Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong thần khí dũng lạc.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn

* Tưởng Niệm & Tri Ân * *** Lm. Anrê Dũng Lạc ***

Điểm Nhấn

Tin Thời Sự

Điểm Sách

Văn Hóa - Biên Khảo

Văn Hóa & Niềm Tin

Hội Nhập Văn Hóa

Bản Tin Dũng Lạc

Bộ Kinh Tộc Việt

Chữ Quốc Ngữ

Văn Học - Nghệ Thuật

Dũng Lạc Slide Show

Gọi Nắng Vào Tim

Những Cuộc Thi Viết

Đồng Xanh Thơ

Vườn Ô-liu - Trang Văn

Góp Nhặt Thơ

Thánh Nhạc

Hội Họa

Làng Văn Hữu Dũng Lạc

Tâm Linh - Tôn Giáo

Sứ Điệp

Thần Khí - Chữa Lành

Lời Chúa Mỗi Ngày

Bẻ Bánh Lời Chúa

Tin Vui Thời Điểm

Mẹ Maria

Vị Thánh Trong Ngày

Các Thánh Việt Nam

Mục Vụ Gia Đình

Tư Tưởng Văn Hóa Việt

  Kinh Thánh Công Giáo
  Lớp Vô Nhiễm
 Biên Tập - Tác Giả
 Văn Hóa Biên Khảo
  Đông Lan
  Đỗ Hữu Nghiêm, Gs.
  Đỗ Mạnh Tri
  Đỗ Quang Chính, sj.
  Đỗ Xuân Quế, Lm.
  Cao Phương Kỷ, Lm
  Hoàng Đình Hiếu
  Hoàng Kim Toan, Lm
  Hoàng Sỹ Quý, SJ.
  Kim Ân
  Kim Định
  Lê Đình Thông, phd.
  Lê Hữu Mục, Gs.
  Lê Ngọc Bích
  Lê Văn Lân, MD.
  Mặc Giao
  Nguyễn Đăng Trúc, Gs.
  Nguyễn Ước
  Nguyễn Công Bình, Ls.
  Nguyễn Chính Kết
  Nguyễn Cung Thông
  Nguyễn Khắc Dương
  Nguyễn Khắc Xuyên
  Nguyễn Long Thao
  Nguyễn Sơn Hà
  Nguyễn Thái Hợp, Gm.
  Nguyễn Tiến Cảnh, MD.
  Nguyễn Trí Dũng
  Nguyễn Trọng
  Nguyễn Văn Thành
  Nguyễn Văn Trung
  Nguyễn Vy Khanh
  Nguyễn Xuân Quang, MD.
  Nguyên Nguyên
  Phùng Văn Hóa
  Phan Đình Cho, Lm
  Phạm Đình Khiêm
  Phạm Hồng Lam
  Trần Cao Tường, Lm.
  Trần Hữu Thuần
  Trần Mạnh Trác
  Trần Ngọc Báu
  Trần Ngọc Thêm, Gs
  Trần Phong Vũ
  Trần Văn Đoàn
  Trần Văn Cảnh
  Trần Văn Kiệm, Lm.
  Trần Văn Toàn, Gs.
  Trần Vinh
  Vũ Đình Trác, Lm
  Vũ Hùng Tôn, Lm
  Vũ Kim Chính, Lm
  Vũ Thành, Lm
  Vĩnh An
 Văn Học Nghệ Thuật
  Đàm Trung Phán
  Đàm Trung Pháp, Gs.
  Đỗ Thảo Anh
  Đồng Xanh Thơ Nha Trang
  Đồng Xanh Thơ Sài Gòn
  Đồng Xanh Thơ Xuân Lộc
  Đường Phượng Bay
  Bùi Nghiệp
  Cát Đơn Sa
  Cao Huy Hoàng
  CLB Thánh Nhạc
  Du Tử Lê
  Duy Hân
  Gã Siêu
  Gioa-Kim
  Hàn Mặc Tử
  Hạnh Đức
  Hương Kinh Trà Lũ
  Hoài Việt
  Hoàng Diệp, Lm.
  Hoàng Kim Tốt, Lm.
  Hoàng Thị Đáo Tiệp
  Hoa Văn
  Joseph Trần Việt Hùng, Lm
  Lê Đình Bảng
  Lê Miên Khương
  Lê Ngọc Hồ
  Lưu Minh Gian
  Mặc Trầm Cung
  Mi Trầm, Lm.
  Ngô Duy Linh, Lm.
  Nguyễn Đức Cung
  Nguyễn Hùng Sơn
  Nguyễn Phú Long
  Nguyễn Thị Hồng Diệp
  Nguyễn Thị Kim Loan
  Nguyễn Thị Phượng
  Nguyễn Trung Tây, Lm
  Nguyễn Văn Hiển
  Nguyễn Văn Sướng
  Nguyễn Xuân Văn, Lm
  Nhóm Thánh Vịnh Nauy
  Nhất Chi Vũ
  Nt Goretti Võ Thị Sương
  Phạm Huyền
  Phạm Trung
  Quyên Di
  Sông Thanh
  Sr. Hoàng Yến
  Sr. Sương Mai
  TC. Phan Văn Khải
  Thái Anh
  Thanh Sơn
  Tin Yêu
  Trà Lũ
  Trịnh Tây Ninh
  Trọng Nhân, Lm
  Trăng Thập Tự, Lm.
  Trầm Tĩnh Nguyện
  Trần Mộng Tú
  Trần Ngọc Chương
  Trần Ngọc Mười Hai
  Trần Ngọc Thu
  Trần Thu Miên
  Trần Trung Đạo
  Tuấn Kim
  Vũ Thái Hòa
  Vũ Thủy
  Vân Đỳnh
  Việt Hải - Los Angeles
  ViVi
  Xuân Ly Băng
  Xuân Minh
 Tâm Linh Tôn Giáo
  Đỗ Tân Hưng
  Đặng Xuân Thành, Lm.
  Đinh Quang Thịnh, Lm.
  Bùi Tuần, Gm.
  Lê Công Đức, Lm.
  Lê Quang Vinh
  Mai Tá
  Minh Anh gp Huế, Lm.
  Ngô Phúc Hậu, Lm.
  Nguyễn Cao Siêu, S.J.
  Nguyễn Hữu An, Lm.
  Nguyễn Kim Ngân
  Nguyễn Lợi, Lm
  Nguyễn Tầm Thường, sj.
  Nguyễn Văn Nội
  Nguyễn Văn Thư, Lm
  Nguyễn Văn Thuận, HY
  Phạm Hoàng Nghị
  Phạm Văn Tuệ, Lm.
  Tý Linh
  Têrêsa Ngọc Nga
  Trần Mỹ Duyệt
  Trần Minh Huy, Lm.
  Vũ Văn An
  Võ Xuân Tiến, Lm.
 Nhiếp Ảnh
  Cao Tường
  Diệp Hải Dung
  Nguyễn Đức Cung
  Nguyễn Ngọc Danh
  Sen K
  Tâm Duy, Lm
Nối kết - Links
Văn Hóa - Văn Học
Tâm Linh - Tôn Giáo
Truyền Thông - Công Giáo1
Truyền Thông - Công Giáo2
Hải Ngoại - Quốc Tế - Quốc Nội
  Văn Hóa - Biên Khảo
MỘT VÀI CẢM NHẬN VÀ...

Một Vài Cảm Nhận và Suy Nghĩ Đầu Tiên nhân đọc di bản “Sấm Truyền Ca”, phóng tác Thánh Kinh Cựu Ước theo thể truyện thơ lục bát của Thầy Cả Lữ Y Đoan thế kỷ 17

Do giáo sư Nguyễn Văn Trung giới thiệu, tôi may mắn được tiếp xúc với hai bản “Sấm Truyền Ca” bằng chữ quốc ngữ, sao chép từ các bản chữ Nôm truyền lại từ các thế kỷ trước. Đây là một văn bản cổ của Thiên Chúa giáo Việt Nam. Đồng thời, có thể xem đây là một tác phẩm văn chương cổ của dân tộc còn lưu lại một ít vết tích cho đến ngày nay. Được đọc lần đầu tác phẩm này, tôi ghi lại sau đây đôi điều cảm nhận và suy nghĩ ban đâu, tiếp nối ý tưởng của các bậc đi trước và mong gợi lên những tìm tòi, nghiên cứu tiếp theo. 

“Sấm Truyền Ca” là một bộ tác phẩm phỏng dịch (hay phóng tác) 5 tập đầu tiên của bộ Thánh Kinh Cựu Ước của đạo Thiên Chúa, theo lối diễn ca bằng chữ Nôm, vào khoảng năm 1670, do một vị linh mục Việt Nam thuộc Địa phận Đàng Trong là Thầy Cả Lữ Y Đoan. Lữ Y là cách gọi Việt hóa tên thánh Louis trong đạo Thiên Chúa. Đoan là tên tục của vị linh mục đó mà bổn đạo thường gọi theo cách nôm na thân mật là Thầy Cả. Theo nghiên cứu và chú dẫn của những người sao chép văn bản này vào đầu thế kỷ XIX (1820) và đầu thế kỷ XX (1910) thì linh mục Lữ Y Đoan là một nhân vật có thực đã từng sống và hoạt động tôn giáo cuối thế kỷ XVII ở Đàng Trong, được các nhà truyền giáo Phương Tây phong chức linh mục trong số những người Việt Nam đầu tiên được phong chức này. Lữ Y Đoan là một vị linh mục có học vấn uyên bác. Ngoài kiến thức về đạo Thiên Chúa là tôn giáo mà ông đã theo cho đến trình độ một vị linh mục, ông còn tỏ ra la một người tinh thông Nho học và các kiến thức văn hóa phương Đông và Việt Nam thời bấy giờ, đạt đến trình độ có thể diễn tả nội dung rất mới lạ và phức tạp của một bộ sách như Thánh Kinh của đạo Thiên Chúa thành ra một tác phẩm đậm đà màu sắc văn hóa phương Đông và phong vị ngôn ngữ văn chương Việt Nam. Dĩ nhiên,với văn bản hiện nay bằng chữ quốc ngữ được sao chép lại từ bản chữ Nôm đã thất truyền, ít có cơ may tìm thấy được, thì chúng ta cũng khó lòng khẳng định được rằng tác phẩm hiện có còn giữ nguyên bộ mặt đầu tiên của nó từ cuối thế kỷ XVII, tức là năm 1670 như người sao chép đã ước định. Tuy vậy, giả thuyết, hay đúng hơn là truyền thuyết, cho rằng đây là tác phẩm có nguồn gốc từ thế kỷ XVII cũng có những chỉ dẫn và căn cứ nhất định mà ta không thể và không nên phủ nhận một cách dễ dàng. Điều chắc chắn là tác phẩm từ khi được sáng tác ra cho đến hình thái như nó có hiện nay hẳn đã trải qua nhiều lần sao đi chép lại và cùng với sự sao chép đó đã được sửa chữa, nhuận sắc các người đời sau, kể cả những cây bút cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Những người am hiểu lịch sử văn học cổ điển dân tộc có thể nhận thấy phong cách ngôn ngữ văn chương của Sấm Truyền Ca khó có thể là tác phẩm của thế kỷ XVII, đồng thời với “Thiên Nam ngữ lục” hay “Tư Dung vãn”, “Ngọc Long Cương văn” của Đào Duy Từ là những tác phẩm mà tính chất cổ xưa của ngôn ngữ rõ rệt hơn rất nhiều. Ngôn ngữ của Sấm Truyền Ca rõ ràng đã mang nhiều dấu vết nhuận sắc của thế kỷ XIX; thậm chí của thế kỷ XX. Lấy một ví dụ trong nhiều ví dụ. Kết thúc tập “Tạo Đoan Kinh” (Genesia) là mấy câu kết luận sau đây: 

Tích xưa cho thấy vấn đề 

Sự đời, sự đạo đi kề bên nhau 

Đời thì danh lợi xôn xao, 

Đạo thì thầm lặng lẽ để cầu ý ngay 

Thế gian phải có một ngày 

 Hầu coi thắng lợi về tay ông Trời. 

Khó có thể nói được rằng đó là ngôn ngữ văn chương quốc âm của thế kỷ XVII. Những từ ngữ như “vấn đề”, “thắng lợi” quá mới, chắc là của người sau thêm vào. 

Tuy vậy, tình trạng một tác phẩm được sáng tác vào một thời điểm khá xưa, sauđó trải qua lưu truyền, biến cải, nhuận sắc của các thời sau để truyền lại cho đến ngày nay thì đó là một tình trạng phổ biến trong văn học cổ của nươc ta cũng như của nhiều nước trên thế giới. Đặt biệt là đối với văn học cổ Việt Nam ta thì cũng hiếm có tác phẩm nào còn lưu truyền đến chúng ta ngày nay mà được xem là trực tiếp từ nguyên tác, nguyên bản đầu tiên của nó. Ngày một tác phẩm nổi tiếng như “Truyện Kiều” của Nguyễn Du được sáng tác vào khoảng đầu thế kỷ XIX thôi thì ngày nay ta đâu còn giữ được bản Nôm nào có thể gọi được là bản Nôm gốc của chính Nguyễn Điều hay của những người đồng thời với Nguyễn Điều? Một tác phẩm lớn như “Văn tế thập loại chúng sinh” của Nguyễn Điều cũng mãi đến đầu thế kỷ XX mới được phát hiện. Còn tác phẩm của Nguyễn Trãi thì chúng ta đâu có văn bản nào đương thời với tác giả được lưu lại từ thế kỷ XV? Phần lớn tác phẩm của thi hào vĩ đại này của dân tộc, về văn cũng như thơ, đều được sưu tầm, tập hợp trong bộ “Ức Trai di tập” của Dương Bá Cung biên soạn vào thế kỷ XIX, sau Nguyễn Trãi hơn 400 năm. Kể cả các áng thơ Nôm trong “Quốc Âm Thi Tập” có còn chắc chắn đâu là ngôn ngữ văn chương đương thời của Nguyễn Trãi mà không trải qua bao lần sao chép, nhuận sắc của các thế hệ văn sĩ, thi gia các đời sau. Cũng vậy, các tác phẩm được xem là sớm nhất của văn học cổ điển dân tộc, như các bài thơ của các vị thiền sư thế kỷ X, XI, thì thực ra các tác phẩm đó đều được trích dẫn trong các tác phẩm như “Thiền Uyển tập anh”, “Tam tổ thực lục”, “Thiền Tông bản hạnh” là các công trình sưu tập, biên soạn được công bố vào thế kỷ XVII (Bản in đầu tiên của “Thiền Uyển tập anh” là vào năm 1715, bài thờ “Quốc lộ” của Thiền sư Pháp Thuận mà chúng ta đã qui chíeu thời gian của tác phẩm trở về 7 thế kỷ trước đó. Phần lớn thơ văn Thiền Tông đời Lý – Trần đều xác định thời gian theo cách đó. Chúng ta có thể kể thêm nhiều thí dụ khác nữa về lai lịch các tác phẩm cổ). Vì vậy, căn cứ vào các chỉ dẫn trong các bản sao chép của thế kỷ XIX và XX, ta cũng có thể đoán định một cách tương đối có căn cứ để tin rằng: văn bản đầu tiên của “Sấm Truyền Ca”, là tác phẩm của thế kỷ XVII, sau đó đã trải qua nhiều lần tu cải của mấy thế kỷ tiếp theo để có hình thái ngày nay. Tuy vậy, nó cũng không phải hoàn toàn biến dạng mà vẫn còn lưu giữ í nhiều thậm chí khá nhiều những nét đặt sắc trong khuôn mặt đầu tiên của nó. Các nhà văn bản học hẳn còn nhiều việc phải làm để có thể xác định và phân định trong văn bản hiện tồn phần nào là phần của thế kỷ XVII, thời gian sáng tác đầu tiên của tác phẩm, phần nào là phần của các nhà nhuận sắc, cải biên các đời sau. Tuy nhiên, điều không thể phủ nhận là “Sấm Truyền Ca” là một tác phẩm thuộc di sản văn chương cổ điển của dân tộc, cần được tôn trọng giữ gìn, nghiên cứu, phát huy. Di sản văn chương, văn hóa của dân tộc ta đã bị mất mát, thất lạc nhiều qua thời gian, do thời tiết cũng như bởi các bco lịch sử. Những gì hiếm hoi còn sót lại của người xưa, dù chưa thật trọn vẹn, toàn bích hay thuần túy đi nữa, vẫn vô cùng quí báu. Các cổ vật sở dĩ quý giá thậm chí vô giá trước hết vì đó là cổ vật, là gia tài của người xưa để lại, mang theo trí tuệ, tâm hồn, dấu tích sáng tạo của người xưa, nếu mất đi thì không sao tìm lại được, các áng văn cổ cũng vậy. Tôi nghĩ: dưới con mắt “bác nhã, hiếu cổ” của nhà nghiên cứu văn hóa và văn học Việt Nam ngày nay, tác phẩm “Sấm Truyền Ca” sẽ được tìm hiểu, đánh giá với tất cả tinh thần trân trọng và quí mến. 

II 

Về giá trị văn chương – văn học của Sấm Truyền Ca, tôi nghĩ cần phải đọc thật kỹ tác phẩm, đối chiếu với nguyên bản Thánh Kinh Cựu Ước và tìm hiểu, suy gẩm kỹ lưỡng mới có thể có sự đánh giá tương đối xác đáng và đầy đủ được. Cần có những công trình nghiên cứu nghiêm túc chu đáo đối với tác phẩm này, nhất là bởi vì từ trước đến nay, ngoài một vài người trong giới trí thức của cộng đồng Thiên Chúa giáo Việt Nam, tác phẩm chưa được đông đảo bạn đọc, kể cả các nhà nghiên cứu văn học và văn hóa, biết đến một cách rộng rãi. Hàng trăm năm nay bị chìm trong quên lãng cho nên nó đã bị hủy hoại một phần lớn (trong 5 tập chỉ còn giữ lại được hơn 1 tập mà thôi!). Thật đáng tiếc. Tuy vậy phần còn giữ lại được cũng là phần quan trọng nhất và cũng có thể cho thấy được phần nào giá trị và công phu của toàn bộ 5 tập. Tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần hai bản sao của tác phẩm, đối chiếu đôi chút với bản Thánh Kinh bằng tiếng Pháp (La Sainte Bible, Louis Segon dịch, Les Socíetés Bibliques,xuất bản lần đầu năm 1910), so sánh từng đoạn, từng câu, từng chi tiết sự kiện và ýtưởng của nguyên bản (dịch qua tiếng Pháp) với bản phỏng dịch, phóng tác của Thầy Cả Lữ Y Đoan thì cảm tưởng nổi bật nhất của tôi là sự quí mến và niềm cảm phục đối với tác giả Việt Nam (hay tập thể tác giả bao gồm người sáng tác lẫn những người nhuận sắc). Kèm theo đó là niềm vui sướng và sự tự hào về truyền thống văn học quốc âm cổ điển Việt Nam được thể hiện qua tác phẩm này. Theo nhận xét sơ bộ của tôi thì giá trị, công phu của bộ sách về phương diện văn chương có thể tóm tắt ở mấy điểm sau: 

1. Tác giả “Sấm Truyền Ca” đã lĩnh hội rất thấu đáo nội dung, tinh thần của bản Thánh Kinh Cựu Ước, một điều không phải dễ dàng đối với một người Việt Nam trong thế kỷ XVII bởi vì Kinh Thánh là một tác phẩm của một nền văn hóa và tư tưởng khá cách xa với văn hóa và tư tưởng phương Đông và Việt Nam lại được viết bằng ngôn ngữ và văn phong chắc hẳn cũng xa lạ như vậy. Nhưng từng ý, từng câu, từng đonạ, từng tình tiết, chi tiết của các câu chuyện truyền thuyết trong Kinh Thánh đều được tác giả hiểu biết đến nơi đến chốn, từ đó đã thâu tóm lấy tinh thần và nội dung cơ bản của nguyên tác để truyền đạt lại bằng tư duy và ngôn ngữ Việt Nam thời đó hết sức gọn gàng, cô đúc, có biến hóa và sáng tạo. Điều này chứng tỏ tác giả không những am hiểu nguyên tác mà còn tinh tường các phương tiện ngôn ngữ, văn chương và nguồn thi liệu, văn liệu mình sử dụng để truyền đạt lại tinh thần nguyên tác cho những người cùng chung bối cảnh văn hóa của mình hiểu được nguồn thông tin tương đối mới mẻ và xa lạ này. Phong cách văn chương của Sấm Truyền Ca gợi nhớ phong cách chung của nghệ thuật truyện nôm Việt Nam đương thời. Các truyện nôm Việt Nam thường phóng tác các tiểu thuyết Trung Quốc vốn viết bằng văn xuôi khá rườm rà, phức tạp. Truyện nôm thường tóm tắt rất gọn gàng, khéo léo nội dung của nguyên tác, lược bỏ những gì trùng lặp, rườm rà, thêm vào những gì xét ra cần thiết làm cho câu chuyện sâu sắc, sinh động, nhiều ý nghĩa. Truyện Kiều của Nguyễn Du là mẫu mực hoàn hảo nhất của nghệ thuẩt truyện nôm, là đỉnh cao của nghệ thuật đó của văn học Việt Nam. “Sấm Truyền Ca” cũng thực hiện phong cách nghệ thuật trên đây, điều đặt biệt là đối với một tác phẩm không phải của văn học Trung Quốc mà của văn hóa Tây phương là Thánh Kinh Thiên Chúa giáo. Đọc Sấm Truyền Ca, có thể thấy rất nhiều chỗ tác giả đã tóm tắt, lượt thuật nội dung rườm rà, trùng lập, nhiêu khê của nguyên tác một cách khá sinh động, gòn gàng, sắc cạnh. Đó là điểm thú vị khi đọc tác phẩm cổ điển này. 

2. Không những tóm tắt gọn gàng, truyền đạt sinh động mà tác giả còn thêm vào tác phẩm rất nhiều tình ý sáng tạo, xuất phát từ thực tế cuộc sống đất nước, từ truyền thống văn hóa của dân tộc và của phương Đông. Có thể nói tác giả đã làm công việc “Việt Nam hóa”, “Đông phương hóa” Kinh Thánh, nhiều chỗ rất mạnh dạn, táo bạo và sáng tạo. Có lẽ chính vì vậy mà tác phẩm này bị các thừa sai Âu châu cho là đã đi lệch hay phản lại tinh thần cơ bản của Kinh Thánh theo cách hiểu chính thống của Giáo Hội và các nhà Thần học thời bấy giờ. Điều này chứng tỏ rằng trên bình diện văn hóa, vị linh mục Thiên Chúa giáo Việt Nam Lữ Y Đoan lúc bấy giờ đã có tầm nghĩ, tầm nhìn và tầm trí tuệ cao hơn các vị bề trên ngoại quốc của ông, bởi vì ông đã khp trong bản thân minh sự hòa hợp của hai nền văn hóa trên một tinh thần giao lưu bình đẳng và sáng tạo, ít thiên kiến và thiên vị. Có thể thấy tinh thần tự chủ sáng tạo này khi tác giả dịch nhan đề của phần Genesia là Tạo Đoan Kinh và phần Exodus là Lập Quốc Kinh. Cách dịch đó cũng như cách dịch Kinh Thánh Cựu Ước Testamenti Veteris là Sấm Truyền Ca, cách Việt hóa các tên người, tên đất trong nguyên tác v.v... quả là một lối dịch rất có văn hóa, rất sáng tạo, chỉ có thể có ở một giáo sĩ Việt Nam vào thời tinh thần và tư thế độc lập, tự chủ của người Việt Nam còn rất đàng hoàng, quan hệ của các giáo sĩ phương Tây với các giáo sĩ Việt Nam còn khá bình đẳng, chưa có quan hệ bất bình đẳng như vào thời thực dân, thuộc địa về sau. Ngay việc trước khi đi vào lần lượt truyền đạt nội dung các điểm chủ chốt của Thánh Kinh, tác giả thêm vào phần mở đầu không có trong nguyên tác, điều đó cũng chứng tỏ tinh thần và phong cách sáng tạo, tự chủ, độc đáo của tác giả. Ví như mở đầu phần Genesia, tác giả viết: 

Ngày ngày trước mắt chúng sinh 

Chữ đời chữ đạo phân minh đôi đường 

Xưa nay trong kiếp vô thường 

Thấy điều vân cẩu mà thương nhơn phàm 

Loài người từ thuở A-đam 

Đua nhau xây dựng mộng ham làm trời

Một pho Kinh Thánh ra đời 

  Chứng minh vạn đại những lời do Thiên... 

Những câu thơ như vậy, tưởng chừng như xuất hiện dưới ngòi bút của một nhà nhân văn chủ nghĩa hơn là một vị linh mục tín đồ Thiên Chúa giáo chính thống. Thiên Exodus được dịch là Lập Quốc Kinh và mở đầu bằng đoạn thơ sau: 

Xưa nay diễn biến trò đời 

Đồ vương tranh bá bao người máu xương 

Một dân dựng nước khác thường 

Bàn tay Thượng đế đo lường trước sau 

Giếp Tô quyền lực Phan trào 

Muôn binh hùng dũng, đất giàu dân đông 

Yết Linh đứng dậy tay không 

Phá xiềng nô lệ về vùng Trà Nam... 

Truyền thuyết về lịch sử cuộc xuất Ai Cập (Giếp Tô) của dân tộc Israel (Yết Linh) 40 năm di cư qua sa mạc về miền đất hứa Canaan (Trà Nam) được quan niệm như một sự đứng dậy tay không phá xiềng nô lệ trong đoạn thơ trên đây thì quả thực chứa đựng một cái nhìn sáng tạo, khá độc đáo đối với các sự kiện trong nội dung Kinh Thánh Cựu Ước, một quan niệm khá mới mẻ cả đối với ngày nay, tất nhiên là khá bất ngờ đối với các giáo sĩ thừa sai Tây phương thời đó còn xa lạ hay còn mang thành kiến khinh thị đối với truyền thống tinh thần Việt Nam và văn hóa phương Đông. 

Trên đây, tôi chỉ đề xuất và thể nghiệm và cảm nghĩ còn thô thiển khi đọc bản Sấm Truyền Ca lần đầu tiên xuất hiện dướt mặt tôi như một hiện tượng văn học mới mẽ và thú vị, đầy sức khêu gợi. 

Mong rằng tác phẩm này sớm được ra mắt đông đảo các nhà nghiên cứu và các bạn đọc để khêu gợi nhiều suy nghĩ và cảm nhận phong phú hơn nữa về truyền thống văn hóa Việt Nam trong sự giao lưu rộng rãi với các nên văn hóa thế giới phương Đông và phương Tây, trong đó có vai trò của các học giả, văn nhân, nhà trí thức Thiên Chúa Giáo Việt Nam qua các thế kỷ đã góp phần khẳng định xu thế dân tộc độc lập, tự chủ từ buổi đầu của quá trình văn hóa Việt Nam tiếp thu các giá trị của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo trong các thời đại trước đó, để bồi bổ cho bản sắc độc đáo, bản lĩnh kiên cường của văn hóa Việt Nam được hình thành và phát triển từ ngàn xưa cho đến hôm nay.

Tác giả Trần Thanh Đạm
   dunglac@gmail.com