Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Lê Đình Bảng
Bài Viết Của
Lê Đình Bảng
Kinh Sách Nguyện Giỗ Cầu Hồn - Một Di Sản Đức Tin Văn Hóa
Giới thiệu sách mới: Ở Thượng Nguồn Thi Ca Công Giáo Việt Nam
Nhà thơ Xuân Ly Băng trong dòng chảy văn học Công giáo Việt Nam
Về thượng nguồn thi ca Công Giáo Việt Nam (BTDL 2)
Nhã Ca
XUÂN LY BĂNG - DẶM DÀI NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG THƠ

Bạt của Lê Đình Bảng

1 Hình như, đã lâu lắm rồi thì phải, khoảng những thập niên 1950 gì đó. Còn nhớ, có một bút hiệu nghe lảnh lót như tiếng của của một loài chim lạ - Xuân Ly Băng - xuất hiện thường xuyên cùng với những bài thơ đăng trên các thể loại báo chí nhà đạo. Mà ai còn lạ gì bấy giờ, mọi sinh hoạt trong làng văn làng báo chỉ tập trung ở Sài Gòn. Báo đời làm ăn tấp nập đông ken ở phố Phạm Ngũ Lão (Từ chợ Thái Bình xuôi về trung tâm Sài Gòn) – Võ Tánh(Nay là Nguyễn Trãi) và Gia Long (Nay là Lý Tự Trọng). Còn báo đạo thì quẩn quanh bên các xứ họ - nhà thờ có nhiều lễ lạc như Vương Cung Thánh Đường, Tân Định, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Vườn Xoài. Báo chí văn nghệ nhà đạo hồi ấy thịnh mãn lắm. Hằng mấy chục tờ đủ loại, đủ kích cỡ, đủ mọi nguồn địa phương, đoàn thể, Học Viện, Chủng Viện, Nhà Dòng, Tu hội. Đúng là trăm hoa đua nở. thấy cái bút hiệu ngồ ngộ hay hay, tôi đâm ra tò mò, thích thú. Rồi tự nhiên có thiện cảm với thơ và người ấy. Chả cần tìm hiểu là nam hay nữ, già hay trẻ, ở gần hay xa. miễn là thơ và Xuân Ly Băng thế thôi. Ấy, cái con đường của thi ca đến với lòng người muôn đời vẫn thế. Không ai lý giải được, bởi nó xuất phát từ những tín hiệu của trái tim và dừng lại ở trái tim. Có một điều bất công là xưa nay báo chí rất thờ ơ, lạnh nhạt với thi ca, coi nó như là món “phụ gia” nhằm lấp đầy khoảng trống mà thôi. Càng thấy rõ thái độ ấy, khi đến với báo chí nhà đạo. Người làm thơ, đặc biệt là Thơ Tôn giáo, Thơ Đạo – vì thế “Ở Việt Nam trong lịch sử Giáo Hội cũng đã có nhiều thi sĩ, nhưng ít người được nhắc đến, hoặc vì các vị muốn ẩn danh, giữ trầm lặng riêng mình với Chúa…” (Trích lời tựa của lm Bữu Dưỡng, Hương Kinh 1957)

 

Trong khu rừng báo chí rậm rịt với hàng loạt những bài thần học, triết học tràng giang đại hải, có được một chỗ cho thơ đã khó. Đàng này, chỗ ấy lại chỉ thấy đăng thơ của một người, ắt hẳn Xuân Ly Băng  phải được coi là một “ hiện tượng” của thơ đạo? Thú thật, tôi đã đói khát đến hoa cả mắt từ cái ngày biết đọc, biết yêu Cựu Ước, Tân ước. Và ở trong kho tàng của nguồn đạo, tôi cũng đã nghe, đã thuộc rất sớm những kinh truyện, vè vãn, ca ngâm như: Sấm Truyền Ca, Dâng Hoa, Phép Ngắm Rosa, Vãn Giáng Sanh, Truyện thơ thánh Alêxù, ca vè cụ Sáu v.v… Ký ức về mảng Kinh Sách Lễ Nhạc đã thành máu thtị, thành hơi. thành sức nuôi nấng và gìn giữ linh hồn tôi, cả trong tác động nguồn cảm hứng lẫn trong cuộc sống đời thường. Thế nhưng, tôi vẫn ước ao – dù có hơi cường điệu hoặc lãng mạn một tí – Kinh phải có chất văn học, Kinh phải là thơ để chắp cánh cho lời cầu nguyện dễ dàng thanh thoát bay lên. Như trầm hương trước Thiên Nhan. Cuối cùng, tôi đã gặp được thơ Hàn Mặc Tử, người thi sĩ tông đồ của đạo quân thánh giá. Đã có một độ, thay vì đọc kinh, tôi ngâm nga thơ Tử để thưa chuyện cùng Chúa, cùng Đức Mẹ về những hạnh phúc và đau đớn của đời. Những mong sao, Sau Tử, dòng sông đầu nguồn ấy chảy mãi về xuôi hoặc rẽ ra nhiều nhánh khúc khác vồn vã hơn, dâng triều hơn để tưới tắm nhuần nhã cho vùng đất văn học nhà đạo vốn đói nghèo, trong đó có linh hồn khô khát nguội lạnh của tôi. Nhưng rồi, Hàn Mặc Tử , tia nắng đầu ngày kia ra đi rất trẻ, rất vội vàng, năm 1940. Cứ coi như ông mới làm xong công việc đầu mùa là vỡ đất và gieo hạt. Làng thơ Công giáo bày ra cảnh chợ chiều buồn hiu làm sao! Hèn chi, người đời cứ viện lẽ này lẽ nọ để trách đạo ta giàu có về phép luật, kinh kệ, về nghi thức mà rất nghèo nàn về quan niệm và thực tế sáng tác văn hoá nghệ thuật, âu cũng phải lẽ. Chúng ta bây giờ thua xa tổ tiên, cha ông xưa về đầu tư, về hội nhập văn hoá. Không lạ gì, Đức Kitô vẫn cô đơn ở Châu Á mênh mông này

 

            Tôi biết những năm tháng dài lặng lẽ ấy, do về sau được tiếp cận với sách báo hoặc những tên tuổi lớn trong cõi học thuật văn chương nhà đạo (Cha Thanh Lãng, ông Võ Long Tê, ông Phạm Đình Khiêm, cha Đỗ Quang Chính, cha Vũ Đình Trác, ông Phạm Việt Tuyền v.v…), cũng đã có một vài nỗ lực tiếp nối, như Lm Nguyễn Văn Thích (bút hiệu Sáng Đình), Lm Bửu Dưỡng, nhà thơ Mai Lâm, nhà thơ Nguyễn Duy Diễn, nhà thơ Hồ Dzếnh…Nhưng, thời thế đao binh đã gây nên những biến chuyển, đổi đời, cắt chia, quên lãng, chôn vùi. Mãi đến những năm yên ả thanh bình 1955-1960, ở mảnh đất phương Nam trù mật này, báo chí thơ ca nhà đạo mới bắt đầu rộ lên một mùa gặt mới. Xuân Ly Băng đã có mặt đúng vào thời điểm ấy. Như một thế hệ thứ hai. Công khai hơn, rõ nét hơn, vững vàng hơn. Thành một dòng chảy, từ nguồn mạch Thánh Kinh, qua đời sống ngôn ngữ thi ca, để rồi hoà nhập vào văn học Việt Nam. Với THƠ KINH, Cứu Thế Tùng Thư Sài Gòn xuất bản 1956, 38 bài; HƯƠNG KINH, Tác giả xuất bản, Sài Gòn 1958, 27 bài, TRẦM TƯ, NXB Hồng Lam, Sài Gòn 1959, 26 bài và NỖI NIỀM

gồm 28 bài do Cứu Thế Tùng Thư Sài Gòn xuất bản 1961 -  tôi nghĩ-ông đã độc chiếm thi đàn Công giáo vậy. nếu phải ví von thì coi thơ  Xuân Ly Băng như một ngọn gió trong lành, thánh thiện, vô nhiễm từ khu vườn xuân của Thánh Kinh thổi tới, có mang theo cả cái mùi thơm kỳ diệu của loài gỗ quý “Hương nam trên núi Li Băng”

2. Vốn có tí máu thơ thẩn trong người từ tấm bé, tôi không bỏ sót một bài thơ hay nào, dù đạo hay đời, đặc biệt là thơ của Hàn Mặc Tử và Xuân Ly Băng. Của đáng tội, kinh kệ, lễ lạc đã quá nhiều rồi. Phải tìm ra con đường nào tươi mát, nhạy cảm hơn chứ. Cho nên, hãy vớ được bài thơ nào của Hàn mặc Tử và Xuân Ly Băng là tôi đọc lấy đọc để. Cố thuộc nằm lòng và lấy làm cái vốn suy nghĩ, cảm hứng của mình. Tuổi thư sinh nghèo kiết xác, biết lấy đâu ra tiền mua sách báo? Mà thơ thì vốn là con nhà sang trọng, làm sao tôi dám rớ tới. Còn nhớ, mấy năm ở trường đại học Văn Khoa Sài Gòn, tôi hay dành ra những buổi sáng Chủ nhật- sau khi dự lễ ở đền Chúa Cứu Thế -lẻn vào nhà sách Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (số 38 Kỳ Đồng) để coi cọp Cựu Ước, Tân Ước, Thánh Vịnh hoặc những tập thơ của Hàn Mặc Tử, Mai Lâm, Phạm Đình Tâm và Xuân Ly Băng Những ngôi sao hiếm hoi trên bầu trời. Ôi cái thời Nghiêu Thuấn hay Thịnh Đường, Hồng Đức nhỉ?Mừng khôn tả vì đất nước tôi mới mở miệng hát khúc thanh bình ca, trong bầu không khí “ chiêu hiền đãi sĩ”. Thơ được trân trọng, cưng chiều, cứ như là “trải chiếu hoa cho ngồi”! Tôi vẫn còn nhớ như in cái khổ dáng chững chạc, quí tộc mà nền nã của Thơ Kinh, Hương Kinh, Trầm Tư, Nỗi Niềm của Xuân Ly Băng Đang sánh vai với Thơ Say và Tâm Sự Kẻ Sang Tần của Vũ Hoàng Chương, với Mê hồn Ca và Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng cùng với những tập thơ tiền chiến được tái bản của Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Huy Cận…sao thi phẩm nào cũng đẹp cả. Chúng được in ấn bằng giấy bristol, bìa couché 3, 4 màu, có cả gấm hoa và phụ bản của những danh hoạ Phạm Tăng, Tạ Tỵ, Nguyễn Gia trí, Duy liêm… Tuy nhiên, đọc gì thì đọc, trái tim tôi vẫn dành riêng ra một ngăn rộng rãi cho thơ đạo. Lâu lâu, trên giảng đường, thầy LM Thích hoặc thầy Bửu Dưỡng hứng chí đọc cho tôi nghe loáng thoáng vài bài thơ cảm khái của các ngài về Chúa, về con người, rồi thôi. Bởi vậy, thơ đạo của Hàn Mặc Tử và Xuân Ly Băng, đối với tôi vẫn là quý hiếm lắm, phải cất dấu trong thiên đường ký ức của mình. Thậm chí, đến nay, sau 40 năm, tôi vẫn có thể đọc lên vanh cách một số câu, đoạn đã thuộc nằm lòng:

            Người cha ấy chiều chiều trước ngõ

            Ngóng trông con lòng se sắt nhớ thương

Hoặc:

            Trăng ân tình đẹp miền ca đệ nhất

            Trăng Khải Huyền dát ngọc sáng trời hoa

            Hôm nay mùa trăng chín rụng bao la

            Đêm cực thánh xin quỳ nghe sự lạ…

            Xin cảm ơn Hàn mặc Tử, Mai lâm, Xuân Ly Băng, những người đã  mở cửa cho tôi vào nước thiên đàng. Bằng không thì bây giờ chẳng hiểu ra làm sao? Từ đó, tôi tập tễnh làm thơ, gởi thơ đăng báo. Cũng chỉ học đòi bắt chước lấy một phần của Xuân Ly Băng, thần tượng của tôi bấy giờ đấy. Chính cái bút hiệu thuở đầu đời của tôi - Mạc la Đình – ký dưới các bài thơ cũng là “à la mode” cho hợp với Hàn Mặc Tử và Xuân Ly Băng thôi. Sự góp tiếng rôm rả trên các tờ Thẳng Tiến, Đức Mẹ La Vang, Trái Tim Đức Mẹ, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp thuở ấy, có lẽ đã khiến chúng tôi để ý đến nhau, mến nhau mà vẫn “ Văn kỳ văn, bất kiến kỳ hình”. Mãi cho tới những năm 1970 trở đi, trên nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, thơ mới có đất dụng võ. Xuân Ly Băng giữ vai trò chủ soái. Đình Quang, một số bạn thơ và tôi hình thành một “Vườn thơ Công Giáo “ khá quy mô, đến nỗi thu hút được một số nhà thơ ngoại đạo tham gia. Một thời để nhớ để thương.

3. Bẵng đi một thời gian khá lâu lắc, nguội tàn từ 1975…

            Báo chí bên đạo còn mỗi một tờ Công Giáo và Dân Tộc mỏng manh, không thấy có chỗ gieo trồng, tụ hội, ương ấp cho thơ. Tôi đành phải bắt chước ông Paul Claudel vào nhà thờ, vào tu viện để lâu lâu được nghe hát lễ hoặc nghe trình diễn thánh ca. Những mong qua đó, gặp lại Thánh Vịnh, Cựu Ước, Diễm tình ca và thơ của Hàn Mặc Tử và Xuân Ly Băng chăng? Nhiều lúc buồn vẩn vơ, tự hỏi chứ Xuân Ly Băng bây giờ ở đâu, có còn làm thơ nữa không? Hỏi là hỏi thế thôi. Ai mà chả biết những kẻ nòi tình với nàng thơ dễ gì mà nửa đường đứt gánh, dễ gì chưa tay với nghiệp chứng, cho dù hệ lụy và đa đoan. Tôi biết họ chẳng ngồi yên để làm thinh đâu. Có chăng, làm thinh để tích lũy, để lắng đọng, để mài gươm luyện kiếm đấy thôi. Họ vẫn rong duỗi đó đây. Họ vẫn nghĩ ngợi viết lách. Có điều là, viết để cho mình được giải toả, viết cho tri âm tri kỷ cùng chia sẻ tâm đắc cái rung động lúc cao hứng, lúc xuất thần mà chỉ có họ là người diễm phúc thừa hưởng trọn vẹn nhất. Cũng chẳng riêng gì nhà thơ Xuân Ly Băng của chúng ta. Còn nhiều, nhiều lắm. Cái khúc quanh lịch sử 1975 mở ra vô khối những ngả đường: Thênh thang và chật chội, Thẳng băng và uốn khúc, lộ diện và đào ẩn, Thỏa hiệp và cầm chùng…Chính bản thân tôi cũng phải kinh qua đến hơn 10 năm treo gươm rửa kiếm, diện bích tùy thời. Mười năm kiếm sống bằng con đường khổ sai lao động, làm cái nghề đạp xích lô bần cùng, lặn ngòi ngoi nước, hy sinh đời bố củng cố đời con. Đã có lần mệt mỏi, bệnh hoạn và túng quẫn quá đỗi, tôi đã liều mình quyên sinh…

            May mà chung quanh ta, hoa trái vẫn nở, mặt trời vẫn thức, chim muông vẫn hát líu lo. Chúng làm thơ để ca ngợi Chúa Trời, còn tôi, không lẽ ngủ mê? Phải gậy bị và khăn gói lên đường thôi, dù dưới chân đồi Horeb. Tôi thử thời vận bằng cách cầm bút trở lại làm thơ. Nhờ ơn trên, nhờ vốn sống đau khổ thực tế, tôi hiểu ra rằng vẫn còn một công chúng yêu thơ, chờ đợi một phép màu ở thơ, chưa quay lưng lại với những người làm thơ. Cũng từ hôm ấy, tôi thề hứa với Chúa chỉ làm thơ đạo chứ không làm thơ đời, thơ tình như những ngày lang thang ở sân trường đại học nữa. Không ngờ, qua những bài viết trên tờ CG và DT, tôi tìm lại được hầu hết những người thân quen cũ trong giới văn nghê sĩ Công Giáo xưa, trong đó đáng kể nhất là cuộc “tái ngộ” giữa Xuân Ly Băng và tôi. Thì ra, sau 1975, nhà thơ áo dòng ấy đã định cư cuộc đời mục vụ của mình với đoàn chiên ơ giáo xứ Thanh Xuân (Lagi-Hàm Tân-Bình Thuận) thuộc giáo phận Phan Thiết. Kỷ niệm đánh dấu cuộc tái ngộ giữa chúng tôi là tập thơ, bài trường ca 1080 câu thơ lục bát mang tên “ Bài Ca Thương Khó”, một khởi đầu cho hàng loạt sáng tác thơ dài hơi mà tôi lần lượt được gửi tặng và chia sẻ: Quê Hương và Tình Đạo, Kinh Trong Thời Gian, Tươi Dòng Sữa Mẹ, Hiến Chương Nước Trời, Huấn Lệnh Truyền Giáo, Phép Lạ Phúc Âm, Sáu Bài Sử Thi, Khúc Hát Ân Tình, Một Vùng Châu Lệ, Tình Cõi Mưa Trăng, Thơ Từ Chuỗi Ngọc, Hoa Vùng Sa Mạc, Xin Những Mảng Chiều, Dứt Lời Cầu Nguyện, Trăng Vu Lan… Có những tình cờ không sao hiểu được. Người tăng tôi món quà ấy không phải là tác giả mà lại là nhà nghiên cứu sử học công giáo tên tuổi Phạm Đình khiêm, đúng hôm chúng tôi hội ngộ vào dịp giỗ Hàn Mặc Tử (11-11-1994), khi tôi đăng bài thơ “Có ai về thôn Vỹ” trên tờ CG và DT. Đọc “ Bài Ca Thương Khó”, tôi thấy cái thế giới chất liệu, ngôn ngữ thi ca của Xuân Ly Băng lúc này chững chạc, cô đọng mà không thiếu vẻ hào hùng, bi tráng y như khi đọc “Jésus en son temp” của sử gia thiên tài Daniel Rops  thuở nào:

            Tin Mừng kể lại nôm na

            Làm thành một khúc gọi là Ca Thương

            Gửi người tri kỷ bốn phương

            Duyên thơ một mối đoạn trường nghìn câu

………….

Não lòng này khúc ca ngâm

Chan hoà máu lệ mấy vần song song

 

            Cũng qua cuộc hạnh ngộ không hẹn trước này, tôi mới vỡ lẽ ra là vào những ngày tháng dầu sôi lửa bỏng nhất của thời cuộc -  tháng 2, tháng 3, tháng 4.1975 -  Xuân Ly Băng lại đã đi tiếp dặm dài những chặng đường thơ của mình bằng một thi phẩm mang tên rất tình tự đạo đời “ Quê Hương và Tình Đạo”. Do biến động và chuyển đổi dồn dập quá chăng, nên tập thơ ít được anh em trong làng thơ hay biết. Thật tiếc. Về sau, được đọc, nghiền ngẫm, tôi càng xác tín ở Xuân Ly Băng hơn. Gừng càng già càng cay. Chẳng thế mà Quê Hương và Tình Đạo được những hai nhà thơ Bàng Bá Lân và Trụ Vũ nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa để viết “Tựa” và “Bạt”. Trăm sông đời - Thiền tông và ngộ đạo – đã chảy vào biển lớn là thế. Về Trụ Vũ , thơ của ông đã có một thời gây được tiếng vang. Riêng đối với Bàng Bá Lân, tôi có một kỷ niệm khó quên. Không rõ lúc ấy là ngày tháng năm nào, hình như sau 30.04.1975 ít năm thì phải. Cha Giám Đốc Đại Chủng Viện Thánh Giuse (Sài Gòn) Dom. Trần Thái Hiệp cùng mấy đồng nghiệp vong niên với tôi, như anh Long Giang Tử, Chu Đăng Sơn và tôi có mặt trong lễ tang trọng thể và sốt sắng của ông. Chắc hẳn, qua “Quê Hương “ông đã gặp được “Tình Đạo” . “Bàng Bá Lân và Xuân Ly Băng “ cùng một giao điểm. Cứ thử nhớ lại và đọc những đoạn thơ sau đây để thấy cái chân chất đồng ruộng miệt vườn Nam Bộ của Bàng Bá Lân và cái ray rứt không nguôi Hồng Lam của Xuân Ly Băng qua lời kể lục bát nồng nàn, đằm thắm:

            Tôi yêu nước Việt miền Nam

            Yêu con sông rộng, yêu hàng dừa cao

            Yêu xe thổ mộ xôn xao

            Trên đường khúc khuỷu đi vào làng quê

             (Bàng Bá Lân)

 

            Xa quê trong một chiều vàng

            Bờ tre, bến nước, xóm làng đìu hiu

            Nghĩ thôi một sớm một chiều

            Con đò tìm lại bến yêu mà về

            Ngờ đâu biền biệt sơn khê

            Nhìn mây phươngBắc mà tê tái lòng

            (Xuân Ly Băng)

 

            Tôi nghĩ, với 63 trang và 42 bài, đây rõ ràng là tập thơ đẫy đà và đắc ý nhất của Xuân Ly Băng vậy.

            Tháng 8-1996, tôi được đi theo cha Anrê Đỗ Xuân Quế và cha Giuse Xuân Thảo (nhạc sĩ) với tư cách là thành viên ban Thánh Nhạc giáo phận TPHCM ra Phan Thiết, theo lời mời của Đức Cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi. Hạnh phúc biết  bao, tôi gặp lại Xuân Ly Băng trên chiếc ghế Tổng đại diện của giáo phận Phan Thiết, hạt trưởng Bình Tuy, Chánh xứ Thanh Xuân. Cũng vì công việc chung, chúng tôi trao đổi với nhau chẳng được là bao nhiêu. Cho đến năm 1996, nghe đâu có lễ chúc thọ 70 tuổi của Xuân Ly Băng to phe, trọng thể lắm. Rồi năm 1998, Xuân Ly Băng được tước phong “ Giám Chức Danh Dự của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II “, Cánh thân hữu và văn nghệ sĩ, trong đó có người nổi tiếng là anh em với tôi, như Hồng Vân, Kim Lệ, Hương Nam. Thuý Vinh, Bảo Cường, Thạch Cầm, Đoàn Yên Linh, Cẩm Tuyết, Cát Phượng, Tùng Uyên của chương trình tiếng thơ trên đài tiếng nói Nhân Dân TPHCM báo tin và mời tôi cùng tham gia cho xôm tụ. Rất tiếc, bận bịu nhiều việc đẩu đâu, tôi đành lỡ một chuyến đi thú vị. Đến nay nghĩ lại, cứ tiếc mãi. Giá như hôm ấy, chúng tôi tụ lại để đề thơ ngâm vịnh thì đúng là một “Tao Đàn nhị thập bát tú” cho mà coi. Gần đây hơn, xin cảm ơn khoa học kỹ thuật, phương tiện mà Chúa trao ban, chúng tôi có nhiều cơ hội gần gũi trò chuyện, thăm hỏi nhau nhiều hơn – qua điện thoại – Xuân Ly Băng và tôi gặp gỡ nhau thường xuyên. Thậm chí ông còn hỏi địa chỉ và nghề ngỗng của tôi nữa. Chỉ sợ, khi “Người đến”

, cái hàng hiên bán báo lẽ mà tôi thuê mướn vừa để kiếm sống qua ngày vừa là nơi tiếp  bè bạn văn nghệ này có xứng đáng diễn ra cuộc toạ đàm về thơ chăng?

            Trên đây chỉ là đôi ba hàng ghi nhận vụn vặt -  mặc dù có dài dòng vòng vo tam quốc một tí -  về những chặng đường bèo dạt hoa trôi mà qua thơ và tình đạo, chúng tôi đã trở nên tri âm tri kỷ chí cốt với nhau. Phải rành rọt và chi li như vậy mới thấy được đời sống của thơ và người có công cưu mang, sinh ra làm thơ. Không phải một sớm một chiều hoặc bị tác động bởi một nguyên do vô thưởng vô phạt nào đó mà dứt bỏ được cái nghiệp đã vận vào người là nàng thơ.

            4. Mấy tháng nay, đặc biệt đặc biệt những ngày Sài gòn rơi rớt cơn bão Babs số 3(tháng 10.98)- Tôi chăm chú đọc lại toàn bộ thơ Xuân Ly Băng xuyên suốt 72 năm tuổi đời, 42 năm mục vụ và 40 năm làm thơ. Bao nhiêu sự kiện, biến cố đã qua đi. Hỏi còn lại mấy ai trong số những nhân vật có tiếng tăm đã từng trân trọng “giới thiệu” hoặc “đề tựa” cho Xuân Ly Băng? Lm. Cao Văn Luận (Viện trưởng viện Đại Học Huế ),Lm. Bữu Dưỡng (Giáo Sư Hán triết Học Đông Phương Đại Học Văn Khoa Sài Gòn), Lm. Trần Văn Hiến Minh ( Giám đốc Đại Chủng Viện Thánh Thomas -  Giảng viện Đại Học Văn khoa Sài Gòn),

Ông Phạm Việt Tuyền (Giám đốc -  Chủ bút nhật báo Cơ Sở Xuất Bản Tự Do -  Giảng viên Đại Học Văn Khoa) Ông Đinh Hùng (Nhà Thơ - Chủ biên Chương Trình Tiếng Thơ Tao Đàn trên Đài phát thanh Sài Gòn), Bàng Bá Lân (Nhà Thơ - Nhà Giáo), Trụ Vũ (Nhà Văn – Nhà Thơ) . lại còn Đức Cha P.M Phạm Ngọc Chi (Giám Mục ) nữa. Chỉ tính riêng 4 tập thơ trình làng từ 1956 đến 1961 đã 104 bài. Nếu khởi hành từ trường ca “ Bài Ca Thương Khó” một tác phẩm lặng lẽ xuất hiện từ năm 1968 để đi tới tận cùng của những “ Kinh Trong Thời Gian, 1975”. “Tươi Dòng Sữa Mẹ, 1985”, và những “ Tình Cõi Mưa Trăng, 1991”, “Hoa Mùa Gió Cát, 1993”, “Vang Vọng Từ Xa, 1995”…thì phải vượt qua “14 chặng đường Thánh Giá”. Nghĩa là trên 20 tập và chừng 1000 bài thơ. Thời gian ấy, số lượng ấy, đề tài ấy, và nguồn cảm hứng ấy lại là một “ hiện tượng” xưa nay hiếm. Sung sức, đều tay, dài hơi mà vẫn là Xuân Ly Băng , thi sĩ thuở nào, không lẫn lộn được. Một nhà thơ mang áo dòng đời tu… Nếu Hàn Mặc Tử theo đánh giá của Hoài Thanh Hoài Chân trong “Thi Nhân Việt Nam,1942” – Là người đi tiên phong trong việc đưa nguồn cảm hứng Kytô Giáo vào thi ca VN trong phong trào thơ mới (1930-1945) thì Xuân Ly Băng trong con mắt tôi, đích thực xứng đáng là hơn ai hết, là người đã có công chăm sóc, tưới tắm, bồi dưỡng cho thửa mạ xanh non ấy nên cây cành ra hoa trái để có một mùa gặt hân hoan. Tôi rất đồng tình với cái nhìn sâu và xa của nhà thơ Đinh Hùng:

“ Tôi vẫn nghĩ rằng những tín đồ thi sĩ như Xuân Ly Băng chính là những sứ giả giúp cho chúng ta tìm thấy niềm tin, cũng như người Thái cỗ giữa đêm huyền bí sơ khai, đã tìm thấy lửa.. Vũ trụ thơ của Xuân Ly Băng tuy rất gần với chúng ta vì lúc nào cũng toả ngát một tình thương cao cả sẵn sàng bao trùm lên lên cuộc sống thực tại. Nhưng vũ trụ thơ đó còn bàng bạc hiện lên cái óng ánh siêu hình dễ dàng đắm chìm linh hồn người vào không khí nguyện cầu tín mộ. Ngôn ngữ thi ca của Xuân Ly Băng, trước hết, là thứ ngôn ngữ tâm thành và trung hậu của một tín đồ…”(Đinh Hùng đề tựa “ Nỗi Niềm”, 1961). Tuy nhiên, đối với tôi, Xuân Ly Băng còn hơn thế nữa, nghĩa là hơn một tín đồ. Nghĩa là: Xuân Ly Băng khác nhà đạo sĩ phương Đông được mặc khải, được thị kiến nhãn tiền mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người. Ông ôm đờn Cithara mà ca hát trước hòm bia. Ông chủ xướng và cử hành một giờ kinh phụng vụ, chứ không dừng lại ở hình thức của một cộng đoàn thụ động. Nói một cách khác, thơ Xuân Ly Băng từ trong máu thịt mà đi ra, từ trong nguồn đạo mà xuất phát. Là thơ, là hương, mà cũng là kinh. Chứ chẳng phải cái mốt “thời thượng” vay mượn một vài ý tưởng, một vài hình ảnh, một vài nghôn ngữ nhà đạo để ngụy trang, che đậy, ẩn náu. Biên giới của thơ đạo thật và giả ở chỗ ấy. Tôi rất thích đọc lại lời tự thuật sau đây của ông khi ông tỏ bầy:

            Thế giới của tôi: đây miền trầm lặng

            Nơi im lìm. Thanh vắng với cô liêu

            ………

            Thế giới của tôi: ý nhạc tiêu điều

            Thế giới của tôi: bầu trời xanh ngắt

            Cao muôn cao và rộng đến vô biên

            ………

            thế giới của tôi là một cung đàn

            Huyền diệu quá như nhiệm mầu vạn thuở

            (Thế giới của tôi -  Trầm Tư tr.   )

            Chẳng biết khi tôi đang viết những dòng chữ này để giới thiệu một công trình tổng hợp mang tên “ Tuyển Tập Thơ Xuân Ly băng” thì con người ấy và dòng chảy điệp điệp ấy đã muốn nghỉ ngơi thư nhàn chưa?Chắc là chưa đâu. Bởi thế cứ coi đây như một chặng đường nhìn lại 42 năm qua. Tôi hiểu, ở cái tuổi ngoài “thất thập cổ lai hy”, hình như ai cũng muốn “giối già “ , muốn để lại điều gì bàn giao cho đời sau. Ông bà cha mẹ thường viết chúc thư dặn dó con cháu. Nhà làm chính trị - kinh tế - xã hội thì muốn lưu danh cho hậu thế, đi vào lâu đài quá khứ bằng cửa lớn. Còn người làm văn hoá nghệ thuậtlại muốn dâng tặng đời cái đẹp. Tô Hoài viết “Cát Bụi Chân Ai”; Chế Lan Viên dự báo với chúng ta những tiên tri qua các tập “Di Cảo” ; Trinh Công Sơn hẹn hò ta bằng “Dấu Chân Không Năm Tháng” … Xuân Ly Băng lẽ nào đứng bên ngoài quy luật thường tình của văn nghệ sĩ ấy? Là một Đức Ông, một linh mục Tổng đại diện, một hạt trưởng, một chính xứ và một nhà thơ. Ngần ấy chức vụ, quyền bính, nhiệm vụ, năng lực đè nặng lên trí óc, tâm hồn và cả cái hình hài thân xác về chiều của ông. Vậy mà vẫn viết, viết đều, viết hay, thật đáng cho chúng ta tâm phục khẩu phục. Tự nhiên tôi nhớ tới cha Léopold -  Michel cadíere (1869-1955), vừa là hạt trưởng Di Loan, Vừa say mê nghiên cứu văn hoá Việt Nam, đến nỗi, có lúc ông phải thốt nên những lời cay đắng về cái thế giằng co, vật lộn giữa trách nhiệm của người mục tử và nỗi đam mê của công việc nghiên cứu, viết lách. Hiểu như thế, tức là cảm thông đến tận cùng cửa nỗi niềm, cái cõi trầm tư bề bộn của Xuân Ly Băng trước hai nguồn lực “Quê Hương” và “Tình Đạo”. Dĩ nhiên, càng không thể đòi hởi ở ông thứ ngôn ngữ, hình tượng và cảm hứng dễ dãi, ru ngủ của những ai ưa chuộng thi ca bi luỵ sầu tình. Ở Xuân Ly Băng , nếu có ít nhiều lãng mạn thì cũng chỉ một thứ lãng mạn đã được thăng hoa, đã được rửu tội, đã được hoá thân thành Thơ Kinh. Đâu đó trên khắp các trang thơ, dù tự xưng là tôi, là ta hay là con thì chủ thể luôn là một Xuân – Ly -  Băng -  rao-  giảng -  Tin -  Mừng bằng con đường văn chương nghệ thuật để ngợi ca Chúa Trời và những công trình Ngài đã hiến ban. Con đường ấy, 2000 năm trước, Đức Giêsu Kitô đã mở nẻo. Con đường ấy hơn 400 năm qua. Alexandre de Rhodes. H. Majorica, Petrus Ký cùng nhiều thế hệ tổ tiên ta tiếp bước và từ giữa thập niên 1960 đến nay, qua sáng soi của Công đồng Vantican II, trong ThầnKhí Thánh Linh thổi vào Thượng Hội Đồng Giám Mục Châu Á(1998), tôi xác tín rằng mãi mãi con đường tơ lụa văn hoá ấy vẫn rực rỡ, chói ngời. Vừa là đạo, vừa là đời, vừa đầy chặt ân sủng, vừa bồi hồi những nhịp thở của dương gian, nơi Chúa đã mặc lấy thân phận người, nơi Chúa đã chết và sống lại chỉ vì yêu thương chúng ta

            Khi “Tuyển Tập” này đến tay bạn thì Năm Thánh về Thiên Chúa Cha 1999 đã bắt đầu sắp sửa qua đi để bước vào năm Thánh 2000. Năm cuối cùng để nhìn lại và hăm hở lên đường, qua ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba. Lại trùng hợp -  do ngẫu nhiên mà tôi biết được -  dịp kỷ niệm năm thứ 40 đời linh mục của nhà thơ Xuân Ly Băng. Tình cờ hay một an bài? Tôi không dám dài lời hơn. Chỉ biết rằng đây là một gạn lọc, một tinh tuyển, một chọn lựa. Ngọc trong đá bao giờ cũng là một công hpu tìm kiếm, phải đốt lửa thử vàng. Tôi không đủ lời lẽ, suy luận và đáng giá. Xin được khiêm tốn làm công việc “giới thiệu” và “tiếp thị” thôi. Việc “tiếp thị” một công trình văn hoá nghệ thuật là thiên nam vạn nan. Nói theo Hàn Mặc Tử vườn thơ luôn rộng rinh, vườn thơ Xuân Ly Băng còn rộng rinh hơn. Nào, Mời bạn mở cửa, buớc vào cõi hoa thơm cỏ lạ, cõi thần thiêng đạo hạnh ấy mà Xuân Ly Băng  muốn gói ghém để làm quà tặng cho đời. Hãy vỗ tay reo, như chính từ Cửa Đẹp Của Nước Trời mà tác giả đã ca vang:

            Xin cho con một ngày nào tan biến

            Trở lại nguồn nơi xuất phát đời con

            (Tình yêu tuyệt đối – Thơ từ Chuỗi Ngọc, tr.) 

Mời vào gia trang Thơ Xuân Ly Băng.

Cuối tháng hoa Đức Mẹ 1999

Tác giả: Lê Đình Bảng
   dunglac@gmail.com