Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Lê Đình Bảng
Bài Viết Của
Lê Đình Bảng
Kinh Sách Nguyện Giỗ Cầu Hồn - Một Di Sản Đức Tin Văn Hóa
Giới thiệu sách mới: Ở Thượng Nguồn Thi Ca Công Giáo Việt Nam
Nhà thơ Xuân Ly Băng trong dòng chảy văn học Công giáo Việt Nam
Về thượng nguồn thi ca Công Giáo Việt Nam (BTDL 2)
Nhã Ca
THƠ ĐỌNG ĐẦU NGUỒN: LM. LỮ Y ĐOAN ((1613-1678)


- Mộtt Cảm Tưởng về tác phẩm Sấm Truyền Ca của Lm. Lữ Y Đoan  - Hãn Nguyên Nguyễn Nhã

- Vài Cảm Tưởng sơ khởi về “Sấm Truyền Ca” của Lm. Lữ Y Đoan  - Trần Thái Đỉnh

- Một Vài Cảm Nhận và Suy Nghĩ Đầu Tiên nhân đọc di bản “Sấm Truyền Ca”,  phóng tác Thánh Kinh Cựu Ước theo thể truyện thơ lục bát của Thầy Cả Lữ Y Đoan thế kỷ 17  -  Trần Thanh Đạm

- Trích Tuyển Thơ Táp Babel  của Lm. Lữ Y Đoan. 

 

SẤM TRUYỀN CA

LM. LỮ-Y-ĐOAN  (Thế kỷ 17)

"Sấm Truyền Ca thật kỳ thú, thật mạnh bạo, một ý thức Việt hóa tuyệt vời Thánh Kinh, một công trình văn chương rất Việt Nam ở thế kỷ XVII, gây kinh ngạc và xúc động cho người đọc." (Hãn Nguyên Nguyễn Nhã)   

 

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM:

Lữ Y (Louis) Đoan là một thầy giảng kỳ cựu và thông thái của Đàng Trong. Quê quán của linh mục, theo như báo Nam Kỳ Địa Phận (số ngày 10-12-1929 _ 11-9-1930, tr.51): “Linh mục về vinh quy tại Kẻ Chàm bổn quán của mình (...)”. 

Kẻ Chàm tức Dinh Chàm, tức Dinh Quảng Nam. Dinh Quảng Nam được thành lập năm Nhâm Dần, 1602, thời Nguyễn Hoàng (1558-1613) (Đại Nam nhất thống chí, Tập 2, NXB Thuận Hóa – Huế 1992, tr.333). Dinh Quảng Nam thời đầu thế kỷ XVII bao gồm nhiều địa bàn rộng lớn phạm vi 3 phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhân mà sau này thuộc địa phận tỉnh Quảng Nghĩa (Ngãi) ngư phủ Tư Nghĩa đổi làm thành Dinh Quảng Nghĩa thời vua Gia Long (ĐNNTC, sđđ, tr.402). 

Vậy có thể suy đoán “bổn quán” của cha Lữ Y Đoan ở Dinh Chàm-Quảng Nam nhưng thuộc địa phận đất Quãng Nghĩa sau này (không rõ xã, huyện nào?). 

Linh mục Lữ Y về vinh quy dâng Thánh Lễ “mở tay” tổ chức tại nhà người em trai út vào ngày lễ Sinh nhật Đức Mẹ. Đối chiếu lịch Công Giáo là ngày 8 tháng 9 năm 1676. Tham dự có tới 5000 người và nhà người em được trang hoàng rực rỡ. 

Khách tham dự lễ Tạ ơn vinh quy, chắc chắn có thừa sai Jean Courtaulin vì ngài được chỉ định phụ trách giáo dân ở vùng Quảng Nam-Quảng Ngãi trước khi Đức cha Lambert rời Đàng Trong về Xiêm. Số khách đông tới 500 người, trong đó đa số là giáo hữu và những Nho sĩ, những tay hay chữ học thức uyên bác nổi tiếng, khách dự là bạn văn chương thi phú của Ngài. 

Sau lễ truyền chức linh mục và chuyến kinh lý kết thúc, Đức cha Lambert trở về Xiêm vào tháng 5-1676 giã từ giáo phận, giã từ vĩnh viễn. Còn linh mục Lữ Y Đoan có lẽ phụ trách một họ đạo nào đó vùng Dinh Chàm Quảng Nam, hay ở Quảng Ngãi. 

Lữ Y Đoan sống đời linh mục của mình thật ngắn ngủi,chỉ hai năm sau khi thụ chức, Ngài qua đời vào tháng 6 năm 1678 vì nước độc, có lẽ tại Quảng Ngãi. 

Cha Lữ Y Đoan, một linh mục nhiệt tình, vận dụng học vấn uyên thâm sáng tác thơ ca làm công cụ truyền giáo. Sự nghiệp của Cha lưu hậu thế có nhiều tập giáo lý bằng thơ Nôm giúp giáo dân tiếp thu dễ dàng và thích thú. Đặc biệt có một không hai trong dòng thơ Nôm thế kỷ XVII là tập “Sấm Truyền Ca”, phóng tác Thánh Kinh Cựu Ước theo thể truyện lục bát. 

Tập “Sấm Truyền Ca” được Lữ Y Đoan cưu mang trong thời gian còn là thầy giảng, ra đời và phổ biến trong dân gian có lẽ vào khoảng năm 1670. 

Tập “Sấm Truyền Ca” (STC), số phận của nó thật long đong, xê dịch từ Nam-Ngãi theo giáo dân lánh nạn trong cơn bắt đạo thời chúa Nguyễn Phúc Chu vào đất Đồng Nai, lưu lạc vào vùng đồng bằng Cửu Long. 

Trong cơn bắt đạo dữ dằn thời Minh Mạng-Tự Đức, các sách đạo, ảnh hưởng dạo phải chôn giấu. Năm 1870, tại Cái Nhum (Chợ Lách, Vĩnh Long) người ta đào được một hầm vo chủ chứa nhiều ảnh tượng, sách đạo trong đó có bản STC giấy đã mục. Lúc ấy, ông Nguyễn Văn Thể chép lại và truyền tay cho người khác đọc. Người ta còn tìm thấy bản STC ở Cái Nhum, Cái Mơng thuộc Dinh Long Hồ (Bến Tre).

 

NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT

Người chép lại STC theo chữ quốc ngữ từ bản gốc chữ Nôm là ông Simong Phan Văn Cận, khởi viết từ năm 1816 và hoàn tất ngày 8-12-1820 tại Cái Nhum (Bến Tre) và đã được chuyền tay nhau chép lại, phổ biến rất hạn chế vì lẽ quá dài (...). 

“Viết ra chữ quốc ngữ”, có người cho là dịch ra chữ quốc ngữ nhờ đó nhiều người có đạo chép theo được và ham thích đọc, có người biết chữ Nho thì khen hay, cũng chép lại. 

Trong bản “dịch”, ông Simong Phan Văn Cận có lời tựa: “Truyền rằng sách Sấm Truyền Ca là của Thầy cả [10] Lữ Y Đoan đặt ra năm 1670, viết bằng chữ Nôm. 

“Thầy cả đã trở lại đạo hồi nhỏ và đã làm thẩy giảng giúp địa phận Đàng Trong, thầy rất tinh thông chữ Nho, thuộc Tứ Thư, Ngũ Kinh. Thầy làm sách này cho hạng Văn Nho đọc để biết rõ đạo Chúa Giêsu. 

“Năm 1672 [11], Đức Vít-vồ [12] Lâm Biên Mộc [13] phong chức Thầy cả Manuel Bổn [14] tại CaCham [15],  Quảng Ngãi. 

“Sách này của Thầy bị nhiều Thầy cả Tây dang [16] hồi đó không ưng vì nó lai sách đạo Nho và đạo Phật, nhưng bổn đạo rất ưa và chép lại để đọc. 

“Sau đó cơn bắt đạo nổi lên, có mấy gia thất chạy vào miền Nam ẩn tránh, cho đến năm 1810, tại Cái Mơng được biết có sách này, nhưng ít người đọc chữ Nôm. Đến năm 1816 nhiều Thầy cả dạy tôi chịu khó viết ra chữ quốc ngữ, tôi vâng lời làm như vậy. 

“Nhờ chữ quốc ngữ nên bổn đạo chép theo được và ham đọc lắm, có nhiều người biết chữ Nho lấy làm hay, họ cũng xin chép để dành đọc”. 

Tại Cái Mơng ngày 8 tháng Chạp Tây, năm 1820

 

Simong Phan Văn Cận 

Ông Simong Phan Văn Cận là người đầu tiên chuyển từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ. Từ đó có nhiều người chép tay theo bản quốc ngữ của ông. Cho đến nay người ta biết được 4 bản chép tay: 

1. Bản chép tay của Phêrô Trần Hớn Xuyên: Ông Hớn Xuyên hoàn tất bản chép ở Cái Tắc ngày 17 tháng 5 năm 1910. Bản chép Trần Hớn Xuyên nay đã thất lạc. 

2. Bản chép của Paulus Tạo: Ông Paulus Tạo là ký giả Tuần báo Nam Kỳ Địa Phận. Chép tại Sài Gòn ngày 15 tháng 9 (không rõ năm nào?), gồm có 185 trang, có chú thích do ông Paulus Tạo. Ông cho biết: “Phần tôi, nhờ bản sưu tầm của ông Phêro Trần Hớn Xuyên đã chép trực tiếp từ bản của Simong Phan Văn Cận và được người cháu của linh mục Phaolô Qui ở Mỹ Tung hô giúp tôi một số tài liệu về Sấm Truyền Ca, do linh mục sưu tầm và sửa chữa lại một phần.” 

3. Bản chép và hiệu đính của linh mục Phaolô Qui: 

Linh mục Phaolô Nguyễn Văn Qui (1855-1914) là người đầu tiên hiệu đính bản STC nầy. Ngài thực hiện tại Sài Gòn năm 1885. Bản chép và hiệu đính của linh mục Phaolô Qui được ông Paulus Tạo và Nguyễn Văn Nhạn chép lại. Trong bản chép Paulus Tạo có trích lại mấy nhận ét của linh mục Phaolô Qui như sau: “... về tên riêng, không rõ chữ Nôm xưa viết thế nào, chỉ theo bổn của Phan Văn Cận (1830) mà tôi (tức linh mục Phaolô Qui) sửa lại theo lối phiên âm của các linh mục Langsa (Pháp) quen dùng tại Sài Gòn hiện nay (1885)”. 

Công việc hiệu đính của linh mục Phaolô Qui được ông Nguyễn Văn Nhạn cho biết: “Khi đánh số câu theo Kinh Thánh Cựu Ước, linh mục Phaolô Qui nói: Tôi có ý theo dõi STC để tìm hiểu ý chính của tác giả, là dựa sát Kinh Thánh diễn lại việc làm của Thiên Chúa trong thế gian, còn phần ghi lại gia phả các con ông No-e (Nhữ Y) thì tác giả chỉ nêu nhân vật và thành phố có tên tuổi trong lịch sử, đồng thời theo cảm nghĩ của người An Nam thời đó, vạch rõ hai trào lưu nòng cốt là Đạo và Đời đang song hành trong cuộc sống loài người. Tác giả viết cho người An Nam đọc, không phải viết cho dân Giuđêu (Do Thái)”. “Lúc đó, linh mục Phaolô Qui cố gắng sửa chữa, nhưng vấp phải nhiều từ ngữ quá xưa và danh từ riêng về tên người, tên xứ, tên núi, tên sông đã ghi âm theo cách An Nam rất khó thay đổi cho xuôi, thành thử phải đình trệ mãi (...)”. 

Sự hiệu đính của linh mục Phaolô Nguyễn Văn Qui cho ta thấy Ngài là người thông thái như thế nào, đồng thời cũng làm cho bản gốc từ Nôm sang quốc ngữ, đã được sửa chữa, nhuận sắc, dùng từ cho “hợp thời” của người đời sau, làm cho phong cách ngôn ngữ văn chương của STC bị giảm tính chất cổ xưa của ngôn ngữ đích thực thời thế kỷ XVII. Chẳng khác gì một lọ cổ quí giá được khai quật bị sứt mẻ, bây giờ lấy xi măng Hà Tiên, xi măng trắng chắp vá! Ví dụ các từ ngữ như “vấn đề”, “thắng lợi”, “tấn công”, “lật nhào” v.v... quá mới, có thể cho đó là ngôn ngữ văn chương quốc âm của thế kỷ XVII chăng? 

4. Bản chép của Thaddoeus Nguyễn Văn Nhạn: Ông thực hiện tại Sài Gòn, ngày 15-10-1956. Trong “Mấy lời nói đầu”, ông Nhạn viết: “Bổn Sấm Truyền Ca nầy được chép lại nhờ linh mục Phaolô Qui (địa phận Sài Gòn) cho mượn” (trang 3). 

Ông Nhạn còn cho biết số phận long đong của STC từ cuối thế kỷ XIX đến 1956 như sau: Khi nhà in Tân Định thành lập và hoạt động (năm 1874) có người muốn xuất bản STC này nhưng không kết quả vì hai lý do: một là chi phí quá nặng, hai là các linh mục Pháp không đồng ý vì sợ bản STC không lột hết ý nghĩa của Kinh Thánh bản Vulgata. 

(Bản Vulgata là bản dịch Kinh Thánh La ngữ chính thức hiện hành của Giáo Hội Công Giáo, do thánh Giêrônimô (Jérome) dịch, Thánh Giêrônimô là linh mục tiến sĩ Hội thánh, sinh tại Stridona (342-420) thông thạo cổ ngữ và sinh ngữ. Đức Giáo Hoàng Đamasô I- Damase (366-384)-giao trách nhiệm dịch Kinh Thánh cho linh mục Giêrônimô sang Palestine trong 22 năm, sưu tầm, nghiên cứu và so sánh, thao khảo ý kiến các bản văn Hy Lạp, nhất là bản Hy-Bá (Hébreux) để dịch ra La văn tất cả Cựu Ước, Công việc dịch thuật khởi sự từ năm 391 mãi đến năm 405 (14 năm) mới hoàn thành. Tuy nhiên phải 200 năm sau bản dịch mới được thông dụng rộng rãi và từ thế kỷ XIII bản dịch đó măng tên Vulgata. 

Tại Công đồng Trentô (1545-1564), bản Vulgata được công bố là bản dịch Thánh Kinh chính thức của Giáo Hội Công giáo cho đến ngày nay. 

Ngày 26-11-1908, tuần báo “Nam Kỳ Địa Phận” ra đời. Khoảng những năm 1920-1930 tại Sài Gòn có nhiều báo chí Công giáo ra đời như báo Công giáo Tiến hành, báo Dân Hiệp, báo Tông đồ v.v... Bấy giờ, ông Paulus Tạo là ký giả đang giúp Tuần báo Nam Kỳ Địa Phận thì ông Trần Hớn Xuyên giao tận tay ông Paulus Tạo bản STC và yêu cầu xuất bản hoặc đăng tải từng phần trên báo chí. Ông Paulus Tạo chuyển lại cho báo Dân Hiệp. Nhưng rồi bổn STC bị xếp vào tủ tài liệu vì tác phẩm quá lớn và bị chê là không còn hợp thời. 

Năm 1947, ông Nguyễn Cang Thường về giúp tạp chí Tông đồ thì mang theo bổn STC.

 

Năm 1950, báo Tông đồ dời trụ sở về đường Frères Guillerault (Tôn Thất Tùng ngày nay), chở STC với các văn liệu, xếp vào kệ sách báo. 

Năm 1952, trụ sở báo Tông đồ bị bão sập đổ (...), STC hư hỏng hoàn toàn ba Quyển sau, vì nước ngập và mối xông phá, chỉ còn hai Quyển đầu là Genesia và Exodus, Quyển Exodus bị mối tàn phá phân nửa. 

Sau 1954, thấy bổn STC nầy bị hư hao nhiều, ông Nguyễn Văn Nhạn cố gắng chép lại để kho văn liệu Công giáo sau này khỏi thiếu một tài liệu quí giá của người xưa. 

Như vậy, hiện nay chỉ còn bản chép của Paulus Tạo và Nguyễn Văn Nhạn, chủ nhân là ông Hoàng Xuân Việt. 

Chúng ta sao chụp được bản chép của Nguyễn Văn Nhạn để sử dụng. Bản này gồm có: 

* Đôi lời giới thiệu của Giáo sư Nguyễn Văn Trung, viết vào tháng 2 năm 1993, tại Sài Gòn. 

* Mấy lời nói đầu của Thaddoeus Nguyễn Văn Nhạn (Báo Tông đồ) viết tại Sài Gòn ngày 15-10-1956. 

* Quyển I STC. Có 2 phần: 

- Vào đề: 8 câu. 

- Phần Tạo Đoan Kinh (Genesia) (tức Sáng Thế Kỷ) chia 50 đoạn, 4394 câu. (Đoan nghĩa là lúc ban đầu). 

* Quyển II. Có 2 phần: 

- Vào đề: 8 câu. 

- Phần Lập Quốc Kinh (Exodus) (tức Xuất Edíptô Ký) chỉ chép được 21 đoạn từ câu 1 đến câu thứ 1623. 

Ông Nhạn viết: “Rất tiếc, chép tới đây thì không còn thể nào mò ra được nữa, vì hơn phân nửa quyển Lập Quốc Kinh (Exodus) bì năm dưới nước thấm ướt và mối đã gặm nát cùng số phận với ba Quyển sau là Lévitique, Les Nombres và Le Deutéronome (...). Còn bao nhiêu thì ráng chép bấy nhiêu (...)” tr.237-238). 

Tổng cộng chép được 5135 câu, cho thấy công sức tâm huyết của ông Nguyễn Văn Nhạn đáng kính phục như thế nào!

Tác giả: Lê Đình Bảng
   dunglac@gmail.com