Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Lê Đình Bảng
Bài Viết Của
Lê Đình Bảng
Kinh Sách Nguyện Giỗ Cầu Hồn - Một Di Sản Đức Tin Văn Hóa
Giới thiệu sách mới: Ở Thượng Nguồn Thi Ca Công Giáo Việt Nam
Nhà thơ Xuân Ly Băng trong dòng chảy văn học Công giáo Việt Nam
Về thượng nguồn thi ca Công Giáo Việt Nam (BTDL 2)
Nhã Ca
ĐI TÌM CUNG GIỌNG CỔ TRUYỀN CỦA "CA VÃN ĐỨC MẸ MÂN CÔI."

Lễ rồi, con lạc, Mẹ tìm con,

Lòng Mẹ, ba ngày rất héo hon.

Đoạn trở vào đền, tìm lại thấy,

Con về, thảo kính đến khi khôn.

Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay,

Xin vì sự nhiệm màu này, xuống ơn

Cho con lòng thật ăn năn,

Soi gương phúc đức, siêng năng, vâng lời.

(Văn côi thánh nguyệt tán tụng thi ca, 73-80)

 

1. Trên đây là đoạn "diễn ca" về Ngắm thứ Năm Mùa Vui - Đức Bà tìm được Đức Chúa Giêsu trong đền thánh, ta hãy xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa luôn - được trích dẫn từ 253 câu thơ của bài trường thiên "VĂN CÔI THÁNH NGUYỆT TÁN TỤNG THI CA" mà dân gian nhà đạo quen miệng gọi là "Phép Ngắm ROSA ĐỨC BÀ". Đọc, rồi ngâm ngợi theo cung giọng xưa, tự dưng tôi liên tưởng tới nguyên nhân và trường hợp phát sinh của những Thánh vịnh, Nhã ca, của sách Job, Cách ngôn, Huấn ca, Diệu ca trong Cựu ước. Nhớ khi thánh vương Đa-vít đi chân trần mặc áo nhặm, ôm cây đờn Cithara mà ca liên khúc Septem Psalmi, poenitentiales. Lại càng không thể nào không nhắc tới một bộ phận bao gồm những tác phẩm được viết theo thể loại "từ, khúc, vãn, ca ngâm" trong dòng văn học cổ điển nước nhà. Tại sao, kinh không là kinh và thơ chẳng mãi mãi là thơ, mà phải "diễn ra" thành từ, khúc, vãn để ngâm, để ca, để hát ? Phải chăng, văn xuôi - văn vần, tới một thời điểm nào đó, đã không còn cái khả năng chuyên chở ý và tình ? Hay là, do bị ràng buộc bởi hàng rào của vần - luật - niêm - đối mà hồn thơ rộng rinh kia không thể phơi bày, không thể chắp cánh bay lên tới "vùng trời đâu xuất" ? Thì ra, tới một khoảnh khắc thần thiêng của tầng bậc nào đó, dường như thi phú "hóa vôi" một cách xơ cứng, khiến cho bao nhiêu ý tình dào dạt và tưởng tượng vô bờ của lòng người bị giam hãm, không hương sắc không mùi vị, không thốt lên thành tiếng được ? Cho nên, cùng với Nhã nhạc và Đồng văn của đời Hồng Đức (1470 - 1497), sự ra đời của Côn Sơn ca, Quỳnh Uyển cửu ca, và từ Sơ Kính Tân Trang đến Chinh phụ, Cung oán, Tự tình, Ai tư vãn v.v... phải được quan niệm như là một nỗ lực muốn vượt ra ngoài vòng kiềm tỏa của nguồn văn chương học thuật cũ đã vay mượn của Trung Hoa để bay bổng, vang rền nền nảy hơn.

 

Cũng vậy. Nếu kinh sách chỉ là một mớ từ ngữ suông, không kết dính với lễ nhạc, không hòa hợp nhuần nhã theo cung giọng, không được cử hành trong khung cảnh địa phương hóa của một công chúng thuần thành, thì việc phụng tự kia, ắt sẽ mau chóng rơi vào thuần lý, đơn điệu và nhàm chán. Chút "hương xa" chắp vá pha tạp cho dù có lộng lẫy, cũng không thể so sánh với sắc mùi của bông huệ vườn nhà. Cũng may, người Việt mình được trời phú cho cái tính ưa ca thích hát, ví von hay, ngâm vịnh giỏi. Và tiếng Việt của mình lại là một ngôn ngữ giàu âm nhạc, giàu hình tượng trong diễn đạt. Cho nên, có đọc lại kinh sách cũ, mới thấy việc biên soạn và tập tành của cha ông ta xưa - từ chữ Hán chữ Nôm đến Quốc ngữ - đã khơi mạch bắt nguồn từ vốn liếng đã chắt lọc của kho tàng quý báu ấy. Từ đọc kinh, xướng kinh, nguyện kinh đến vãn kinh, hát kinh. Từ cung kinh đến cung sách. Từ cung ngắm lễ, đóc Evan, dẫn sách phần, than thánh giá, giúp bệnh nhân khi lâm mạnh cho đến những vè vãn, ca ngâm có bài bản, chương khúc, vần điệu mừng sinh nhật, kính Đức Mẹ v.v... Tóm lại, tất cả loại kinh văn trên vừa thấm đẫm hồn nhạc và lời thơ cổ truyền của dân tộc về mặt hình thức, lại vừa "tải" được nội dung là những mầu nhiệm, tín điều về thần học, bằng một tâm tình đạo hạnh Việt Nam. Nếu phải dựa vào sử sách, những chứng cứ còn để lại khá rõ ràng. Rằng "Năm 1622, bà chị của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã xin chịu phép rửa. Bà thường nghe những bản hát đạo và truyện các thánh, do một con hát ở Đàng Ngoài diễn" (Trích lại từ lịch sử văn học công giáo VN, cuốn I, trang 141 của Võ Long Tê, nhà xuất bản Tư Duy, Sài gòn, 1965). Ở Phủ Chúa Trịnh - theo giáo sĩ Đắc Lộ - "Có bà Catarina, em gái Chúa Trịnh Tráng đã đặt thành thơ vãn tất cả lịch sử đạo công giáo ... Bà làm rất hay. Đến sau, vẫn còn được tất cả người có đạo truyền tụng cho nhau. Họ ngâm lên lúc làm việc ở nhà, lúc làm việc ngoài đồng hay lúc đi đường. Người biết ca nhạc còn họa nhạc vào. Rồi chẳng những người có đạo mà còn cả những người không có đạo cũng thích ngâm vịnh. Nhờ những thơ văn đó mà nhiều người đã trở lại đạo". (Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam của Lm. Nguyễn hồng, tập I, trang 118, Hiện Tại xuất bản, Sài Gòn, 1959). Lại theo bản dịch Việt ngữ của Trương Bửu Lâm và Đỗ Văn Anh đăng trên VN Khảo cổ tập san, số 2, Sài Gòn, 1960 từ thảo luận của Gheorg Schurhammer, thì "Người VN có thói quen vừa học vừa hát ... Năm 1626 ở Cacham (Thanh Chiêm) ; năm 1634 ở Hội An ; năm 1648 có 4.000 giáo dân đã tụ họp tại Kẻ Bố (Thanh Hóa) để xem diễn lại sự cải giáo của Josaphat. Trong buổi lễ, có những cuộc đối thoại về âm nhạc bản xứ ..." Như vậy, rõ ràng là - ngay từ buổi sáng thế của Tin Mừng tại VN, cha ông ta đã biết vận dụng lễ nhạc - thi phú của dân tộc vào kinh sách nhà thờ, đã đưa phụng tự và việc giáo dục đức tin hội nhập vào phong tục tập quán, vào đời sống thời vụ của một nông thôn VN hãy còn đang ở thời kỳ thô sơ thủ công thế kỷ XVII.

 

2 Riêng việc sùng kính Đức Mẹ Maria lại càng sung mãn hơn, cả về đức tin lòng đạo lẫn hình thức sinh hoạt phụng vụ. Có mấy ai tính được con số những giáo phận, hạt sở, họ đạo, nhà thờ, đoàn hội và giáo dân xin nhận Đức Mẹ làm bổn mạng che chở đời mình ? Nhiều ngày, tuần, tháng trong năm đã biến thành những dịp cung hiến và lễ hội sốt sắng, trang nghiêm, thu hút đông đảo quần chúng. Chỉ nguyên việc lần hạt Mân Côi vào tháng Mười dương lịch, đã có không biết bao nhiêu lễ nghi, kinh văn, ca vãn, trong đó xuất hiện nhiều tác phẩm mang giá trị cao về nghệ thuật và văn hóa dân tộc. Tiếc rằng, đến nay - cũng như trường hợp của dân nhạc VN nói chung - do truyền khẩu hoặc chủ quan xem thường, một số lớn bài bản, cung giọng và thể điệu xưa đã rớt rơi, tàn lụi ! 

Báo Công giáo và Dân tộc mấy năm gần đây đã liên tiếp trình bày về nguồn gốc, hoàn cảnh phát sinh, phân tích đại ý, bố cục của bài ca vãn này. Nay thử tìm lại cung giọng Phép Ngắm Rosa, một dư vang đang dần dần bị tan loãng trong nhịp đời sôi nổi, tất bật của văn minh cơ khí. Sở dĩ bản trường ca này còn sống mãi trong dòng chảy của lễ lạc phụng vụ, vì nó hội đủ những nhân tố làm nên sự thành tựu của một tác phẩm văn học nghệ thuật : Lời hay, ý đẹp, lại có cả cung giọng ngân nga luyến láy như những hò lý của dân ca dân nhạc. Khi thì khấp khởi reo vui như sơn nữ, lưu thủy, hành vân ; lúc lại bi ai sầu tình ủ dột như lâm khốc, biệt hành. Đó là chưa nói đến sự dàn dựng của một nhạc cảnh mà theo Lm. Cadière thì "... Việc lần hạt Mân Côi (ở các giáo đoàn Bắc Bộ) được chia ra từng hồi, từng lớp, có điểm bằng những bài gẫm và từng giai thoại của cuộc đời Chúa Cứu Thế, để gợi cho mọi người những tình cảm thích hợp" (Trích lại từ Biểu nhất lãm Văn Học cận đại, trang 56 của Lm. Thanh Lãng). Trong niềm hân hoan của những ngày xôn xao tháng 10 Mân Côi và bằng điều kiện hạn chế của mình, chúng tôi xin lược dẫn ra đây vài dòng ký âm theo cung giọng Hải Phòng - Bắc Ninh (trích trong bộ sưu tập của tác giả Phạm Hùng Thắng). Tất nhiên, từ những chiếc nôi Công giáo như Phát Diệm, Hà Nội, Bùi Chu, Thái Bình hoặc từ các cộng đoàn Trung và Nam bộ, ắt hẳn còn tiềm tàng nhiều cung điệu khác đang mời gọi chúng ta đi tìm, để gìn vàng giữ ngọc cho mai ngày. Đặc biệt, đối với các nhạc sĩ Công giáo thì đây là một đề xuất nghiêm túc, nhưng cũng rất khả thi. Bởi vì, một khi đã có bản văn "vãn Đức Bà Văn Côi", nghĩa là ca từ đã hoàn chỉnh thì việc phổ nhạc, dệt nhạc chỉ là một việc làm ở trong tầm tay. Điều khó nhất, theo thiển nghĩ, là cái khổ công nghe ngóng, ghi nhận những cung giọng truyền đời từ cửa miệng của lớp người sắp qua đi kia. Bằng cách rong ruổi khắp hang cùng ngõ hẻm ấy, vợ chồng nhà sưu tập dân ca Nam bộ Lư Nhất Vũ - Lê Giang đã ký âm được 900 điệu hò lý. Chẳng lẽ chúng ta không làm được điều ấy sao ?

Tác giả: Lê Đình Bảng
   dunglac@gmail.com