUỘC CĂN TÍNH CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO

Ở hải ngoại, một số cộng đoàn đã bắt đầu một số hình thái sinh hoạt mục vụ văn hóa như giáo xứ Việt Nam tại Paris, với những sinh hoạt cụ thể như tổ chức những buổi nói chuyện vế văn hóa và văn học... Có cộng đoàn dành rõ ràng một ngân sách mỗi năm để hỗ trợ những cơ quan truyền thông, những mạng lưới Công giáo hay thư viện, dành thời biểu để giới thiệu những tác phẩm Công giáo giá trị.


Nhìn cho kỹ, ban mục vụ văn hóa cũng chính là ban truyền giáo, là chuyển đạt sứ điệp Tin Vui bằng những phương tiện hợp thời ngày nay. Đây là lúc người con Chúa cần ý thức tích cực góp phần trực tiếp vào việc truyền rao Lời Chúa bằng nhiều cách, qua văn học nghệ thuật, sách báo, mạng lưới, báo điện tử... để sứ điệp Tin Mừng không chỉ bị giới hạn trong mấy phút hay trong khuôn khổ nhà thờ, mà có thể đi tới được nhiều người, tới được cả những người ngoài Công giáo.

Cùng nhau tạo được một tâm thức mới với rung cảm mới trong lãnh vực này thì quả thật cánh đồng lúa chín đang diễn ra trước mắt kia rồi. Mục vụ văn hóa và văn học nghệ thuật quả là con đường đi tới được cánh đồng truyền giáo, vì đi thẳng được vào lòng người trong cảm quan của cuộc sống nhân sinh.

Hiện nay đã có khá nhiều trang mạng mang tính Công giáo. Trang thì mạnh về tin tức sinh hoạt, trang thì chuyên về mục vụ thiêng liêng thêm chút xã hội. Nhưng những trang riêng dành cho người Công giáo như thế đôi khi bị dị ứng đối với người ngoài Công giáo, và nhiều người chẳng muốn đi vào! Vì thế rất cần có thêm những trang về mục vụ văn hóa, tức nhằm hướng truyền giáo, chuyển đạt Tin Mừng cho đại chúng.

Mấy năm trước, anh bạn tôi phàn nàn: “Có nhiều người Công giáo viết văn, làm thơ, nhưng có rất ít nhà văn và nhà thơ Công giáo.” Ý anh muốn nói còn quá ít tác phẩm chuyển đạt được sứ điệp Tin Mừng trong khung mạch đại chúng dân mình bằng ngôn ngữ đời thường.

Không phải cứ nói tới sứ điệp Tin Mừng là phải đưa hình Chúa hay Đức Mẹ ra là được, có thể đôi khi còn bị dị ứng nữa là đàng khác, nhưng phải khởi đi từ những rung động trong tim mỗi người đang khắc khoải tìm câu trả lời cho ý nghĩa cuộc sống.

Lúc này thì cơ may đã đến, đã đúng thời chứ chưa muộn. Thời của vi tính, thời của trang mạng. Ai sẽ bắt đầu? Báo Time đã chọn chính Bạn là người quan trọng nhất trong năm (Time’s Person of the Year is You). Họ không lầm lẫn hay giỡn chơi đâu. Họ chọn thật đấy.

Bạn chính là Người Quan Trọng Nhất Năm Nay, khi bạn biết mở đọc, góp tay bằng tinh thần và vật chất, và giới thiệu các mạng lưới truyền sứ điệp Tin Vui. Ưu thế của truyền thông là nói hay và hay nói về sứ điệp mình đang muốn chuyển.

Mục vụ văn hóa như vậy không còn phải là chuyện thêm thắt trang hoàng nữa, mà là một mệnh lệnh đang bắt đầu cụ thể, một sứ vụ bắt buộc làm nên bản sắc người Công giáo. Và một hội đồng gọi là mục vụ thì ngoài các ban về phụng vụ, tài chánh, xã hội, thăng tiến nội tâm... không thể thiếu ban mục vụ văn hóa, có nhiệm vụ tạo ý thức và rung cảm, đôn đốc các chương trình cụ thể nơi xứ đạo của mình để mở tới những cửa ngõ đi vào cánh đồng truyền giáo đang hiện thực.

“Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng...” (Lc 4:18).

“Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân thành môn đệ...” (Mt 28:19)

Và ĐGH GioanPhaolô II thì khẳng định: "Chỉ khi nào đi vào lòng một nền văn hóa và qua một nền văn hóa, Ðức Tin Công giáo mới thực sự tham dự vào lịch sử và kiến tạo lịch sử." (Tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân" #44)

Lời quả quyết của Ngài vẫn là một thách đố đối với các cộng đoàn Công giáo khi thành lập hội đồng mục vụ: “Nếu không có một chương trình mục vụ về văn hóa thì chẳng có chăm sóc mục vụ gì cả.”

Lm. Trần Cao Tường

Về Mục Lục

Vấn đề “triết lý giáo dục”                                   

Giáo dục và đào tạo phải là quốc sách hàng đầu trong chiến lược công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước ở giai đoạn toàn cầu hóa này. Đầu tư cho giáo dục vì vậy chính là đầu tư cho tương lai. Nhưng nền giáo dục Việt Nam hiện nay quá yếu kém, bất cập, mất định hướng, thiếu triết lý giáo dục và tụt hậu thê thảm so với nhu cầu của thời đại. Mặc dù vẫn rất khó đạt được đồng thuận về định hướng và giải pháp cho việc cải tổ giáo dục Việt Nam, nhưng chắc hẳn nhiều người sẽ đồng ý với Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi cho rằng “đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để có tính cách mạng nền giáo dục là một điều kiện tiên quyết để đưa nước ta tiến lên nhanh và vững trên con đường hiện đại hóa đất nước (1)” 

Chắc chắn nhiều người hiện diện trong cuộc Tọa đàm (2) này đã trực tiếp hay gián tiếp bày tỏ nguyện vọng, quan điểm và kiến nghị về những liệu pháp chữa trị cho nền giáo dục của chúng ta. Qua cuốn sách “Những vấn đề giáo dục hiện nay. Quan điểm & Giải pháp”, NXB Tri Thức đã tập hợp những nhận định và kiến nghị về vấn đề giáo dục của nhiều tác giả tên tuổi. Ban Tổ chức chúng tôi rất vui mừng tìm gặp trong cuốn sách này nhiều đồng thuận lý thú. Chúng tôi ước mong rằng buổi Tọa đàm này sẽ tạo cơ hội để nhân rộng hơn nữa những đồng thuận quý báu đó, đồng thời tìm cách phổ biến chúng cho quảng đại quần chúng.

1-  Khủng hoảng giáo dục

Trong một bài viết cách đây bốn năm, giáo sư Hoàng Tụy ví von nền giáo dục hiện tại của chúng ta với các khu nhà tập thể xây dựng từ thời bao cấp. “Thực chất vẫn là cái nhà cổ lỗ ấy xây dựng từ ba, bốn mươi năm trước, càng sửa chữa, cơi nới càng dị dạng, bỏ thì thương vương thì tội. Giáo dục của ta cũng giống như cái nhà ấy, nó rất khác mọi nền giáo dục bình thường ở các nước. Được xây dựng và quản lý theo quan niệm cũ, nó không giống ai, không theo qui củ thông thường, cho nên rốt cục rất tốn kém, càng phát triển càng đòi hỏi đầu tư phi lý vì qui mô và chất lượng hầu như đã đạt đến mức giới hạn trong điều kiện vật chất cho phép của đất nước hiện nay (3)” . Nói rõ hơn, cái bi đát của nền giáo dục chúng ta nằm ở giải pháp lỡ làng đó: không phá đổ cái cũ, cũng chẳng xây dựng cái hoàn toàn mới mà cứ loay hoay cơi nới ngôi nhà cũ. Nhưng càng cơi nới, ngôi nhà càng dị dạng và xuống cấp.

Hậu quả thê thảm của nền giáo dục dị dạng này ngày càng hiện rõ. Bản “Báo cáo về Phát triển trên Thế giới” năm 2006 của Ngân hàng Thế giới cho thấy Việt nam tụt lại phía sau rất xa các nước khác trong khu vực và chỉ có 2% dân số được đi học đủ 13 năm hoặc hơn nữa. Cũng theo báo cáo này thì Việt  nam đứng chót trong khu vực vì chỉ có 10% thanh thiếu niên trong hạng tuổi từ 20 đến 24 ghi danh vào các trường đại học hoặc cao đẳng. Trái lại, Trung quốc có 15% sinh viên trong hạng tuổi này đã ghi danh, Thái lan có 41% và Nam Hàn có con số thật ấn tượng là 89%”.

Đó là mới chỉ đề cập đến số lượng. Nếu so sánh về chất lượng thì càng thấy rõ tình trạng tụt hậu của Việt Nam so với các quốc gia lân cận: Năm 2006, các giáo sư và sinh viên Đại học Quốc gia Seoul (Hán thành) công bố 4,556 ấn phẩm khoa học. Trường Đại học Bắc kinh có gần 3,000. Để so sánh ta thấy cả Đại học Quốc gia Hà nội và trường Kỹ thuật Quốc gia Hà nội chỉ thực hiện được 34 ấn phẩm. Số đơn xin bằng sáng chế là thước đo hữu dụng để biết khả năng phát minh của một quốc gia. Báo cáo năm 2006 của Ngân hàng Thế giới cho biết Trung quốc có 40,000 đơn xin bằng sáng chế, trong khi ở Việt nam chỉ vỏn vẹn 2 đơn.

Chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng thẳng thắn công nhận “nền giáo dục và đào tạo của nước nhà vẫn tồn tại nhiều yếu kém, bất cập, từ việc xác định quan và mục tiêu giáo dục đào tạo, xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp, đội ngũ thầy giáo, hệ thống tổ chức cho đến công tác quản lý (…). Nhìn chung, hệ thống giáo dục và đào tạo của nước ta đang tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới (4)” . 

Nhờ chủ trương “mở cửa” Việt Nam đã đạt được những bước thành công trên công đường hội nhập quốc tế. Chính sách “đổi mới” kinh tế đang đưa đất nước dần dần ra khỏi tình trạng nghèo đói và lạc hậu. Trong tiến trình đổi mới này đáng lẽ ra giáo dục phải giữ vai trò quan trọng và đi tiên phong. Rất tiếc là nền giáo dục của chúng ta vẫn bị khống chế bởi “cơ chế bao cấp” và hệ tư tưởng cũ. 

Nhà văn Nguyên Ngọc có lý khi cho rằng “giáo dục của chúng ta hiện nay đang có vấn đề trong cả hệ thống của nó, hầu như tất cả các lãnh vực của nó đều có vấn đề, nó hỏng có tính chất hệ thống chứ không phải cục bộ”. Nói cho cùng giáo dục dù sao cũng chỉ là “hệ thống con trong hệ thống mẹ, hệ thống con không thể không có vấn đề khi cả hệ thống mẹ có vấn đề”. Cuộc canh tân giáo dục hiện nay do đó trở nên phức tạp và nan giải, bởi vì muốn giải quyết tận gốc vấn đề giáo dục đòi hỏi phải thay đổi cả hệ thống mẹ. Nguyên Ngọc thú nhận “làm việc đó ở đây, bây giờ, là ảo tưởng”. Tuy nhiên, ông cũng có lý để tin rằng “không phải khi hệ thống mẹ chưa có chuyển biến thì hệ thống con cứ phải bó tay ngồi đó mà chờ”. Trái lại, “những thay đổi tích cực trong hệ thống con theo một cách nào đó và ở một mức độ nào đó vẫn có thể có ảnh hưởng tích cực đến hệ thống mẹ (5)” .

2-  Nghĩ về triết lý giáo dục

Trong bối cảnh đó, chúng ta chẳng ngạc nhiên gì khi thấy trong thời gian vừa qua dư luận bàn nhiều đến “triết lý giáo dục” và coi đó là nguồn gốc của vấn đề giáo dục hiện nay (6). Có khá nhiều ý kiến về định nghĩa tổng quát triết lý giáo dục là gì? Tôi tạm hiểu triết lý giáo dục là định hướng và quan niệm về mục tiêu của giáo dục. Đây là một nhân sinh quan và xã hội quan chi phối tất cả bộ máy giáo dục, cơ cấu tổ chức và phương thức quản lý. Mục đích của giáo dục là tạo ra những con người có nhân cách, suy nghĩ độc lập, tư duy sáng tạo, biết lấy quyết định, dám nhận trách nhiệm, có khả năng vận dụng kiến thức mới và trả lời cho những thách đố của thời đại.

Nguyên nhân cuộc khủng hoảng giáo dục ở nước ta là do cái “triết lý giáo dục” vừa lạc hậu, vừa mất định hướng. Cần cấp tốc thay đổi cái “triết lý giáo dục” nặng giáo điều và bao cấp hiện tại, rồi sau đó mới bàn tới việc thay đổi phương thức quản lý giáo dục, phân bố lại chương trình học, bỏ hay thay đổi chế độ thi cử, thiết lập Đại học cộng đồng, trường công hay trường tư, trường quốc tế hay quốc nội, soạn sách giáo khoa, lương giáo viên, tăng học phí, dạy thêm,v.v.

Giáo dục trước tiên là chuyển giao một cách có phương pháp tri thức, kinh nghiệm, cũng như kỹ năng, lối sống và giá tri đạo đức để hình thành một nhân cách. Người xưa nói rất chính xác: dạy chữ để dạy người. Khi xa rời với mục tiêu “đào tạo con người” thì giáo dục sẽ đánh mất sứ vụ chính yếu của mình, không còn tạo nên người thật, mà chỉ còn sản xuất ra những “người máy” mà thôi.

Theo triết gia Emmanuel Kant, một nền giáo dục chân chính phải làm triển nở nơi mỗi cá nhân sự toàn hỏa mà họ có thể có. Bác học Albert Einstein cũng đưa ra những nhận định sâu sắc về vai trò của triết lý giáo dục: học sinh “phải được dạy để có một ý thức sống động về cái đẹp và cái thiện”. Nền giáo dục có giá trị cần phát huy “lối tư duy phê phán độc lập”. Nếu “quá nhấn mạnh đến hệ thống ganh đua cũng như chuyên ngành quá sớm vì tính hữu dụng trực tiếp sẽ giết chết tinh thần”. Đường hướng giáo dục này có nguy cơ làm cho học sinh trở thành “một cái máy khả dụng nhưng không thể trở thành một con người với đầy đủ phẩm giá (7)” .

Để chu toàn công cuộc phát triển đất nước trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay thiết tưởng một định hướng giáo dục đúng đắn phải đề cao việc “phát huy nội lực”. Ngay từ đầu thế kỷ XX, Phan Chu Trinh đã ý thức rõ rệt sứ mệnh của giáo dục trong việc phát triển nội lực này. Trái với khuynh hướng chủ trương dùng bạo động và dựa vào sự trợ lực của nước ngoài của nhiều nhà cách mạng thời đó, Phan Chu Trinh cho rằng “vọng ngoại tắc ngu, bạo động tắc tử”. Cụ chủ trương “tự lực khai hóa” và đề nghị phát động phong trào duy tân nhằm mục đích “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”. Mấy dòng tâm huyết viết từ Côn Đảo bộc lộ rõ rệt quan điểm của cụ: “Chưa có tư cách quốc dân độc lập, dẫu có nhờ cậy sức nước ngoài chỉ diễn cái trò “đổi chủ làm đầy tớ lần thứ hai”, không ích gì (…). Mình không tự lập, ai cũng là kẻ cừu của mình. Triều Tiên, Đài Loan, cái gương rõ ràng. Người Nhật chắc gì hơn người Pháp (8)” .  

Cùng với nhiều thức giả, học giả Phạm Quỳnh đã thao thức và trăn trở về một nền quốc học. Ông viết: “Xưa khi học sách Tàu thì làm học trò Tàu, nay học sách Tây chỉ làm học trò Tây mà thôi… Từ xưa đến nay, nước ta quả không có quốc học thật. Bởi tại làm sao? Từ nay về sau, ta có thể gây được một nền quốc học không? Phải làm thế nào?” Đúng vậy, hàng ngàn năm giáo dục Việt Nam rập theo khuôn của Tàu, sau đó sao chép mô hình của Pháp, rồi lại theo Liên Sô. Bây giờ đang tập tễnh chạy theo đường hướng giáo dục của Mỹ, Úc, Singapore. Bao giờ mới xây dựng một triết lý giáo dục vừa phù hợp với văn hóa Dân tộc, vừa trả lời cho những thách đố của thời đại?

3- Vai trò của xã hội dân sự

Trong ý nghĩa đó, không thể cải tổ giáo dục thành công mà không cải tổ quản lý giáo dục và thay đổi cơ cấu tổ chức, nhằm phát huy sáng kiến và vai trò chủ động của xã hội dân sự. TS Nguyễn Quang A yêu cầu cần xác định lại vai trò của Nhà nước và của xã hội dân sự trong lãnh vực giáo dục. Dựa trên nhiều báo cáo quốc tế về cơ chế và thành tích giáo dục, ông rút ra kết luận sau: Nhà nước vận hành (quản lý) trường  thường nẩy sinh tác động tiêu cực đến thành tích giáo dục, trong khi đó Nhà nước cấp tài chánh và để tư nhân quản lý trường thì có ảnh hưởng tích cực đến thành tích. Ở Cao đẳng và Đại học, tính hiệu quả và thành tích giáo dục liên hệ khá chặt chẽ với việc quản trị và cấp tài chính tư nhân. Mặc dù Việt Nam không tham gia vào chương trình PISA (Programme for International Student Assessment), nhưng dựa trên tỷ lệ trường công (97,58%) và tỷ lệ cấp tài chánh cho giáo dục (0,6) ở Việt Nam hiện nay, ông cho thấy nền giáo dục của chúng ta được định vị ở một “góc tồi tệ nhất, kém hiệu quả nhất, thành tích thấp nhất và suy ra cho cùng cũng không đảm bảo tính bình đẳng về cơ hội nhất (9)” .

Giới Công giáo đang đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục này. Hội Đồng Giám mục Việt Nam lấy đề tài “Giáo dục Kitô giáo” làm chủ đề mục vụ cho năm 2008. Nói một cách tổng quát, theo quan điểm của Kitô giáo, mọi định hướng giáo dục phải lấy con người làm trọng tâm, phải hướng tới sự phát triển đồng đều giữa Trí và Tâm. Tâm đây dĩ nhiên là chữ tâm, tấm lòng nhân ái, nhưng cũng còn là chiều kích tâm linh. Theo Công đồng Vatican II, “do phẩm giá của mình, tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, tuổi tác hay điều kiện xã hội, đều hưởng một quyền bất khả tương nhượng về một nền giáo dục có khả năng trả lời cho sứ vụ (làm người), phù hợp với đặc tính, với sự khác biệt về giới tính, văn hóa và truyền thống dân tộc, đồng thời biết mở rộng cho việc trao đổi huynh đệ với các dân tộc khác để hỗ trợ việc hiệp nhất đích thực và hòa bình thế giới. Do đó, mục tiêu của nền giáo dục chân chính là đào tạo con người, nhằm đạt tới mục đích tối hậu, cũng như lợi ích của các xã hội, mà con người là thành viên và họ sẽ tham gia phục vụ khi đến tuổi trưởng thành (10)” . 

Phải thành thật công nhận rằng, với tiến trình dân chủ hóa, toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức, tất cả các nền giáo dục trên thế giới đang phải đối diện với nhiều khó khăn và thách đố. Trước hết, “khác với những gì xảy ra trong lãnh vực kỹ thuật hay kinh tế, nơi mà những tiến bộ hôm nay có thể cộng thêm vào những tiến bộ trong quá khứ, thì trong phạm vi giáo dục và tiến triển đạo đức của con người, không có khả năng tích lũy như vậy, bởi vì chân trời tự do luôn đổi mới và như vậy mỗi người, cũng như mỗi thế hệ phải lấy lại quyết định một cách mới mẻ và độc đáo. Ngay cả những giá trị lớn của quá khứ cũng không thể chuyển giao như những gia tài. Thực thế, chúng phải trở thành gia tài của chúng ta và phải được làm mới lại qua một chọn lựa cá nhân thường đòi hỏi nhiều cố gắng (11)” .

Thứ đến, môi trường tự do và dân chủ của xã hội hôm nay cũng đang đặt các nhà giáo dục trước một lựa chọn nhiêu khê: làm sao tìm được sự quân bình giữa tự do và kỷ luật? Làm sao nối kết tự do và dân chủ với chân - thiện - mỹ? Tâm lý học cũng lưu ý chúng ta rằng để rèn luyện nhân cách và tạo nội lực cho thanh thiếu niên không những cần đưa ra lý tưởng cho cuộc sống, mà còn cần những cọc mốc và lực cản, chẳng hạn nhà giáo dục, kỷ luật và khổ chế tự nguyện. Cuối cùng, nếu tân kinh tế tự do khuyến khích sáng tạo, nâng cao chất lượng và làm giàu cho nhân loại như chưa từng thấy trong lịch sử, nhưng ngược lại cũng chưa bao giờ hố phân cách giàu nghèo sâu thẳm như hôm nay. Chính vì vậy, “bàn tay liên đới” của xã hội dân sự trở thành khẩn thiết trong thời đại toàn cầu hóa này.

Báo chí và dư luận vẫn tiếp tục nhận diện những hiện tượng tiêu cực trong nền giáo dục Việt Nam hiện nay. Một vị bộ trưởng Giáo dục – Đào tạo đã nổi tiếng với khẩu hiệu  “nói không với tiêu cực”. Nhưng hình như từ “hai không” đã tăng lên “ba không” và rồi không biết phải tiến tới bao nhiêu không mới ra khỏi cái mê hồn trận tiêu cựa trong giáo dục. Đã đến lúc, như một tác giả đề nghị, cần “nói có”: Đó là quyền của mỗi công dân được hưởng một nền giáo dục – đào tạo tương xứng và nhất là quyền của xã hội công dân được trực tiếp tham dự vào lãnh vực giáo dục này.

Nhà nước đang khuyến khích người nước ngoài, kể cả Hoa Kỳ, đầu tư vào giáo dục và mỗi năm các gia đình khá giả vẫn phải tốn bao nhiêu tiền để gởi con em đi học ở nước ngoài. Thế mà, cho đến nay các tôn giáo vẫn chưa có cơ hội tham gia trực tiếp vào lãnh vực giáo dục. Trước cuộc khủng hoảng và tụt hậu thê thảm của nền giáo dục hiện tại, nhiều người vẫn băn khoăn thắc mắc: Tại sao vẫn chưa cho phép các tôn giáo trong nước, những người cùng chung một giòng máu và một tình tự dân tộc được trực tiếp tham gia vào lãnh vực giáo dục? Tại sao chưa để cho các tu sĩ có cơ hội đóng góp tim – óc của mình cho tương lai dân tộc?

P. Nguyễn Thái Hợp, O.P.

Ghi chú

(1). Võ Nguyên Giáp, “Đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà”, trong Những vấn đề giáo dục hiện nay. Quan điểm và giải pháp, NXB Tri Thức, Hà Nội, 2007, tr. 21.

(2). Bài phát biểu khai mạc cuộc Tọa đàm  về “NHỮNG VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HIỆN NAY. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP”, Tp. HCM, ngày 19-01-2008. Có bổ sung thêm.

(3). Hoàng Tụy , “Ba biện pháp cấp bách đưa giáo dục ra khỏi nguy kịch”, Tuổi Trẻ Chủ nhật, 28.12.2003, tr.8.

(4). Võ Nguyên Giáp, sđd., tr. 11-12.

(5). Nguyên Ngọc, “Giáo dục ở nước ta hiện nay, đi ra bằng con đường nào?”, trong Những vấn đề giáo dục hiện nay…, sđd, tr. 261-263.

(6). Xem Hoàng Tụy và cộng sự, “Kiến nghị của Hội thảo về chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục”, sđd., tr. 31-48; Nguyên Ngọc, “Lại xôn xao chuyện triết lý giáo dục”, sđd., tr. 279-281; Phạm Hữu Quang, Thử bàn về triết lý giáo dục, Diễn Đàn Forum, ngày 25-2-2008; Phan Đình Diệu, Triết lý giáo dục bình đẳng, vì con người, Vietnam net, ngày 24-2-2008.  

(7). Albert Einstein, Thế giới như tôi thấy, NXB Tri thức, 2005, tr. 48-49.

8. Dẫn theo Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng ngoại, Nam Cường, Sàigòn, 1951, tr. 105.

(9). Nguyễn Quang A, Cải cách giáo dục, trong Những vấn đề giáo dục hiện nay, sđd., tr. 79-98.

(10). Vatican II, Tuyên ngôn về giáo dục Kitô giáo, số 1. 

(11). Xin coi Giáo chủ Biển Đức XVI, Thư gởi giáo phận Roma về trách vụ khẩn thiết của việc đào tạo thế hệ trẻ, ngày 21-1-2008.

Về Mục Lục 


...Xin mở file kèm Attach file

Tác giả Mạng Lưới Dũng Lạc
   dunglac@gmail.com