Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Lê Đình Bảng
Bài Viết Của
Lê Đình Bảng
Kinh Sách Nguyện Giỗ Cầu Hồn - Một Di Sản Đức Tin Văn Hóa
Giới thiệu sách mới: Ở Thượng Nguồn Thi Ca Công Giáo Việt Nam
Nhà thơ Xuân Ly Băng trong dòng chảy văn học Công giáo Việt Nam
Về thượng nguồn thi ca Công Giáo Việt Nam (BTDL 2)
Nhã Ca
CHUNG MỐI ĐỒNG CẢM: NGẮM "VÃN ĐỨC BÀ MÂN CÔI"

Một chút lịch sử kinh Mân Côi

Theo phàm lệ, lịch Phụng vụ của Giáo hội dành riêng tháng 10 Dương lịch – quen gọi là tháng Mân Côi – để mừng kính Đức Mẹ, với lời bảo: “Chuỗi Mân Côi là lối cầu nguyện theo Phúc âm, là một chuỗi tình yêu, gồm những lời yêu thương chân thành và đơn sơ nhất. Hãy nhìn ngắm, tôn thờ, chiêm ngưỡng, suy niệm những mầu nhiệm của Chúa Giêsu và thì thầm những lời ngợi ca, những câu nài xin với đấng đã ban cho chúng ta Đấng Cứu Thế”. Như vậy là, bên cạnh bao nhiêu tước hiệu khác, Regina Rosa Mystica – Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi, Nữ Vương  Truyền Phép Rất Thánh Mân Côi - Đức Mẹ Mân Côi và việc lần hạt Mân Côi đã chính thức đi vào sinh hoạt đạo đức, Phụng vụ theo mùa của nhà thờ nhà thánh từ lâu rồi vậy. Qua các văn kiện, kinh Mân Côi đã diễn tiến qua nhiều giai đoạn: 

Giai đoạn Thánh Vịnh (Thế kỷ XII): Thánh Vịnh  “Kính mừng Maria”, sau đây được gọi là “Thánh vịnh Trinh nữ Maria” gồm 150 kinh kính mừng. Đây là kiểu cách tôn kính Đức Mẹ mô phỏng hình thức Thánh Vịnh trong Phụng Vụ của hàng giáo sĩ, rất phổ thông trong các cộng đoàn phương Tây.

 

Giai đoạn Chiêm Niệm (Thế kỷ XIII): Hình thành và phát triển trong bầu  không khí đạo đức do Thánh Đa Minh khởi xướng. Có thể xem việc lập “Hội dòng Anh Em thuyết giáo” với Tu viện Sainte Marie de Prouille, với đời sống kinh nguyện và tông đồ (Virum canonicum auget in apostolicum) như là chiếc nôi của kinh Mân Côi.

Giai đoạn định hình, từ thế kỷ XVI đến nay:  Kinh Mân Côi đã lần lượt được xác lập bằng các văn bản của Giáo hội. Đức Giáo Hoàng Pio V (1566-1572), với Tự – Sắc “Consueverunt Romani Pontificus”, bản Hiến Chương của kinh Mân Côi, quyết định chuỗi kinh Mân Côi là hình thức cố định và duy  nhất như ngày nay. Từ đó, theo Osservator Romano số 255, 04.11.1970 – kinh Mân Côi trở thành việc đạo đức phổ cập trên toàn thế giới. 

Tuy không có tầm quan trọng như thánh lễ, nhưng kinh Mân Côi là kết quả của một chuỗi dài lịch sử đạo đức của Giáo hội mà ta có thể thấy hiện ra nơi hạnh tích các thánh, nơi các Văn Kiện, Tự Sắc, Thông Điệp của nhiều triều đại Giáo Hoàng sau Đức Pio V. Cụ thể, Tông Huấn “Marialis cultus” thời Đức Pio VI (1775 –1799) đã tóm lược giá trị của kinh Mân Côi: Là kinh cầu nguyện đơn giản mà ai nấy đều thuộc nằm lòng, vì chỉ bao gồm những kinh Lạy Cha, Kính Mừng,  Sáng Danh;  là kinh nguyện chiêm niệm vì người ta có thể chiêm ngắm những mầu nhiệm trọng đại trong hành trình cứu độ của Đức Giêsu Kitô: Nhập thể, Khổ nạn, Phục sinh; là kinh nguyện tu đức vì nhờ suy niệm lời Chúa và gương các nhân đức mà ta nên hoàn thiện hơn; là kinh nguyện gần gũi với đời thường, vì cùng Đức Mẹ, ta được sống những khoảnh khắc buồn vui của Chúa tại Bêlem, Nazareth và Jerusalem. Và dưới thời ĐGH. Gregorio XIII (1572 – 1585), Pio IX (1848 – 1878), Leo XIII (1878 – 1903), Pio XI (1922 – 1939), Pio XII (1939 – 1958)  với Thông điệp “Ingruentium malorum”, Gioan XXIII (1958 – 1963) với Thông điệp “Grata Recordatio”, Phaolô VI (1963 – 1978) với các Tông dụ “Christi Matri” và “Octobri mense”. Bàn về giá trị và ơn ích của kinh Mân Côi đối với đời sống đạo đức của mỗi người, tạp chí Liturgio viết: “Chuỗi Mân Côi đưa chúng ta đến những kiểu cách thực hành Phụng vụ. Phụng vụ và chuỗi Mân Côi trong thực tế, đều hướng về Chúa Kitô, nhân vật trung tâm. Điều mà Phụng vụ phải suy diễn xoay vòng trong một năm thì chuỗi Mân Côi chỉ trình bày trong chừng 15 – 20 phút, tổng hợp được trọn vẹn 15 mầu nhiệm. Những mầu nhiệm này được trình bày theo hình thức “dàn cảnh” nối kết một cách sống động, nên việc suy ngắm trở nên đơn giản – miệng đọc lòng suy – thích hợp với mọi tầng lớp đại chúng” (Theo ý bài “Liturgia e pietà privata” trg. 95). Cùng một nhận xét tương tự. ĐGH. Gioan XXIII đánh giá: “Chuỗi Mân Côi của Mẹ Maria đã được nâng lên thành hàng kinh nguyện cộng đồng và phổ quát trong những nhu cầu bình thường cũng như bất bình thường của giáo hội, của các quốc gia và của toàn cầu”.

 

Văn Côi – Mân Côi – Môi Khôi – Mai Khôi ?

Mai Khôi, hay còn được nhiều nơi gọi là Mân Côi, Mai Côi, Môi Khôi, Văn Côi... đều xuất xứ từ tiếng La Tinh là Rosarium có từ thời Trung cổ, tiếng Ý là Rosario, tiếng Pháp là Rosaire, tiếng Anh là Rosary, có 3 nghĩa như sau: 

một tràng, một chuỗi, một xâu Hoa Hồng (Rosa, Rose + Hoa Hồng); 

một xâu chuỗi hạt trai, hạt đá quý để đeo quanh cổ người phụ nữ; 

một vườn Hoa Hồng. 

Ngày xưa, tràng chuỗi Hoa Hồng là một hình thức của lễ dâng lên các vị thần linh, hay một vòng hoa quàng vào thân mình người được thiên hạ ngưỡng mộ tôn vinh. 

Sang đến Việt Nam, chuỗi Rosarium được người miền Bắc gọi là “Chuỗi Mân Côi”, hoặc “Chuỗi Văn Côi”, riêng người Nam và Trung lại gọi là “Chuỗi Môi Khôi”. Ngoài mấy cách gọi thông thường của từng địa phương nêu trên, các cha dòng Đa Minh chi Lyon Pháp, còn có cách gọi là “Chuỗi Mai Khôi”. Cách gọi này hiện nay được khá nhiều người dùng, nhất là các tu sĩ và giới trẻ,  đặt thành nhiều bài hát, hay viết các bài suy niệm. 

Vậy, phải dùng cách gọi nào cho thật đúng trên bình diện ngôn ngữ học và việc đạo đức thiêng liêng của người Công Giáo chúng ta ? Học giả Đào Duy Anh dịch chữ Rosaire của tiếng Pháp trong ba từ gọn lỏn là “Tràng hạt dài”. Từ điển Pháp Việt của nhà xuất bản Thanh Hóa in năm 1994 dịch ra hai nghĩa là: 

Chuỗi hạt lớn có khoảng 150 hạt, tràng hạt. 

Kinh lần tràng hạt. 

Tổng hợp các từ điển Việt Nam, Hán-Việt và Trung Hoa, chúng ta không tìm được từ ngữ nào là “Mân Côi”. Vậy từ đâu mà có tên gọi này, cũng như đã có những cách đọc trại ra, na ná giống nhau ?

 

Thật ra “Mân” là tên một thứ đá rất đẹp, bên ngoài có vân như ngọc nhưng lại không có giá trị bằng ngọc. Có nơi lại gọi loại đá này là “Văn” có nghĩa là có vân, một thứ đá có vân đẹp. Còn “Môi”  hay đọc đúng chính âm là “Mai” lại là tên một thứ ngọc quý màu đỏ. “Côi”, hay còn đọc là “Khôi” chính là tên một thứ đá kém giá trị hơn ngọc (danh từ). Ngoài ra, còn một nghĩa khác nữa là hiếm, quý, lạ (tính từ).

 

Nếu ghép thành “Mai Côi”, chúng ta còn có thêm ý nghĩa là: một loài hoa rất thơm, sắc đỏ hoặc trắng, nhánh có gai, ngày nay người ta dùng hoa này chưng cất lấy hương liệu ướp vào rượu để sản xuất ra một thứ rượu quý nổi tiếng của Trung Hoa, gọi là “Mai Côi Lộ Tửu”, thường được gọi trại ra là “Mai Quế Lộ”. Riêng ông Nguyễn Văn Khôn và ông Đào Duy Anh đều viết đúng chữ “Mai Khôi Hoa” và giải thích đúng là Hoa Hồng.

 

Vậy, chúng ta có thể khẳng định các cách gọi “Mai Côi”, “Mai Khôi” hay “Môi Khôi” đều là những âm Hán tự có nghĩa đích xác là Hoa Hồng, trong khi cách gọi “Mân Côi” lại không bao giờ có nghĩa là Hoa Hồng, mà chỉ là nói đến một thứ đá!

 

Trong việc đạo đức sùng kính Đức Ma-ri-a, mỗi lời nguyện, mỗi lời kinh là một của lễ xứng đáng, là một đóa Hồng xinh tươi, là một chuỗi Hoa Hồng, là cả một vườn Hồng tuyệt vời mà chúng ta kính cẩn dâng lên Mẹ. Quả là chúng ta không thể dùng từ “Mân” với nghĩa không được cao quý trong “Mân Côi” để tìm lấy một mùi hương ngát thơm lâng lâng bay lên tòa Thiên Chúa được.

 

Đức Mẹ Mân Côi và kinh vãn Mân Côi trong cộng đoàn Việt Nam.

Chẳng ai rõ việc đọc kinh Mân Côi, lần chuỗi Môi khôi du nhập vào các cộng đoàn người Việt Nam Công giáo ở thời điểm nào và ra làm sao cả. Cứ lẽ thường là do các giáo đoàn dòng Đa Minh hoặc Dòng Tên đã phổ biến rất sớm ngay từ thế kỷ 17 chăng ?. Người ta có thể gặp thấy hình tượng cùng sự tôn kính Đức Mẹ Mân Côi tản mạn đó đây qua những trang bút ký của Cha Đắc Lộ. Chẳng hạn, trong một buổi xướng ca đời Chúa Trịnh Tráng ở Đàng Ngoài: “Chúa phái người đưa một chiếc thuyền nhỏ sơn son thếp vàng đến đón và đưa chúng tôi  tới  thuyền Ngài, nơi Ngài muốn cho chúng tôi dự  buổi ca hát. Chúng  tôi trịnh trọng đi theo và thấy Chúa ham thích cách tiêu khiển tao nhã này. Chúa  cho chúng tôi  được hân hạnh ngồi cạnh Chúa và hỏi trong xứ  chúng tôi  người ta đàn hát thế nào ...  Khi chúng tôi nói thì Chúa để ý tới cỗ tràng hạt Đức Trinh Nữ buộc ở thắt lưng tôi.Chúa liền xin, rồi đeo vào cổ đứa cháu gái đã 3 năm đau bệnh đang ngồi trên lòng Chúa.” (Lịch sử  Vương quốc Đàng Ngoài, trang 101 – Bản Việt ngữ của Hồng Nhuệ, tủ sách Đại Kết 1994). Chẳng hạn năm 1644, khi Cha Đắc Lộ đặt chân tới tỉnh Quảng Bình:” Ở đây, tôi gặp một giáo dân rất nhiệt thành vốn là nhà binh lâu năm, tên là Phanchicô. Ông và vợ tên là Têrêsa, cả hai sống rất nhân đức. Ông bắt đầu tôn kính Đức Trinh Nữ trước khi thành giáo dân. Một hôm, ông thấy có ảnh Đức Mẹ Mân Côi trong tay mấy người lương dân, ông bèn bỏ tiền ra mua lại khá đắt và từ đó ông đặt ảnh này lên bàn thờ dựng trong khu nhà để ngày đêm đến đọc kinh kính viếng. Ít lâu sau, ông được đền bù. Đức Mẹ cho ông được ơn chịu phép Rửa và thực hành đời sống nhân đức; còn Têrêsa được ơn riêng trừ quỉ. Trước kia, bà làm nghề phù thủy, còn bây giờ bà lại là một tai họa lớn cho chúng vì cả hai đều chuyên chú thuyết phục lương dân trở về nhận biết Chúa. Tôi thấy rất nhiều người sẵn sàng chịu phép Rửa. Tôi cho hội tất cả ở nhà Phanchicô làm như nhà thờ, còn nhà nguyện ông bà có trưng bày ảnh Đức Mẹ làm quan thầy bảo vệ thì được trang hoàng rất lộng lẫy. Ông tôn sùng Đức Mẹ đến nỗi không bao giờ ông đặt chân vào nhà nguyện mà không lo rửa sạch linh hồn, không hãm mình trước như ông đã thú với tôi...” (Hành trình truyền giáo, cùng dịch giả, trang 132-133).

 

Ở một đoạn khác, Cha Đắc Lộ viết: “Ngày mồng 2 tháng 7 năm 1627, chúng tôi vào phủ Chúa và kinh thành Kẻ chợ ...  Bà Catarina là người ham mê học hỏi và suy ngắm các mầu nhiệm và vì bà rất giỏi về thơ bản xứ, nên bà đã soạn bằng thơ rất hay tất cả lịch sử giáo lý, từ tạo thiên lập địa cho đến Đức Kitô giáng thế, cuộc đời, sự thương khó, phục sinh và lên trời. . . Tác phẩm này rất có ích vì không những giáo dân tân tòng ngâm nga trong nhà thờ, nơi thành thị cũng như chốn thôn quê, mà cả nhiều lương dân khi ca hát và thích thú về lời ca dịu dàng thì cũng học biết những mầu nhiệm và chân lý đức tin.” (Sđđ). 

Đúng là chốn kinh kỳ ngàn năm văn vật có khác. Ngay buổi hừng đông, Tin Mừng đã được đón nhận trong bầu không khí nên thơ của một thi xã, thi đàn trong khung cảnh hội nhập văn hóa rất là đậm đà tình nghĩa của một dân tộc quý sĩ trọng văn. Điều này không có chi lạ, vì “Dân Việt ưa ca hát, tiếng Việt có nhạc tính phong phú. Ngay trong những lời kinh nguyện nhật tụng cũng đã la những cung điệu trầm bổng, nhịp nhàng. Cao hơn một bậc nữa, là những cung ngân nga khi đọc sách Thánh, những điệu bi ai mùa Thương Khó, những bài vè vãn kính mừng Sinh Nhật và dâng tiến Đức Mẹ. Tất cả đều thấm nhuần hồn nhạc, lời thơ cổ truyền của dân tộc và sống động đức tin sốt sắng. Đặc sắc hơn hết là những bài vãn về Đức Mẹ như Dâng Hoa và vãn Mân Côi” (Võ Long Tê, lịch sử văn học Công giáo Việt Nam, Saigon 1964).

 

Vãn kinh Văn Côi, một áng văn chương.

Ở đây, trong khuôn khổ một bài báo nhỏ, với trọn tâm tình của một tín hữu Việt Nam và ở góc độ văn hóa nghệ thuật, kẻ viết bài này muốn giới thiệu với  độc  giả  một  bản  văn cũ kỹ, một bài kinh xửa xưa. Cũ xưa,  nhưng rất phổ biến và có giá trị, nếu đem ra luận bình giữa thanh thiên bạch nhật, trong chốn thi phú văn chương: Văn Côi Thánh Nguyệt Tán Tụng Thi Ca (còn gọi là vãn Mân Côi; ca Mân Côi) của cử nhân Phạm Trạch Thiện (sinh năm 1818, nguyên quán Cốc Thành, Nam Định).

 

Nói đến “ca vãn” là nói đến sự khai phá mở đất, sự vượt thoát ra khỏi niêm luật cũ của thơ Nôm ta. Trong lịch sử văn học Việt Nam, những tác phẩm thuộc dạng “ca vãn” không nhiều nhặn gì, so với kho tàng sung mãn của thi phú, truyện ký và khúc ngâm. Trường hợp của những Gia Huấn Ca, Côn Sơn ca, Quỳnh Uyển Cửu ca, Đại Nam Quốc Sử diễn ca, Hà Thành Chính Khí ca và Tự Tình vãn, Thần Tích vãn, Ngọa Long Cương vãn, Tư Dung vãn, Ai Tư vãn chỉ chợt lóe lên trong một khoảnh khắc, rồi tắt ngấm. Thậm chí, cũng rất hiếm thấy một công trình nghiên cứu chuyên sâu về thể loại này. Lạ lùng thay, đối với giới nghệ sĩ dân gian nhà đạo, ca vãn lại trở thành phương tiện diễn đạt phổ biến nhất, hấp dẫn nhất để rao giảng Tin Mừng, để giãi bày tấm lòng con thảo tôi trung. Nói một cách khác, ca vãn ví như cục đá bỏ lăn lóc ngoài đường, như gươm đao vô dụng buổi thái bình, bỗng hóa thân thành viên – đá – góc - tường, thành lưỡi hái lưỡi cày khi sang tay nhà đạo. Nó rộ lên với sự ra đời hàng loạt của những bài, tập, sách mang nội dung hạnh tích khác nhau.  Dễ đến con số 40 – trong đó bài “Gióp vãn” gồm 900 câu thơ – hình thành  một bộ phận khá bề thế, không thể thiếu vắng nếu muốn nghiên cứu và đánh giá nghiêm túc về văn học Kitô giáo ở Việt Nam. Sổ sách Công giáo của các nhà in, nhà sách ở đầu thế kỷ này như Nazareth Hồng Kông, Kẻ Sở, Trung Hòa (Hà Nội), Qui Nhơn, Phú Nhai (Bùi Chu) và Mission Tân Định (Sàigòn) đều ghi nhận “Inê tử đạo vãn” có mặt trong bộ từ điển La Tinh – Annam của Taberd (1838) như là một khởi đầu tốt lành cho vụ gặt mới. Còn đối với công chúng nhà đạo thì việc đón nhận hồ hởi mảng văn học này cũng có cơ sở rõ rệt. Nó vừa là “Kinh” đượm mùi triết lý, thần học được biên tập và chuẩn nhận để cầu  nguyện; “VÃN” được thi ca hóa để ngâm ngợi; lại vừa hàm chứa những cung giọng phong phú của ngôn ngữ âm nhạc dân gian để mỗi người hoặc cả cộng đoàn ca hát lên. Không phải là cổ tích, khi nghe kể rằng, ông bà cha mẹ mình thuở trước chữ nghĩa chẳng bằng ai, ấy thế mà ru con dạy cháu răn đời cứ là đọc lên vanh vách những Ca Dao Tục Ngữ, lẩy Kiều, hò Lục Vân Tiên hoặc  ngâm nga những Sấm Truyền ca, truyện Alêxù, vãn Dâng Hoa, vãn Đức Bà Rosa . . . Như thế, có nghĩa là trong văn hóa, sẵn có những nhân tố không thể phân giải bằng lý tính mà chỉ cảm nhận được một cách tự nhiên. Nhà lý luận văn học đọc Kiều bằng bộ óc thi pháp, soi rọi bằng điển cố, bằng quan điểm. Còn bà cụ thất học ở nhà quê nhớ Kiều bằng tai và miệng, bằng con tim thật thầm lặng như cỏ cây uống giọt sương, hít thở khí đất và ánh sáng của ngày và đêm. Văn hóa nghệ thuật của bất cứ dân tộc nào cũng tồn tại và phát triển trong điều kiện tự nhiên ấy.

 

Thử phân tích tác phẩm.

Gọi là  “Phép ngắm Rosa”,  “ Vãn Mân Côi”  hay gì gì đi nữa cũng chỉ là những cách nói, cách gọi, cách đặt tên cho “Văn Côi Thánh Nguyệt Tán Tụng Thi Ca”. Cũng như bảo “Đoạn Trường Tân Thanh” của cụ Nguyễn Du là  “ Truyện Kiều”,  là “Kim Vân Kiều truyện”. Cái ngôn ngữ đời thường trong cõi dân gian nó vậy. Cùng một bản gốc kinh vãn ấy,  cùng một ý nghĩ mục đích là suy niệm về mầu nhiệm cứu độ của Chúa Giêsu, song đó đây, tùy nơi tùy người, tùy cảnh, phép lần hạt đã được cải biên thành “Phép lần hạt Rosario; Phép lần hạt Rất Thánh Đức Bà; Phép lần hạt Ngắm Tắt; Phép lần hạt Bảy Sự Thương Khó Đức Bà; Gẫm Tắt 5 Sự Vui Thương Mầng; Phép lần hột Nhứt Tam Thể Vị; Phép lần hột 5 Sự Thương Khó; Phép lần chuỗi Đức Chúa Bà Môi Khôi. . .

 

Bản kinh này nguyên văn bằng chữ Nôm được in ra ở phần “Kinh Hán Nôm –vãn” trong quyển “ Thánh giáo kinh nguyện” của Hội Đồng Kinh 1924. Qua tìm hiểu, dựa vào sách “Toàn Niên Kinh Nguyện”. “Công giáo Việt Nam trong truyền thống văn hóa dân tộc” của Lm. Pet. Hán Chương Vũ Đình Trác, California 1996 và “Quốc Triều Hương Khoa Lục” của cụ Cao Xuân Dục thì năm Nhâm Tý (Tự Đức năm thứ 5), tác giả Phạm Trạch Thiện lều chõng đi thi Hương tại Nam Định và đỗ Á Khoa (xếp hạng 2 trong số 20 tân khoa). Ngoài “Văn Côi Thánh Nguyệt Tán Tụng Thi Ca”, cụ cử Thiện còn là tác giả của những áng thơ kinh Công giáo có giá trị, như “Nghinh Hoa Tụng Kỳ Chương” tức “Vãn Dâng Hoa” và “Kinh cầu Đức Bà diễn ca”  gồm 126 câu thơ lục bát, thường được xướng ca khi rước kiệu hoa vào nhà thờ. Gọi “Văn Côi Thánh Nguyệt Tán Tụng Thi Ca” (VCTNTTTC) là một “trường thiên”  bởi nó bao gồm những 252 câu thơ đi liền hơi, liền mạch, liền vần. Thể thơ được tác giả sử dụng là thể thơ phức hợp khá ngoạn mục, hiếm thấy, kết cấu đan xen giữa thất ngôn, song thất và lục bát, khác hẳn cách kết cấu theo chu kỳ cố định của một khổ thơ song thất lục bát thông thường (1 cặp thất ngôn + 1 cặp lục bát) mà ta đọc thấy trong Chinh Phụ Ngâm và Cung Giáng Ngâm Khúc. Trộm nghĩ, có lẽ cụ cử Thiện đã gặp được tiếng lòng phơi phới tự do của Lê Đức Mao (1605) khi bậc Tiến sĩ này làm ra bài ca cho ả đào hát nhân ngày đầu xuân để chúc hội làng ? Mời độc giả xem thử hai trích đoạn sau đây:

 

Thất ngôn Lục Bát  

Song thất  Lục bát 

Xuân nhật tảo khi gia cát hội

Hạ đình thông xướng thái bình âm

Tàng câu mở tiệc trăm năm

Miếu Chu đối Việt chăm chăm tất thành

Hương dâng ngào ngạt mùi thanh    

Loan bay khúc múa, hoa quanh tịch ngồi

Ba hàng vui vẻ ngày vui

Tung ba tiếng chúc, gió mười dặm Xuân

Nhởn nhơ cõi thọ, nền nhân

Vui lòng hi hạo tụng ân bình hòa               

Thơ Thiên Bảo dâng ca chúc hỗ            

Khánh Ngô Hoàng vạn thọ vô cương

Xuân kỳ một giải hàng ngang

Thưởng đào hai chữ phụ khang mừng làng 

LÊ ĐỨC MAO  

 Phép ngắm Rosa nguyên cội rễ 

Suy ơn chuộc tội loài người thế 

Tự sinh nhi tử tử nhi sinh 

Công nghiệp vô cùng khôn xiết kể 

Lạy ơn rất thánh Đức Bà 

Xin vì phép ngắm Rosa thánh này

Ban ơn soi sáng bởi trời

 Cùng ban sự sống đời đời cho con

Chúa toan cứu chuộc các sinh linh

Sai Sứ truyền tin Thánh Tử sinh

Thánh Mẫu dâng mình theo ý Chúa

Chịu thai nguyên vẹn đức đồng trinh

Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay

Xin vì sự nhiệm mầu này, dủ thương

Cho con lòng vững đá vàng      

Vâng theo ý Chúa mọi đàng đừng sai   


PHẠM TRẠCH THIỆN 

Các chương đoạn kết cấu.

Để tiện việc đọc, nắm ý, phân cảnh và phần nào cảm nhận được chút dư vang của cung  giọng cổ truyền trong ca vãn Rosa xưa, chúng tôi xin đề nghị một bố cục (có đánh số câu trên bản văn); đồng thời cũng trình làng vài ba trích dẫn mà chúng tôi ký âm được từ chính cửa miệng của các bậc lão thành còn rơi rớt lại. Cứ xem như là bước đầu thử nghiệm có vẻ lãng mạn của kẻ đãi cát tìm vàng, của gã du ca đi nhặt ánh sao rơi vương vãi trên đường về quê thăm thẳm, mịt mù. Đền đài, lăng tẩm, di vật, phế tích còn có thể tôn tạo, trùng tu, phục chế được. Nhưng cái phần hồn của quá khứ, cái văn hóa phi vật thể là những cung giọng trầm bổng ngân nga, cái ngôn ngữ của lòng người kia chắc chắn sẽ qua đi theo số phận của từng cuộc đời, của quy luật thời gian, nếu không mau chóng bỏ công sức tiền của để sưu tập, nghiên cứu, biên soạn, cách tân và truyền đạt lại cho mai sau. Những mong có ngần ấy thôi. Chẳng lẽ. . . ? 

- Phần I – DẪN NHẬP (từ câu 1-32)

- Dẫn (1-20)   : Lý do Thánh Đa Minh soạn ra Kinh Mân Côi.

- Nhập (21-32): Ơn ích của Kinh Mân Côi. 

- Phần II – VĂN CÔI THẬP NGŨ SỰ THI CA (33-216) 

- 5 sự vui (33-96) 

- 5 sự thương (97-156) 

- 5 sự mừng (157-216) 

- Phần III – TỔNG TẠ (217 – 252) Cám ơn.

Tác giả: Lê Đình Bảng
   dunglac@gmail.com