Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Lê Đình Bảng
Bài Viết Của
Lê Đình Bảng
Kinh Sách Nguyện Giỗ Cầu Hồn - Một Di Sản Đức Tin Văn Hóa
Giới thiệu sách mới: Ở Thượng Nguồn Thi Ca Công Giáo Việt Nam
Nhà thơ Xuân Ly Băng trong dòng chảy văn học Công giáo Việt Nam
Về thượng nguồn thi ca Công Giáo Việt Nam (BTDL 2)
Nhã Ca
DANH SĨ PHẠM TRẠCH THIỆN (1818-1903 ?)

Người đương thời thường gọi Phạm Trạch Thiện bằng cái tên rất Việt Nam, rất nho nhã tư văn là “Cụ Cử Thiện”. 

Không rõ ông sinh năm nào và mất bao giờ. Chỉ biết ông là người làng Cốc Thành (giáo xứ  Cổ Ra, giáo phận Bùi Chu), huyện Nam Trực (Đại An), tỉnh Nam Định. Từ thuở nhỏ đã theo đòi nghiên bút. Lớn lên, nổi tiếng văn hay chữ tốt, thi phú lỗi lạc. Tuy nhiên, do thời thế nhiễu nhương, cấm cách, không dám xuất đầu lộ diện để hòa nhập vào chốn trường văn trận bút, chỉ âm thầm với làng quê, với sách đèn. Mãi đến năm Nhâm Tý – 1852 (Tự Đức năm thứ 5), ông mới lều chõng đi thi Hương tại Nam Định. Trường Nam buổi ấy đặt dưới quyền Chánh chủ khảo là quyền Tổng đốc Bắc Ninh, Nguyễn Quốc Hoan và Phó chủ khảo là ông Nguyễn Ba Thiều. Khoa này, ông đỗ Á khoa, nghĩa là xếp thứ hai trong số 20 tân khoa. Ngặt thay, chỉ vì “theo đạo Gia Tô là tà đạo”, ông bị truất tịch khỏi học vị Hương Cống (Cử nhân). 

Đường công danh sự nghiệp như thế là kết thúc. Ông sống những năm tháng còn lại ở quê nhà, xứ đạo, lấy chuyện sưu tầm, ghi ký, biên tập, sáng tác kinh sách làm vui. Với sở học uyên thâm và tài năng thi phú, chắc hẳn sự nghiệp thi ca của ông phải đồ sộ lắm mới phải ?. Rất tiếc, vì những thời kỳ cấm đạo nghiệt ngã liên tiếp, đến nay, trong ký ức và kinh sách của các giáo phận Dòng Đa Minh chỉ còn lưu giữ và phổ biến 3 tác phẩm: 

Nghinh Hoa Tụng Kỳ Chương (Vãn Dâng Hoa Đức Bà). 

Văn Côi Thánh Nguyệt Tán Tụng Thi ca (Vãn Đức Bà Mân Côi). 

Thánh Mẫu Thi Kinh (Vãn Kinh Cầu Đức Bà). 

Về giá trị văn học nghệ thuật của hai trường thiên – Nghinh hoa tụng Kỳ Chương và Văn  Côi Thánh Nguyệt Tán Tụng Thi ca – chúng tôi đã viết trong tập này. Riêng đối với “Vãn Kinh Cầu Đức Bà”, một chuyển ngữ diễn ca từ La Tinh gồm 126 câu thơ lục bát. Nhà nghiên cứu Lm. Phêrô Vũ Đình Trác đã phân tích 4 đặc điểm về nghệ thuật văn chương của tác phẩm này như sau: 

- Bình dân: “ Ba Ngôi cùng một Chúa Trời, 

Xin thương phù hộ chúng tôi mọi đàng”. 

- Mộc mạc: “ Maria Thánh Nữ Vương, 

Trước tòa xin dủ lòng thương thay lời”. 

- Văn vẻ  : “ Đức Bà như thể đền vàng, 

Vững bền chói lói vẻ vang mọi bề.” 

- Uyên bác: “ Nữ Vương tuyết sáng gương trong,  

 Hơi trần chẳng đượm vào trong tính tình.”    (Công giáo Việt Nam Trong Truyền Thống Văn Hóa   Dân Tộc – Orange, California, USA, 1996).

 

Năm 1960, cụ Lê Ngọc Trụ, Giáo sư Ngữ học Đại học Văn khoa Sàigòn đã chép 6 câu sau đây, giữ làm kỷ niệm, để ngâm ngợi, vì cụ cho rằng đó là “ những hình tượng đẹp tuyệt vời trong thi ca Công giáo Việt Nam” mà cụ tiếp cận: 

Chúng con còn chốn long đong 

Như người vượt biển mênh mông giữa vời. 

Mẹ như sao ngự giữa trời, 

Chính bên phương Bắc các ngôi sao chầu 

Xin soi dẫn để con theo, 

               Kẻo con lạc lối sa vào trầm luân” 

Có lẽ để đáp lại mối duyên ngộ đạo cuối đời ấy, Đức Trinh Nữ Maria – qua khắc họa của “Vãn Kinh Cầu Đức Bà” – đã thăm viếng và đưa Lê quân vào đạo năm 1978, trước khi cụ về nơi vĩnh phúc. 

Tác giả: Lê Đình Bảng
   dunglac@gmail.com