Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong thần khí dũng lạc.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn

* Tưởng Niệm & Tri Ân * *** Lm. Anrê Dũng Lạc ***

Điểm Nhấn

Tin Thời Sự

Điểm Sách

Văn Hóa - Biên Khảo

Văn Hóa & Niềm Tin

Hội Nhập Văn Hóa

Bản Tin Dũng Lạc

Bộ Kinh Tộc Việt

Chữ Quốc Ngữ

Văn Học - Nghệ Thuật

Dũng Lạc Slide Show

Gọi Nắng Vào Tim

Những Cuộc Thi Viết

Đồng Xanh Thơ

Vườn Ô-liu - Trang Văn

Góp Nhặt Thơ

Thánh Nhạc

Hội Họa

Làng Văn Hữu Dũng Lạc

Tâm Linh - Tôn Giáo

Sứ Điệp

Thần Khí - Chữa Lành

Lời Chúa Mỗi Ngày

Bẻ Bánh Lời Chúa

Tin Vui Thời Điểm

Mẹ Maria

Vị Thánh Trong Ngày

Các Thánh Việt Nam

Mục Vụ Gia Đình

Tư Tưởng Văn Hóa Việt

  Kinh Thánh Công Giáo
  Lớp Vô Nhiễm
 Biên Tập - Tác Giả
 Văn Hóa Biên Khảo
  Đông Lan
  Đỗ Hữu Nghiêm, Gs.
  Đỗ Mạnh Tri
  Đỗ Quang Chính, sj.
  Đỗ Xuân Quế, Lm.
  Cao Phương Kỷ, Lm
  Hoàng Đình Hiếu
  Hoàng Kim Toan, Lm
  Hoàng Sỹ Quý, SJ.
  Kim Ân
  Kim Định
  Lê Đình Thông, phd.
  Lê Hữu Mục, Gs.
  Lê Ngọc Bích
  Lê Văn Lân, MD.
  Mặc Giao
  Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
  Nguyễn Ước
  Nguyễn Công Bình, Ls.
  Nguyễn Chính Kết
  Nguyễn Cung Thông
  Nguyễn Khắc Dương
  Nguyễn Khắc Xuyên
  Nguyễn Long Thao
  Nguyễn Sơn Hà
  Nguyễn Thái Hợp, Gm.
  Nguyễn Tiến Cảnh, MD.
  Nguyễn Trí Dũng
  Nguyễn Trọng
  Nguyễn Văn Thành
  Nguyễn Văn Trung
  Nguyễn Vy Khanh
  Nguyễn Xuân Quang, MD.
  Nguyên Nguyên
  Phùng Văn Hóa
  Phan Đình Cho, Lm
  Phạm Đình Khiêm
  Phạm Hồng Lam
  Trần Cao Tường, Lm.
  Trần Hữu Thuần
  Trần Mạnh Trác
  Trần Ngọc Báu
  Trần Ngọc Thêm, Gs
  Trần Phong Vũ
  Trần Văn Đoàn
  Trần Văn Cảnh
  Trần Văn Kiệm, Lm.
  Trần Văn Toàn, Gs.
  Trần Vinh
  Vũ Đình Trác, Lm
  Vũ Hùng Tôn, Lm
  Vũ Kim Chính, Lm
  Vũ Thành, Lm
  Vĩnh An
 Văn Học Nghệ Thuật
  Đàm Trung Phán
  Đàm Trung Pháp, Gs.
  Đỗ Thảo Anh
  Đồng Xanh Thơ Nha Trang
  Đồng Xanh Thơ Sài Gòn
  Đồng Xanh Thơ Xuân Lộc
  Đường Phượng Bay
  Bùi Nghiệp
  Cát Đơn Sa
  Cao Huy Hoàng
  CLB Thánh Nhạc
  Du Tử Lê
  Duy Hân
  Gã Siêu
  Gioa-Kim
  Hàn Mặc Tử
  Hạnh Đức
  Hương Kinh Trà Lũ
  Hoài Việt
  Hoàng Diệp, Lm.
  Hoàng Kim Tốt, Lm.
  Hoàng Thị Đáo Tiệp
  Hoa Văn
  Joseph Trần Việt Hùng, Lm
  Lê Đình Bảng
  Lê Miên Khương
  Lê Ngọc Hồ
  Lưu Minh Gian
  Mặc Trầm Cung
  Mi Trầm, Lm.
  Ngô Duy Linh, Lm.
  Nguyễn Đức Cung
  Nguyễn Hùng Sơn
  Nguyễn Phú Long
  Nguyễn Thị Hồng Diệp
  Nguyễn Thị Kim Loan
  Nguyễn Thị Phượng
  Nguyễn Trung Tây, Lm
  Nguyễn Văn Hiển
  Nguyễn Văn Sướng
  Nguyễn Xuân Văn, Lm
  Nhóm Thánh Vịnh Nauy
  Nhất Chi Vũ
  Nt Goretti Võ Thị Sương
  Phạm Huyền
  Phạm Trung
  Quyên Di
  Sông Thanh
  Sr. Hoàng Yến
  Sr. Sương Mai
  TC. Phan Văn Khải
  Thái Anh
  Thanh Sơn
  Tin Yêu
  Trà Lũ
  Trịnh Tây Ninh
  Trọng Nhân, Lm
  Trăng Thập Tự, Lm.
  Trầm Tĩnh Nguyện
  Trần Mộng Tú
  Trần Ngọc Chương
  Trần Ngọc Mười Hai
  Trần Ngọc Thu
  Trần Thu Miên
  Trần Trung Đạo
  Tuấn Kim
  Vũ Thái Hòa
  Vũ Thủy
  Vân Đỳnh
  Việt Hải - Los Angeles
  ViVi
  Xuân Ly Băng
  Xuân Minh
 Tâm Linh Tôn Giáo
  Đỗ Tân Hưng
  Đặng Xuân Thành, Lm.
  Đinh Quang Thịnh, Lm.
  Bùi Tuần, Gm.
  Lê Công Đức, Lm.
  Lê Quang Vinh
  Mai Tá
  Minh Anh gp Huế, Lm.
  Ngô Phúc Hậu, Lm.
  Nguyễn Cao Siêu, S.J.
  Nguyễn Hữu An, Lm.
  Nguyễn Kim Ngân
  Nguyễn Lợi, Lm
  Nguyễn Tầm Thường, sj.
  Nguyễn Văn Nội
  Nguyễn Văn Thư, Lm
  Nguyễn Văn Thuận, HY
  Phạm Hoàng Nghị
  Phạm Văn Tuệ, Lm.
  Tý Linh
  Têrêsa Ngọc Nga
  Trần Mỹ Duyệt
  Trần Minh Huy, Lm.
  Vũ Văn An
  Võ Xuân Tiến, Lm.
 Nhiếp Ảnh
  Cao Tường
  Diệp Hải Dung
  Nguyễn Đức Cung
  Nguyễn Ngọc Danh
  Sen K
  Tâm Duy, Lm
Nối kết - Links
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo1
Truyền Thông - Công Giáo2
Hải Ngoại - Quốc Tế - Quốc Nội
  Bản Tin Dũng Lạc
BẢN TIN DŨNG LẠC 11 (THÁNG 1 NĂM 2009): GIÁO HỘI VIỆT NAM THỜI BẢO HỘ 1533-1659    Attach file

...Xin mở file PDF kèm Attach file

 

Nội dung :

CHỦ ĐỀ : GIÁO HỘI VIỆT NAM THỜI BẢO HỘ 1533-1659


1.      Lời ngỏ / Ban Biên tập Bản Tin Dũng Lạc

2.      Niên biểu GIÁO HỘI VIỆT NAM thời Bảo hộ 1533-1659

3.      Công Giáo vào Việt Nam / Trần Văn Cảnh

4.      Nhìn lại 50 năm truyền giáo (1615-1665) của các thừa sai dòng Tên / Linh mục Nguyễn Hồng

5.      Hành Trình và Truyền Giáo / Alexandre De Rhode / Nguyễn Khắc Xuyên (dịch và chú giải)


THƯỜNG XUYÊN : ĐỨC TIN & VĂN HÓA

6.      Nghi án Hoàng tử Cảnh và đòn hằn Minh Mạng / Trần Cao Tường, Lm

7.      Đôi điều về đức tin và văn hóa, bài 6: Phác thảo giải thưởng truyện ngắn và truyện dài DŨNG LẠC / Lm Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh


CHỦ ĐỀ : GIÁO HỘI VIỆT NAM THỜI BẢO HỘ 1533-1659

LỜI NGỎ


Toàn Ban Biên tập Bản Tin Dũng Lạc

xin gởi đến bạn đọc LỜI CHÀO TIN YÊU, tin Ðức Kitô và yêu Văn hoá Việt Nam.


Dũng Lạc là một mạng lưới VĂN HOÁ CÔNG GIÁO, góp mặt xây dựng VĂN HOÁ VIỆT NAM từ 2005. Ðược sự cộng tác của nhiều văn hữu và sự tiếp đón nồng hậu và sự khuyến khích nhiệt tình của nhiều độc giả, Mạng lưới Dũng Lạc muốn đáp lại sự tiếp đón và sự khích lệ ấy bằng cách cho ấn hành dưới dạng báo điện tử BẢN TIN DŨNG LẠC.


Mục đích của BẢN TIN DŨNG LẠC là tạo ra một mảnh đất để nhiều người có thể góp mặt cùng xây gia trang Văn Hoá Công Giáo Việt Nam. Người viết thì cung cấp những luận cứ vũng chắc dựa trên Tin Mừng Ðức Kytô, truyền thống văn hoá Việt Nam và ánh sáng khách quan khoa học. Người đọc thì tiếp thu, phổ biến (1) và phản ứng về những bài đã được đăng tải và đưa ra những đề nghi hầu cải tiến liên tục.


Trong đường hướng ấy, nội dung chủ yếu của BẢN TIN DŨNG LẠC sẽ xoay quanh chủ đề chính là VĂN HOÁ và ÐỨC TIN. Qua chủ đề này, Bản Tin Dũng Lạc, nguyệt san điện tử, sẽ gắng đến với độc giả việt nam, càng nhiều càng hay để cùng nhau chia sẻ những kiến thức, trao đổi những ứng xử hầu tạo ra một hướng đi chung trên con đường văn hoá dân tộc và văn hoá kytô.


Đó là những lời đầu tiên mà BẢN TIN DŨNG LẠC đã ngỏ ra cùng bạn đọc ngày 01.01.2008, cách nay đúng một năm. Từ ngày ấy, qua 10 số báo, xuất hiện 8 lần, BẢN TIN DŨNG LẠC đã gặp bạn đọc qua 8 đề tài Văn hoá Công Giáo :


Số 1, ngày 01.01.2008 về Văn hóa và Đức tin,


Số 2, ngày 01.02.2008 về Ngày họp mặt Đồng Xanh Thơ tại Phan Thiết,


Số 3, ngày 01.03.2008 về Giáo dục Công Giáo Việt Nam


Số 4, ngày 01.04.2008 về Ðêm thơ « KINH TRONG SƯƠNG », tại Th P HCM,


Số 5, ngày 01.05.2008 về Truyền thông Xã hội Công Giáo,


Số 6, ngày 01.06.2008 về Kiến trúc Công Giáo,


Số 7&8, tháng 11.2008 về  Chuyển đạt Tin Mừng qua Văn Hóa và Văn Học,


Số 9&10, tháng 12.2008 về Năm Thánh cùng Đại Hội Dân Chúa Việt Nam 2010.


Xin cám ơn bạn đọc đã ưu ái tiếp đón Bản Tin Dũng Lạc trong năm 2008 vừa qua.


Và để mở đầu năm thứ hai đến với bạn đọc, Bản Tin Dũng Lạc xin lặp lại lời chào ban đầu : « Toàn ban biên tập Bản Tin Dũng Lạc xin gởi đến bạn đọc LỜI CHÀO TIN YÊU, tin Đức Kitô và yêu Văn Hóa Việt Nam ».


Cùng với lời chào tin yêu ấy, Bản Tin Dũng Lạc xin giới thiệu với bạn đọc một vài bản văn trong một số lượng phong phú các tài liệu lưu trữ trên mạng lưới « http://www.dunglac.org » trình bày về thời kỳ đầu tiên trong quãng đường lịch sử gần 500 năm truyền giáo tại Việt Nam. Đó là thời kỳ Bảo Hộ, kéo dài 126 năm, từ năm 1533 đến năm 1659.


Xin kính chúc quí độc giả mọi điều an lành.


Trần Văn Cảnh


(1). Mọi người đều có thể tự do phổ biến tất cả những bài trong BẢN TIN DŨNG LẠC, nhưng xin đề rõ xuất xứ.


Nhóm Chủ Trương Mạng Lưới Dũng Lạc

A. Liên Lạc: Lm. Trần Cao Tường, Nguyễn Long Thao, Trần Vinh.

● email:  dunglac@gmail.com


B. Chủ Biên - Phụ Trách
1. Tủ Sách Dũng Lạc: Lm. Trần Cao Tường, Nguyễn Trí Dũng, Trầm Tĩnh Nguyện, Nguyễn Trường Khoan, Lê Thị Kim Loan.
2. Văn Hóa - Biên Khảo: Trần Văn Cảnh, Lm. Nguyễn Thái Hợp, op.,  Đỗ Hữu  Nghiêm, Lm. Cao Phương Kỷ, Trần Văn Toàn, Nguyễn Đăng Trúc.
3. Văn Học - Nghệ Thuật: Lm. Trăng Thập Tự, Cao Huy Hoàng, Trần Mộng Tú, Trần Thu Miên, Quyên Di, Lê Đình Bảng, Lê Ngọc Hồ. 

4. Tâm Linh - Tôn Giáo: Lm. Nguyễn Tầm Thường, sj., Đỗ Tân Hưng

5. Phòng Ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền: Nguyễn Đức Cung, Cao Tường, Nguyễn Ngọc Danh.. 

6. Dũng Lạc Slide Show: Vũ Thái Hòa. 

7. Bản Tin Dũng Lạc: Lm. Phạm Văn Tuệ, Trần Văn Cảnh. email : bantindunglac@gmail.com

8. Thời Điểm: Phạm Hoàng Nghị, Nguyễn Long Thao, Trần Vinh, Anthony Lê...

9. Điểm Sách: Trần Hữu Thuần

10. Webmaster: email :  admindunglac@gmail.com


NIÊN BIỂU GIÁO HỘI VIỆT NAM thời Bảo hộ 1533-1659


THẾ KỶ XVI


1533.   Theo dã sử, vào tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ I (1533), một người Âu Châu tên Inêkhu (Ignatius ?) lén đến truyền giáo ở làng Ninh Cường, huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, huyện Giao Thuỷ thuộc giáo phận Bùi Chu, tỉnh Nam Định ngày nay (Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, q. XXXIII, tập II, tr.301, Viện Sử học, NXB Giáo dục 1998).


1535 : Giáo sĩ Antonio de Faria đến của Hàn


1550.   Linh mục Gaspar da Santa Cruz, dòng Đa Minh (OP), từ quần đảo Malacca đến Hà Tiên truyền giáo, thời đó thuộc Cambodia.


1580-1586. Hai linh mục. Luís da Fonseca và Grégoire de la Motte (OP) đã từ quần đảo Malacca đến truyền giáo tại Quảng Nam.


1583.   Các linh mục Diego D’Oropesa, Bartolomeo Ruiz, Pedro Ortiz, Francisco de Montilla và bốn trợ sĩ dòng Phanxicô từ Phi Luật Tân đến truyền giáo tại miền Bắc.


1591.   Linh mục Pedro Ordođez de Cevallos dậy giáo lý và ban phép Thánh Tẩy cho công chúa Mai Hoa (Maria Flora). Bà là chị của vua Lê Thế Tông.


THẾ KỶ XVII


1615.   (18-1) Đoàn truyền giáo đầu tiên của dòng Tên đến Cửa Hàn, Đà Nẵng do linh mục  François Buzomi dẫn đầu với linh mục Diego Carvalho và 3 trợ sĩ : Antonio Dias, Joseph và Paulo Saito.

 


1616.   Linh mục giám tỉnh dòng Tên tại Macao gửi thêm 2 linh mục Pedro Marques và Cristoforo Borri để tăng cường cho miền Trung. Sau đó gởi thêm 3 linh mục : André Fernandes, Francisco de Pina, Francisco Baretto và 1 thầy trợ sĩ người Nhật.


 


1619.   Linh mục Pedro Marques, Cristoforo Borri đến Hải Phố (Hội An) gặp linh mục Francisco de Pina và linh mục Francesco Buzomi, các cha đã họp Hội đồng lần I để phân chia trách nhiệm mục vụ.


 


1620.   Linh mục Borri truyền giáo tại Nước Mặn, Bình Định. Ngài rất thông thạo toán học, thiên văn học và gặt hái nhiều thành quả truyền giáo; ngài nghiên cứu môi trường xã hội, văn hoá, tôn giáo. Vì thế, năm 1622, khi trở về Âu Châu, ngài đã cho ấn hành tập « Ký sự về Trung Việt » bằng tiếng Ý, một tài liệu nghiên cứu giá trị về lịch sử Đại Việt thế kỷ XVII.


 


1624.   Linh mục Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), Girolamo de Majorica, Gaspar Luís, Gabriel de Mattos, Melchior Ribeiro và Mathias Machida đến Hải Phố để học tiếng Việt với linh mục F. de Pina, người đã dậy giáo lý và chuẩn bị cho bà Minh Đức Vương Thái Phi (1568-1648), vợ lẽ của chúa Nguyễn Hoàng, lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. Bà mang tên thánh là Maria Madalena.


 


1625.   Tháng 12, Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên ra sắc chỉ cấm người Công giáo Việt Nam không được mang trên mình hoặc treo trong nhà thánh giá và các ảnh tượng. Linh mục Franscisco de Pina trong khi xuống tầu thăm các thủy thủ Bồ Đào Nha đã lâm nạn chết đuối tại Cửa Hàn. Đây là một thiệt thòi rất lớn, vì ngài rất thông thạo ngôn ngữ và phong tục Việt Nam.


 


1626.   Tháng 2, linh mục Giuliamo Baldinotti, dòng Tên, đến Đàng Ngoài thăm dò tình hình coi xem có thuận tiện cho việc giảng đạo hay không. Cha được Chúa Trịnh quí mến, nhưng không biết tiếng Việt, ngài từ giã Việt Nam ngày 18/08/2006, trở về Macao.


Tháng 7, lm. Đắc Lộ rời Đàng Trong trở về Macao.


 


1627.   (19-3) Cha Đắc Lộ và cha Pedro Marques tới Cửa Bạng, Thanh Hóa. Ngày 2-7-1627, họ tới Thăng Long và dâng tặng lễ vật lên chúa Trịnh Tráng. Chúa Trịnh xuiống lệnh dựng cho các cha một ngôi nhà gần dinh của Chúa. Dân chúng đến học đạo rất đông. Trong số đó có em ruột của chúa, tên là Catarina. Bà catarina có công khuyên được 17 người trong nhà tòng đạo.


 


1628.   Ngày 18-6, Trịnh Tráng ra lệnh cấm người Việt Nam không được tiếp xúc với các thừa sai (Tây Dương đạo trưởng). Lúc này tại Đàng Ngoài (miền Bắc), đã có hơn 1.600 Kitô hữu.


 


1629.  Chúa Trịnh đã dễ dãi với các giáo sĩ là để nhử người Bồ Đào Nha. Nhưng tàu buôn Bồ Đào Nha không đến buôn bán, nên Trịnh Tráng ra lệnh trục xuất các giáo sĩ. trong thánh lễ tạm biệt. Trong thời gian lưu lại đất Bắc, Cha Đắc Lộ tuyển chọn và huấn luyện các Thầy giảng về Giáo lý để họ tiếp tục công việc truyền giáo sau này, khi mà các giáo sĩ Âu Châu bị trục xuất. Trong buổi lễ cuối cùng, Cha Đắc Lộ nhận lời khấn (không lập gia đình, không dùng tiền bố thí làm của riêng, vâng lời thủ lãnh) của 3 thầy giảng tiên khởi Việt Nam là : Phanxicô Đức, Inhaxiô Nhuận và Anrê Tri, mà Phanxicô là bề trên.


 


1630.   Tháng 4, lm. Đắc Lộ và các thừa sai dòng Tên bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài.


 


- Một giáo hữu tên thánh Phanxicô, phu khiêng cáng ở triều đình, bị chém đầu vì tội chôn xác người chết. Ông là chứng nhân đức tin đầu tiên của Đàng Ngoài.


 


- 5.000 tín hữu Bắc Việt quây quần bên quanh cha Đăc Lộ trong thánh lễ cuối cùng, đã đệ trình Tâm thư tỏ lòng trung thành với đức tin và với Đức Thánh Cha Urbanus VIII bằng chữ Hán. Cha Đắc Lộ đã chuyển dịch bức thư này sang tiếng La Tinh và năm 1633, được cha Mutio Vitelleschi, bề trên tổng quyền dòng Tên, đệ trình lên Đức Thánh Cha.


 


1631.   Các lm. António de Torre, Francisco Cardim và Gaspar d’Amaral trở lại Bắc Việt. Trịnh Tráng mong tàu buôn Bồ Đào Nha đến buôn bán nên hoà nhã với các thừa sai.


 


Tháng 3, các thừa sai dòng Tên gồm 3 cha nói trên trở lại Đàng Ngoài, trong đó lm. Francisco Cardim, người có công ghi chép lại nhiều sự kiện quan trọng về công cuộc truyền giáo ở Đàng Ngoài. Mặc dù vắng bóng các thừa sai, nhưng giáo đoàn vẫn tăng trưởng. Các thầy giảng đã rửa tội được 3.340 tân tòng và xây dựng được 20 nhà nguyện.


 


1639.   Căn cứ vào hồ sơ rửa tội, cha Đắc Lộ công bố rằng Miền Bắc đã có 82.000 tín hữu. Còn theo cha Cardim thì Miền Trung có khoảng 15.000 giáo dân.


 


1640.   Tháng 2, cha Đắc Lộ trở lại truyền giáo ở Đàng Trong (Thuận Hoá). Cha dâng lên Chúa Thượng nhiều lễ vật để hy vọng nhà Chúa sẽ thay đội thái độ hiềm khích đối với các thừa sai.Tháng 9, ngài được lệnh rời Quảng Nam trở về Macao, nhưng cha lén trở lại Cửa Hàn ngày 17-12 và tiếp tục hoạt động tại Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, rửa tội được 1.305 tân tòng.


 


1642.   Lm. Đắc Lộ mạo hiểm trở lại Hải Phố, dâng nhiều tặng phẩm lên chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan, 1638-1648), nên được giữ lại để trình bày về thiên văn cho chúa Thượng ban ngày; ban đêm cha lén đào tạo các thầy giảng. Nhưng không được bao lâu, cha lại bị trục xuất. Trong thánh lễ từ biệt, cha nhận lời khấn giữ luật độc thân phục vụ dân Chúa của hơn 10 thầy giảng.


 


1643.   Tất cả các thừa sai đều bị trục xuất.


 


1644. Tháng giêng, từ Macao cha Đắc Lộ nhất định mạo hiểm trở lại Đàng Trong. Ngài đền dâng lễ vật lên Chúa Thượng. Cha đến Của Hàn, hội các thầy giảng, hoàn thành các tài liệu giáo lý, giảng dậy và ban phát các nhiệm tích.


(26-7) Nhà Chúa ra lệnh cấm đạo rất nhặt. Thầy giảng Anrê Phú Yên tử đạo tại Quảng Nam. Thầy là chứng nhân đầu tiên của Đàng Trong. Lm. Đắc Lộ mạo hiểm cứ ở lại miền Trung, bị bắt, cầm tù và sau đó bị trục xuất. Ngài đã hoàn thành các tài liệu về giảng dạy giáo lý và ban các phép bí tích.


 


1645.   (3-7) Lm. Đắc Lộ bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Việt Nam, cha trở về Macao. Ngày 20-12, lên đường về châu Âu, ngài vận động Toà Thánh gửi giám mục sang Việt Nam, ngài đem theo chiếc sọ của thầy giảng Anrê Phú Yên.


 


1646.   Lm. Gaspar d’Amaral từ Macao trở lại Bắc Việt với 3 linh mục : Pedro Alberto, Ignace Leviski, Francesco Ascanio Ruida. Lúc này miền Bắc đã có hơn 200.000 Kitô hữu.


 


1650.   (2-8) Tại Roma, cha Đắc Lộ yết kiến Đức Thánh Cha Innocent X (1644-1655) để trình bày về công cuộc truyền giáo tại Việt Nam và thỉnh cầu Toà Thánh đặt hàng giáo phẩm để công cuộc truyền giáo được tiến triển tốt đẹp. Toà Thánh chấp nhận và chọn ngài lên hàng giám mục, gửi ngài trở lại Việt Nam, nhưng ngài khiêm nhường từ chối.


 


1651.   Tại Roma, lm. Đắc Lộ cho xuất bản 3 tác phẩm quốc ngữ đầu tiên, do chính cha biên soạn và nhà xuất bản Đa Ngữ Thánh Bộ Truyền giáo ấn hành:


 


- Tự điển Việt Bồ La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum, 5-2-1651)


 


- Sách văn phạm Việt Nam (Linguae Annamiticae seu Tuchinensis Brevis Declaratio, 5-2-1651).


 


- Sách giáo lý song ngữ Phép giảng tám ngày (Cathechismus pro iis qui volunt suscipere Baptismum in octo dies divisus, 2-10-1651).


 


1652.   Lm. Đắc Lộ đến Paris, Pháp, vận động hàng giáo sĩ Pháp tình nguyện đi truyền giáo tại Á Đông. Ngài trình bày về công cuộc truyền giáo và ước nguyện của Đức Thánh Cha Innocent X muốn đặt hàng giáo phẩm tại Việt Nam. Một số các giáo sĩ Pháp tình nguyện và Hội Thừa sai Paris bắt đầu manh nha.


 


1653. Vào tháng 7, Thỉnh nguyện thơ rất cảm động đã được đệ trình lên ÐGH Innocent X, trong đó có ba chữ ký của cha Vincent de Paul, cha Colombet cha sở Saint-Germain và cha Ðắc Lộ, xin thiết lập các giáo phận tại Việt Nam.


 


1658. (29.07) ÐTC Alexandre VII bổ nhiệm cha François Pallu làm giám mục hiệu tòa Héliopolis, cha Pierre Lambert de la Motte làm giám mục hiệu tòa Béryte và cả hai làm Giám Quản Tông Tòa cho các sở truyền giáo Trung Hoa và Việt Nam. Từ đó, ngày 29.07.1658 đã được coi là ngày thành lập Thừa Sai Hải Ngoại Paris,


1659.   (9-9) Đức Thánh Cha Alexander XII ban sắc lệnh thiết lập 2 giáo phận truyền giáo đầu tiên tại Việt Nam, chám dứt thời kỳ Bảo Hộ 126 năm, 1533-1659, mở đầu cho thời kỳ Tông Tòa 300 năm, 1659-1960, trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.


(Nguồn :  http://v3.hdgmvietnam.org/Default.aspx?tabid=86&mid=410&ArticleListPK=82,


Trần Văn Cảnh bổ khuyết năm 1658 và 1659)


Công Giáo vào Việt Nam


1. Sứ mệng Chúa trao phó : « Anh em hãy đi giảng dậy cho muôn dân »


Tin mừng Mathêu, trong những câu chót của chương cuối cùng thuật lại rằng : « Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Ðức Giêsu đã truyền cho các ông đến. Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Ðức Giêsu đến gần, nói với các ông: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi giảng dậy cho muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế". (Math. 28, 16-20).


Thơ thánh Phaolô gởi tín hữu thành Ephêsô, mà lễ Hiển Linh đọc lại cho mọi người nghe, đặc biệt nhấn mạnh đến dân ngoại : « Hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã ủy thác cho tôi, liên quan đến anh em. Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Ðức Kitô như tôi vừa trình bày vắn tắt trên đây. Anh em đọc thì có thể thấy rõ tôi am hiểu mầu nhiệm Ðức Kitô thế nào.  Mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông Ðồ và ngôn sứ của Người. Mầu nhiệm đó là: trong Ðức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Dothái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa ». (Eph. 3,2-6).


Theo lệnh Chúa Kitô, tiếp truyền thống của Tông đồ dân ngoại là thánh Phaolô, Giáo hội luôn luôn xác tín sứ mệnh « Rao giảng Tin Mừng cho muôn dân » của mình. Các nghị phụ Công Ðồng Vatican II đã mở đầu Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội bằng lời minh định rằng :  « Ánh sáng muôn dân chính là Chúa Kitô, nên Thánh Công Ðồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước soi dẫn mọi người bằng ánh sáng của Chúa phản chiếu trên dung nhan Giáo Hội, bằng việc rao truyền Phúc Âm cho mọi tạo vật (x. Mc 16,15). Vì Giáo Hội ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại, nên, dựa trên giáo huấn của các Công Ðồng trước, Giáo Hội muốn làm sáng tỏ bản tính và sứ mệnh phổ quát của mình cho tín hữu và toàn thế giới. Những hoàn cảnh hiện tại làm cho nhiệm vụ của Giáo Hội thêm khẩn thiết hơn, để ngày nay mọi người liên hệ chặt chẽ hơn bởi nhiều ràng buộc xã hội, kỹ thuật, văn hóa, cũng được hiệp nhất trọn vẹn trong Chúa Kitô. (Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội, 1964, số 1[1]).


2. Từ sở truyền giáo đầu tiên là Giêrusalam


Giáo hội đã khởi sự lịch sử hiện hữu từ ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống, ngày lễ Ngũ Tuần năm 30, mà Sở truyền giáo đầu tiên là Giêrusalem.


15 năm sau, các tín hữu đã lan tràn đi rất nhiều nơi. Với Phaolo và Barnabê, nhiều Sở truyền giáo khác lần lượt được thiết lập : Damas, Antioche, Corintô, Êphêsô, Asia, Macédoine, Pergé, Attale, Iconium, Lystres. Ðầu tiên, các ông giảng đạo cho người Do thái trong những hội đường vào ngày sabat. Và các ông cũng giảng đạo cho người ngoại nữa [2]. Theo Eusèbe, ngay trong đời hoàng đế Tibère, nghĩa là trước năm 37, niên đại lúc Caligula lên chấp chính, toàn thể trái đất vang dội tiếng nói của các thánh sử và của các tông đồ. Rồi trong phần đầu cuốn thứ III bộ Lịch Sử Giáo Hội, Eusèbe nói đến nhũng khu vực chịu ảnh hưởng của các tông đồ : Tôma giữa người Parthes, Gioan tại Asia, Phêrô tại miền Pont và ở Rôma, Anrê tại miền Scythie [3]. Nhờ nhiệt tình truyền giáo của các tông đồ, các Sở truyền giáo cứ tiếp tục rộng lan. Từ Jérusalem, xuyên qua Alexandrie, Hylạp đến Rôma, Gaule, Tây Ban Nha, bắc Ý, Phi châu…


Ði đến đâu, các tông đồ cũng thành lập các cộng đoàn kitô, xây dựng giáo đường, phong chức giám mục, truyền chức linh mục. « Theo bằng chứng của thánh Cyprien, cho tới đầu thế kỷ thứ III, nước Gaule (Pháp) mới chỉ có một toà giám mục là toà Lyon, vào giữa thế kỷ đã thấy xuất hiện nhiều toà khác : Arles, Toulouse, Narbonne, Vienne, Paris, Reims, Trèves. Tại Tây Ban Nha, thánh Cyprien kể tên các giám mục của Astorga, Mérida và Saragosse. Tại bắc Ý thì Milan, Aquilée, Ravenne đều có toà giám mục. Nhưng hai trung tâm chính của Kytô giáo là Cathage và Rôma, tại hai nơi này số giáo dân gia tăng khác thường [4]».


3. Lan sang khắp miền Ðịa Trung Hải, tràn khắp Âu Châu


Từ thế kỷ thứ IV, dưới triều đại Constantin (306-338), « chúng ta đã bước vào một chặng đường hoàn toàn mới mẻ của lịch sử kitô giáo. Ðây mới thật là thái bình của Giáo Hội. Tất cả các mồi trở ngại, thuộc phạm vi pháp lý hay vật chất, từ trước đến nay đã cản trở việc Phúc Âm hóa đều được bãi bỏ ; Từ nay việc Phúc Âm hóa được tự do tiến hành với kết quả ngày càng gia tăng. Trong hết mọi miền của Ðế quốc Rôma, người ta trở lại đông đúc, ngay từ quần chúng, và giữa các giới từ reước đến nay vẫn ương bướng, khắpnơi đều thấy mọc lên những tòa Giám Mục mới, hoạt động thần học thật sống động. Ðường lối chính trị của nhà vua, dưới muôn mặt, tìm cách hỗ trợ tôn giáo mới. Nhờ gương lành nhà vua, gương lành có hiệu lực phi thường trong chế độ quân chủ sâu đậm này, tất cả đều thúc dẩy đến việc kitô hóa toàn diện Ðế Quốc Rôma [5].


Phong trào truyền giáo, theo sức mạnh ấy, bộc phát hơn và tổng quát hơn, đã vượt biên cương Ðế quốc La Mã, ăn rễ sâu vào Giáo Hội của người Syrie và Ba tư tại đế quốc Sassanide, lan sang miền Arménie, tiếp xúc với Albanie miền Caucase, miền Géorgie, đi sâu vào các chi tộc du mục trong các vùng sa mạc trong các nước Ả Rập, miền Arabie, Yemen, sang nước Ethiopie, tiếp xúc với người Germains và Wulfila miền Crimée, tới bên kia sông Danuble,…


Thế kỷ thứ V, Thánh Patrice tông đồ miền Ái Nhĩ Lan (385-461) đã hướng tới việc cải đạo cho Bắc Âu. Phong trào truyền giáo bành trướng mạnh với người Anglô-Saxon, người Alamans, và dĩ nhiên cả những dân tộc Germanie. Thời Cổ Ðại, thế giới kitô được thiết lập chung quanh miền Ðịa Trung Hải. Ðến thời Trung Cổ, địa bàn của thế giới kitô Tây Phương một cách nào đó xích về phía bắc và phần lớn là đất liền [6].


Từ thế kỷ thứ VI và xuyên qua suốt thời Trung Cổ, sứ mệnh rao giảng Tin Mừng càng ngày càng lan rộng và ăn rễ sâu vào Ðế quốc La Mã. Nhưng sứ mệnh này dần dà cũng nhiễm những thói tục trần thế. Vai trò của thế quyền và giáo quyền xen lấn lẫn lộn vào nhau. Truyền giáo, Rao giảng Tin Mừng trở thành một dụng cụ mà nhiều vua công giáo đã dùng để củng cố quyền hành và mở mang bờ cõi. Dẫu sao, thì « vào giữa thế kỷ XI, phần lớn lục điịa Âu Châu đã theo đạo Kitô, từ Nga Sô miền tây Công giáo và Bulgarie cho tới Tây Ban Nha ở phía bắc ranh giới Hồi Giáo [7] ».


Việc Châu Âu trở lại đạo Công Giáo được tiếp tục đến Bulgarie từ thế kỷ IX, đến các nước Baltes vào thế kỷ XII, sang Serbie vào đầu thế kỷ thứ XIII, đến Nga từ thế kỷ XI đến XV. Từ Ðức Grégoire Cả (540-604), cộng đồng kitô đã phát rất nhiều và cũng có những tổn thương nặng nề. Một sử gia biên chép các cuộc truyền giáo đã đưa ra một so sánh làm ta ngạc nhiên : về phương diện đại kết, Giáo Hội vào năm 1500 không quan trọng về diện tích và nhân số hơn Giáo Hội năm 600. Mất mát và thắng lợi đồng đều nhau [8].


4. Hướng về phương Ðông và đi Mỹ Châu, chế độ Bảo trợ


Với việc Christophe COLOMB (1451-1506) khám phá ra Mỹ Châu ngày 12.10.1492, việc ông cắm lá cờ của vua Tây Ban Nha và cây thập giá Ðức Kitô trên thế giới mới tìm thấy này và việc ông đặt cho chúng những tên mới : Sal Vador, Santa Maria, Trinidad, (Ðấng Cứu Thế, Thánh Nữ Maria, Chúa Ba Ngôi) thì như ông đã rửa tội cho chúng và khánh thành công cuộc truyền giáo cho tân thế giới [9]. Hai năm sau, ngày lễ Hiển Linh 1494, lần đầu tiên trên thế giới mới, ở Haiti, thánh lễ đã được cử hành và tháng 09 cùng năm, đã làm phép rửa cho người tân tòng đầu tiên ở đây.


Theo truyền thống công giáo thời Trung Cổ, Tòa Thánh trao quyền bảo trợ cho các vua công giáo, cụ thể là cho Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha. Thấy Tây Ban Nha đến Mỹ Châu, Bồ Ðào Nha phản đối việc Tây Ban Nha xâm chiếm miền Tây Ấn. ÐGH Alexandre VI đã phải can thiệp và ban hành 4 huấn thị danh tiếng năm 1493 để giải quyết những tranh chấp. Lấy ranh giới ở phía Tây quần đảo Açorès. Ðông Ấn thì dưới sự bảo trợ Bồ Ðào Nha, gồm Châu Phi và Châu Á ; Tây Ấn thì dưới sự bảo trợ Tây Ban Nha, gồm châu Mỹ.


Từ đó, « triều đình Tây Ban Nha rất nghiêm chỉnh làm tròn sứ mệnh. Có 17 tu sĩ Phanxicô đi theo viên tổng trấn mới để tới Haiti năm 1502. Tới 1509 thì có mấy tu sĩ Daminh đầu tiên. Năm 1511 có 24 thừa sai tới Portô Ricô. Từ 1516 Ximénès ra sắc chỉ không một tầu nào đi Tân Thế Giới mà không đem theo linh mục. Cho tới 1522, đã thành lập 8 tòa giám mục ở Antilles. Từ 1526 một người trong đoàn được cắt đặt làm giám mục Mexicô… Kết quả việc truyền giáo thật là lạ lùng, gần như không thể tin được ; trong vòng 20 năm đã có mấy triệu phép rửa, 8 000, 10 000 cho tới 14 000 trong một ngày do hai tu sĩ Phanxicô làm. Và đó không phải là chuyện hiếm….Năm giáo tỉnh Phanxicô và 3 giáo tỉnh Ða Minh được thành lập ở Mexicô vào cuối thế kỷ [10].


5. Ði tới Ấn Ðộ, Nhật và Trung hoa


Vào thế kỷ XVI và XVII, sức sống của Giáo Hội không chỉ biểu lộ mạnh qua nhiều khía cạnh chính trị quân sự, mà còn cả ở lòng đạo đức sốt sắng hăng say nữa. « Sự hăng say ấy được biểu lộ qua những hoạt động truyền giáo mạnh mẽ ngang hàng với những hoạt động truyền giáo thời các Tông Ðồ ». Những sắc lệnh bảo trợ ban nhiều đặc ân cho nước Tây Ban Nha và Bồ Ðào Nha đã mang lại một qui chế pháp lý cho tổ chức truyền giáo. Rồi Dòng Tên mới thành lập đã cung cấp cho Giáo Hội nhiều thừa sai đắc lực. Thánh Ignace de Loyôla đã gửi thánh Phanxicô Xavier và Rodriguez đi Ðông Ấn. Phanxicô Xavier đã đến Goa ngày 06.05.1542, rửa tội cho 10.000 tân tòng ở bờ biển Ðông Nam Án Ðộ. Ngài viếng Ceylan, ghé Malacca, thăm Moluques,…Nam 1549, cùng một nhóm bạn đồng tu nhỏ, Phanxicô Xavier qua Nhật Bản và tạo được một cộng đoàn nhỏ. Năm 1552 ngài trở về Goa. Cũng hè năm 1552 ấy ngài lại lên đường đi về hướng Bắc. Ðứng trước bờ biển Trung Hoa, ngài tìm cơ hội để vào Trung Quốc. Sau hai tháng chờ đợi vô hiệu, ngài lâm trọng bệnh sốt rét và qua đời ngày 03 tháng 12 năm 1552 [11].


6. Thành lập Thánh Bộ Truyền Giáo


Phong trào truyền giáo phát động tại Mỹ châu và Á Châu làm cho Giáo Hội ý thức được rằng chế độ Bảo Hộ dành cho các vua Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha, tuy có bảo vệ ít nhiều công việc truyền giáo, nhưng cũng đưa ra nhiều trắc trở cho việc truyền bá Phúc Âm, vì những lợi ích kinh tế và thuộc địa của quốc gia liên hệ. Công việc truyền giáo, muốn bớt tính cách thế tục mà mưu ích thiêng liêng, phải thuộc thẩm quyền của Giáo Hội, phải bỏ chế độ Bảo Trợ, phải cử những giám mục trực tiếp đại diện tông tòa. Ý tưởng đã manh nha từ Công Ðồng Trente, kết thúc năm 1563. ÐGH Piô V đã lập một Ủy Ban lo việc hoán cải dân ngoại. Năm 1600 ÐGH Clément VIII thay thế bằng Thánh Bộ Ðức Tin. Ðược bầu làm giáo hoàng năm 1621, ÐGH Grégoire XV, rất quan tâm đến việc thiết lập hàng giáo sĩ địa phương, đã quyết định thành lập Thánh Bộ Truyền Giáo vào ngày lễ Ba Vua 06.01.1622, gồm 13 hồng y, hai vị cao cấp trong giáo hội và một thư ký. Và Ngài giao phó cho thánh bộ này nhiệm vụ truyền bá đức tin. Một loạt công việc đã được thực hiện : Tổ chức nội bộ Thánh Bộ, Phân chia toàn bộ thế giới ra làm 13 tỉnh hạt ; Cấm các vị thừa sai không được hoạt động chính trị và loại bỏ mọi mưu đồ chính trị ra khỏi mục tiêu tôn giáo mục vụ, lập trường truyền giáo để đào tạo các thừa sai truyền giáo và huấn luyện hàng giáo sĩ địa phương, lập ấn quán xuất bản các sách phụng vụ và giáo lý ngoại ngữ, thu thập các báo cáo về tình hình thừa sai, điều đình với triều đình Madrid và Lisbonne về những lãnh thổ hải ngoại do họ bảo trợ, bổ nhiệm giám mục hiệu toà làm giám quản tông toà, đặc trách điều khiển các giáo hội địa phương.. Trong tất cả những việc ấy, cha Ingoli, thơ ký thánh bộ, đã đóng góp rất nhiều.


7. Ði đến Việt Nam


Từ thế kỷ XVI, các thừa sai thuộc nhiều dòng khác nhau đã đến truyền giáo ở Việt Nam. Theo dã sử, vào tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ I (1533), một người Âu Châu tên Inêkhu (Ignatius ?) lén đến truyền giáo ở làng Ninh Cường, huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, huyện Giao Thuỷ thuộc giáo phận Bùi Chu, tỉnh Nam Định ngày nay (Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, q. XXXIII, tập II, tr.301, Viện Sử học, NXB Giáo dục 1998). Năm 1535, Giáo sĩ Antonio de Faria đến của Hàn. Dòng Ða Minh với giáo sĩ Gaspar de Santa Cruz đến Hà Tiên năm 1550, giáo sĩ Luis de Fonseca và Grégoire de la Motte đến Quảng Nam năm 1580. Dòng Phanxicô với các giáo sĩ Diego D’Oropesa, Bartolomeo Ruiz, Pedro Ortiz, Francisco de Monica và 4 trợ sĩ đến Bắc Việt năm 1583. Giáo sĩ Ordeonez de Cevallos dậy giáo lý và ban phép thánh tẩy cho công chúa Mai Hoa năm 1591. Dòng Tên với Giáo sĩ Francesco Buzomi, Diego Carvalho và 3 trợ sĩ đến Cửa Hàn năm 1615 : giáo sĩ Pedro Marquez và Christoforo Borri, rồi Andre Fernandez, François de Pina, François Baretto và một trợ sĩ người nhật vào Trung Việt năm 1618 ; giáo sĩ Ðắc Lộ Alexandre de Rhodes, Jerome de Majorica, Gaspar Luis, Gabriel de Matos, Melchior Ribero và Mathias Machida dến Hải Phố.


Từ Ðàng Trong, Cha Ðắc Lộ và Marquez trở về Macao vài tháng rồi vào Ðàng Ngoài, đến Cửa Bạng, Thanh Hoá ngày 19.03.1627. Các ngài giảng đạo ở đó vài tháng lập được hai họ đạo Cửa Bạng và An Vực, rồi đi ra Bắc, tới Thăng Long ngày 02.07.1627. Ngài ở lại đó đến năm 1630 thì bị trục xuất ; Mười năm sau, năm 1640 ngài trở lại Ðàng Trong ở Cửa Hàn, ở đó ngài giảng đạo, chứng kiến cuộc tử đạo của thầy Giảng Anrê Phú Yên chiều ngày 26.07.1644, rồi bị trục xuất khỏi Ðàng Trong, lên tầu ngày 03.07.1645 đi Macao, về Âu Châu [12].


Về Âu Châu, đến La mã ngày 27.06.1649, Cha Ðắc Lộ được ÐGH Innocent X tiếp kiến. Một năm sau, ngày 02.08.1650 cha Dắc Lộ đã tường trình cho Thánh Bộ Truyền Giáo về Giáo Hội Việt Nam với hơn 300.000 tín hữu và mỗi năm tăng thêm khoảng 15.000 tân tòng và thỉnh cầu Thánh Bộ gởi Giám mục giám quản tông toà đến Ðàng Trong và Ðàng Ngoài. Ngày 26.09.1650, với sự hiện diện của ÐGH Innocent X, các hồng y đã chuẩn xét lời thỉnh cầu này. Năm 1651 Thánh Bộ đề nghị chọn cha Ðắc Lộ làm giám mục giám quản tông tòa, nhưng cha Ðắc Lộ từ chối, vịn lý rằng theo các báo cáo của thơ ký Thánh Bộ là cha Francesco Ingoli, các thừa sai Bồ Ðào Nha sẽ không chấp nhận, và tệ hơn nữa, nếu không được Bồ Ðào Nha chấp nhận, cha sẽ có thể bị cầm tù. Ngày 30.07.1652 Thánh Bộ với sự hiện diện của ÐGH họp lại lần nữa. Nhưng vấn đề bổ nhiệm giám mục giám quản tông tòa cho Việt Nam vẫn bị bế tắc vì những trở ngại do qui chế bảo trợ Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha. Ðức Giáo Hoàng Innicent X vẫn chưa dứt khoát quyết định.


Không hy vọng tìm được giải quyết tại La Mã cho Giáo Hội Việt Nam, cha Ðắc Lộ rời La mã ngày 11.09.1652 đi Marseille, tới ở Lyon. Ở đây, ngài biên soạn cuốn sách « LỊCH SỬ VƯƠNG QUỐC ĐÀNG NGOÀI, từ năm 1627 tới năm 1646 [13] ». Rồi tháng giêng năm 1653 cha lên đường đi Roanne, trực chỉ Paris. Ở Paris có lẽ cha Ðắc Lộ sẽ tìm được giải đáp cho giáo hội mà ngài yêu quí : Giáo Hội Việt Nam !


Paris, ngày 01 tháng 01 năm 2009


Trần Văn Cảnh


_______________


Ghi chú :

(1) Các tài liệu giáo huấn của Giáo Hội về truyền giáo tương đối phong thú. Xin ghi một vài tài liệu :


·      Công đồng Vatican ; Hiến chế tín lý về giáo hội


·      CÐV II, Hiến chế về mạc khải


·      CÐV II, Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội


·      CÐV II, Sắc lệnh về Tông Đồ Giáo Dân


·      ĐGH Phaolô VI, Tông huấn Loan Báo Tin Mừng


·      ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn Kitô Hữu Giáo Dân


·      ÐGH Gioan Phaolô II, Tông huán Giáo Hội tại Á Châu


·      ĐGH Gioan Phaolô II, Thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Độ


·      ĐGH Gioan Phaolô II, Thông điệp Thiên Chúa giàu lòng thương xót


·      ĐGH Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm 2000


·      HÐGMVN, Thơ mục vụ 2003


(2) DANIELOU ; Từ xuất xứ  cho đến cuối thế kỷ thứ III ; trong Tân lịch sử Giáo Hội, IA : GXVN Paris : 2002, tr. 72-89


(3) Ibidem, tr. 107


(4) Ibidem, tr. 326


(5) MARROU Henri-Irénée ; Từ cuộc bắt đạo của Dioclétien cho đến khi Grégoire cả qua đời ; trong Tân lịch sử Giáo Hội, IB ; GXVN Paris : 2002, tr. 393-394


(6) Ibidem, tr. 705


(7) M.D. KNOWLES và D. OBOLENSKY ; Phúc Âm hóa Châu Âu ; trong Tân Lịch sử Giáo Hội, II A : GXVN Paris ; 2003, tr. 33


(8) Ibidem, tr. 747.


(9)TUCHLE Hermann, BOUMAN C.A. và LE BRUN Jacques ; Cải Cách và chống Cải Cách ; trong Tân Lịch Sử Giáo Hội : IIIA, GXVN Paris, tr. 22-23


(10) Ibidem, tr. 24-25.


(11) Ibidem, tr. 453-456


(12) Phan Phát Huồn ; Việt Nam Giáo Sử ; In lần thứ 5 ; Long Beach : Cứu Thế Tùng Thư ; 1997, tr. 39-138


(13) LỊCH SỬ VƯƠNG QUỐC ĐÀNG NGOÀI, từ năm 1627 tới năm 1646, Do Giáo Sĩ ALEXANDRE DE RHODES, Bản Việt ngữ của Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên ; xem http://www.dunglac.net/Baiviet1/daclo-dngoai-00ml.htm


NHÌN LẠI 50 NĂM TRUYỀN GIÁO (1615-1665) CỦA CÁC THỪA SAI DÒNG TÊN / Linh mục Nguyễn Hồng


 


I. MỘT GIÁO HỘI THỊNH VƯỢNG NHẤT MIỀN ĐÔNG Á


 


Nhìn lại hoạt động truyền giáo của các thừa sai dòng Tên trong 50 năm ở xứ Nam (1615-1665) và 37 năm ở xứ Bắc (1626-1663) chúng ta thấy gì? Chúng ta phải công nhận các ngài thực là những người có công đầu trong lịch sử khai nguyên công giáo Việt Nam, những người xây dựng nền móng một giáo hội, nếu so sánh với các giáo hội miền Đông Á lúc đó, như Xiêm, Lào, Cao Miên, Trung Hoa, không kể Nhật Bản đang bị bách hại và đang đi đến chỗ tắt thở, có thể gọi là một giáo hội thịnh vượng nhất miền Đông Á, theo lối gọi của cha Đắc Lộ.


Để có thể nhận định rõ ràng công lao khai thác của những thừa sai tiên khởi đó, chúng ta sẽ cùng nhau kiểm điểm hoạt động và kết quả của các ngài ở xứ Nam cũng như ở xứ Bắc, rồi do đó tìm ra nguyên nhân thành công của các ngài trong thành phần tổ chức xã hội, con người và hoàn cảnh Việt Nam lúc đó, và nhất là trong phương pháp và tinh thần truyền giáo của các ngài.


 


1. 50 năm truyền giáo ở xứ Nam


Có công hơn cả trong việc khai nguyên giáo đoàn xứ Nam, phải kể cha Buzomi. Trước cha, đã có các cha dòng thánh Phanxicô, Agostinô, Đa Minh, người Bồ hay người Tây Ban Nha đến truyền giáo, nhưng các ngài chỉ là những người đi qua, gieo vãi một chút hạt giống tin lành, thiếu một chương trình hoạt động, một tổ chức bền bỉ, thiếu nhân viên cộng lực để tiếp tục, vì thế không mang lại kết quả lâu bền đáng kể. Với các cha dòng Tên dưới quyền cha Buzomi, công cuộc truyền giáo xứ Nam mới bắt đầu bước vào giai đoạn thực sự.1


Bách hại tôn giáo ở Nhật đã thúc đẩy các ngài đến với chúng ta. Bỏ Ao môn, trung tâm truyền giáo của các thừa sai dòng Tên và cũng là trung tâm thương mại của người Bồ trong vùng Đông Á, cha Buzomi với đoàn truyền giáo đầu tiên của cha tới cửa Hội An ngày 18 tháng giêng 1615, một ngày đáng ghi nhớ trong lịch sử khai nguyên Giáo hội Việt Nam.


Trong gần 25 năm liền, nghĩa là đến năm 1639 lúc cha từ trần ở Ao môn và cũng là năm tất cả các thừa sai dòng Tên ở xứ Nam bị trục xuất, cha đã luôn luôn sống với giáo đoàn trừ một vài chuyến bị trục xuất tạm, cha phải tránh qua Chiêm Thành, Cao Miên hay về Ao môn. Cha là vị thừa sai dòng Tên đầu tiên đến nước Việt và cũng là vị thừa sai đã hoạt động truyền giáo lâu năm hơn cả ở xứ Nam trong thời kỳ này.


Bắt tay vào công cuộc truyền giáo với nhà thờ đầu tiên ở cửa Hội An, và 10 giáo dân tiên khởi ngày lễ Phục Sinh 1615, một năm sau, số người trở lại đã được 300 và nhà thờ thứ hai ở Quảng Nam được thành lập. Ở đây, cha đã dược bà Phanxica tục gọi là bà Gioanna giúp đỡ rất nhiều, bà là một trong những giáo dân tiên khởi ở Việt Nam.


Ao môn sai thêm thừa sai, trong số đó có cha Phanxicô de Pina, một thừa sai có tên tuổi và đáng ghi tên sau cha Buzomi trong công cuộc truyền giáo xứ Nam.


Quả thửa thách 1617, nhà thờ Hội An bị đốt phá, các cha phải lẩn tránh ở một khu rừng hoang nước độc, cha Buzomi bị ngã bệnh nặng. Được quan phủ Quy Nhơn đưa về vùng của ông để chữa chạy, cha đã thành lập ở Nứơc Mặn nhà thờ và cư sở truyền giáo thứ ba. Còn nhà thờ ở Hội An được cha Pedro Marquez mới đến, xây cất lại đẹp đẽ hơn.


Ở Quy Nhơn, trong hoạt động truyền giáo, các cha chú trọng đến giới trí thức và cầm quyền. Nhưng tin lành Phúc âm trước hết vẫn là của những người nghèo khó đơn sơ thanh sạch. Nhiều họ đạo được thành lập trong những vùng quê chung quanh. Phải chờ một thời gian sau, hạt giống tin lành gieo vãi trong giới trí thức và cầm quyền mới đem lại kết quả. Mở đầu là hai ông bà sứ giả triều Nguyễn qua Cao Miên, ông Inhaxu và bà Ursula, trở lại ở Nứơc Mặn năm 1621 cùng với hơn 20 gia nhân, rồi đến một vị “sãi hiền” có tên tuổi trong giới tăng già.


Công cuộc truyền giáo của cha De Pina ở Quảng Nam do cha Buzomi phái lên lại có phần kết quả hơn nhờ sự thông thạo tiếng nói, phong tục và tinh thần thích ứng mềm dẻo của cha. Cũng như ở Nứơc Mặn, những người được dọn sẵn để đón nhận tin lành vẫn là những người dân quê nghèo nàn chất phác, nhưng cha cũng thu lượm được nhiều kết quả trong giới trí thức, cầm quyền. Kết quả đầu tiên là cụ nghe Giuse, sau nhiều công lao vất vả và chinh phục, rồi đến cụ nghè Phêrô và sư cụ Manuêlê. Đáng kể hơn cả là cụ nghè Paolô, một tông đồ nhiệt thành và có nhiều công lao hơn cả trong giáo đoàn xứ Nam. Cụ đã trở lại nhờ cuốn sách bổn của cha Matteo Ricci.


Đứng trước những kết quả mỗi ngày một lên đó, các người không ưa đạo tìm cách phá hại. Theo các bản tường trình của các cha thời đó thì đứng đầu là các thầy sư, thầy sãi, thầy pháp, thầy cúng, mà các cha gọi chung là các “onsai”. Họ nhìn thấy kế sinh nhai của họ bị đe dọa, vì đạo mới làm cho “chùa chiền miếu mạo bị bỏ hoang vu”. Lúc đầu họ tổ chức những cuộc tranh luận công cộng để mong đánh đổ giáo thuyết của các thừa sai như thầy Tư Bình ở Nước Mặn. Nhưng chân lý đã thắng. Thất bại, họ lợi dụng mê tín của dân chúng, tung ra nhiều phao đồn vu cáo. Chẳng hạn các tây giang đạo trưởng là tay sai của vua Bồ sai sang xứ Nam để bắt hồn người Việt về hóa kiếp làm tôi đòi ở xứ Bồ. Hay câu chuyện bà lão theo đạo bị các thần oán phạt ở âm ti địa ngục đã hiện về cảnh cáo người còn sống đừng mê theo đạo mới. Rồi mỗi lần tai ương dịch tễ mất mùa, hạn hán xảy ra là dịp để họ vu cáo vì người có đạo mà thần phật giận phạt. Họ còn đi đến chỗ bẻ tay chặt đầu các thần phật của họ, rồi vu cáo cho người có đạo đã phạm thánh, làm cớ cho cuộc bách hại chia rẽ lương giáo.


Nhưng giáo hội lớn lên trong thử thách, nhờ sự cộng tác đắc lực của tông đồ giáo dân và các thầy giảng. Ao môn vẫn tiếp tục gửi thêm các thừa sai. Trong số những thừa sai đến cuối năm 1624, có cha Đắc Lộ, một thừa sai xuất sắc mà tên tuổi sẽ không bao giờ phai mờ trong lịch sử khai nguyên công giáo Việt Nam, vị tông đồ tương lai của xứ Bắc.


Với số thừa sai tiếp viện, cha De Pina nghĩ đến việc mở thêm một cơ sở truyền giáo ở dinh chúa Nguyễn, vùng Thuận Hóa. Kết quả đầu tiên của cha là việc trở lại của bà vương phi Maria Minh Đức. Trở lại, bà nhiệt thành truyền giáo trong giới quan lại và hoàng gia. Một nhà nguyện được thành lập trong dinh của bà, nơi trú ngụ của các thừa sai và nơi hội họp của giáo dân trong vùng, thời bình cũng như thời cấm cách. Có thể coi bà như cột trụ của tòa nhà giáo đoàn xứ Nam và là lãnh đạo của giáo dân trong vùng.


Nhưng sau mỗi kết quả lại đến thử thách. Lần này không phải do các “onsai” mà do phái nho giáo, cầm quyền. Vì sự cấm đoán những nghi lễ pha trộn mê tín trong việc kính nhớ hương hồn người quá cố, họ đã tố cáo các thừa sai đem vào cho dân một đạo trái luân thường và theo đạo là bỏ ông bà cha mẹ. Chúng ta không quên rằng các thừa sai dòng Tên được chúa Nguyễn giữ lại trong xứ mình chỉ vì lý do chính trị thương mại với người Bồ. Nhà chúa cần được họ tiếp tế đạn dược súng ống để đương đầu với chúa Trịnh ngoài Bắc. Các cha là những người tàu buôn đưa vào và sự có mặt của các cha là bảo đảm tàu buôn trở lại. Một khi mục đích không đạt được, nhà chúa không ngại làm khó dễ các cha và sự đạo.


Năm 1625, tàu buôn Ao môn không cập bến như mọi năm. Sãi vương liền ra lệnh tập trung các cha ở cửa Hàn. Cái chết của cha De Pina, tuy là một tang đau lớn, nhưng giúp các cha một lối thoát để đả phá những hiểu nhầm trên. Dần dần các cha lại được tự do truyền giáo.


Tháng 7-1626, cha Đắc Lộ và Pedro Marquez được gọi về Ao môn để vào xứ Bắc mở đầu công cuộc truyền giáo ở đó. Số thừa sai còn lại là 8 vị, tính đến năm 1629 số người nhập đạo được độ 15.000.


Từ năm 1629, các cha bước vào một giai đoạn thử thách liên tiếp. Sống lẩn lút trong những khu rừng hoang nước độc, các cha bắt đầu một giai đoạn hoạt động truyền giáo trong bóng tối. Vào cuối đời Sãi vương các cha được một thời kỳ dễ dãi, nhưng năm 1635, Sãi vương băng hà. Thượng vương lên thay, đối với vấn đề tôn giáo, thái độ lại có vẻ gay gắt hơn, cuộc bách hại tiến dần đến chỗ đổ máu.


Năm 1639 tất cả các thừa sai lại bị trục xuất. Cha Buzomi nghe tin, ngã bệnh qua đời, sau 24 năm hy sinh truyền giáo cho xứ Nam. Năm 1640, cha Đắc Lộ được sai trở lại tiếp tục công cuộc của cha Buzomi 2, ba lần bị trục xuất, ba lần cha trở lại. Trong những thời gian vắn vỏi đó, cha rảo thăm các họ. Lòng can đảm sốt sắng của giáo dân xứ Nam đã nhiều lần được cha đề cao với nhiều kết quả đáng kể của tông đồ giáo dân và của các thầy giảng được nhắc đến. Cũng như ở ngoài Bắc, cha đã tổ thức các thầy giảng thành một hội dòng triều với ba lời tu thệ và hoạt động truyền giáo giữa thế tục. Cha cũng chú trọ đến công cuộc truyền giáo cho giới quan lại và trí thức. Cha để ý đến một ông nghè có quyền thế trong triều và là thầy dạy của Thượng vương. Tuy không lôi cuốn được ông trở lại nhưng cha đã rửa tội cho vợ con của ông. Chính ông ta đã can thiệp cho cha khỏi án tử sau này.


Bắt đầu từ tháng 7-1644, giáo đoàn xứ Nam bước vào giai đoạn bách hại đổ máu. Vị tử đạo đầu tiên của xứ Nam là thầy Andrê. Từ Quảng Nam, cuộc bách hại lan xuống phủ Quy Nhơn, 35 người đàn anh ở đó được hân hạnh xưng đạo Chúa. Bị trục xuất, cha Đắc Lộ ra đi, nhưng trở lại bí mật hoạt động để nâng đỡ bảo vệ đoàn chiên trước nanh vuốt của sói rừng. Cuối cùng cha bị bắt giam cùng với 9 thầy giảng. Bị Thượng vương kết án trảm quyết, may nhờ có ông thầy dạy của nhà chúa can thiệp, cha bị trục xuất vĩnh viễn ngày 3 tháng 7 năm 1645. Số giáo dân lúc đó độ 50.000. Mấy tháng sau 2 thầy Inhaxu và Vinh sơn được danh dự tử đạo.


Năm sau 1646, cha Metello Saccano đến thay thế 3. Máu minh chứng vẫn tiếp tục chảy, cuối năm 1646, hai ông Agostinô và Alêxi bị án trảm quyết ở Quảng Bình. Tuy bắt đạo, nhưng Thượng vương vì chính trị thương mại với người Bồ và mong muốn được nhận lễ vật của các cha đưa đến, năm 1647, lại cho phép cha Carlo della Rocca ở lại. Không được phép ra ngoài cửa Hội An, các cha dùng các thầy giảng làm trung gian liên lạc để bí mật gặp các giáo dân ban đêm.


Năm 1648, Thượng vương băng hà, Hiền vương lên thay, bách hại vẫn tiếp tục, mỗi ngày thêm gay gắt hơn, nhất là từ năm 1661. Năm 1655 hai cha Phanxicô Rivas và Pedro Marquez đến thay thế hai cha Saccano và Rocca. Sau cái chết minh chứng của ông Phêrô Văn Nết ở Cát Dinh, các cha được qua một thời kỳ hòa hoãn. Hiền vương muốn dùng các cha làm môi giới nối lại liên lạc với người Bồ đã bị đứt đoạn từ 3 năm. Nhưng không lâu, năm 1661, Hiền vương mất 7 huyện vùng phía nam sông Lam giang, cuộc bách hại lại tiếp diễn. Cát Dinh lại được hân hạnh ghi thêm mấy anh hùng tử đạo.


Giữa những thử thách đó, thì cha chính Louis Chevreuil do Đức cha Lambert de la Motte sai đến. Giáo đoàn xứ Nam từ nay đặt dưới quyền Đức cha đại diện tông tòa do Thánh bộ truyền giáo sai đến, bắt đầu giai đoạn truyền giáo thứ hai với các thừa sai hội truyền giáo Paris được thành lập sau này.


Công cuộc truyền giáo ở xứ Nam tuy bắt đầu trước xứ Bắc, nhưng xét về số người theo đạo thì không bằng xứ Bắc, trước hết vì dân số ít hơn, đàng khác các thừa sai luôn gặp khó dễ, nhất là từ năm 1629 trở đi, công cuộc truyền giáo phải rút lui vào bóng tối, phải lẩn lút trong những khu rừng hoang nước độc, hay bị quản thúc trong khu cửa Hội An và cửa Hàn, thời gian lâu hơn cả là từ năm 1646 đến năm 1656.Nhưng với những bách hại đó, tuy công cuộc truyền giáo bị ngừng trệ và nhiều họ đạo bị tan rã, giáo đoàn xứ Nam lại hơn giáo đoàn xứ Bắc trong thời kỳ khai nguyên này ở chỗ có nhiều anh hùng tử đạo hơn.


Chúng ta cũng có thể tìm nguyên nhân sự chậm tiến này trong vấn đề tôn giáo và hoàn cảnh xã hội. Xứ Nam là khu vực mới chiếm được của người Chiêm Thành. Phật giáo ở Chiêm Thành cũng như ở Cao Miên, Lào, Xiêm rất được tôn trọng và thịnh hành, ăn sâu và ảnh hưởng vào tất cả các tổ chức xã hội, chính trị và đời sống dân chúng. Công cuộc truyền giáo ở những nơi đó đã vấp phải một cản trở lớn không thể tiến được. Người Việt di cư xuống Nam cũng bị ảnh hưởngkhông ít nền văn minh và tôn giáo của người Chiêm nhất là về vấn đề Phật giáo, một tôn giáo chung của hai dân tộc. Họ có thể gặp khắp nơi chùa chiền, miếu mạo, di tích của người dân đã ở trước. Hoàn cảnh chiến tranh luôn tiếp diễn bên ngoài, càng làm cho họ chán ngán cuộc đời, nghiêng về cảnh tu trì, thoát tục của đạo Phật. Thêm vào đó, cảnh làm ăn vất vả với những bệnh tật do chướng khi vùng mới khai phá giúp cho những mê tín sẵn có càng lan mạnh ra. Trong các bản tường trình của các thừa sai lúc đó nói rất nhiều đến các thầy pháp thầy cúng sống nhờ trên những mê tín của người dân. Tất cả những cái đó kèm thêm những lời vu cáo phao đồn của những người không ưa đạo, là những chướng ngại lớn cho tiến triển của công cuộc truyền giáo.


 


2. 37 năm truyền giáo ở xứ Bắc


Công cuộc truyền giáo cho xứ Nam bắt đầu từ năm 1615, mãi đến năm 1626, nghĩa là 11 năm sau, bề trên tỉnh dòng các thừa sai dòng Tên ở Ao môn mới sai người đến truyền giáo xứ Bắc. Có lẽ vì trước đây liên lạc buôn bán giữa người Bồ và xứ Bắc chưa được điều hòa 4. Đàng khác trong nước luôn luôn có rối loạn. Họ Trịnh mới thu phục được xứ Bắc cho nhà Lê, đã lại muốn lấn quyền vua Lê, tự xưng làm chúa. Vì thế hết phải đương đầu với nhà Mạc ở mạn ngược, lại phải đương đầu với những cuộc nổi loạn trong nước. Mãi sau năm 1625, tình hình trong nước mới tạm yên, họ Mạc ở Cao Bằng đã về hàng, nội loạn cuối cùng do dư đảng Trịnh Xuân gây ra cũng đã dẹp xong.


Được rảnh tay, chúa Trịnh lúc đó là Trịnh Tráng mới nghĩ đến việc diệt trừ họ Nguyễn trong Nam. Họ Nguyễn lúc đó đã mạnh, có nhiều súng ống đạn dược, muốn diệt trừ, họ Trịnh cũng cần mua súng ống đạn dược của người Bồ. Cũng theo chính trị họ Nguyễn trong Nam, Trịnh Tráng yêu cầu thừa sai đến truyền giáo để bảo đảm liên lạc thương mại.


Nói đến công cuộc truyền giáo xứ Bắc là nói đến cha Đắc Lộ, nhưng cha không phải thừa sai dòng Tên tiên khởi đến xứ Bắc. Trước cha đã có cha Baldinotti. Đến xứ Bắc ngày 2 tháng 2 năm 1626, vì không biết tiếng nói cha đành trở về Ao môn.


Lúc đó ở trong Nam, cha Đắc Lộ được phái qua xứ Bắc để mở đầu công cuộc truyền giáo với cha Pedro Marquez 5. Tới Cửa Bạng, lễ thánh Giuse, 19 tháng 3 năm 1627, ngay từ lúc đầu, công cuộc truyền giáo của cha đã đem lại nhiều kết quả: họ đạo Cửa Bạng được thành lập, rồi đang khi chờ đợi Trịnh Tráng vào đánh chúa Nguyễn trong Nam, họ đạo thứ hai ở An Vực. Với sự cộng tác của Tông đồ giáo dân, sự đạo tiến mau chóng ra các làng chung quanh và bước vào cả trong triều phủ, giới vương phi cung nữ và hoàng thân theo vua Lê chúa Trịnh xuống Nam đỗ lại ở đó.


Theo Trịnh Tráng lên Kinh và được phép ở lại truyền giáo, cuối năm đó hai cha đã rửa tội được 1200 người. Căn nhà Trịnh Tráng cất cho các bà được đổi làm nhà thờ đầu tiên xứ Kẻ Chợ. Số người đến học đạo rất nhiều, mỗi ngày cha phải giảng 4, 5 lần, có khi 6 lần. Trong số những người trở lại, nhiều người thuộc giới quan lại và hoàng gia, đáng kể hơn cả là công chúa Catarina. Với bà chúng ta đã có những vần thơ tôn giáo đầu tiên, được truyền tụng trong khắp dân chúng thời đó. Số các thầy sãi trở lại cũng nhiều, đáng kể hơn cả là thầy sãi Antôniô, ở làng Vũ xá, một tông đồ giáo dân gương mẫu. Giáo dân sống một đời sống thanh sạch và đạo đức sốt sắng.


Công tác bên các cha, có các thầy giảng. Một tổ chức đã lập được bao công nghiệp sáng lạn trong suốt Lịch sử công giáo Việt Nam. Ba thầy giảng tiên khởi: thầy Phanxicô, Andrê và Inhaxu.


Trước kết quả đó, những người không ưa đạo, nhưng người thấy kế sinh nhai  của mình bị đe dọa: các vương phi, cung nữ, hoạn quan, các thầy sãi thầy cúng tìm cách tung ra những phao đồn vu cáo để phá hoại. Trịnh Tráng ra lệnh cấm đạo, hai cha bị quản thúc, cuối cùng bị trục xuất vào cuối tháng 3-1629.


Nhờ sự giúp đỡ của quan trưởng thuyền đã được cha đưa trở lại trong chuyến xuôi Nam, cha lên phủ Bố Chính, rồi từ đó cha ngược lên vùng Nghệ An, lẩn lút truyền đạo ở đó. Theo tàu buôn người Bồ, vào đầu năm 1630 cha trở lại Kẻ Chợ. Lợi dụng thời gian, cha tổ chức lại giáo đoàn, đặt ba lời tu thệ cho các thầy giảng rồi tháng 5-1630 cha lên đường trở về Ao môn, vĩnh biệt xứ Bắc, nơi cha đã dầy công khai thác. Số giáo dân lúc đó được hơn năm ngàn.


Năm sau, hai cha Gaspar d’Amaral và Antoniô de Fontès đến tiếp tục. Tình hình giáo đoàn trong thời kỳ vắng mặt các thừa sai, rất khả quan. Giáo dân trung thành giữ đạo. Các thầy giảng đã rửa tội thêm được 3340 người. Trong số giáo dân có tên tuổi và nhiệt thành truyền giáo, không kể công chúa Catarina, còn bà vương phi Mađalêna, bà Anna, dì của một hoàng tử, ông Inhaxu, phò mã của chúa Trịnh và ông Giuse thân phụ của ông, rồi hai ông Phêrô và Paolô, hai vị quan lớn trong triều phủ. Vị tử đạo đầu tiên của xứ Bắc là ông Phanxicô.


Không được phép truyền giáo, hai cha phải hoạt động trong bóng tối với sự cộng tác của các thầy giảng. Tổ chức thầy giảng lúc đó được 7 thầy đã khấn trọn đời, còn một số đông đang thời kỳ tập sự. Cuối năm 1630 lại thêm hai cha Girolamô Majorica và Bernadinô Reggio. Vào năm 1632 lợi dụng thời gian, hai cha Majorica và Fontès đi thăm các họ đạo vùng Nghệ An, Thanh Hóa và lập thêm hai cơ sở truyền giáo ở đó.


Trong hai năm 1635 và 1636 gặp nhiều tai ương liên tiếp lại thêm lệnh cấm đạo, công cuộc truyền giáo bị ngừng trệ ít nhiều, ngoài ra mỗi năm các cha rửa tội được gần một vạn. Tính đến năm 1639 số người được Rửa tội đã lên 82.500, hơn 100 nhà thờ và 120 nhà nguyện. Thêm hai cha Barbosa và Morelli, cha Gaspar d’Amaral lại mở thêm hai cơ sở truyền giáo ở trấn Đông và trấn Nam.


Năm 1638 các cha cũng nghĩ đến công cuộc truyền giáo ở Lào, nhưng cha Bonel giữa đường bị sốt rét ngã nước chết, các thầy giảng tới nơi, nhưng không thu được kết quả, phải trở về.


Năm 1639 cha Gaspar d’Amaral trở về Ao môn dưỡng bệnh. Cha Felix Morelli lên thay. Số giáo dân thêm nhiều, số thừa sai vẫn được tiếp tục gửi đến thay thế cho những vị đã qua đời hay được gọi về để phái đi nơi khác. Năm 1643, Trịnh Tráng bất ngờ ra lệnh cấm đạo, nhưng sau 3 tháng các cha lại được tự do truyền giáo. Năm 1646, một số các thừa sai vào xứ Bắc bị  đắm tàu chết ở vùng Hải Nam, trong đó có cha Gaspar d’Amaral.


Cũng năm đó, nhờ bức thư của quan trấn Quảng Tây tán dương đạo công giáo và các cha thừa sai dòng Tên, vua Lê và triều thần tỏ ý tôn trọng đạo và thán phục các cha. Cha Morelli, lúc đó là bề trên được vua Lê Chân Tôn nhận làm dưỡng tử. Kết quả rất khả quan. Số người trở lại rất nhiều.


Năm 1649, sau một thời gian bị cấm cách, các cha lại được tự do hoạt động. Cha Majorica chỉ huy giáo đoàn. Sự đạo vẫn tiến một cách khả quan. Các cha đi thăm các họ đạo với sự cộng tác của các thầy giảng lúc đó đã được 70 thầy. Hoạt động của tông đồ giáo dân cũng đem lại nhiều kết quả. Vào cuối đời Trịnh Tráng, các cha cũng có nhiều bà trong triều phủ bảo vệ và giúp đỡ: bà quả phụ Gioanna, hai bà Pia và Colomba, vợ của một hoàng tử đã qua đời và bà Gioanna, cô của Trịnh Tạc.


Năm 1656, cha Majorica qua đời sau 15 năm hy sinh tận tuỵ cho xứ Bắc. Cha Onuphre Borgès lên thay. Năm 1657 Trịnh Tráng cũng băng hà, Trịnh Tạc lên nối nghiệp. Trong thời kỳ đầu, đối với tôn giáo và các thừa sai, vẫn theo đường lối của Trịnh Tráng, nhưng nhiều điềm báo các cha và giáo dân sắp phải bước vào một giai đoạn cấm cách khó khăn.


Vào tháng 6-1658, Trịnh Tạc ra lệnh cho cha bề trên gọi các thừa sai ở các nơi về, rồi ra lệnh trục xuất, chỉ còn hai cha Borgès và Tissanier được ở lại, nhưng không được ra ngoài khu Kẻ Chợ. Tất cả đều trông nhờ vào các thầy giảng và hoạt động tông đồ giáo dân. Vào năm 1662 thêm cha Albier, nhưng các cha vẫn không được ra ngoài khu Kẻ Chợ, tuy với thời gian, từ năm 1659 các cha được dễ dãi đôi chút. Dầu vậy, số người được rửa tội, nhiều năm, trung bình cũng 6, 7 ngàn.


Ao môn từ năm 1663 bị quân nhà Thnah phong tỏa, tàu buôn không thể vào xứ Bắc như mọi năm. Nghe tin, Trịnh Tạc ra lệnh trục xuất cả ba cha, ngày 12 tháng 11-1663. Mãi đến tháng 4-1669, nghĩa là 6 năm sau các thừa sai dòng Tên mới trở lại xứ Bắc. Lúc đó, cũng như ở xứ Nam, xứ Bắc đã thuộc quyền giám mục đại diện tông tòa do Thánh bộ truyền giáo sai đến, mở đầu một giai đoạn truyền giáo mới.


Nhìn lại 37 năm truyền giáo của các thừa sai dòng Tên ở xứ Bắc (1626-1663) nếu so sánh với những kết quả thu lượm được ở xứ Nam, chúng ta nhận thấy giáo đoàn xứ Bắc đã vượt trổi hơn giáo đoàn xứ Nam nhiều, mặc dầu công cuộc truyền giáo được bắt đầu muộn hơn 11 năm.


Trước hết vì dân số ở ngoài Bắc đông hơn. Đằng khác các cha không bị những cơn cấm cách ngặt nghèo và kéo dài như ở trong Nam. Suốt từ năm 1626 đến năm 1657, 31 năm trời đưới thời Trịnh Tráng, có thể coi là thời kỳ hoàng kim của giáo đoàn xứ Bắc. Đôi khi bị cấm cách, nhưng theo cha Marini, chỉ là những bách hại nhỏ nhặt, những cuộc phá đám của đàn ruồi muỗi. Mãi sang thời Trịnh Tạc, các cha mới gặp những khó dễ đáng kể và kéo dài. Suốt từ năm 1658, một năm sau khi Trịnh Tạc lên ngôi chúa, đến năm 1663 khi các cha bị trục xuất, trong 5 năm liền, các cha bị quản thúc trong khu Kẻ Chợ. Nhưng lúc đó giáo đoàn đã vững mạnh, đông đúc; tổ chức trùm trưởng đàn anh trong các họ đã có quy củ bền chặt; các thầy giảng nhiều và được huấn luyện đầy đủ có thể thay thế các cha một phần nào. Phật giáo và Lão giáo không được thịnh hành như ở trong Nam, các cha cũng không gặp nhiều vướng trở khó khăn về phương diện đó.


Tính sau 37 năm truyền giáo, số người được các cha rửa tội ở xứ Bắc có thể lên tới gần 250.000 6. Cha Đắc Lộ, trở về Rôma yêu cầu sai giám mục sang Việt Nam để tổ chức hàng giáo phẩm bản quốc, trong bản tâu trình lên đức giáo hoàng Innoxentiô X năm 1652, đã nói đến con số hơn 200.000 giáo dân của giáo hội Việt Nam.


Với con số 250.000 người được rửa tội trên đây, trừ đi số người đã chết hay bỏ đạo, xem so sánh với côn số 200.000 giáo dân chung cho cả xứ Nam, xứ Bắc, th2i cho dù các thừa sai có nói tăng lên cho tròn số, số giáo dân xứ Bắc lúc đó ít ra cũng đã hơn 10 vạn người,7 và giáo dân xứ Nam cũng gần 5 vạn.


Sau khi kiểm điểm những tiến triển trong công cuộc truyền giáo và kết quả thu lượm xứ Nam và xứ Bắc của các thừa sai dòng Tên, với những lý do con số giáo dân sai biệt giữa hai miền trên đây, chúng ta thử tìm những lý do thành công của các ngài trong giáo hội Việt Nam so sánh với các giáo hội miền Đông Á lúc đó. Đang khi ở Xiêm, Lào, Cao Miên và Trung Hoa, công cuộc truyền giáo tiến rất chậm, kết quả thu lượm được quá ít so với công lao hy sinh của các thừa sai, thì trái lại ở Việt Nam, nhất là ở xứ Bắc, các ngài đã thu lượm được những kết quả quá sự mong muốn của các ngài về con số cũng như tinh thần đạo đức của giáo dân. Những lý do thành công đó chúng ta có thể tìm thấy ở đâu?


(Nguồn : Linh mục Nguyễn Hồng : LỊCH SỬ TRUYỀN GIÁO Ở VIỆT NAM / CÁC THỪA SAI DÒNG TÊN 1615-1665; Chương 9 : NHÌN LẠI 50 NĂM TRUYỀN GIÁO CỦA CÁC THỪA SAI DÒNG TÊN )

Hành Trình và Truyền Giáo / Alexandre De Rhodes


Chương 1-10


Phần II: TRUYỀN GIÁO TẠI ĐÀNG NGOÀI VÀ ĐÀNG TRONG 


Lời nói đầu


Chúa đã đổi dự định thứ nhất của tôi là bỏ Âu Châu đi Nhật, nay lại muốn cho tôi hoạt động nhiều năm ở hai nước lân cận với Trung Quốc, nơi Người đã cho thành lập hai giáo đoàn thịnh vượng mà dòng chúng tôi được thấy ở những nơi xa lạ này, nơi đã có nhiều người nổi tiếng nhiệt tâm làm việc. Tôi sẽ vắn tắt, trong phần thứ hai này, nói về những điều Chúa đã cho tôi chứng kiến. Thú thật rằng lòng tôi còn tưởng nhớ đến những nơi đó, đêm ngày tôi vẫn mong sao trở lại và gặp lại biết bao giáo dân tôi đã bỏ lại, họ còn thương tôi, nhắc nhở đến tôi với những cảm tình đằm thắm mà tôi không xứng đáng, nhưng về phần tôi, tôi xin đáp lại bằng những nỗi niềm thương mến của tôi.  


Chương 1: TÌNH HÌNH Ở ĐÀNG TRONG 


Đàng Trong mới tách ra khỏi Đàng Ngoài chưa được năm mươi năm (1), còn thì trong bảy trăm năm (2), Đàng Trong chỉ là một tỉnh của Đàng Ngoài. Người tiên khởi rũ cái ách đó là vị thủy tổ của chúa đương thời. Là quan cai trị, do vua Đàng Ngoài phái vào, ông cũng là em rể. Sau khi cư trú ít lâu, ông thấy cái danh hiệu làm chúa đẹp hơn danh hiệu quan trấn thủ, và tư thế một ông hoàng có giá hơn tư thế một chư hầu, ông liền khởi loạn và tự xưng làm chủ đất nước này. Từ đó ông chuẩn bị đầy đủ võ trang và lối lại cho các con một gia sản mấy lần bị tranh giành. Dân Đàng Ngoài mấy phen xông đánh nhưng chẳng thành công và hiện nay chắc là quyền thống trị nằm trong tay người có quyền.


Đàng Trong ở vào miền nhiệt đới, về phía nam Trung Quốc; bắt đầu từ vĩ tuyến mười hai cho tới vĩ tuyến mười tám. Tôi ước lượng dài chừng một trăm ngàn bước, nhưng bề rộng thì ngắn hơn nhiều. Có tất cả sáu tỉnh, mỗi tỉnh đều có quan cai trị và quan tòa riêng (3). Thành phố chúa ở gọi là Kẻ Huế, triều đình rất đẹp và có rất nhiều quan chức. Họ ăn vận rất lộng lẫy, nhưng điện đài không đồ sộ, vì họ chỉ xây cất bằng gỗ, tuy nhiên cũng rất tiện lợi và rất đẹp, vì có cột chạm trồ tinh vi.


Số dân cũng rất đông, tính tình hòa nhã. Tuy vậy họ là những binh sĩ rất thiện nghệ. Họ có lòng sùng kính nhà vua. Còn thuyền chiến thì có một trăm rưỡi cỗ, đậu ở ba cửa biển. Người Hòa Lan nghiệm thấy đoàn thuyền chiến ấy có thể thắng nổi đoàn tàu lớn của mình, tuy vẫn tự coi là chúa biển (4).


Tôn giáo của họ cũng giống tôn giáo ở Trung Quốc. Họ rất sùng đạo cũng như ở Đàng Ngoài. Cả hai đều cùng một hiến pháp và gần như cùng một phong tục. Họ cũng có những tiến sĩ như người Tàu và đối với họ, hàng quan lại rất có thế giá. Tuy nhiên, tôi thấy họ không kiêu căng như  người Tàu, dễ giao thiệp và là những binh sĩ rất lành nghề.


Họ cũng rất giàu vì có đất đai phì nhiêu với hai mươi bốn con sông cung cấp nước, cũng nhờ đó mà rất tiện việc đi lại bằng đường sông ngòi, tiện việc thông thương và hành trình. Mỗi năm thường có lụt lội, vào tháng một và tháng chạp, thỉnh thoảng có tới ba mùa lụt thêm màu mỡ cho đồng ruộng. Vào thời gian này, chỉ đi lại bằng thuyền. Nhà cửa thì làm trống về phía dưới để cho nước lưu thông và vì thế thường đặt trên những cột lớn (5).


Có nhiều mỏ vàng ở Đàng Trong, nhiều hồ tiêu mà người Tàu tới mua, nhiều tơ lụa đến nỗi còn dùng để đan lưới và bện dây thuyền. Đường cũng rất nhiều, giá nửa ký chỉ vào khoảng hai xu (6). Ho xuất cảng qua Nhật Bản; tuy rất tốt, nhưng tôi thấy họ không biết cách lọc như chúng ta. Mía cũng rất ngon và người ta thường ăn như chúng ta ăn táo, giá chẳng là bao.


Nhưng không có lúa mì, không có rượu nho, không có dầu, nhưng đừng tưởng như vậy là sống khổ sống sở đâu. Họ có những sản phẩm mà ta không có, thế nên bữa ăn của họ chẳng kém thịnh soạn như ở Au Châu. Thật ra họ không dùng nhiều nước “xốt” (7) như ta, nên họ khoẻ mạnh hơn và không mắc những bệnh ta thường mắc, như tôi đã nói về Trung Quốc.


Ở khắp thế giới, chỉ có ở Đàng Trong là có thứ cây danh tiếng gọi là trầm hương, gỗ rất thơm, dùng làm vị thuốc. Có tất cả ba loại: loại quý nhất gọi là “Calamba” hương thơm tuyệt diệu, dùng để bổ tim và chống hết các thứ nọc độc. Ở xứ này giá trầm như giá vàng. Hai loại khác là “aquila” và “calambouc” thông thường, không tốt bằng loại thứ nhất, nhưng cũng rất có hiệu lực tốt (8).


Cũng chỉ ở Đàng Trong mới có thứ tổ yến, người ta cho vào cháo và thịt. Có một hương vị đặc biệt, thường là món ăn cao sang các ông hoàng bà chúa. Nó trắng như tuyết. Người ta tìm thấy trong mấy núi đá ven biển, đối diện với đất liền có trầm hương, ngoài ra không đâu có. Tôi nghĩ chim yến đã hút mủ cây trầm và từ mủ đó trộn với bọt biển, vì thế tổ yến vừa trắng vừa có vị ngon. Người ta không ăn riêng nhưng nấu chung với cá hoặc với thịt (9).


Cũng ở đất này, có rất nhiều mít có trái, như trái bí lớn đầy hạt như hạt dẻ của ta. Chỉ một trái cũng đủ cho một người vác. Vì thế Chúa quan phòng muốn chúng không sinh trên cành vì không mang nổi, nhưng ở ngay thân cây. Cái bị là một vỏ dầy, khi cắt ra thì thấy ở trong có tới năm trăm hạt, nhưng lớn hơn hạt dẻ của ta. Hương vị thơm ngon là ở cái vỏ, vừa trắng vừa thơm, người ta ăn vỏ còn hạt thì nấu chín.


Dứa mà ở Pháp người ta rất thích cũng là thổ sản rất thông thường. Đó là những trái to hơn dưa bở của ta, nhưng vô địch về thơm ngon khi còn tươi. Trái mọc từ dưới đất như atisô của ta, là cũng tương tự. Vỏ bên ngoài đỏ và vàng, đầy những mắt nhỏ và chấm, bên trong rất ngọt. Một người khó mà ăn hết một trái. Dứa thuộc loại nhiệt chứ không giải nhiệt.


Tôi không nói tới nhiều trái khác ở xứ này, như dưa hấu, giống như dưa hấu tôi đã thấy ở Ý. Có ba thứ cam, thứ cam của ta không tài nào so đo nổi, khi ăn cứ tưởng như ăn trái nho “musca” (10) của ta. Nào ai còn nói đất nước này chẳng thể sánh với đất nước ta.  


Chương 2: NHỮNG NHÀ TRUYỀN GIÁO ĐẦU TIÊN TỚI ĐÀNG TRONG GIẢNG PHÚC ÂM 


Tôi không chú ý tới đất đai phì nhiêu, nhưng tới kết quả lớn lao trong việc truyền bá Phúc âm trong thời gian ngắn. Tôi là chứng nhân và tôi có thể nói: được phái đến đây tất cả năm lần, tôi hằng chứng kiến phép lành Chúa ban cho đất màu mỡ này, đúng như lời thánh vương Đavít đã ca: Trời đổ sương xuống và toàn trái đất sinh hoa kết trái (11).


Những người đầu tiên được sai tới giảng cho xứ này biết Chúa Kitô, trước kia chưa bao giờ nghe tới, đó là cha Francois Buzomi, người thành Napoli, vị tông đồ đích thực của Đàng Trong, người đã tận tuỵ lo việc truyền giáo, hoạt động trong hơn hai mươi năm với một sức kiên trì đáng được khen lao ca tụng; người bạn đồng hành của ngài là cha Diego Carvaillo, người Bồ, từ đó đã đi Nhật và chịu tử đạo.


Cơ hội tiên khởi để bắt đầu việc truyền giáo này là Ferdinand de Costa đức ông người Bồ, đã về Macao sau khi tới Đàng Trong. Ông tới tìm các cha và kể những sự ông đã thấy cùng nói tới triển vọng tốt đẹp về việc truyền giáo cho đất nước này. Cha Buzomi, sau khi nghe biết, liền đến quỳ dưới chân bề trên, xin cho phép đi tới đất nước mà Chúa kêu gọi ngài. Lời xin liền được chấp nhận. Thế là ngài trẩy đi ngay đầu năm 1615 và tới nơi vào ngày lễ thánh Phêrô lập tòa ở thành Rôma 18 tháng giêng. Ngài nghĩ ngay đến việc cất một nhà nguyện ở cửa Hội An, nơi tàu đưa ngài tới chính ngày lễ Phục sinh. Ngài long trọng dâng thánh lễ đầu tiên và rửa tội cho mười người tân tòng.


Từ bến này ngài đi hoạt động ở khắp miền lân cận, năm thứ nhất, được ba trăm giáo dân tân tòng. Ngài cất thêm một nhà nguyện thứ hai cho đủ chỗ thờ phượng. Vì có một mình nên lúc thì ngài ở nhà nguyện trên, khi thì ở nhà nguyện dưới. Nhưng rồi ngài nhận được trợ lực từ Macao, đó là cha Francois Barret và Francois de Pina (12), cả hai đều là những thợ làm việc không bao giờ biết mệt mỏi. Sau ít lâu đã thu được kết quả rất đặc biệt nơi các dân ở đây.


Được thành công mỹ mãn, dĩ nhiên thù địch chính là ma quỷ phản kháng. Một cơn hạn hán đã xảy đến làm cho mất hy vọng gặt hái. Lương dân liền đổ tội cho các thầy phù thuỷ mới, lấy cớ dạy đường lên trời, nhưng đã phá phách cõi đất. Thế là tin theo lời vu oan, dân chúng tới gây gỗ, đuổi các cha ra khỏi nhà nguyện và bắt phải trốn vào rừng thiếu thốn đủ mọi thứ, trừ niềm tin vào Chúa.


Vì thế Chúa không bỏ. Cha Buzomi được lòng quan trấn tỉnh Quy Nhơn, ông này được chúa tin cậy, và vì thế ngài được toàn cõi vị nể. Được tin người ta đã xử tệ với bạn thân của mình, ông liền cho mời ngài vào tư dinh, giữ ngài ở đó và tiếp đãi thịnh tình trong năm tuần lễ, rồi sửa soạn cho ngài một nhà khá tươm tất, cho voi long trọng rước ngài tới ở. Tuy được tiếp đãi nồng hậu như thế, ngài đã ngã bệnh sau thời gian bị đày ải và chịu nhiều cực khổ. Bề trên ở Macao sợ mất ngài nên gọi ngài về để săn sóc và bồi dưỡng. Ngài vâng lệnh không dám sai, nhưng Chúa đã cho ngài hồi phục trước ngày ngài bắt đầu trẩy đi. Thế là ngài chỉ còn nghĩ tới hoạt động ngay mà thôi.


Năm 1618 ngài đảm nhận trụ sở ở tỉnh Quy Nhơn cùng với cha Francois de Pina. Cả hai khởi công thành lập một giáo đoàn mới, nhưng hòa bình chẳng được bao lâu. Ma quỷ lại bày mưu tìm kế, số là lương dân tự ý bẻ tay đánh gẫy chân mấy tượng thần rồi đem ra chiềng dân chúng nơi công, tố cáo giáo dân đã phạm tội ác. Dân chúng cả tin và nổi giận chống đối các cha, dùng võ lực đối với mấy người giúp việc và bắt giam tù. Cha Buzomi liền kín đáo vào tư dinh, phân bua minh oan, rồi trở về đem lệnh chúa truyền để cho các cha và giáo dân sống yên hàn.


Trong mấy năm sau, 1620, 1621 và 1622, dòng đã phái liên tiếp những thợ mới đến làm vườn nho đẹp đẽ này, vườn nho bắt đầu lan ra khắp đất nước. Cha Emmanuel Porgez cũng tới. Tôi sẽ không kể tên các cha khác, sợ quá dài dòng. Như vậy cũng đủ nói lên rằng đã có mấy người kiên trì hoạt động và trong ít lâu đã thành lập được mấy giáo đoàn.  


Chương 3: LẦN THỨ NHẤT TÔI ĐƯỢC PHÁI TỚI ĐÀNG TRONG 


Các tông đồ kiên trì giảng Phúc âm đưa vào lưới rất nhiều cá đến nỗi không thể kéo lên được, nên đã kêu gào trong thư gủi về bề trên ở Macao để xin phái các cha đến viện trợ, dù có gửi tới hai chục thì vẫn còn những mẻ cá lớn lao và tốt đẹp để săn sóc.


Vì Nhật Bản vẫn thi hành chính sách bế quan tỏa cảng, nên bề trên tin rằng Chúa cho phép sự ác đó để mở cửa cho Đàng Trong nhận Phúc âm.


Thế là năm 1624, bề trên phái cha Mathêu Mattos, trước kia ở Rôma làm quản thủ các tỉnh dòng, đến thăm việc truyền giáo ở Đàng Trong, cùng với năm bạn đồng sự người Au, trong số đó tôi hân hạnh là người thứ năm và một người Nhật thông thạo chữ Hán.


Chúng tôi khởi hành từ Macao vào tháng 10 năm 1624 và sau mười chín ngày thì tới Đàng Trong, tất cả đều hồ hởi bởi hoạt động tốt. Ở đó chúng tôi gặp cha Pina, ngài rất thông tạo tiếng xứ này, một thứ tiếng khác hẳn tiếng Tàu. Tiếng mới này còn thông dụng ở Đàng Ngoài, ở Cao Bằng, ở Đàng Trong và người ta còn nghe và hiểu ở ba xứ lân bang khác. Đối với tôi, thú thật vừa tới Đàng Trong và nghe dân xứ này nói, nhất là phụ nữ, tôi tưởng như nghe chim hót và tôi không bao giờ mong có thể học được.


Hết các tiếng đều độc vận và chỉ phân biệt ý do nhiều giọng nói khác nhau. Một chữ như “đại” chẳng hạn, có tới hai mươi ba nghĩa hoàn toàn khác nhau, do cách đọc khác nhau, vì thế khi nói thì như ca như hát. Tôi đã đề cập tới nhiều hơn trong cuốn Lịch sử Đàng Ngoài. Căn cứ vào đó thì thấy học thứ ngôn ngữ này không phải là dễ.


Vì thế mà tôi thấy cha Fernandez và cha Buzomi phải dùng thông ngôn để giảng, chỉ có cha Francois de Pina không cần thông ngôn vì nói rất thạo. Tôi nhận thấy bài ngài giảng có ích nhiều hơn bài các vị khác. Điều này khiến tôi tận tuỵ học hỏi, tuy vất vả, thế nhưng khó ít mà lợi nhiều. Tôi liền chuyên chú vào việc. Mỗi ngày tôi học một bài và siêng năng như khi xưa vùi đầu vào khoa thần học ở Rôma. Chúa đã cho tôi trong bốn tháng tôi đủ khả năng để ngồi tòa giải tội và trong sáu tháng tôi đã giảng được bằng ngôn ngữ Đàng Trong và cứ thế tôi tiếp tục trong nhiều năm. Tôi khuyên tất cả các vị nhiệt tâm muốn tới những tỉnh dòng chúng tôi để chinh phục các linh hồn, thì nên chuyên cần ngay từ buổi đầu. Tôi cả quyết rằng hiệu quả của việc trình bày các mầu nhiệm trong ngôn ngữ của họ thì vô cùng lớn lao hơn khi giảng bằng thông ngôn: thông ngôn chỉ nói điều mình dịch chứ không sao nói với hiệu lực của lời từ miệng nhà truyền đạo có Thánh Thần ban sinh khí.


Người giúp tôi đắc lực là một cậu bé người xứ này. Trong ba tuần lễ đã dạy tôi các dấu khác nhau và cách đọc hết các tiếng. Cậu không hiểu tiếng tôi mà tôi thì chưa biết tiếng cậu, thế nhưng, cậu có trí thông minh biết những điều tôi muốn nói. Và thực thế, cũng trong ba tuần lễ, cậu học các chữ của chúng ta, học viết và học giúp lễ nữa. Tôi sửng sốt thấy trí thông minh của cậu bé và trí nhớ chắc chắn của cậu. Từ đó cậu đã làm thầy giảng giúp các cha. Cậu đã là một dụng cụ rất tốt để tôn thờ Chúa trong giáo đoàn và cả ở nước Lào, nơi cậu hoạt động trong nhiều năm với thành quả mỹ mãn, cậu rất mến thương tôi nên đã muốn lấy tên tôi.


Từ ngày tôi trở về Au Châu, tôi đã cho in ở Rôma, nhờ các vị ở bộ Truyền giáo, một tự vị tiếng Đàng Trong, Latinh và tiếng Bồ, một cuốn ngữ pháp và một cuốn giáo lý, trong đó tôi bàn giải về phương pháp chúng tôi dùng để trình bày mầu nhiệm đạo thánh cho lương dân. Việc này sẽ có ích cho những người ao ước tới giúp việc giảng Chúa Kitô bằng ngôn ngữ tới nay chỉ dùng để sùng bái quỷ ma (13).  


Chương 4: MẤY VIỆC TRỞ LẠI ĐẶC BIỆT VÀ HAI SẮC LỆNH BẮT GIÁO DÂN 


Năm 1625, đạo Kitô được truyền bá trong khắp các nơi ở Đàng Trong. Chúng tôi có mười tu sĩ chuyên cần hoạt động và công việc không gặp cản trở. Bởi vì Thầy chúng tôi phụng sự cho chúng tôi thấy nhãn tiền rằng ơn thánh cùng làm với chúng tôi, với những thành công quá sức chúng tôi và quá sự chúng tôi mong mỏi.


Có vị làm việc ở Quy Nhơn với cha Buzomi, một người nóng như lửa, lòng nhiệt thành của ngài nung nấu mọi tâm hồn. Tôi làm việc với cha Francois de Pina ở tỉnh Quảng Nam, nơi có một số rất đông lương dân chịu phép rửa tội. Từ đó chúng tôi vào trong phủ và khi đi qua chúng tôi ở lại ít bữa ở Huế nơi có một bà hoàng, họ gần với chúa và rất sùng thần ngoại, nhưng khi nghe cha Pina giảng thì được ơn Thiên Chúa soi sáng, bà liền bỏ sai lầm và xin chịu phép rửa tội, lấy tên là Maria Madalêna. Từ đó bà là điểm tựa cho giáo đoàn này. Gương của bà và thế giá của bà đã giúp rất đắc lực cho việc chinh phục lương dân và duy trì lòng nhiệt thành nơi những kẻ chịu phép rửa (14).


Tôi vẫn thường gặp bà trong suốt thời kỳ tôi ở xứ này và tin rằng bà vẫn kiên trì từ hai mươi tám năm trong việc thi hành các nhân đức đạo Chúa Kitô. Trong tư dinh của bà có một nhà nguyện rất đẹp. Trong những vụ bắt bớ gắt gao nhất, nhà nguyện đó vẫn không lay chuyển, hằng ngày bà tới đó cầu nguyện và thường mở cửa để chứa chấp các đạo hữu trong tỉnh. Bà vẫn điều khiển giáo đoàn mà không ai dám phản đối. Bà còn dùng lời lẽ khôn ngoan khiển trách để chinh phục mấy người lương dân có thế giá, trong số đó có mấy người thuộc họ nhà chúa. Ngày nay bà vẫn là nơi trú ẩn cho hết các cha và không có giáo dân nào mà bà không giúp đỡ về hết những gì có thể làm được.


Trong tất cả những thành công Chúa ban cho chúng tôi, Chúa lại cho chúng tôi hai việc rất đau đớn, may mà có sức mạnh hơn sức loài người đã nâng đỡ chúng tôi. Thứ nhất, cha Pina qua đời. Cha là một trong những kiện tướng đạo binh nhỏ của chúng tôi. Tai nạn bất thần đến với chúng tôi năm 1625. Cha đi thăm người Bồ mới đến bến Hội An. Tàu của họ bỏ neo ở xa. Thăm họ xong, cha đi một chiếc xuồng để vào bờ gặp lại đoàn chiên nhưng có cơn bão lớn nổi lên làm lật chiếc xuồng. Bị vướng trong chiếc áo dài, cha không bơi vào bờ được như những người khác. Cha đã chìm dưới biển và trong nước mắt của biết bao giáo dân trong toàn cõi.


Thứ hai là cơn bão táp đã tới từ phía phủ chúa (15). Vì thấy người Bồ không trở lại năm đó với đoàn tàu chở hàng hóa như thường lệ, chúa cả nghe bên phía địch thù của giáo dân. Những người này không bỏ lỡ dịp vu cáo và làm cho chúa không tin giáo dân nữa. Trong những tội vu khống, có tội này: giáo dân không thờ kính tổ tiên, lại theo đạo man di, vứt bỏ tâm tình biết ơn đối với tổ tiên, những tâm tình trời đặt trong lòng mọi người.


Sở dĩ có những lời vu khống này là vì có người quá nhiệt thành, không kín đáo, không khôn khéo. Họ muốn bãi bỏ hết các nghi lễ thường làm ở xứ này để cầu siêu đối với vong linh người quá cố. Tôi đã tường thuật nhiều trong cuốn Lịch sử Đàng Ngoài. Thực ra nếu có một vài nghi lễ giáo dân không nên làm vì sợ tội, thì đa số kể như vô thưởng vô phạt và chúng tôi cho là có thể được duy trì mà không phạm tới sự thánh thiện của đạo ta (16).


Nghe theo những luận điệu vu cáo đó, trứơc hết chúa ra lệnh cấm chúng tôi sau đó trừng trị giáo dân. Chúa truyền cho hết các cha dòng phải rời bỏ các giáo đoàn đã thành lập và rút lui về Hội An, viện cớ để bảo vệ tính mạng cho chúng tôi và sự tự do thi hành chức vụ. Chúng tôi đã tìm cách xoay trở vấn đề, cậy nhờ người con trưởng của chúa có thịnh tình với chúng tôi (17), xin cho chúng tôi được phép ở lại một trăm ngày để lo đám tang cho cha Pina, Trong khi đó, chúng tôi có thời giờ trình bày với chúa để chúa thay đổi ý định.


Nhưng chúng tôi phải vất vả và nhiều hơn để hoãn lệnh bắt giáo dân, công dân của chúa, phải bỏ hết ảnh, ảnh thánh giá, và tràng hạt giáo dân tân tòng đeo ở cổ nó. Chúng tôi không thể ngăn cản được việc thi hành sắc lệnh, nếu Thiên Chúa không sắp đặt cho chúng tôi một vị quan cái tỉnh có thịnh tình với chúng tôi. Ông đã giúp đỡ chúng tôi như một giáo dân tốt chúng tôi có thể mong được. Thế là chùa định chỉ thi hành sắc lệnh và chúng tôi có đủ thời giờ loan báo cho giáo dân tân tòng giấu hết ảnh và đừng đeo tràng hạt trên cổ nữa. Có nhiều người lấy làm hổ thẹn vì bỏ cơ hội tỏ lòng kiên trung trong đức tin và coi việc cất giấu ảnh tượng niềm tin và vinh quang Chúa Kitô như một thái độ hèn nhát bất xứng với danh nghĩa ngừơi đeo đạo Kitô.


Nhưng khi chúng tôi cho họ biết rằng đạo Kitô không ngăn cấm lòng can đảm, thế nhưng không nên quá táo bạo, thì họ nghe theo. Rồi khi sắc lệnh ban hành thì không ai bỡ ngỡ và lương dân không còn lý do hung bạo gây hại cho giáo dân.  


Chương 5: TÔI ĐƯỢC PHÁI RA ĐÀNG NGOÀI ĐỂ RAO GIẢNG ĐẠO CHÚA KITÔ TỚI NAY NGƯỜI TA CHƯA BIẾT 


Ở đây xin hết lòng tôn thờ Chúa thương yêu và quan phòng đã muốn dùng đầy tớ hèn mọn nhất và bất xứng nhất để khởi sự một công trình đẹp đẽ đã thực hiện từ mấy thế kỷ nay. Phần tôi, tôi tự nhận không xứng đáng với công việc lớn lao Chúa trao phó cho tôi, chứng tỏ chỉ mình Người làm cho hoàn thành. Tôi thú thật chẳng làm được gì, chỉ ngăn cản việc Thiên Chúa mà thôi.


Tôi ở Đàng Trong chừng mười tám tháng và rất hài lòng thấy số con Thiên Chúa tăng lên. Khi cha Baldinotti, tu sĩ Dòng Tên, được phái từ Macao đến một lãnh thổ mới, tới nay chưa có người nào thuộc dòng chúng tôi đến, bởi vì dòng chúng tôi nhằm tất cả vào Nhật Bản, thì tháng ba năm 1626 ngài đã tới Đàng Ngoài trong một chiếc tàu buôn (18).


Cha rất nhiệt thành, nhưng đau khổ cho cha biết bao, vì trong cơ hội có một không hai này cha đành như người câm, vì không hiểu biết ngôn ngữ xứ này. Cha đã vào yết kiến chúa, dâng tặng phẩm và được tiếp đón trong phủ chúa. Cha nhận thấy đất nước này vừa lớn vừa đẹp, nhân dân hiền hòa, tự nhiên, tính tình dễ thương. Thế là cha hết sức tiếc vì đã không học tiếng để có thể vun trồng đức tin trong một mảnh đất coi như đã được sửa soạn trước.


Cha đành chỉ rửa tội được bốn trẻ nhỏ hấp hối, đó là đóa hoa đầu mùa của giáo đoàn và như bốn trạng sư về bênh vực trước tòa Chúa cho toàn dân. Thấy mình vô ích cho công trình lớn lao, chỉ vì không hiểu biết ngôn ngữ, cha liền viết thư thúc giục các cha ở Đàng Trong, nài xin và khẩn khoản các cha thương đến cả một dân tộc lớn đang không có ai đến đưa họ vào đường ngay nẻo chính. Đồng thời cha cũng viết về Macao và khi trở về thì đến trình bề trên sớm phái người biết nói tiếng đến Đàng Ngoài.


Lòng nhân lành vô tận của Chúa đã muốn trao phó nhiệm vụ này cho tôi, bởi vì ở Đàng Trong lúc này không cần đến tôi. Và ngôn ngữ tôi đã học được chính là cớ để bề trên đưa mắt tới tôi, phái tôi đi truyền giáo ở Đàng Ngoài. Trọng trách này, đối với tôi, là một vinh dự lớn, nên tôi liền sửa soạn trẩy đi. Trong việc này có một nguy hiểm phải tránh. Đó là nếu tôi bỏ Đàng Trong mà ra thẳng Đàng Ngoài, vì hai nước đang có chiến tranh với nhau, chúa Đàng Ngoài nghi cho tôi đã từ đất thù địch mà tới. Vì thế tôi đành phải trở về Macao. Để tránh không cho người Đàng Ngoài nghi ngờ, tôi đã bỏ Đàng Trong vào tháng 7 năm 1626, để nhiều cha can đảm ở lại nơi tôi sẽ trở lại mười bốn năm sau. Tôi sẽ nói vắn tắt về những thành quả kỳ diệu của đức tin ở Đàng Ngoài, những sự việc tôi đã trình bày đầy đủ hơn trong cuốn Lịch sử viết cách đây ba năm (19).  


Chương 6: TÌNH HÌNH ĐÀNG NGOÀI 


Tôi sẽ không nói hết những điều tôi thấy ở miền truyền giáo này, bởi vì tôi đã trình bày đầy đủ trong một cuốn sách. Tuy nhiên người ta đã khuyên tôi tóm lược ở đây nhân dịp tôi kể về hành trình của tôi, như vậy những ai chưa đọc sách Lịch sử Đàng Ngoài của tôi, sẽ thích thú vì được biết ít ra một cách sơ lược.


Tôi biết bởi đâu đất nước rất đẹp này lại không được biết tới, bởi đâu các nhà địa lý Châu Au không biết tới tên gọi và gần như không ghi trong bản đồ nào cả, tuy họ chép đầy đủ tên các nước trên thế giới (20). Là vì họ lẫn với một nơi trùng với tên xứ này. Về xứ này họ chỉ đưa ra những lời dối trá làm cho những ai đã đến ở đây phải phì cười. Họ chỉ dựa theo sách vở và tự coi là nhà bác học, thế rồi người ta nhai lại những sai lầm của người viết sách.


Đàng Ngoài là một nước lân bang với Trung Quốc, trước đây tám trăm năm là một tỉnh tuỳ thuộc Trung Quốc, cũng như Bắc Kinh và Nam Kinh. Rồi họ đã đứng lên phản công tách ra khỏi do một viên tướng lãnh tự xưng vương quốc củng cố ngôi vị. Người Tàu đành phải giảng hòa, chỉ đòi phải triều cống qua loa ba năm một lần (21).


Đàng Ngoài lớn hơn Đàng Trong gấp bốn lần và theo tôi, thì rộng bằng nước Pháp, bắt đầu ở vĩ tuyến mười tám cho tới vĩ tuyến hai mươi tư, hoàn toàn nằm trong vùng nhiệt đới. Thế nhưng rất đẹp và rất trù phú, có hơn năm muơi sông ngòi và biển ở hai phía. Về khí hậu, về đồng ruộng lụt ngập, về trái cây, về hiến pháp, phong tục và tình thế thì cũng chung nhau như tôi đã nói ở chương nhất phần hai này. Tôi cũng đã nói rằng chưa được một thế kỷ Đàng Trong vẫn thuộc về cùng một nước với Đàng Ngoài (22).


Nước này thật là một nước quân chủ, tuy có hai quốc vương, một thì gọi là vua, chỉ có danh tánh, và một là chúa người có mọi quyền hành và tuyệt đối cắt đặt việc cai trị các tỉnh, trừ chức tiến sĩ thì dành cho vua, để chính vua ban vào thời thi tuyển đã định trước. Cũng dành cho vua một nghi thức cử hành vào đầu năm mới. Ngoài ra, vua không ra mắt, chỉ ở cấm cung trong điện đài cổ kính, cuộc đời trôi qua nhàn rỗi, trong khi đó chúa nắm hết quyền hành, chiến tranh cũng như hỏa binh (23).


Vị này mới là vua thật, kể từ khi những vị trước cướp quyền, nay thực thụ nắm hết không ai có thể tranh giành được. Tôi phấn khởi thấy toàn dân tỏ lòng trọng kính và nhanh nhẩu vâng mệnh lệnh. Lúc nào cũng có năm mươi ngàn lính hộ vệ, mỗi ngày mười hai ngàn thay phiên canh gác, chỉnh tề nghiêm khắc. Tất cả đều vận nhung phục chúa ban cho vào đầu mỗi năm. Khi tuyên thệ trung thành thì họ mặc nhung phục màu tím, cũng là màu dành cho các bậc tiến sĩ và không ai vào chầu chúa với áo màu đỏ.


Vũ khí binh sĩ thì gồm có súng tay, giáo mác và mã tấu. Họ chỉ mang một thứ vũ khí và xủ dụng rất khéo, nhất là hỏa vũ khí. Súng đại bác của họ không bằng gang, cũng không rộng lòng như súng của ta. Điều tôi biết chắc là mặc dầu sống chung với nhau và khi có giặc họ chiến đầu rất anh dũng không tiếc mạng sống, thế nhưng họ thương nhau như anh em và không bao giờ tôi nghe nói có binh sĩ nào dùng vũ khí ám hại đồng sự.


Tôi phải xấu hổ cho giáo dân ta, có một người Pháp tới Đàng Ngoài, người đó gặp một người Bồ là bạn thân, thế nhưng không ở với nhau lâu mà không xích mích. Binh sĩ lương dân khi thấy hai người cầm súng hăm he thì đều sửng sốt về sự hung hãn đó. Họ bực tức nói với tôi rằng chưa bao giờ thấy một việc man rợ như thế. Tôi để cho độc giả nghĩ họ sẽ phê phán gì nếu họ thấy những cách ăn ở của ta ở Au Châu (24).


Từ khi tôi trở về Au Châu, nhiều người tưởng tôi kể lại cho vui, khi tôi nói hay khi họ đọc trong các sách của tôi rằng chúa Đàng Ngoài có tới năm trăm thuyền chiến, hoặc họ tưởng tôi coi thuyền chiến là thứ thuyền nhỏ, bởi vì các tướng lãnh ở Au Châu giàu gấp mười lần chúa Đàng Ngoài cũng chỉ bảo dưỡng được bốn trăm với đầy đủ trang bị (25).


Vậy thì tự do ai muốn tin thì tin, còn tôi, nhờ ơn Chúa, tôi không ưa phóng đại và ghét gian dối đến ghê tởm, thế nhưng tôi không hối khi nói lên những gì tôi thấy. Tôi đã một lần đếm đủ bốn trăm thuyền chiến trong đạo binh chúa Đàng Ngoài, tất cả đều đầy đủ trang bị, có thể không rộng bằng, nhưng dài hơn những thuyền chiến tôi đã thấy, không lâu đây, khi từ Roma trở về, ở cửa biển thành Gênes và thành Macxây. Thực ra những thuyền chiến ấy không có tù để chèo, hay người khổ sai như chúng ta, cũng không có tội nhân bị án phạt chèo thuyền như chúng ta, nhưng là binh sĩ nhận danh dự được chèo. Vì thế tiêu khiển thông thường nhất của chúa là dự các buổi thao diễn thuyền chiến ở bến, binh sĩ nào chèo giỏi thì được chúa thưởng hậu hĩ.


Thường thường chúa ra khỏi đền bốn hay năm lần một năm để du ngoạn, lần nào cũng có ít ra mười hay mười hai ngàn người hộ vệ với ba trăm voi, trên lưng có mười hai ngàn người hộ vệ với ba trăm voi, trên lưng có chòi sơn son hoặc thiếp vàng: đó là những cỗ xe chở các bà hoàng đi rất khoan thai, mỗi voi có thể chở ít ra mười hay mươi hai người. Thỉnh thoảng tôi thấy chúa cưỡi voi và điều khiển rất khéo. Ngoài những tiêu khiển đó, chúa chăm chỉ lo việc nước và không ngày nào không cho dân tới triều yết. Các bạn sẽ thấy mỗi sáng quần thần trong nước tới sân rồng cùng với binh sĩ để dự buổi chầu. Họ buộc phải tới tuy họ còn nhiều phụ tá dưới quyền mình ở các tỉnh và ở cả mỗi xã.  


Chương 7: MẤY PHONG TỤC RIÊNG Ở ĐÀNG NGOÀI 


Tôi có thể kể nhiều sự kỳ lạ về tôn giáo, về pháp luật, về thương mại, về cỗ bàn và về hôn nhân nơi người Đàng Ngoài, nếu tôi muốn lặp lại những gì tôi đã viết ở chỗ khác. Ở đây tôi chỉ đề cập sơ qua không theo thứ tự tới một ít phong tục coi như có hệ tới xu hướng tốt của dân tộc này để nhận đức tin đạo ta.


Tôi quan sát nơi họ có một tập quán có thể cho chúng ta tưởng đạo ta từ xa xưa đã có giảng ở đất nước này mà ngày nay không ai còn nhớ tới. Trẻ vừa sinh ra, tôi thấy cha mẹ liền bôi trên trán một dấu chữ thập bằng than hay mực. Nhưng tại sao họ lại bôi trên trán như thế. Tôi hỏi thì họ nói là để trừ tà ma và ngăn không cho chúng làm hại tới trẻ. Tôi lại thêm: nhưng tại sao lại làm cho tà ma sợ vì chúng là thần linh? Họ thú nhận chẳng biết chẳng hiểu gì hơn. Còn tôi, tôi không bỏ lỡ cơ hội cho họ biết bí quyết và dạy cho họ công nhận thế lực của thánh giá. Điều đó nhiều lần trở thành phương thế để chinh phục họ trở lại đạo.


Nơi họ cũng có ba thứ tôn giáo như ở Trung Quốc. Nhưng việc sùng bái vong linh tiên tổ vượt hết những gì có thể nghĩ được ở Au Châu. Họ vất vả rất nhiều để tìm đất đặt mồ mả. Họ cho rằng, hạnh phúc toàn gia tộc đều phụ thuộc vào sự để mả này. Họ không tiếc tiền của, công lao để bày cỗ bàn tiếc tùng mấy ngày liền sau đám tang, rồi mỗi năm, vào ngày kỵ, không bao giờ họ bỏ không làm giỗ tổ tiên tới tám đời hoặc có khi tới mười đời. Tôi không nói gì thêm về các việc khác họ làm trong dịp này, tôi đã nói trong cuốn Lịch sử Đàng Ngoài.


Khi tôi bắt đầu giảng và ngay trước khi chúa cho tôi một nhà thờ đầu tiên, thì có một bà còn trẻ trong họ hàng nhà chúa, chồng mới mất. Vì rất yêu chồng, nên khi nghe nói tôi cầu nguyện cho các vong linh thì bà mời tôi và xin tôi cho bà biết có liều thuốc nào hiệu nghiệm để chữa chồng bà mới qua đời được mấy tháng nay. Bà sẽ không tiếc gì, tôi muốn đòi hỏi gì thì bà bằng lòng dâng cúng.


Tôi cho bà biết là vì đạo tôi giảng, tôi buộc mình không được nói dối, trong bất cứ trường hợp nào. Và điều bà xin, tôi không thể nói sự thật chẳng đẹp lòng bà. Tôi đến đất nước này để đem liều thuốc có đảm bảo cho người còn sống, miễn là họ muốn dùng, còn về các vong linh người đã chết trong sai lầm, thì tôi chẳng chữa chạy được gì, mà chỉ còn khóc lóc thương người xấu số.


Bà này chỉ đáp lại tôi bằng đôi mắt và thở dài, không nghĩ đến việc trở lại, nhưng Chúa đã cho một bà sang trọng khác đã dự vào câu chuyện, bà này lý luận, nếu ông này muốn đưa lời dối trá trong lời giảng thì ông chỉ cần bảo bà kia rằng ông có thể chữa chạy cho chồng bà kia được và bà kia sẽ dâng cho ông một phần gia tài, và chẳng ai có thể vạch sự gian dối đó được. Nhưng vì trong cơ hội tốt để làm giàu, ông đã kiên trì nói sự thật, thì phải tin rằng ông không lừa gạt trong đạo ông giảng và lời ông nói là sự thật, vì thế tôi xin theo và xin vào con đường cứu rỗi ông giảng dạy. Sau đó ít lâu, bà này tới gặp tôi, kể lại câu chuyện và cho tôi biết ý định của bà. Tôi liền bắt đầu dạy giáo lý cho bà, và sau đó rửa tội cho bà. Và tôi thầm phục thế lực của ơn thánh và tình thần của dân tộc này.


Về pháp luật thì theo tôi, cũng được thi hành tốt như trong bất cứ nước nào trong thế giới. Chính nhà chúa trả lương cho các quan tòa và cấm không được bênh bên nào, trong bất cứ vụ kiện nào, để cho không ai phải tốn kém trong việc bênh vực quyền lợi. Vì thế không có nhiều thủ tục, nhiều giấy tờ, làm hao tốn cho cả đôi bên về kinh phí, về tranh cãi; những việc này lương dân ở đây không biết tới, dân mà ta thường gọi là man di. Tôi để các bạn nghĩ họ sẽ nói gì về chúng ta nếu họ biết luật lệ tòa án và hết những thủ tục cãi vã của ta (26).


Tôi còn thấy có một luật bất khả xâm phạm nơi họ và tôi cho là rất tốt đẹp, đó là người trong họ với nhau không bao giờ được kiện cáo nhau, họ hòa giải với nhau trong nội bộ, quan tòa chỉ là người ngoài, không được biết tới. Nếu điều này được thi hành ở chúng ta, thì ba phần tư những vụ kiện cáo không còn nữa. Lại còn một luật lệ nữa là không một quan tòa nào được trị nhậm nơi mình sinh trưởng, không một hoàng tộc nào được quyền cai trị trong nước vì sợ người đó có tham vọng cướp quyền trị dân (27).


Sau cùng, hôn lễ được cử hành rất long trọng, trước mặt quan tòa. Còn những đám cưới lén lút thì bị tòa lên án. Tội ngoại tình bị trừng phạt hết sức nghiêm khắc, có thể bị xử tử. Hình phạt phải chịu là bị đưa ra một thửa ruộng, bị trói chân tay và đặt nằm dưới đất, thế rồi người ta cho voi lấy vòi hất lên, lúc rơi xuống thì ngà voi đỡ lấy, sau cùng cho voi giày.  


Chương 8: LẦN ĐẦU TIÊN TÔI TỚI ĐÀNG NGOÀI VÀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẦU TIÊN CỦA PHÚC ÂM 


Thế là ngày 12 tháng 3 năm 1627, tôi rời Macao và sau tám ngày trên biển với một cơn bão lớn tưởng nguy tới tính mạng, chúng tôi may mắn cập bến cửa Bạng ở tỉnh Thanh Hóa, ngày 19 tháng 3, lễ thánh Giuse (28), Đấng tôi nhận là quan thầy trong công trình lớn lao này. Chúng tôi liền đặt tên cho cửa biển này và từ đó gọi là cửa thánh Giuse.


Tàu chúng tôi chưa vào tới bờ thì đã thấy rất đông người tụ tập để xem hàng hóa trong tàu. Tôi liền bắt đầu giở hàng hóa của tôi ra và cho họ biết tôi có một thứ hàng quý hơn và rẻ hơn tất cả những hàng khác, tôi sẽ biếu không nếu ai muốn, đó là đạo thật, đường thật ban hạnh phúc. Tôi giảng giải một bài ngắn, bởi vì đạo trong ngôn ngữ của họ có nghĩa là đàng, đường. Chúa cho trong mẻ thứ nhất này, ngay trước khi đặt chân lên đất, có hai người rất thông minh sa lưới và nhất quyết xin chịu phép rửa tội. Tôi đã rửa tội cho họ sau đó ít lâu cùng tất cả gia đình.


Chúng tôi ở bên này không lâu và mỗi ngày đều có người đến nghe giảng và tin theo sự thật Chúa cho hiểu biết. Người ta dẫn chúng tôi tới phủ chúa, lúc đó chỉ nghĩ tới chiến tranh (29). Chúa cầm đầu một đạo quân lớn gồm có một trăm hai mươi ngàn người và bốn trăm thuyền chiến. Người Bồ đến lạy chúa và dâng phẩm vật. Tôi cũng đi với họ. Ngoài những phẩm vật khác, tôi dâng chúa một đồng hồ có bánh xe và một đồng hồ cát (30), nhưng chúa không ngó tới vì còn mải sửa soạn cuộc hành quân chống chúa Đàng Trong. Chúa truyền cho chúng tôi đợi chúa trong tỉnh thành này, nơi chúa để lại hết các hành trang và cung phi. Chúa cũng cho một toán binh hộ vệ chúng tôi.


Trong hai tháng trời, chúng tôi được thong dong thu lúa đầy kho Thiên Chúa, rửa tội cho hai trăm người. Thật là được mùa dư dật. Khi chúa bại trận nặng nề trở về thì chúng tôi ra mắt. Lúc này trí óc thảnh thơi, chúa tiếp đón chúng tôi rất niềm nở. Tôi dâng chúa một cuốn sách về toán học, bì nạm chữ vàng, in bằng chữ hán (31). Nhân dịp tôi cũng cắt nghĩa cho chúa biết sự xoay vần trời đất cùng các tinh tú, từ đó tôi đề cập tới Đức Chúa Trời. Chúa để ý nghe suốt hai tiếng đồng hồ, ấy là đã mệt nhọc vì đường trường. Chúa tỏ ra hài lòng được nghe nói về đạo thánh của ta, chúa cũng mời tôi năng lui tới phủ chúa. Bài giảng thứ nhất này không vô ích, có một quan sang trọng, sau khi nghe, đã thấy được ơn Thiên Chúa và đến xin chịu phép rửa tội.


Tôi được hân hạnh chúa vời tới thuyền chúa nhiều lần và còn mời tôi ngồi bàn tiệc với chúa, theo kiểu dân xứ này, mỗi người một bàn riêng. Chúa để tôi ngồi cạnh chúa và có nhã ý cho tôi dùng những món thịt ngon nhất tốt nhất mà chúa có. Tôi phải vận động để được ở lại trong đất nước này, khi tàu người Bồ lên buồm trẩy đi. Tôi liền kiếm khắp nơi một người bạn nói dùm cho tôi một tiếng. Nhưng ai cũng chối từ, chỉ có Thiên Chúa nói cho tôi và cho tôi thành công không ai dự phần vào.


Chúa với tôi vào thuyền để chỉ dẫn cho chúa biết đồng hồ dùng vào việc gì và đồng hồ cát sử dụng thế nào, hai phẩm vật tôi đã dâng. Sau khi bái chào chúa, tôi lên dây đồng hồ và cho đánh giờ, và đồng thời tôi lất đồng hồ cát, cho chúa biết, khi tất cả cát rơi xuống đáy thì đồng hồ lại đánh giờ. Chúa thấy rất lạ và hỏi xem tôi có nói thật hay không. Tôi liền ngồi xa chiếc đồng hồ, vì sợ chúa tưởng tôi xờ mó vào đồng hồ. Tôi cũng bắt đầu giảng về nguyệt thực nhật thực, trong khi chờ đợi. Chúa vẫn đăm đăm vào đồng hồ cát và khi cát đã rơi xuống đáy thì chúa cầm trong tay nói: hỏng rồi, đồng hồ của khanh không đánh. Chúa vừa nói thì đồng hồ liền đánh giờ như tôi đã báo trước. Chúa lấy làm thích thú và chúa bảo tôi nếu tôi muôn ở đây hai năm với chúa, chúa vui lòng tiếp tôi nhiều lần nữa.


Tôi thưa, không phải hai năm, mà suốt đời tôi, tôi rất hân hạnh được phụng sự một vị chúa cao sang (32). Thế là chúa cho chuẩn bị một thuyền chiến để đưa tôi đi đưa ngoạn với chúa, và tôi đã đi với chúa, được chúa ân cần quý mến. Trên hành trình, chúng tôi có dịp chiến đấu với Satan. Trong số năm mươi tên nguỵ giặc (33) bị kết án tử hình, tôi theo đuổi một người tôi khuyên anh chịu phép rửa tội trước khi bị tử hình. Khi đã sẵn sàng rồi thì tôi thấy không sao thi hành được, vì không có nước. Tôi đang băn khoăn giữa thửa ruộng chúng tôi đứng, thì tôi khám phá hầu như ngay chỗ chân tôi có một vũng đầy nước mưa từ đêm hôm qua, tôi liền lấy hai tay vốc nước rửa tội cho anh. Ngay sau đó, anh bị chém đầu. Tôi tin linh hồn anh lên thẳng trời. Tôi vội vàng chạy tới những người khác, nhưng không ai còn sống: đây là bí nhiệm không đo lường được của Chúa quan phòng.  


Chương 9: NHỮNG TIẾN TRIỂN LỚN LAO CỦA ĐỨC TIN Ở ĐÀNG NGOÀI 


Vì vinh quang Cha muôn ngàn ánh sáng mà tôi sẽ kể những chiến thắng ơn thánh đã lượm được trong một thời gian ngắn đối với sai lầm, trong một lãnh thổ mà mỗi ngày ma quỷ hằng thành công không ai tranh giành với chúng được. Khi chúng tôi tới kinh đô Đàng Ngoài tên là Kẻ Chợ, một kinh thành rất lớn và rất đẹp, phố phường rộng rãi, dân cư đông đúc, lũy thành dài tới hơn sáu dặm, tức thì chúa dựng cho chúng tôi một nhà ở và một nhà thờ xinh đẹp. Thế là tiếng đồn đi khắp nước và người ta tuốn đến rất đông, đến nỗi tôi phải giảng mỗi ngày ít ra bốn lần và nhiều khi sáu lần (34).


Nhìn thấy kết quả, tôi khó lòng tin cho nổi. Một bà em gái của chúa (35) và mười người họ hàng gần đã được rửa tội, có mấy tướng lãnh nổi tiếng cũng xin theo đạo và nhiều binh sĩ nữa. Năm thứ nhất, số người chịu phép rửa tội là một ngàn hai trăm người, năm sau, hai người và năm thứ ba ba ngàn năm trăm.


Không gì làm tôi bỡ ngỡ nữa, tôi thấy dễ dàng chinh phục các vị sư sãi (36), (…) tôi đã rửa tội được hai trăm, những người này rất đắc lực giúp tôi chinh phục kẻ khác. Một trong số này đã dẫn đến tôi năm trăm người xưa kia dạy điều dối trá, nay họ giảng chân lý đức tin và từ đó chính họ là những thầy giảng nhiệt thành nhất của chúng tôi.


Họ rất hài lòng khi tôi trình bày đạo ta hợp với lẽ phải và nhất là họ phục mười điều răn Chúa, cho rằng không có gì hợp lý hơn và đáng được công bố bởi đấng thượng đế muôn dân muôn nước. Phương pháp tôi dùng là luận về linh hồn bất tử và sự sống đời sau, từ đó chứng minh về tính Thiên Chúa, về quan phòng của Người và dần dần mới đề cập tới mầu nhiệm khó hơn. Theo kinh nghiệm chúng tôi thấy, cách giảng dạy lương dân như thế rất có ích: tôi đã cắt nghĩa dài hơn trong cuốn Phép giảng tám ngày trong đó tôi cố trình bày hết các chân lý căn bản phải giảng dạy lương dân.


Ngoài ơn bên trong giúp cho công việc thu phục muôn dân, còn có nhiều phép lạ thường xuyên xảy ra trong lúc khai sinh giáo đoàn, làm cho công cuộc được thành đạt vẻ vang. Tôi nói thường xuyên bởi vì có rất nhiều đến nỗi các thầy giảng của tôi không còn đếm xuể. Tôi cho là tội lớn những kẻ giả dối hoặc kể lại những phép lạ giả tạo và xin Chúa đừng để tôi phạm. Tôi có thể nói hết sự thực về phép lạ tôi đã thấy và nghe người đáng tin kể lại. (37)


Với thánh giá Chúa, với nước phép, giáo dân tốt lành đã thông thường đuổi ma quỷ, chữa các thứ bệnh tật. Chỉ cho uống bốn năm giọt nước thánh mà chữa được nguời mù và cho hai người chết sống lại. Một viên quan lương dân có vợ theo Kitô giáo, đã đến xin tôi phái mấy người giáo dân tới một xã thuộc quyền ông, nơi đây có nhiều thuộc hạ của ông đang đau bệnh, mỗi ngày có người qua đời. Tôi liền sai sáu thầy giảng và căn dặn chớ nhận của người ta cho để tạ ơn vì đã khỏi bệnh.


Họ ra đi mang theo vũ khí để đối phó với ma quỷ mà người ta cho là căn nguyên của bệnh tật tai ương. Vũ khí đó là cây thánh giá, nước phép, cành lá phép, nến phép (38) và ảnh Đức Trinh Nữ mà tôi đã trao cho họ ngày chịu phép rửa tội. Họ ra đi, cầm thánh giá ở đầu, ở giữa và ở cuối xóm. Họ đến thăm bệnh nhân đọc kinh và cho bệnh nhân uống vài giọt nước phép (39). Không đầy năm ngày đã chữa khỏi hai trăm bày mươi hai người. Tiếng đồn khắp nước. Quan cai đã tới cảm ơn tôi, mắt đẫm lệ. Việc này làm cho giáo dân rất phấn khởi và nhiều lương dân nhận sai lạc của mình.


Nhưng đã xảy ra một tai nạn buồn thảm vừa làm cho chúng tôi đau khổ vừa để lại một bài học. Số là một trong đám giáo dân tới xã đó, người đứng đầu trong bọn, sau khi trở về được mấy ngày thì tắt thở. Tôi được biết ông đã không giữ lời tôi căn dặn, không được nhận gì vì ơn Chúa làm qua lời cầu nguyện. Thế mà ông đã nhận một áo nhung hoa vi quan đó tặng. Khi tôi biết điều này, tôi sợ Chúa phạt, như Giêzi đã không vâng lời Elisê (40). Đây là sự việc nhắn nhủ người khác phải coi chừng và chớ bao giờ để mình tham của cải đời này.


Có một nữ giáo dân rất đạo đức tên là Benoite, mẹ cậu thanh niên mới được rửa tội được ít lâu nay tên là Benoit, bà này chết khi tôi đi vắng, vì thế không được xưng tội. Người con hết sức đau khổ vì mất mẹ mà nhất là mẹ chưa được xưng tội trước khi chết. Cậu khóc lóc thảm thiệt, thật là sầu khổ đôi đường. Do ơn Chúa thúc đẩy, cậu xin giáo dân tới chia buồn đọc kinh cầu nguyện bên giường người chết, xác đã cứng lạnh và bất động từ sáu giờ đồng hồ. Họ đến quỳ gối, Benoit đọc lớn tiếng kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng, rồi rảy nước thánh trên mặt mẹ, tức thì bà mở mắt, không những bà sống lại mà còn hoàn toàn khỏi bệnh. Bà chỗi dậy rồi cũng quỳ xuống với mọi người khác đồng thanh ngợi khenh Chúa đã ban cho phép lạ rất hiển nhiên. Mấy ngày sau khi tôi tới thôn đó thì cả mẹ cả co đều kể cho tôi nghe về ơn họ đã nhân được.


Tôi không kể những chuyện khác vì sợ quá dài, nhưng nếu ai nhàn rỗi và đọc những điều tôi viết trong cuôn Lịch sử Đàng Ngoài thì sẽ biết ngợi khen Chúa đã cho giáo đoàn mới này những ơn Người đã ban cho giáo dân mấy thế kỷ đầu.  


Chương 10: LÒNG SỐT SẮNG CỦA GIÁO DÂN TÂN TÒNG TRONG GIÁO ĐOÀN ĐÀNG TRONG 


Đời sống trong sạch và lòng sốt sắng của giáo dân tân tòng ở giáo đoàn này còn là chứng cứ rõ ràng có tay Chúa hơn là các phép lạ. Tôi nói thật, không gì làm cho tôi xúc động bằng thấy trong đất nước này có bao nhiêu giáo dân là bấy nhiêu thiên thần và ơn phép rửa đã tạo nên nơi mọi người một tinh thần đã phát sinh nơi các tông đồ và các vị tử đạo thời Giáo hội sơ khai.


Họ có một đức tin vững chắc đến nỗi không ai có thể nhổ ra khỏi lòng họ được. Có một bà còn trẻ tên là Darie đã thà chết chẳng thà theo ý một vị quan muốn làm mất danh giá bà. Bà sẵn sàng chết để khỏi bị ô uế mất ơn phép rửa.


Một giáo dân khác tên là Phanchicô làm việc khiêng cáng cho người em của chúa, theo phong tục những kẻ cả trong nước. Ông này đành chịu chết hơn là bỏ việc bác ái thường làm ngoài giờ hầu hạ chủ. Ông nhiệt tâm đi chôn xác những giáo dân nghèo và việc bác ái này đã đưa ông tới cái chết và cái chết là phần thưởng lớn nhất ông mong mỏi (41).


Vì quý trọng đức tin mà họ rất chuộng các nghi lễ rất nhỏ có hệ đến đức tin. Họ coi các cha giảng đức tin như các thiên thần và hân hạnh được vâng lời trong hết mọi việc rất nhỏ mọn. Không bao giờ tôi giơ thánh giá lên mà không thấy họ sụt sùi chảy nước mắt. Cứ mười lăm ngày, họ lại đến xưng tội hoặc xem lễ. Mặc dầu xa nhà thờ chừng từ năm sáu dặm đàng, họ không bao giờ quên những ngày lễ. Họ tới vào ngày áp lễ để rồi trở về ngày hôm sau, sau các nghi lễ, nghĩa là rất muộn. Họ ở nhà thờ từ sáng sớm cho tới chiều tà. Họ thường quỳ, rất mực khiêm tốn. Thấy họ tôi không cầm được nước mắt.


Mỗi người đeo hai ảnh thánh giá, một ở cổ và một ở cổ tay. Họ nói ảnh thứ nhất làm thuẫn, ảnh thứ hai làm gươm đao. Không bao giờ họ đi hoạt động mà không đem theo một bàn thờ nhỏ, gấp lại khi tới nhà trọ. Mỗi sáng họ không bao giờ quên nguyện ngắm một nửa giờ. Đa số suy niệm về mầu nhiệm đạo thánh và họ được hưởng những êm ái Chúa ban cho những linh hồn trong sạch.


Họ rất quý trọng nước phép, cứ năm sáu ngày họ lại đến lấy, họ đeo một lọ ở cẳng tay có dân buộc. Họ cho bệnh nhân uống với những thành quả lạ lùng. Mỗi chủ nhật, tôi buộc lòng phải làm phép với năm vại lớn, để thỏa mãn lòng sốt sắng của họ.


Tôi rất phấn khởi thấy họ thận trọng dọn mình xưng tội và rước lễ. Họ có lòng quý mến và trọng kính các bí tích một ngàn lần hơn tôi. Ngày hôm trước, bao giờ họ cũng giữ chay và đánh tội (42). Nếu tôi không ngăn cản thì họ sẽ rước lễ nhiều lần chứ không phải chỉ một tuần một lần. Họ xưng tội mà khóc lóc như thể họ phạm tội tày đình và thực ra tôi có thể nói, thường thường khi ngồi tòa, tôi khó thấy gì là tội để làm phép giải, không phải ở một số ít mà thường là cả một làng một xã. Tôi cũng nhận thấy không phải là họ không biết, nhưng vì họ kính sợ Chúa.


NGUYỄN KHẮC XUYÊN dịch và chú giải


Nguồn : http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=chapter&id=85&ib=136&ict=319


Chú thích :


(1) Nói về Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa, rồi truy tôn là Thái tổ Gia dụ hoàng đế, đương thời gọi là chúa Tiên (1600-1613)


(2) Tự chủ thời đại Ngô Quyền (939-965)


(3) Sáu tỉnh đó được rõ ràng ghi trong bản đồ của Alexandre de Rhodes: Quảng Bình, Thuận Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên (Ranran)


(4) Trong Lịch sử Đàng Ngoài, giáo sĩ thuật lại cuộc thuỷ chiến giữa ta và quân Hòa Lan năm 1644. Lịch sử ghi bên ta do hoàng tử Nguyễn Phúc Tần chỉ huy, bên Hòa Lan do Pierre Breck. Coi Khảo cổ số 2. tr.52


(5) Hẳn chỉ là nhà làm ở ven sông để tránh lụt, chứ thường thường nhà Việt Nam không phải thứ nhà sàn.


(6) Có nhiều lần giáo sĩ đế ý tới giá cả như trà mua ở Trung Quốc và đem bán ở Châu Au, giá bánh ở Ba tư, giá thuốc bắc.


(7) Chúng ta cũng có nhiều thứ dầu như dầu lạc, dầu vừng… “xốt” (sauce), món ăn Au Châu thường có nhiều chất mỡ, chất béo.


(8) Cách chia các thứ trầm hương theo người Bồ thời đó. Còn gọi là kỳ nam, loại quý nhất. “Trầm hương thường mọc hoang ở vùng núi Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, Hội An miền nam Việt Nam. Có mọc nhiều ở Campuchia” Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc… Hà Nội, 1981 tr.449-450.


(9) “Ở Việt Nam chim yến cho yến sống nhiều ở ven biển từ Quảng Bình đến Hà Tiên. Có ba vùng đặc biệt nổi tiếng: cù lao Chàm (thuộc Quảng Nam Đà Nẵng), Mũi Én và vùng biển thuộc tỉnh Khánh Hòa”-“Người ta cho rằng, ban ngày chim yến đi kiếm ăn, nuốt cá con trong biển, rồi đêm đến nhả nước dãi thành những vành tròn hình xoáy trôn ốc để xây tổ” Đỗ Tất Lợi sd tr.945


(10) Nho “musca” là thứ nho đen, có vị ngọt và thơm riêng.


(11) Thánh vịnh 85,13


(12) Francois de Pina, người Bồ sinh năm 1588 tại Guarda. 1605 vào nhà tập Dòng Tên, 1617 tới Đàng Trong. Được phái đi cùng cha Buzomi vì còn trẻ để học tiếng, lúc đó mới là sinh viên. Ở Hải phố với cha Marquez để giảng cho người Nhật, còn cha Borri ở Thuận An lo cho người Bồ và học tiếng. Khi ở Hải phố (1618-1619) đã thông thạo tiếng. Ngày 9 tháng 12 năm 1620, ngài ở trong phủ chúa. Có ông nghè tới hỏi về nguyệt thực, ngài liền cho xem đồng hồ và dụng cụ khác và cho biết đúng 11 giờ đêm hôm sau… (theo Borri)


Năm 1624 khi Alexandre de Rhodes tới thì đã gặp ngài rất thông tiếng Việt. Về bút tích hiện còn một bản viết tay bằng chữ Latinh: Tractatus contra usum nominum Tien chu et xanti in regno Cochinchinae… Khái luận chống việc dùng Thiên Chủ và Thượng Đế trong nước Đàng Trong. Ngài cũng phản đối việc dùng danh từ “Dêu” dịch chữ Latin Deus để chi Thiên Chúa vì dêu là dêu bể.


Giáo sĩ Alexandre de Rhoses rất mến phục ngài kể ngài là bậc tôn sư dạy tiếng Việt. Trong bài tự cuốn Tự vị Việt Bồ La, giáo sĩ nhắc tới ngài cùng với Gaspar d’Amaral và Anton Barbosa.


(13) Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum, Romae 1651 – Tự vị Việt Bồ La, Linguae annamiticae seu Tunchinensis brevis declaratio (khái luận về tiếng Annam hay tiếng Đàng Ngoài) Cathechismus pro iis qui volunt suscipere baptismum in octo divisus (Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh Đức Chúa Trời), Romae 1651


(14) Bà Minh Đức Vương Thái Phi, vợ Nguyễn Hoàng, dì chúa Sãi. Xem: Phạm Đình Khiêm, Minh Đức, Saigon 1957, L.Cadière, une princesse…


(15) Chúa Sãi (1614-1635), chúa Thượng (1635-1649)


(16) Giáo sĩ tỏ ra biết thích nghi và chọn lọc, không nhất thiết coi tất cả là dị đoan.


(17) Tức hoàng tử Kỳ. Các con trai của chúa Sãi: Kỳ, Anh, An, Lộc, Thiệu, Trung, Thượng, Vĩnh, Vinh, Đôn. Nối ngôi chúa Sãi là chúa Thượng, xem L.Cadière, sd.


(18) Xem:  Baldinotti, Điều trần về Đàng Ngoài viết ở Macao 12-11-1626


(19) Lịch sử Đàng Ngoài, thực ra là một bản Điều trần về những thành quả truyền giáo ở xứ Bắc, bản tiếng Ý phát hành tại Rôma năm 1650, bản tiếng Pháp ở Lyon năm 1651, và bản tiếng Latin ở Lyon năm 1652.


(20) Các tàu người Bồ hay người Hòa Lan thường chỉ tới bờ biển Đàng Trong để lấy lương thực và nước uống, chứ không để ý tới tiếp xúc với người bản xứ, họ thông thương với Tàu, với Nhật, với Nam dương quần đảo hơn lãnh thổ Nam Việt Nam. Còn về miền Bắc Việt Nam thì chỉ vì bị bão táp đánh giạt, họ mới lui tới. Vì thế họ biết Cochin An Độ chứ không nghĩ tới Cochin gần Tàu (China), gọi là Cochincina. Xem: C.Poncet, L’un des Premiers annamites sinon le premier convertis au catholicisme. BAVH 1941, tr.5


(21) Ngô Quyền đứng lên dựng cờ độc lập bắt đầu thời đại tự chủ (939-965)


(22) Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa năm 1570.


(23) Vua Lê Thần Tôn (1619-1643), chúa Trịnh Tùng (1570-1620), chúa Trịnh Tráng (1623-1657),


(24) Ở Au Châu có tục đấu võ khí giết người tay đôi hợp pháp, để bảo vệ thanh danh, trả thù đê nhục.


(25) Đọc Hành Trình và Truyền giáo, thấy nhiều con số coi như không thật. Giáo sĩ hơn một lần nói lên lòng thành thật của mình. Về hàng hải và thuyền chiến, trong Lịch sử Đàng Ngoài, giáo sĩ viết đại khái:


Thuyền tàu của ta (Việt Nam) không ra ngoài hải phận quốc tế được vì ba lý do: 1. Ta chưa biết về địa bàn và nghề hàng hải, 2. Thuyền của ta khôgn thể chịu được sóng gió biển cả, vì ván ghép và buộc dây chứ không đóng đanh và mộng chặt chẽ, nên mỗi năm mỗi sửa, làm lại, 3. Vua xứ này không muốn cho công dân mình bỏ đi xa, trừ đi ven biển tới Campuchia hay Thái Lan (chương 16).


(26) Thủ tục tố tụng ở Au Châu tuy phiền toái, nhưng bảo đảm tự do cho cả hai bên nguyên bị và luật pháp rất nghiêm chỉnh.


(27) Về luật pháp ở nước ta thời đó, chúng tôi chưa có dịp nghiên cứu, cũng vậy về nghi thức hôn nhân.


(28) Giáo hội Công giáo Việt Nam đã nhận thánh Giuse là quan thầy, đấng bảo hộ. Nhà thờ lớn Hà Nội là nhà thờ kính thánh Giuse, lễ ngày 19 tháng 3.


(29) Đây là cuộc đụng độ lần thứ nhất năm 1627. Trận này Trịnh Tráng bị thua và quân binh tổn thất nhiều. Xem Lịch sử Việt Nam.


(30) Thứ đồng hồ bằng thuỷ tinh hình quả trám lật ngược, thắt eo ở giữa. Khi lật cho bình chứa cát lên trên thì cát bắt đầu chảy xuống bình ở dưới, cứ chảy hết thì là một tiếng đồng hồ. Rồi lại lật ngược lại cho cát chảy như trước. Nói cho cùng, ngành học vấn của ta ngày xưa chỉ trọng sách thánh hiền chứ không để ý về khoa học thực nghiệm, về máy móc v.v…


(31) Hẳn là cuốn “Kỷ hà nguyên bản” của nhà toán học Euclide người Hy lạp, thế kỷ 3 tr.c.n, cha Ricci đã dịch ra chữ Hán và in tại Bắc Kinh năm 1603.


(32) Cách cư xử rất khéo léo, cũng vậy việc dâng phẩm vật, cũng như việc đút lót như sẽ thấy khi đọc tác phẩm.


(33) Xem: Ký sự ĐN ch.11


(34) Một trong những điều kiện thuận lợi cho việc truyền giáo là thế giá của người Bồ, những lái buôn đưa tàu tới nước ta để trao đổi hàng hóa và bán khí giới đạn dược cho ta. Ngoài ra còn có thanh thế của giáo sĩ “người Bồ” được lòng chúa, được lòng vua quan trong phủ chúa, lại thêm những nhân vật có ảnh hưởng lớn như bà Minh Đức, bà Ngọc Liên… Ở ngoài bắc có bà em gái Trịnh Tráng.


(35) Trong Lịch sử Đàng Ngoài giáo sĩ nói rõ hơn về bà em ruột của chúa Trịnh Tráng. Bà này được rửa tội và lấy tên là Catarina, vì bà rất hay chữ nên đã viết thành thơ tất cả quyền giáo lý, từ tạo thiên lập địa cho đến Chúa Giêsu ra đời, chịu chết và sống lại.


(36) Coi thêm Lịch sử Đàng Ngoài. Thực ra các vị này giúp việc rất đắc lực vào việc sao chép các sách giáo lý, bằng chữ Nôm cũng có và rất có thể bằng chữ Hán như sách giáo lý của Ricci, biết đâu đã có một chút ướm thử về chữ quốc ngữ. Các sách kinh hẳn cũng được sao chép lại.


(37) Lần thứ nhất khi nói về các thuyền chiến, giáo sĩ đã thanh minh cho mình, lần thứ hai ở đây, về các phép lạ.


(38) Nước, cành lá, nến được linh mục “làm phép” trong mấy ngày lễ riêng với nghi thức riêng: Lá vào ngày lễ lá tuần thánh, Nước và Nến trong nghi thức rửa tội. Riêng về nước, chủ nhật nào cũng có nghi thức làm phép.


(39) Coi Cưu ước: 2 Vua 5, 15-27. Truyện tiên tri Elisê đã chứa một người cùi, nhưng chối không nhận lễ vật tạ ơn. Song người môn đệ của ngài lại tham của, đến xin lễ vật đó. Bởi đó y bị phạt trở nên cùi như người kia.


(41) Khiêng cáng, võng cho nhà quan thì phải sạch sẽ, đàng này, ông đi  chôn xác những người cùng khổ.


(42) Đánh tội có nghĩa cụ thể là làm đau thân xác mình để đền tội; hãm mình là nhịn ăn uống hay kiêng một thứ gì mình thích để tỏ ra hy sinh, thống hối, đền tội. Từ ngữ thời xưa còn dùng “ép xác” trong thành ngữ hãm mình ép xác, với nghĩa bắt thân xác chịu khổ, chịu “hy sinh”.


Thường xuyên : Đức Tin và Văn Hóa

 
 


NGHI ÁN HOÀNG TỬ CẢNH VÀ ĐÒN HẰN MINH MẠNG


 


 


Trong thời gian vua Minh Trị bên Nhật biết thức thời đưa nước Nhật tới tiến bộ theo kịp nền văn minh mới, thì ở bên Việt Nam, Vua Minh Mạng cũng như vua Thiệu Trị và Tự Đức, vì thiển cận, mù quáng và sai lầm trầm trọng, đã ra lệnh “bế quan tỏa cảng” không muốn giao dịch với Tây Phương và cấm đạo gắt gao với những sắc lệnh vào năm 1836 và 1838: 


“Tả đạo Tây Dương làm hại lòng người. Đã lâu nay nhiều chiếc tàu của Au Châu sang buôn bán, thường để lại các đạo trưởng. Các người ấy làm mê hoặc lòng dân và bại hoại phong tục. Như thế chẳng phải là cái tai họa lớn cho nước ta sao? Vậy ta nên ngăn cấm điều bậy bạ ấy, để khiến dân ta quay về với chính đạo... Cấm mở cửa biển cho tàu bè bọn mọi rợ vào, chỉ trừ Cửa Hàn (Đà Nẵng). Hễ giáo sĩ Au nào bị bắt trên tàu khách vào trong nước phải xử tử. Người nào chứa chấp họ trong nhà cũng bị xử tử”. 


ĐÊM ĐEN NƯỚC MÌNH


Lịch sử luôn lặp lại dưới nhiều dạng thức và chiêu bài khác nhau. Cấm giao dịch với Tây Phương nhưng lại thần phục và lệ thuộc nhà Thanh bên Tàu một cách khác thường, về hầu hết mọi phương diện. Từ văn hóa, tôn giáo đến thi cử. Rập khuôn kiểu Mãn Thanh y nguyên từ cách xây cửa cung điện đến các lăng tẩm. Hệ thống luật pháp và hành chánh như đặt tỉnh, quan lại, phẩm phục triều đình, cũng giống y như bên nhà Thanh. Thậm chí ra lệnh cho đàn bà phải mặc quần theo kiểu Tầu, chứ trước đó thì chỉ mặc váy "cái thúng mà thủng hai đầu, bên Ta thì có bên Tàu thì không."  


Để củng cố cho cái thế đứng mới của kinh đô mới ở Huế, chính vua Minh Mạng đã đổi tên Thăng Long thành Hà Nội vào năm 1831, chắc là để xoá đi trong đầu óc người dân cái hình ảnh về một kinh đô của các thời thịnh Lý, Trần, Lê để chỉ chú trọng vào nhà Nguyễn. Chứ cái tên Thăng Long là rồng lên (昇龍, Ascending dragon) quá đẹp có sự tích từ thời Lý Công Uẩn (năm 1010) thì sao lại đổi là Hà nội có nghĩa gì mấy đâu! Có thể vì cái gì liên hệ đến rồng thì chỉ dành cho nhà vua, vì thế mà rồng chỉ được lên ở kinh đô mới, và không được phép lên ở chỗ nào khác nữa!


Nhà Mãn Thanh đã dùng luật pháp cứng rắn để cai trị Hán tộc khi chiếm được trọn vẹn Trung Quốc. Nhà Nguyễn lại rập khuôn như vậy, vì đó là hệ thống bảo vệ ngai vàng vững chãi nhất. Nào ngờ đâu lại đưa nước mình đi theo nhà Mãn Thanh cũng đang trên đà rơi xuống vực thẳm mà vẫn tưởng mình là đỉnh cao rốn vũ trụ kiểu ếch ngồi đáy giếng.


Chính những chọn lựa sai lầm này đã làm cho nước Việt thụt lùi lại biết bao trước đà tiến hóa về khoa học và kỹ thuật của nhân loại vào đầu thế kỷ 19. Chứ ít ra biết ngoại giao khéo như Thái Lan thì cũng đâu đến nỗi. 


Rồi khi bị sức mạnh mới từ phương Tây lấn lướt thì thay vì tìm cách canh tân đất nước, lại nhất định cố thủ với chính sách “bình Tây sát Tả”, nghĩa là chống Tây và giết người Công giáo cho là “đạo tà nối giáo cho giặc”. Trên thực tế, với súng đạn cổ lỗ lỗi thời thì chẳng giết được mấy tên Tây, mà chỉ sát hại người mình với nhau, gây ra không biết bao tang tóc đau thương, một vết đen ngòm trong lịch sử. Vậy mà cho đến ngày nay, một số người vẫn còn mang thái độ sẵn sàng đổ mọi tội lên đầu người Công giáo, vì đó là cách dễ nhất để bào chữa cái tội lạc hậu và mặc cảm của mình. Nhưng thực ra về tâm lý thì đó lại là dấu rõ nhất tự thú rằng “lạy ông tôi ở bụi này”. 


 


Cờ thời nhà Nguyễn từ 1820-1863


ĐÒN HẰN MINH MẠNG


Ở phòng văn khố của Hội Thừa Sai Paris có treo một bức phóng lớn sắc vua Gia Long phong Đức Cha Bá Đa Lộc (Pierre Pigneau de Béhaine), người đã được nhà vua nhờ cậy đắc lực trong việc mở tầm mắt bắt tay được với thế giới Tây phương để phát triển tiến bộ. Có thể nói, nhà Nguyễn xây được cơ đồ cũng nhờ vào sự mở cửa liên hệ này. Vua Gia Long biết ơn Đức Cha. Đạo Công Giáo được nhà vua đón nhận ngay từ đầu. Người miền Nam đã ghi nhớ bằng Lăng Cha Cả. Sau năm 1975 mộ bị bốc phải đưa về chôn dưới hầm nhà nguyện Hội Thừa Sai ở Paris. Thế nhưng tại sao sau khi vua Gia Long băng hà, thì vua Minh Mạng lại “phát giác” ra tụi Tây là “quân mọi rợ” và đạo Công giáo là “đạo tà”, để rồi đưa đến sụp đổ nhà Nguyễn và làm cho nước nhà phải cúi mặt nhục nhằn thua thiệt các nước như ngày nay? 


Câu trả lời được tìm thấy phần nào nơi bức hình vẽ Hoàng Tử Cảnh được treo trang trọng trong phòng khách chính của Hội Thừa Sai ở Paris bây giờ. Dưới hình vẽ có hàng chữ đề: “vị hoàng tử nối ngôi của Việt Nam, Nguyễn Cảnh, tám tuổi, vẽ ở Versailles. Sinh năm 1779 và qua đời năm 1801”.


 


Nhìn bức hình này, ai cũng nhớ lại mối thịnh tình và lòng tin tưởng hoàn toàn của vua Gia Long đối với các cố đạo Tây Phương và người Công Giáo. Nhà vua thức thời này đã giao hoàng tử nối nghiệp mình cho Đức Cha Bá Đa Lộc đưa sang Au Châu, tạo nhiều thiện cảm liên hệ hỗ trợ rộng của nhiều nước, và  có dịp chu du mà mở tầm mắt nhìn những tiến bộ của thế giới, để mai kia lên làm vua thì Việt Nam sẽ chẳng thua kém ai. Như thế, vua Gia Long còn đi trước cả Minh Trị Thiên Hoàng bên Nhật nữa. Và như vậy thì Việt Nam mình bây giờ đâu đến nỗi! 


Thế nhưng  sự việc lại xẩy ra bất ngờ. Hoàng tử Cảnh đã chết non khi mới được 21 tuổi. Vậy thì ai sẽ là người được nối ngôi vua? Đúng ra, khi hoàng tử Cảnh chết thì con của hoàng tử là Nguyễn Phúc Mỹ Đường mới là người kế nghiệp (1). Vậy mà sau này đã không theo vậy. Minh Mạng là con bà khác lại được leo lên. Thế là bao nhiêu chuyện có thể bởi đó mà ra. Số mệnh lịch sử thật oái oăm!


Cứ xem bức hình hoàng tử Cảnh treo ở Paris thì biết được thiện cảm của các cố đạo người Tây như thế nào đối với vị hoàng tử có tài này, và dĩ nhiên cũng liên hệ tới dòng chính là con của hoàng tử sẽ lên nối nghiệp. Và đây có thể là căn cớ cho đòn hằn mà vua Minh Mạng trút lên các cố đạo Tây và người Công giáo. Có thể vì mặc cảm vây cánh tiếm vị, không chính danh vì không phải là dòng chính, nên nhà vua phải lấy tên là Minh Mạng có nghĩa là mạng sáng!


Lê Văn Duyệt là công thần được người miền Nam mến chuộng xây Lăng Ông như vậy mà cũng bị vua Minh Mạng cho cào mả bằng địa và đóng cọc xích lại trị tội với lý do bề ngoài là không dạy được Lê Văn Khôi. Nhưng thực ra cũng chỉ là đòn hằn, vì Lê Văn Duyệt cũng như tổng trấn Hà nội là Nguyễn Văn Thành vốn bênh vực dòng chính Hoàng Tử Cảnh và rất thiện cảm với đạo Công giáo, vì muốn cải tiến phát triển đất nước theo hướng Tây phương. Khi vua Minh Mạng ra lệnh giết đạo trưởng Tây thì Lê Văn Duyệt phản đối công khai: cơm các cố Tây còn dính ở răng, nghĩa là công ơn của họ với vua cha và đất nước còn sờ sờ ra đó mà mình nỡ đối xử thế sao cho hợp đạo!  


 


Vua Minh Mạng


Cuốn Vietnam, Insight Guide của Discovery Channel (Apa xuất bản, trang 34) đã cho biết một số chi tiết rất đáng chú ý: Sau chuyến đi sang Pháp, "Hoàng tử Cảnh đã được học tại truờng truyền giáo ở Malacca và đã gia nhập Công giáo (2). Điều này có nghĩa là hoàng tử Cảnh là hoàng tử Việt nam đầu tiên đuợc hấp thụ tư tưởng do các thầy dạy Tây phương. Các tướng lãnh của Nguyễn Ánh đã nhận ra nét trổi vượt của kỹ thuật quân sự Tây phương và ước mong hoàng tử Cảnh sẽ là người hiểu biết để tái thiết đất nước sau thời chiến. Hoàng tử Cảnh được nhiều người ngưỡng mộ là vị sẽ canh tân đất nước và mang đất nước đi tới công nghiệp hóa."


Đang khi tổng trấn Thăng Long là Nguyễn Văn Thành và tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt muốn mở tới thế giới Tây phương để canh tân đất nước thì đa số quan lại trong triều chỉ thích bảo vệ cái văn hóa Hán Nho và nghiêng hẳn về ảnh hưởng chính trị Trung Hoa, nên quyết tâm ủng hộ cho hoàng Tử Miên Tông (Đảm) lên ngôi. Cuối cùng thì phe thân Tàu đã thắng thế. "Hoàng tử Cảnh được ghi nhận là chết vì bệnh đậu mùa lúc 21 tuổi. Vụ án bệnh lý này bị các thừa sai thân cận trong triều đình phản bác và đã báo cáo về hội truyền giáo Paris rằng hoàng tử Cảnh chết vì bị đầu độc."


-----


(1) Dòng của hoàng tử Cảnh gần đây nhất được biết đến nhiều là Cường Để, con của Anh Như; Anh Như là con của Duệ Trung; Duệ Trung là con của Mỹ Đuờng... theo bài thơ mà vua Gia Long để lại cho dòng hoàng tử Cảnh cứ thế mà đặt tên cho con cháu:


"Mỹ Duệ Anh Cường Tráng,


Liên Huy Phát Bội Hương.


 


Kỳ Ngoại Hầu Cường Để chụp chung với Phan Bội Châu (bên phải) khoảng năm 1907


(2) Tài liệu trong sách A Vietnamese Royal Exile in Japan By My-Van Tran, cho biết hoàng tử Cảnh muốn đuợc lãnh bí tích gia nhập đạo Công giáo nhưng Gm. Bá Đa Lộc không muốn vậy vì những lý do tế nhị với hoàng gia, và như thế hoàng tử Cảnh chỉ được rửa tội âm thầm truớc khi qua đời.


Tác giả Trần Cao Tường, Lm.


nguồn : http://www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=5777


ĐÔI ĐIỀU VỀ ĐỨC TIN VÀ VĂN HÓA, bài 6: PHÁC THẢO GIẢI THƯỞNG TRUYỆN NGẮN VÀ TRUYỆN DÀI DŨNG LẠC


Sau gần hai năm, chuyên san Đồng Xanh Thơ đã phát hành tới số 26, với sự cộng tác của hơn 50 nhà thơ Công Giáo. Vẫn còn vài con số chưa được phấn khởi lắm: Trong số 50 tác giả, chỉ mới có gần 10 vị dưới 30 tuổi, nếu tính dưới 25 tuổi chỉ có 2 vị. Dù vậy khá lạc quan. Trong số 19 tác giả được chọn vào bản thảo Tuyển tập KINH MAI, có 7 vị do ĐXT giới thiệu.


Đang khi đó chuyên san Truyện ngắn và Ký “Vườn Ôliu” qua 6 số chỉ mới có 19 tác giả tham gia. Như thế có thể nói về thơ không cần cổ võ nhiều, việc đưa vào bộ sưu tập thơ Công Giáo đã có thể coi là một sự đánh giá mang tính vận động. Còn văn xuôi cần nỗ lực đặc biệt để khuyến khích có thêm người cầm bút.


1. MỘT MINH HỌA

Khi Ban Biên Tập Dũng Lạc bàn chuyện văn học nghệ thuật với độc giả, có lẽ các vị mường tượng mình đang nói chuyện với các sinh viên Văn Khoa ngày nào. Điều ấy có lẽ chỉ đúng với độc giả hải ngoại, còn ở quê nhà, đã hơn 30 năm rồi, bây giờ hoàn toàn khác.


Tôi đang giúp môn tiếng Việt cho bảy em sẽ được vào Đại Chủng Viện tháng 9-2009. Cả bảy em đều đã học xong Đại Học hoặc Cao Đẳng. Công việc gay go và rất mệt mỏi của tôi là hầu như dòng nào cũng phải sửa: từ sửa những nét chữ, sửa chính tả, sửa viết hoa viết thường, đến sửa các dấu chấm câu. Rất nhiều câu chỉ trơ trọi một mệnh đề phụ. Chỉ nguyên việc đặt vấn đề ở phần mở bài, mất hơn một tháng các em mới bắt đầu nắm bắt được. Sau thời gian sửa bài trên những trang viết tay, tôi đã yêu cầu các em trình bày bài trên máy vi tính rồi in ra. Nhờ đó mỗi bài có thể sửa đi sửa lại rất nhiều lần cho đến khi thành một bài đọc trôi chảy.


Những người tốt nghiệp Đại Học rồi mà chưa viết xuôi tiếng Việt, tìm đâu người viết truyện, làm văn? Minh họa như thế để Ban Biên Tập Dũng Lạc thấy khi đặt vấn đề giải thưởng văn xuôi, ta cần nhắm điều gì.


2. VẤN ĐỀ LỚN CHO GIÁO HỘI VIỆT NAM

Người ta nói gì trên mạng về giáo dục nhà trường tại Việt Nam, ai cũng biết cả rồi. Tôi chỉ nêu một minh họa về những ứng viên linh mục của chúng ta. Một vấn đề khẩn cấp.


Bác sĩ, kỹ sư, kế toán viên, quận trưởng, cả đến chủ tịch nước có viết sai tiếng Việt cũng chỉ chạm đến những lợi ích trần thế. Các linh mục viết sai hoặc nói sai tiếng Việt sẽ gây thiệt hại cho linh hồn người ta. Đã có nhan nhản những ví dụ cười ra nước mắt.


Thế nhưng văn thư Đại Chủng Viện (liên giáo phận) gửi cho các Tòa Giám Mục chỉ yêu cầu phải chuẩn bị về giáo lý, nhân bản, lịch sử ơn cứu rỗi, tiếng Anh và tiếng Latinh,  không thấy nói gì về tiếng Việt. Hình như Ban Giám Đốc Chủng Viện nghĩ rằng tiếng Việt không có gì quan trọng. Thế nhưng viết không xuôi tiếng Việt thì làm sao hiểu được triết học và thần học, làm sao viết bài, làm sao dọn bài giảng? Theo thiển ý, tiếng Việt quan trọng gấp bội tiếng Anh chứ! Chủng Viện tìm gì khi đòi hỏi tiếng Anh mà quên tiếng Việt. Ý thức tầm quan trọng hàng đầu của tiếng Việt, tôi phải tìm mọi cách giúp các ứng sinh viết khỏi sai tiếng Việt trước khi họ bước vào Đại Chủng Viện.


Một lần nữa, tôi tha thiết khẩn nài quý vị phụ trách đào tạo người cho Giáo Hội tại Việt Nam dành ưu tiên cho việc đào tạo tiếng Việt để khỏi xây nhà trên cát. Và như thế, chuyện giải thưởng văn xuôi nói đây không phải là chuyện trà dư tửu hậu của những người có máu văn nghệ mà là cái gì từ tâm huyết của những người thiết tha với tương lai Giáo Hội Việt Nam.


3. MỘT GIẢI THƯỞNG ĐƯỜNG DÀI

Giải văn xuôi Dũng Lạc sẽ là giải thưởng đường dài, mang tính đào tạo, hướng tới dọn mừng 500 năm Kitô giáo Việt Nam (1533-2033). Từ đây tới 2033 là 25 năm, có 5 chặng đường 5 năm.


Mỗi năm đều phát thưởng cho một số bài đăng trên Vườn Ôliu (Truyện ngắn và ký). Cuối năm năm, bình chọn những tác giả có trên 10 bài (Truyện ngắn và ký). Thêm vào đó là những truyện dài mang nội dung Kitô giáo đã được (tác giả hoặc bất cứ cơ quan nào) xuất bản trong 5 năm qua cũng như những bản thảo gửi đến dự thi.


Ngoài ra, MLDL cũng sẽ hướng tới hỗ trợ kinh nghiệm để xây dựng các giải thưởng thơ văn ở cấp giáo phận như sẽ nói ở số 4 dưới đây.


4. CÁC GIẢI THƯỞNG CẤP GIÁO PHẬN

Cần phát động giải thưởng tiếng Việt cho học sinh ở khắp nơi để khuyến khích các bạn trẻ tập làm văn. Sự giúp đỡ của các vị hảo tâm tại các địa phương cộng với sự quyên góp nơi một vài giáo xứ đủ để tổ chức giải thưởng cấp liên xứ, giáo hạt hoặc giáo phận. MLDL không có điều kiện bao cấp về tiền bạc nhưng có thể đóng góp kinh nghiệm để các giải thưởng này đạt kết quả tốt.


Các Ban Giáo Lý, các Ban Phục Vụ Giới Trẻ, các nhóm đặc trách Sinh Viên, các Đại Chủng Viện và các Dòng Tu đều có thể và nên đứng ra tổ chức những giải thưởng này. Liên kết với nhau càng tốt. Cả ở cấp Giáo Xứ vẫn cần có giải thưởng để nhắc nhở và khuyến khích các em trau giồi tiếng Việt.


5. HUY ĐỘNG TÀI TRỢ

Một giải thưởng đường dài cần có những phần thưởng đáng giá. Ước mong những vị có lòng và có khả năng tài chánh đọc mấy dòng minh họa trên kia và có những sáng kiến hỗ trợ. Cả những ân nhân trong nước và những giáo xứ có điều kiện đều có thể đóng góp thiết thực.


Qui Nhơn, 23-12-2008


Lm Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh


(nguồn : http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=99&ia=5822)

Mời đọc:

 

  • Bản Tin Dũng Lạc số 1 (Ra Mắt 1.1.2008)
  • Bản Tin Dũng Lạc số 2 : Họp mặt Đồng Xanh Thơ tại tòa giám mục Phan Thiết
  • Bản Tin Dũng Lạc số 3: Giáo dục Công giáo Việt Nam
  • Bản Tin Dũng Lạc số 4 – Đêm Thơ Kinh Trong Sương
  • Bản Tin Dũng Lạc số 5 - Truyền Thông
  • Bản Tin Dũng Lạc số 6 - Kiến trúc Công giáo .
  • BT Dũng Lạc số 7&8 – Chuyển Đạt Tin Mừng qua Văn Hóa và Văn Học Nghệ Thuật 
  • Bản Tin Dũng Lạc số 9&10 - Năm Thánh cùng đại hội Dân Chúa 2010
  • Bản Tin Dũng Lạc số 11 - GHVN thời bảo hộ 1533-1659

  • ...Xin mở file kèm Attach file

    Tác giả Trần Văn Cảnh (Mạng Lưới Dũng Lạc)
       dunglac@gmail.com