Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Lê Đình Bảng
Bài Viết Của
Lê Đình Bảng
Kinh Sách Nguyện Giỗ Cầu Hồn - Một Di Sản Đức Tin Văn Hóa
Giới thiệu sách mới: Ở Thượng Nguồn Thi Ca Công Giáo Việt Nam
Nhà thơ Xuân Ly Băng trong dòng chảy văn học Công giáo Việt Nam
Về thượng nguồn thi ca Công Giáo Việt Nam (BTDL 2)
Nhã Ca
ĐỌC LẠI PHÉP NGẮM ROSA, MỘT CA KHÚC TRƯỜNG THIÊN

Lễ rồi, con lạc, Mẹ tìm con, 

Lòng Mẹ, ba ngày rất héo hon. 

Đoạn trở vào đền, tìm lại thấy, 

Con về, thảo kính đến khi khôn. 

Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay, 

Xin vì sự nhiềm mầu này, xuống ơn 

Cho con lòng thật ăn năn, 

Soi gương phúc đức, siêng năng, vâng lời 

(Văn côi thánh nguyệt tán tụng thi ca, 73-80). 

Trên đây là đoạn “diễn ca” về Ngắm thứ Năm Mùa Vui – Đức Bà tìm được Đức Chúa Giêsu trong đền thánh; ta hãy xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa luôn – mà dân gian nhà đạo quen gọi là Phép Ngắm Rosa Đức Bà. Đọc, rồi ngâm ngợi theo cung giọng xưa, tự dưng tôi liên tưởng tới nguyên nhân và trường hợp phát sinh của những Thánh Vịnh, Nhã Ca, của sách Yob, Cách Ngôn, Huấn Ca, Diệu Ca trong Cựu Ước. Nhớ khi thánh vương ĐAVIT đi chân-trần-mặc-áo-nhặm, ôm cây đờn Cithiara mà ca liên khúc Septem Psalmi, poenitentiales. Lại càng không thể nào không nhắc tới một bộ phận bao gồm những tác phẩm được viết theo thể loại “từ, khúc, vè, vãn, ca ngâm” trong dòng văn học cổ điển nước nhà. Tại sao, kinh không là kinh và thơ chẳng mãi mãi là thơ, mà phải diễn ra thành từ, khúc, vãn vè để ngâm, để ca, để hát? Phải chăng, văn xuôi-văn vần đã tới một thời điểm nào đó-không còn đủ cái khả năng chuyên chở ý và tình? Hay là, do bị ràng buộc bởi hàng rào của vần-luật-niêm-đối mà hồn thơ rộng rinh kia không thể phơi bày, không thể chắp cánh lên tới “vùng trời đâu xuất?” Thì ra, tới một khoảnh khắc thần thiêng của tầng bậc nào đó, dương như thi phú “hóa vôi” một cách xơ cứng, chỉ còn là một quần đảo ngục tù, khiến cho bao nhiêu ý tình dào dạt và tưởng tượng vô bờ của lòng người bị giam hãm, không hương sắc không mùi vị, không thốt lên thành tiếng được! Cho nên, cùng với Nhã nhạc và Đồng văn, khởi đi từ đời Hồng Đức (1470-1497), sự ra đời của Côn Sơn ca, Quỳn Uyển cửu ca, So Kính Tân Trang, Chinh phụ, Cun oán, Tự tình, Ai tư vãn v.v...phải được quan niệm như là một nỗ lực muốn vượt thoát ra ngoài vòng kiềm tỏa của nguồn văn chương học thuật cũ, vốn vay mượn Trung Hoa.

 

Cũng vậy. Nếu kinh sách chỉ là một mớ từ ngữ suông, không kết dính với lễ nhạc, không hòa hợp nhuần nhã theo cung giọng, không được cử hành trong khung cảnh địa phương hóa của một công chúng thuần thánh, thì việc phụng tự kia, ắt sẽ mau chóng rơi vào thuần lý, đơn điệu và nhàm chán! Chút “hương xa” lúc ấy, cho dù có lộng lẫy như cẩm bào của Salomon, cũng không thể so sánh với bông huệ vườn nhà. Bởi vì, cái không gian và thời gian riêng lẻ, cái bầu khí trống vắng và lặng thinh chốn giáo đường chỉ có thể phù hợp với cảnh thâm nghiêm, sâu lắng của một tu viện, nhà dòng, với thiểu số người quen sống bằng chiêm niệm, tham thiền. Cũng may, người Việt mình được trời phú cho cái cá tính ưa ca thích hát, ví von hay, ngâm vịnh giỏi. Và tiếng Việt của mình lại là một ngôn ngữ giàu âm nhạc, giàu hình tượng trong diễn đạt sinh động. Cho nên, có đọc lại kinh sách cũ, mới thầy việc biên soạn và tập tành của cha ông ta xưa-từ chữ Hán, chữ Nôm đến quốc ngữ – đã khơi mạch bắt nguồn từ vốn liếng đã chắt lọc của kho tàng quý báu ấy. Từ đọc kinh, xướng kinh, nguyện kinh đến vãn kinh, hát kinh. Từ cung kinh đến cung sách. Từ cung ngắm lễ, độc Evan, dẫn sách phần, than thánh giá, giúp bệnh nhân khi lâm mạnh cho đến những vè vãn, ca ngâm có bài bản, chương khúc, vần điệu để mừng lễ sinh nhật, kính Đức Mẹ v.v... Tóm lại, tất cả loại kinh văn trên vừa thấm đẫm hồn nhạc và lời thơ cổ truyền của dân tộc về mặt hình thức, lạ vừa “tải” được nội dung là những mầu nhiệm tín điều về thần học, bằng một tâm tình đạo hành Việt Nam. Nếu phải dựa vào sử sách, thì những chứng cứ còn để lại khá rõ ràng. Rằng “năm 1622, bà chị của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã xin chịu phép rửa. Bà thường nghe những bản hát đạo và truyện các thánh, do một con hát ở Đàng Ngoài diễn” (Trích lại từ Lịch sử văn học công giáo Việt Nam, cuốn I, trang 141 của Võ Long Tê, nhà xuất bản Tư Duy, Sài Gòn, 1965). Ở phủ Chúa Trịnh – theo giáo sĩ Đắc Lộ- “có bà Catarina, em gái Chúa Trịnh Tráng đã đặt thành thơ vãn tất cả lịch sử đạo Công giáo... Bà làm rất hay. Đến sau, vẫn còn được tất cả người có đạo truyền tụng cho nhau. Họ ngâm lên lúc làm việc ở nhà, lúc làm việc ngoài đồng hay lúc đi đường. Người biết ca nhạc còn họa nhạc vào. Rồi chẳng những người có đạo mà còn cả những người không có đạo cũng thích ngâm vịnh. Nhờ những thơ văn đó mà nhiều người đã trở lại đạo”. (Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam của linh mục Nguyễn Hồng, tập I, trang 118, Hiện Tại xuất bản, Sài Gòn, 1959). Lại theo bản dịch Việt ngữ của Trương Bửu Lâm và Đỗ Văn Anh đăng trên Việt Nam Khảo Cổ tập san, số 2, Sài Gòn, 1960 từ Khảo luận của Georg Schurhammer, thì “Người Việt Nam có thói quen vừa học vừa hát... Năm 1626 ở Cacham (Thanh Chiêm); năm 1634 ở Hội An; năm 1648 có 4000 giáo dân đã tụ họp tại Kẻ Bố (Thanh Hóa) để xem diễn lại sự cải giáo của Josaphat. Trong buổi lễ, có những cuộc đối thoại và âm nhạc bản xứ...”. Như vậy, rõ ràng là -ngay từ buổi sáng thế của Tin Mừng tại Việt Nam- cha ông ta đã biết vận dụng lễ nhạc-thi phú vào kinh sách nhà thờ, đã đưa phụng tự và việc giáo dục đức tin hội nhập và phong tục tập quán, vào đời sống thời vụ của một nông thôn Việt Nam hãy còn đang ở thời kỳ thô sơ thủ công thế kỷ XVII.

 

Riêng việc dâng kính Đức Mẹ Maria lại càng sung mãn hơn, cả về đức tin lòng đạo lẫn hình htức sinh hoạt phụng vụ. Có mấy ai tính được con số những giáo phận, hạt sở, họ đạo, nhà thờ, đoàn hội và giáo dân xin nhận Đức Mẹ làm bổn mạng che chở đời mình? Nhiều ngày, tuần, tháng trong năm đã biến thành những dịp cung hiến và lễ hội sốt sắng, trang nghiêm, thu hút đông đảo quần chúng. Chỉ nguyên việc lần hạt Mân Côi vào tháng Mười dương lịch, đã có không biết bao nhiêu lễ nghi, kinh văn, ca văn, trong đó xuất hiện nhiều tác phẩm mang giá trị cao về nghệ thuật và văn hóa dân tộc. Tiếc rằng, đến nay –cũng như trường hợp của dân nhạc Việt Nam nói chung- do truyền khẩu hoặc chủ quan xem thường, một số lớn bài bản, cung giọng và thể điệu xưa đã rớt rơi, tàn lụi!

 

Trong khi đó, ở phần lớn các giáo phận đàng ngoài, đặc biệt thuộc hệ dòng Đa Minh như Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình v.v... phép ngắm Rosa, một trường thiên ca khúc gồm 252 câu thơ phức hợp (Thất ngôn liên vận và Lục bát), một áng kinh văn đã thực sự đi vào lòng người nhiều thế hệ. Sở dĩ bản trường ca còn sống mãi trong dòng chảy của lễ lạc phụng vụ, vì nó hội đủ những nhân tố làm nên sự thành tựu của tác phẩm văn học nghệ thuật: Lời hay, ý đẹp, lại có cả cung giọng ngân nga luyến láy như những hò lý của dân ca dân nhạc. Khi thì khấp khởi reo vui như điệu sơn nữ, lưu thủy, hành vân; lúc lại bi ai sầu tỉnh ủ dột như điệu lâm khốc, biệt hành. Đó là chưa nói đến sự dàn xếp của một nhạc cảnh mà theo linh mục Cadìere thì “... Việc lần hạt Mân Côi (ở các giáo đoàn Bắt bộ) được chia ra từng hồi, từng lớp, có điểm bằng những bài gẫm và từng giai thoại của cuộc đời Chúa Cứu Thế, để gợi cho mọi người những tìm cảm thích hợp” (Nulletin de Ligue Mision, Paris, 1938 trang 47- Trích lại từ Biểu nhất lãm Văn Học cận đại, trang 56 của linh mục Thanh Lãng). Tất nhiên từ những chiếc nôi Công giáo như Phát Diệm, Hà Nội, Bùi Chu, Thái Bình hoặc từ các cộng đoàn Trung và Nam bộ, ắt hẳn còn tiềm tàng nhiều cung điệu khác đang mời gọi chúng ta đi tìm, để gìn vàng giữ ngọc may ngày.[4] 

 

TRÍCH TUYỂN THƠ

NGHINH HOA TỤNG KỲ CHƯƠNG

(Vãn dâng hoa)

 

1.  Chúng tôi mọn mạy phàm hèn, 

Dám đâu ghé mắt trông lên bàn thờ. 

Ngửa xin tràn xuống ơn thừa, 

Rộng ban giải tấm lòng thơ trước tòa. 

 

5. Chúng tôi lạy Chúa Cha nhân thứ, 

Đã giữ lời phán hứa dủ thương. 

Dựng nên rất thánh Nữ Vương, 

Gây nền mọi phúc treo gương muôn đời. 

 

9. Chúng tôi lạy Ngôi Hai xuống thế, 

Cứu loài người chẳng để cho hư. 

Lại thương giối Mẹ nhân từ, 

Để loài con mọn được nhờ mọi ơn.

 

13. Chúng tôi lạy Thánh Thần Chúa cả, 

Cho Đức Bà phúc lạ ơn đầy.

 Cùng lòng rộng rãi nhân thay, 

Để con mọn được ăn mày phần thương.
 

17.  Chúng tôi lạy Nữ Vương Thánh Mẫu,

 Chúa Ba Ngôi yêu dấu cách riêng. 

Trên trời dưới đất cầm quyền, 

Mọi loài đáng phải khong khen bội phần. 

 

21.  Chúng tôi lạy Thiên Thần các Thánh, 

Đang vui mừng trong tính Chúa Dêu. 

Đẹp lòng Đức Mẹ thương yêu, 

Vốn hằng chầu chực xin đều ngợi khen. 

 

25. Chúng con bồ liễu phận hèn, 

Ơn thương đã được bước lên lạy mừng.

Đóa hoa khóm nóm tay bưng, 

Tấc niềm cần bộc xin đừng tỏ ra. 

29. Đền vàng quỳ trước dâng hoa, 

Trông lên tháp báu thấy tòa Ba Ngôi. 

Mười hai nhân đức gương soi, 

Kính thân Đức Mẹ đời đời ngửa trông. 

 

33. Vì xưa Thiên Chúa dủ lòng, 

Chọn làm Thánh Mẫu bởi dòng thánh quân. 

Ngành vàng lá ngọc khác trần, 

Sinh Ngôi Thánh Tử đồng thân trọn đời. 

 

37. Giúp công cứu chuộc đền bồi, 

Ơn trên thông xuống cho loài sinh linh. 

Tràng châu mở cánh tràng sinh, 

Trồng cây cực tốt cực lành Rosa. 

 

41. Đượm nhuần vũ lộ thi-a, 

Bốn mùa hoa nở rum ra lạ lùng. 

Nhiệm thay! hoa đỏ hồng hồng, 

Nhuộm riêng Máu Thánh thơm chung lòng người. 

45. Vì thương Con gánh tội đời, 

Chịu như dao sắc thâu nơi lòng mình. 

Xinh thay! hoa trắng tốt lành, 

Ví cùng nhân đức đồng trinh Đức Bà. 

 

49. Nguyên tuyền hơn ngọc hơn ngà, 

Sánh trong hơn tuyết cùng là hơn gương. 

Quý thay! này sắc hoa vàng,

 Sánh nhân đức mến  Bà càng trọng hơn. 

 

53. Một niềm tin kính nhơn nhơn, 

Vững vàng cậy mến trong cơn vui sầu.

Dịu thay! hoa tím càng màu,

 Ý trên Bà những cúi đầu vâng theo. 

 

57. Bằng lòng chịu khó trăm chiều, 

Khiêm nhường nhịn nhục hằng yêu hãm mình. 

Lạ thay! là sắc hoa xanh, 

Mừng Bà nhân đức trọn lành cực cao. 

 

61. Dờn dờn sau trước một màu,

Quản chi sương nắng dãi dầu ngày đêm. 

Hoa năm sắc đã giãi niềm, 

Lại trưng cổ điển dâng thêm kim đề. 

 

65   Đức Bà thờ Chúa một bề, 

Hoa quỳ chăm chắm hướng về thái dương. 

Tội nguyên không nhiễm khác thường, 

Hoa sen trên nước chẳng vương bùn lầm. 

 

69.  Lòng đầy thánh sủng giáng lâm, 

Hoa lê tuyết đượm màu thơm khác vời. 

Tuổi cao phúc đức càng đầy, 

Lạ lùng hoa cúc nở ngày vãn thâu. 

73. Tòa cao thần thánh kính chầu, 

Hoa mai đỉnh núi nở đầu trăm hoa. 

Muôn loài cảm mến âu ca, 

Hoa đơn phú quý gần xa vui vầy. 

 

77. Các ơn Chúa phó trong tay, 

Hoa lan vương giả hương bay ngạt ngào. 

Bảy hoa mượn chỉ nghĩa màu, 

Hình dong ơn phúc kính tâu ngợi mừng.  

 

81. Hợp cùng năm sắc đều dâng, 

Dường mười hai ngọc kết tầng triều thiên. 

Còn muôn phúc cả ơn riêng, 

Trăm hoa khôn khá sánh khen được nào.

 

85. Chúng con đang chốn phong đào, 

Mong gieo hạt giống, e vào bụi gai. 

Cậy trông Đức Mẹ nhân thay, 

Dủ thương vì chúc tụng này cùng hoa. 

89. Lòng thốn thảo đóa linh pha, 

Xin đều dâng tiến trước tòa Ba Ngôi. 

Diện tiền cầu khẩn thay lời, 

Đằm đằm mưa móc trên trời tưới liên.

 

93. Thêm ơn vun xới cách riêng, 

Ruông thiêng sạch cỏ mọc lên giống lành.

Hoa nhân trái phúc rủ ngành, 

Đời này dùng đủ lại dành đời sau. 

Tấc thành đã được giải tâu, 

Dám xin hợp ý khấu đầu tạ ơn.

 Đội ơn Chúa rất khoan nhân, 

Đã cho con mọn kính dâng hoa này.

 

101. Đội ơn Thánh Tử Ngôi Hai, 

Đã cho con mọn được thay thảo thờ. 

Đội ơn Đức Mẹ nhân từ, 

Đã cho con mọn ngây thơ ngợi mừng.

 

105.Tấm lòng xin với hoa dâng, 

Giãi niềm thảo kính vốn từng thần hôn. 

Chúng con dâng cả xác hồn, 

Xin thương chịu lấy chúng con đừng từ. 

109. Ban ơn cho chúng con nhờ, 

Được lòng sốt sắng phượng thờ cho liên. 

Đời này được sự bằng yên, 

Đời sau lại được ngợi khen hát mừng.

Amen. 

 

VĂN CÔI THÁNH NGUYỆT TÁN TỤNG THI CA

* DẪN:  Ca này đọc ngày trước hết và các ngày lễ cả.

Vườn Rosa bao quanh trái đất, 

Cảnh thiên nhiên thật rất diệu huyền,  

Thử truy cùng cho đến căn nguyên; 

Xem ai đã gây nên vậy tá ? 

Bởi ông Thánh Duminh cha cả, 

Thấy ruọng thiêng cỏ rả mê man;  

Người lo buồn nguyện ngắm kêu van 

Xin Đức Mẹ cực khoan thương đoái. 

Đức Mẹ thương xuống ơn rộng rãi 

10.  Trao tràng châu truyền hãy giải khuyên: 

Khuyên người ta lần hạt ngắm nên. 

Sẽ chữa tật thiêng liêng cho đã 

Người vâng cứ, giảng không bao nả. 

Thấy lòng người khác cả khi xưa 

Kẻ mê đàng tội lỗi liền chừa,  

Phường đạo rối xác xơ tan tác 

Thế gian bỗng tự nhiên ra khác. 

Ruộng Y Ghê cỏ rác bớt dần 

Thánh hội từng tư mộ công ân,  

Hằng năm đặt lễ tuần kính nhớ. 

Thơ rằng: 

Mộc bản thủy  nguyên giai hữu tự, 

Đức cơ phúc chỉ khỉ vô do. 

Bởi đâu khai tác thánh chi đồ, 

Phải truy niệm sao cho xứng đáng. 

Kìa Hà lạc thấy còn cảm thán,  

Nọ cam đường thi tán tam chương, 

Huống vườn thiêng thánh Mẫu mở mang.

Cây phúc rủ ngành vàng quí hóa,

Ta hãy cố hái hoa tìm quả, 

Quả cùng hoa rất lạ rất nhiều,

Rất thơm tho mỹ vị ngọt ngào,  

Ngoạn hứng chỉn không bao là chán.

 

VĂN CÔI THẬP NGŨ SỰ THI CA

Phép ngắm Rosa nguyên cội rễ, 

Suy ơn chuộc tội loài người thế,  

Tử sinh nhi tử tử nhi sinh, 

Công nghiệp vô cùng khôn xiết kể  

Lạy ơn rất thánh Đức Bà, 

Xin vì phép ngắm Rosa thánh này, 

Ban ơn soi sáng bởi trời, 

Cùng ban sự sống đời đời cho con, 

Chúa toan cứu chuộc các sinh linh, 

Sai Sứ truyền tin Thánh Tử sinh. 

Thánh Mẫu dâng mình theo ý Chúa, 

Chịu thai nguyên vẹn đức đồng trinh. 

Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay, 

Xin vì sự nhiệm mầu này, dủ thương, 

 Cho con lòng vững đá vàng, 

Vâng theo ý Chúa mọi đàng đừng sai. 

Isave thánh đà già cả, 

Chúa định mang thai con cách lạ 

Đến viếng thăm con khỏi tội truyền 

Con trong lòng Mẹ liền mừng tạ. 

Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay,  

Xin vì sự nhiệm mầu này, dủ thương, 

Cầu xin Chúa cả thiên đường, 

Cứu con cho khỏi các đàng tội khiên. 

Belem phong cảnh cực trần ai, 

Chúa chọn sinh nơi chốn khó thay, 

Máng cỏ bò lừa quì thở ấm. 

Thiên Thần mừng rỡ Chúa ra đời. 

Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay,  

Xin vì sự nhiệm mầu này, dủ thương, 

Cho con được ở khiêm nhường, 

Chớ yêu chuộng sự vẻ vang trên đời. 

Mẫu Hoàng vâng giữ lời truyền dạy. 

Đem Chúa vào đền xin chuộc lấy. 

Thầy cả xưng ra thật Chúa Trời, 

Liền xin ẵm lấy cùng thờ lạy. 

Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay,  

 70.    Xin vì sự nhiệm mầu này, dủ thương, 

Cho con thủ tiết băng sương. 

Đáng lên hưởng phúc thiên đàng mai sau. 

Lễ rồi Con lạc, Mẹ tìm con, 

Lòng Mẹ ba ngày rất héo hon 

Đoạn trở vào đền tìm lại thấy,

 Con về thảo kính đến khi khôn. 

Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay,  

Xin vì sự nhiệm mầu này, xuống ơn. 

Cho con lòng thật ăn năn, 

 80.    Soi gương phúc đức siêng năng vâng lời.

 

Tạ: 

Tôi kính nhớ ngợi khen Đức Mẹ, 

Đã hưởng phần vui vẻ lạ thay, 

Vui vì khi sứ Chúa sai, 

Truyền tin lạ chịu thai Thánh Tử; 

Vui vì Isave Thánh Nữ, 

Tội truyền con khỏi tự trong thai; 

Vui vì khi thấy Chúa ra đời, 

Thiên Thần hát mừng Người cách lạ,

Vui vì Chúa vào đền thờ cả; 

 Thánh Simi kính tạ khen Người; 

Vui vì con lạc mất ba ngày.

 Tìm lại thấy trong nơi đền thánh, 

Bấy nhiêu sự chúng tôi dâng kính, 

Xin giàn ra trong tính phần vui, 

Cho chúng tôi hưởng phúc trên trời, 

Được hằng sống đời đời vui vẻ. 

Sự vui qua sự sầu lại kế, 

Lòng Đức Bà như bể dạt dào, 

Khi thấy con chịu khốn khó bao, 

Thì Người cũng phải đau đớn hết. 

Chúa vào cầu nguyện trong vườn Giệt, 

Thấy tội loài người lòng thảm thiết, 

Máu lộn mồ hôi đổ tóa ra, 

Phó mình vào nộp tòa quan xét. 

Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay,  

Xin vì sự nhiệm mầu này thẩm thương, 

Cho con được sức vững vàng,

 Chịu nhiều sự khó Chúa thường định cho.

 Chịu khốn thâu đêm rất nhuốc nha.

 Sáng ngày dinh trấn giải vào tra.

 Dạy đưa cột đá đem dây trói,

 Đánh cả và mình thịt nát ra,

 Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay,

 Xin vì sự nhiệm mầu này thẩm thương,

 Soi cho con mọn biết đường,

 Trách mình vì tội đã thường phạm liên

 Mặc cho áo đỏ như vua giả

 Đầu đội mạo gai thâu suốt cả,

 Máu chảy dòng dòng mặt chứa chan,

 Lại quì gối nhạo giơ tay vả

 Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay,

 Xin vì sự nhiệm mầu này thẩm thương,

 Cho con được đức khiêm nhường,

 Hằng bằng lòng chịu trăm đàng nhuốc nha.

 Khi quan luận giết án đà phê,

 Thánh giá đem cho vác nặng nề,

 Đau đớn và đi và ngã xuống,

 Hung đồ buộc cổ kéo lôi đi.

 Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay,

 130       Xin vì sự nhiệm mầu này thẩm thương,

 Giữ con đừng để ngang tàng,

 Cứ nương Thánh Giá theo đàng Chúa đi

 Thảm thay! Xô ngửa trên Thánh Giá

 Kéo dãn chân tay đanh đóng cả

 Chúa chịu đền thay hết tội đời,

 Mẹ như dao sắc thâu qua dạ

 Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay,

 Xin vì sự nhiệm mầu này xuống ơn,

 Tha con khỏi các nợ nần,

 140   Khi hồn lìa xác khỏi quân giặc thù.

  Tạ:

 Kính nhớ sự thảm thương Đức Mẹ

 Khi con vì tội thế đền bồi,

 Thương Con đã đổ máu mồ hôi,

 Thương Con chịu thâu đêm thảm thiết.

 Chịu đánh đòn nát hết thịt mình;

 Thương Con đầu đội mạo gai khoanh,

 Mặc áo đỏ như hình vua giả;

 Thương Con phải vác cây Thánh giá,

 150    Gượng vác đi mà ngã khốn thay,

 Thương Con chịu đanh đóng chân tay,

 Cùng chịu chết vì loài người thế,

 Đức Mẹ bởi thương con quá lẽ,

 Trong lòng nên như bể đắng cay,

 Xin vì những sự thảm thiết này,

 Cho con mọn được ăn mày phần phúc

 Sự thương khó đà qua khỏi lúc

 Những sự mừng bỗng chốc tiếp theo

 Vì các ơn rất cả rất nhiều

 Đức Mẹ được kể sao cho xiết

 Xác quàn hang đá khỏi ba ngày

 Sống lại uy nghi sáng láng thay

 Đức Mẹ thấy con mừng quá bội,

 Tông đồ mặt ủ bỗng nên tươi

 

Lạy ơn Đức Mẹ cam thay,

 Xin vì sự nhiệm mầu này đoái thương,

 Cho con sạch tội  mọi đàng

 Cùng tin mọi sự tỏ tường ngày sau

 Cứu chuộc Chúa đà xong mọi sự,

 Dặn dò Thánh mẫu cùng đầy tớ

 Khuyên còn ở lại Chúa lên trời,

 Bên hữu Dêu Cha tòa Chúa ngự,

 Lạy ơn Đức Mẹ cam thay,

 Xin vì sự nhiệm mầu này đoái thương,

 Cho con lòng mến Thiên đường,

 Hằng hằng ra sức tìm đàng để lên

 Thánh Mẫu tông đồ hội họp nhau,

 Thánh Thần lưỡi lửa xuống trên đầu,

 Soi cho biết tiếng muôn vàn nước,

 Ban sức thiêng liêng giảng đạo mầu

 Lạy ơn Đức Mẹ cam thay,

 Xin vì sự nhiệm mầu này đoái thương.

 Cho con sức mạnh vững vàng,

 Xưng ra đạo Thánh sửa sang trong ngoài

 Nữ Vương đến tuổi đầy ơn phúc,

 Thánh Tử Thiên Thần đều xuống rước

 Hồn xác lên trời rất tốt lành,

 Hưởng muôn muôn phúc ai suy được

 Lạy ơn Đức Mẹ cam thay,

 Xin vì sự nhiệm mầu này đoái thương,

 Đến cơn nhất đán phi thường,

 Cho con khỏi mắc chước phường Satan

 Chúa cả Ba Ngôi thưởng Nữ Vương

 Ngự trên thần thánh nước thiên đường,

 Ban quyền xem sóc loài người thế

 Làm Mẹ cầu bầu để Chúa thương.

 Lạy ơn Đức Mẹ cam thay,

 Xin vì sự nhiệm mầu này xuống ơn;

 Cho con lòng giữ trung cần,

 200   Đáng lên chầu chực hưởng phần phúc riêng.

  

 Tạ:

 Tôi cám mến ngợi khen kính nhớ,

 Sự Đức Bà mừng rỡ Con mình,

 Mừng khi thấy Chúa đã Phục Sinh

 Rất sáng láng tốt lành hơn trước

 Mừng khi thấy Chúa lên hưởng phước

 Các Thiên Thần đón rước tưng bừng

 Mừng vì khi thấy Chúa Thánh Thần,

 Đà hiện xuống ban ơn cả thể.

 Mừng khi thấy mình toan giã thế

 Con xuống mời rước Mẹ lên trời

 Mừng vì được ơn cả Ba Ngôi

 Ban tòa thưởng ngự nơi trọng nhất

 Sự vui mừng rất bền rất thật

 Lòng Đức Bà càng rất khoan thay

 Xin vì những sự mừng này

 Cho chúng tôi đời đời mừng rỡ,

  

  Thống kỷ:

 Ba phần tóm lại mười lăm chục

 Cám nhớ khong khen công cứu thục

 Mọi phúc treo gương rất sáng thay

 220 Soi lên sẽ được muôn phần phúc

  

  Tổng tạ:

 Mười lăm sự ngắm về lần hạt

 Chúng tôi xin ngợi hát khong khen

 Các ơn các ích thiêng liêng

 Tóm lại cách chung riêng thay thảy

 Bởi sự vui Đức Bà xem thấy

 Sứ Ba Ngôi chào lạy truyền tin

 Ngôi Thứ Hai xuống ở cùng liên

 Được hưởng các ơn thiêng vạn bội

 Bởi sự thương thấy Con chuộc tội

 230    Chịu gian nan nghìn nỗi trăm đàng               

 Lòng Đức Bà đau đớn thảm thương;

 Các sự khó cũng dường như phải

 Bởi sự mừng tự Con sống lại

 Chúa xuống ơn rộng rãi man vàn

 Cho đến khi lìa khỏi thế gian

 Các phúc trọng Chúa ban đầy dẫy

 Vì ba sự vui thương mừng ấy

 Giúp đỡ con chuộc lấy loài người

 Lại nên vườn hoa rất lạ thay

 240    Cho Thánh hội đời đời thưởng ngoạn           

  Chữ rằng:

 Thái linh chi giả tư kỳ bản

 Chước lễ tuyển giả thám kỳ nguyên

 Huống các ơn bởi mạch thiêng liêng

 Xưa nay đã tràn trên trái đất

 Rễ cây phúc đượm nhuần tốt bậc

 Lá ngành đua thật rất rum ra,

 Bóng rợp che mát mẻ ôn hòa

 Hoa đỏ trắng gần xa ánh giãi

  Thơ rằng:

 Thanh hư linh hựu quang minh khải

 250   Hồng bạch huyền hoa phức úc khai              

 Sắc vẻ vang hương ngào ngạt bay

 Gẫm xem chính xuân đài cảnh trí.

  

THÁNH MẪU THI KINH

(VĂN KINH CẦU ĐỨC BÀ)

 Xin Chúa thương xót chúng tôi,

 Xin Chúa Ki-ri-xi-tô thương xót chúng tôi

 Xin Chúa thương xót chúng tôi.

 Chúa Cha ngự trị trên trời,

 Chúa Con chuộc tội cứu loài người ta.

 Thánh Thần Thiên Chúa Ngôi Ba,

 Thiêng liêng sáng láng thật thà khoan thay.

 Ba Ngôi cùng một Chúa Trời,

 Xin thương phù hộ chúng tôi mọi đàng.

 Maria Thánh Nữ Vương,

 Trước tòa xin dủ lòng thương thay lời.

 Đức Bà là Mẹ Chúa Trời,

 Chịu thai nhân phép bởi ngôi Thánh Thần.

 Đức Bà là Đấng đồng thân,

 Gồm trên các kẻ giữ phần đồng trinh.

 Nữ Vương sinh Chúa nhân lành.

 Chúa đà chọn để giáng sinh cứu đền.

 Nữ Vương phúc đức thuần tuyền,

 Chúa ban ơn cả cách riêng đầy lòng.

 Nữ Vương tuyết sáng gương trong,

 Hơi trần chẳng đượm vào trong tính tình.

 Nữ Vương trọn tốt tron lành,

 Thần hình ngọc khiết kim tinh băng điều.

 Nữ Vương trinh tịnh mỹ miều,

 Đáng cho thiên hạ mến yêu hết lòng.

 Nữ Vương khoan hậu ung dung,

 Cực mầu cực nhiệm hơn trong mọi loài.

 Nữ Vương thương khắp mọi người,

 Sự lành sự thánh hằng soi liền liền.

 Nữ Vương sinh Chúa cầm quyền,

 Tạo thành thiên địa dựng nên mọi loài.

 Cung Chúa chữa tội đời,

 Cứu loài người khỏi mắc mồi Satan.

 Nữ Vương trí rất khôn ngoan,

 Gồm trên các trí thế gian muôn nghìn.

 Nữ Vương thiên hạ kính tin,

 Khắp hòa mặt đất không khen ngợi mừng.

 Nữ Vương cực rất tài năng,

 Mọi loài khôn khá sánh bằng mảy may.

 Nữ Vương lòng rất nhân thay,

 

Hằng thương xót cả và loài người ta.

 Nữ Vương ngay chính thật thà,

 Chẳng hề bao có lòng ra khác thường.

 Đức Bà nghĩa đức theo gương,

 Sáng soi chói lọi thiên lương mọi loài.

 Đức Bà lòng thánh sạch thay,

 Xứng làm tòa Đức Chúa Trời toàn năng.

 Đức Bà là sự vui mừng,

 Hằng cho con mọn lòng từng vui liên.

 Đức Bà là giống trọng thiêng,

 Đáng dâng thờ phượng trong đền Chúa Dêu.

 Đức Bà là giống kính yêu,

 Mọ nơi thiên hạ mọi điều cậy trông.

 Đức Bà lượng cả bao dung

 Tỏ ra sốt sắng trong lòng ngày đêm

 Đức Bà như thể hoa thơm,

 Lạ lùng mọi vẻ dịu êm mọi mùi.

 Đức Bà như thể lầu đài,

 Vua David thuở trị đời lập ra.

 Đức Bà như thể tháp ngà,

 Rất là châu báu, rất là cao sang.

 Đức Bà như thể đền vàng,

 Vững vàng chói lọi vẻ vang mọi bề.

 Đức Bà như thể hòm bia,

 Chúa Trời truyền để tóm về kỷ cương.

 Đức Bà là cửa thiên đường,

 Ai vào hưởng phúc khôn đường khỏi tay.

 Đức Bà như thể sao mai,

 Mở đàng cho sáng mặt trời dãy cao.

 Đức Bà cứu kẻ liệt lào,

 Giúp thương kẻ phải hiểm nghèo gian truân.

 Những người phạm tội quên ơn, 

Đức Bà bầu cử giúp phần rỗi liên. 

Những người sầu não lo phiền, 

Đức Bà yên ủi lòng liền được vui. 

Các người giữ đạo Chúa Trời. 

Đức Bà phù hộ xuống đầy mọi ơn. 

Nữ Vương cao cả bội phần, 

Ngự tòa trên các Thiên Thần tính thiêng. 

Nữ Vương trên các Tổ Tiên, 

Gồm trên các Thánh Sấm Truyền Phôrô. 

Nữ Vương trên các Tông Đồ, 

Cùng trên các Thánh Chúa cho Phúc lành. 

Nữ Vương trên Thánh Tu hành, 

Cùng trên các Thánh Đồng Trinh trọn đời. 

Nữ Vương ngự trị trên trời, 

Muôn vàn thần thánh chẳng ai sánh cùng. 

Nữ Vương khỏi tội tổ tông,

 Loài người mắc bởi Adong Evà. 

Nữ Vương rất Thánh Rôsa, 

Ngọt ngào hoa trái rum ra lá cành. 

Đức Bà Thánh Mẫu đồng trinh, 

Xin thương ban mọi ơn lành cho tôi. 

Đức Bà là Mẹ Chúa Trời, 

Xin thương chịu lấy những lời tôi dâng. 

Chúa Con chuộc tội cứu dân, 

Xin tha tội lỗi nợ nần chúng tôi. 

Chúa Con chuộc lỗi chữa đời, 

Ghé tai lân tuất nghe lời van lơn. 

Chúa Con chuộc lỗi xuống ơn, 

Thương xem con mọn đang cơn hiểm nghèo. 

Lạy ơn Đức Mẹ Chúa Dêu, 

Chúng tôi trông cậy cùng kêu van Bà. 

Xin hằng bầu cử trước tòa, 

Tỏ ra lòng Mẹ rất là yêu con. 

Trong nơi khổ ải chon von, 

Cách xa mặt Mẹ hãy còn lầm than. 

Chúa Con xưa xuống thế gian, 

Chẳng từ bỏ kẻ gian ngoan tội tình. 

Lại cam thụ khổ chịu hình, 

Vì loài người thế liều mình đền xong. 

Mẹ thương cũng hợp một lòng, 

Vâng theo ý Chúa thông công như vầy. 

Con xin Mẹ rất nhân thay, 

Chớ bao ngoảnh mặt làm khuyây chẳng nhìn.

 Xin hằng dạy dỗ con liên, 

Cùng hằng yên ủi giữ gìn thương yêu. 

Con trông Mẹ có phép nhiều, 

Muôn vàn thần thánh cũng đều ngửa trông. 

Chúng con còn chốn long đong, 

Như người vượt biển mênh mông giữa vời.

Mẹ như sao ngự giữa trời,

 Chính bên phương bắc các ngôi sao chầu.

Xin soi dẫn để con theo, 

Kẻo con lạc lối sa vào trầm luân. 

Đến sau qua khỏi cõi trần, 

Con trông cậy Mẹ rộng phần lòng thương. 

Liền đem vào cửa thiên đường, 

Được xem thấy Chúa cực sang cực lành. 

Cùng xem thấy Mẹ đồng trinh, 

Hưởng muôn muôn phúuc thần hình thảnh thơi. 

Gồm đầy mọi sự tốt vui, 

Chẳng cùng chẳng hết đời đời. Amen.

Tác giả: Lê Đình Bảng
   dunglac@gmail.com