Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong thần khí dũng lạc.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn

* Tưởng Niệm & Tri Ân * *** Lm. Anrê Dũng Lạc ***

Điểm Nhấn

Tin Thời Sự

Điểm Sách

Văn Hóa - Biên Khảo

Văn Hóa & Niềm Tin

Hội Nhập Văn Hóa

Bản Tin Dũng Lạc

Bộ Kinh Tộc Việt

Chữ Quốc Ngữ

Văn Học - Nghệ Thuật

Dũng Lạc Slide Show

Gọi Nắng Vào Tim

Những Cuộc Thi Viết

Đồng Xanh Thơ

Vườn Ô-liu - Trang Văn

Góp Nhặt Thơ

Thánh Nhạc

Hội Họa

Làng Văn Hữu Dũng Lạc

Tâm Linh - Tôn Giáo

Sứ Điệp

Thần Khí - Chữa Lành

Lời Chúa Mỗi Ngày

Bẻ Bánh Lời Chúa

Tin Vui Thời Điểm

Mẹ Maria

Vị Thánh Trong Ngày

Các Thánh Việt Nam

Mục Vụ Gia Đình

Tư Tưởng Văn Hóa Việt

  Kinh Thánh Công Giáo
  Lớp Vô Nhiễm
 Biên Tập - Tác Giả
 Văn Hóa Biên Khảo
  Đông Lan
  Đỗ Hữu Nghiêm, Gs.
  Đỗ Mạnh Tri
  Đỗ Quang Chính, sj.
  Đỗ Xuân Quế, Lm.
  Cao Phương Kỷ, Lm
  Hoàng Đình Hiếu
  Hoàng Kim Toan, Lm
  Hoàng Sỹ Quý, SJ.
  Kim Ân
  Kim Định
  Lê Đình Thông, phd.
  Lê Hữu Mục, Gs.
  Lê Ngọc Bích
  Lê Văn Lân, MD.
  Mặc Giao
  Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
  Nguyễn Ước
  Nguyễn Công Bình, Ls.
  Nguyễn Chính Kết
  Nguyễn Cung Thông
  Nguyễn Khắc Dương
  Nguyễn Khắc Xuyên
  Nguyễn Long Thao
  Nguyễn Sơn Hà
  Nguyễn Thái Hợp, Gm.
  Nguyễn Tiến Cảnh, MD.
  Nguyễn Trí Dũng
  Nguyễn Trọng
  Nguyễn Văn Thành
  Nguyễn Văn Trung
  Nguyễn Vy Khanh
  Nguyễn Xuân Quang, MD.
  Nguyên Nguyên
  Phùng Văn Hóa
  Phan Đình Cho, Lm
  Phạm Đình Khiêm
  Phạm Hồng Lam
  Trần Cao Tường, Lm.
  Trần Hữu Thuần
  Trần Mạnh Trác
  Trần Ngọc Báu
  Trần Ngọc Thêm, Gs
  Trần Phong Vũ
  Trần Văn Đoàn
  Trần Văn Cảnh
  Trần Văn Kiệm, Lm.
  Trần Văn Toàn, Gs.
  Trần Vinh
  Vũ Đình Trác, Lm
  Vũ Hùng Tôn, Lm
  Vũ Kim Chính, Lm
  Vũ Thành, Lm
  Vĩnh An
 Văn Học Nghệ Thuật
  Đàm Trung Phán
  Đàm Trung Pháp, Gs.
  Đỗ Thảo Anh
  Đồng Xanh Thơ Nha Trang
  Đồng Xanh Thơ Sài Gòn
  Đồng Xanh Thơ Xuân Lộc
  Đường Phượng Bay
  Bùi Nghiệp
  Cát Đơn Sa
  Cao Huy Hoàng
  CLB Thánh Nhạc
  Du Tử Lê
  Duy Hân
  Gã Siêu
  Gioa-Kim
  Hàn Mặc Tử
  Hạnh Đức
  Hương Kinh Trà Lũ
  Hoài Việt
  Hoàng Diệp, Lm.
  Hoàng Kim Tốt, Lm.
  Hoàng Thị Đáo Tiệp
  Hoa Văn
  Joseph Trần Việt Hùng, Lm
  Lê Đình Bảng
  Lê Miên Khương
  Lê Ngọc Hồ
  Lưu Minh Gian
  Mặc Trầm Cung
  Mi Trầm, Lm.
  Ngô Duy Linh, Lm.
  Nguyễn Đức Cung
  Nguyễn Hùng Sơn
  Nguyễn Phú Long
  Nguyễn Thị Hồng Diệp
  Nguyễn Thị Kim Loan
  Nguyễn Thị Phượng
  Nguyễn Trung Tây, Lm
  Nguyễn Văn Hiển
  Nguyễn Văn Sướng
  Nguyễn Xuân Văn, Lm
  Nhóm Thánh Vịnh Nauy
  Nhất Chi Vũ
  Nt Goretti Võ Thị Sương
  Phạm Huyền
  Phạm Trung
  Quyên Di
  Sông Thanh
  Sr. Hoàng Yến
  Sr. Sương Mai
  TC. Phan Văn Khải
  Thái Anh
  Thanh Sơn
  Tin Yêu
  Trà Lũ
  Trịnh Tây Ninh
  Trọng Nhân, Lm
  Trăng Thập Tự, Lm.
  Trầm Tĩnh Nguyện
  Trần Mộng Tú
  Trần Ngọc Chương
  Trần Ngọc Mười Hai
  Trần Ngọc Thu
  Trần Thu Miên
  Trần Trung Đạo
  Tuấn Kim
  Vũ Thái Hòa
  Vũ Thủy
  Vân Đỳnh
  Việt Hải - Los Angeles
  ViVi
  Xuân Ly Băng
  Xuân Minh
 Tâm Linh Tôn Giáo
  Đỗ Tân Hưng
  Đặng Xuân Thành, Lm.
  Đinh Quang Thịnh, Lm.
  Bùi Tuần, Gm.
  Lê Công Đức, Lm.
  Lê Quang Vinh
  Mai Tá
  Minh Anh gp Huế, Lm.
  Ngô Phúc Hậu, Lm.
  Nguyễn Cao Siêu, S.J.
  Nguyễn Hữu An, Lm.
  Nguyễn Kim Ngân
  Nguyễn Lợi, Lm
  Nguyễn Tầm Thường, sj.
  Nguyễn Văn Nội
  Nguyễn Văn Thư, Lm
  Nguyễn Văn Thuận, HY
  Phạm Hoàng Nghị
  Phạm Văn Tuệ, Lm.
  Tý Linh
  Têrêsa Ngọc Nga
  Trần Mỹ Duyệt
  Trần Minh Huy, Lm.
  Vũ Văn An
  Võ Xuân Tiến, Lm.
 Nhiếp Ảnh
  Cao Tường
  Diệp Hải Dung
  Nguyễn Đức Cung
  Nguyễn Ngọc Danh
  Sen K
  Tâm Duy, Lm
Nối kết - Links
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo1
Truyền Thông - Công Giáo2
Hải Ngoại - Quốc Tế - Quốc Nội
  Văn Học - Nghệ Thuật
TRÍCH TUYỂN THƠ THÁP BABEL

A. Chính văn Thánh Kinh  

11 1 Lúc bấy giờ toàn thể lãnh thổ có một tiếng nói duy nhất và một ngôn ngữ như nhau. 2 Khi con cháu ông Nô-ê từ phương đông tiến đi, họ đã gặp một cánh đồng tại đất Si-nê-ar và họ cư ngụ ở đó. 3 Những người này nói với nhau rằng: “Nào, bây giờ chúng ta đi làm gạch và đốt lửa để nung”. Và họ dùng gạch thay thế cho đá và nhựa thay thế cho xi măng. 4 Họ còn nói: “Nào, bây giờ chúng ta hãy xây một thành với một ngọn tháp mà ngọn nó chạm tới trời. Và chúng ta hãy tạo cho ta một tên tuổi để chúng ta khỏi bị tản lạc ra khắp mặt địa cầu”. 5 Chúa ngự xuống để quan sát thành trì với cây tháp mà con cái loài người đang xây. 6 Và Chúa phán: “Này coi, chúng nó hợp thành một dân tộc duy nhất và kia là điều chúng đã khởi công. Giờ đây không có gì ngăn cản chúng thi hành điều chúng đã dự tính. 7 Ta hãy xuống coi và tại đó Ta làm cho ngôn ngữ chúng lộn xộn, để người này không còn hiểu tiếng nói của người kia”. 8 Và Chúa đã làm cho họ tản mác xa chỗ đó để tràn ra khắp mặt địa cầu. Họ đã thôi việc xây dựng thành trì. 9 Bởi thế, người ta đã gọi chỗ đó là Ba-bel”. Và chính tại chỗ đó, Chúa đã làm cho người ta tản mác ra khắp mặt địa cầu. (Bản dịch nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ) 

B. Diễn ca của Lữ Y Đoan 

Vả chăng ngôn ngữ cổ thời 

Những điều cảm nghĩ, nói lời như nhau 

Phía Đông nhiều tộc vùng cao, 

Dân đông, đất chật, hoa màu cung vơi 

Định cư đất mới kịp thời

Bàn nhau xây tháp để đời hậu lai 

Góp nhau vật liệu đủ đầy 

Công trình kiến tạo mỗi ngày rộng cao 

Quyết xây tháp đụng Thiên Tào, 

Nêu cao nhân lực, Trời nào dám đương (1) 

Nhân gian ngạo nghễ thiên đường 

Trời rằng: “Hiệp nhất vi cường, đại công... (2) 

Phải cho ngôn ngữ bất đồng 

Mỗi chi một ngả là xong ý đồ! 

Thế là: Nhất hữu cửu vô (3) 

Thế nhân bỏ cuộc, trở cờ giống nhau 

Hỗn Lầu (4) danh gọi về sau 

Kể từ việc ấy, ngũ châu (5) người tràn... 

C. Chú dẫn của Trần Thanh Đạm 

Để bạn đọc có một ý niệm về tính phóng khoáng và sáng tạo của bản diễn ca quốc âm “Sấm Truyền Ca” so với chính bản Thánh Kinh Cựu Ước, chúng tôi trích dịch và trích dẫn trên đây một đoạn nổi tiếng nói về chuyện con cháu ông Nô-ê (STC gọi là Nhữ Y), sau trận Đại hồng thủy lại tái sinh và phồn thực trở lại trên mặt đất đến định cư tại một miền đồng bằng xứ Schinear. Họ rủ nhau xây dựng một ngọn tháp cao chạm trời. Chúa trừng phạt ý đồ ngạo nghễ của họ bằng cách làm cho họ ngôn ngữ bất đồng, không hiểu được nhau, không đoàn kết nhất trí được với nhau, rút cuộc phải bỏ dở công trình bao thiên nghịch địa kia và bị Chúa phân tán thành các giống người khác nhau trên khắp mặt đất. Đây là truyền thuyết về tháp Babel (Thầy Cả Lữ Y Đoan dịch là Hỗn Lầu) nổi tiếng trong Thánh Kinh. Các bạn chú ý tinh thần mà chúng tôi gọi là tinh thần nhân văn chủ nghĩa của tác giả “Sấm Truyền Ca” khi thuật lại truyền thuyết này với những câu như: 

Quyết xây tháp đụng Thiên Tào, 

Nêu cao nhân lực, Trời nào dám đương 

Nhân gian ngạo nghễ thiên đường... 

Những câu đó cụ thể hóa tư tưởng mà tác giả nêu lên trong đoạn mở đầu của Tạo Đoan Kinh (Genesia): 

Loài người từ thuở A-đam 

Đua nhua xây dựng mộng ham làm trời... 

Như lời các vị sao chép bản quốc ngữ thuật lại thì chú thích sách này “Bị các linh mục ngoại quốc thời đó chống đối, viện lẽ đã pha trộn nhiều tư tưởng ngoại giáo”, “không nhìn nhận là đúng với Kinh Thánh của Đạo nên cấm bổn đạo đọc vì là sách dị đoan” do đó mà bị mai một. 

Phần chính bản Thánh Kinh chúng tôi dịch sát theo bản dịch tiếng Pháp của Louis Segond, Tiến sĩ Thần học, trong sách đã dẫn trong bài viết của chúng tôi. Các con số đánh dấu các chương và các ý chính trong mỗi chương là của chính bản Thánh Kinh được dịch ra tiếng Pháp. Bản Sấm Truyền Ca cũng được một linh mục địa phận Sài Gòn tên gọi là Phaolô Quy đánh số theo sự đánh số trong chính bản Thánh Kinh. Theo dõi sự đánh số này của hai bản có thể thấy tác giả Sấm Truyền Ca vừa theo sát các chương các ý trong chính bản vừa cải biên, vừa sáng tạo theo cách Việt Nam nội dung áng cổ văn Do-thái.

 

(1) Bản Paulus Tạo: 

Vươn lên tháp đụng Thiên Tào, 

Muôn đời danh tiếng, trăng sao phải nhường 

(2) Tác giả mượn ý ở câu sách xưa: “Hiệp lực vi cường, đại công nhất trí” (góp sức chung thì tạo ra sức mạnh, công việc to lớn là nhờ một lòng một ý với nhau). 

(3) Giới Nho học xưa có câu: “Nhất hữu cửu vô thiên hạ tận...” (Một người có chín người không thì cuộc đời bế mạc). 

(4) Hỗn Lầu: lâu đài hỗn độn hay là cái tháp hỗn xược, kiêu căng. 

(Các chú thích 2,3,4 là của bản sao quốc ngữ của Nguyễn Văn Nhạn). 

(5) Cần nghiên cứu thêm: con người ở thế kỷ XVII, kể cả một vị linh mục có Tây học như Lữ Y Đoan đã có kiến thức về “ngũ châu” (năm châu) hay chưa?? Nếu đây đích thực là văn bản của thế kỷ XVII thì trình độ hiểu biết về địa lý của người Việt Nam thời đó đã cao lắm. Đến Lê Quý Đôn, nửa sau thế kỷ XVIII, trong sách Vân Đài Loại Ngữ mới qua sách Tàu mà tiếp xúc lần đầu tiên với khái niệm quả đất tròn.

Tác giả Lm. Lữ Y Đoan
   dunglac@gmail.com