Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Trí Dũng
Bài Viết Của
Nguyễn Trí Dũng
Nhật ký của kẻ theo tiếng gọi tình yêu
Đường hẹp (truyện ngắn)
Đi tìm (truyện ngắn)
Truyện ngắn: Nắng, mây và gió - Người phi thường
TỪ VỰNG THẦN HỌC KINH THÁNH: TIN MỪNG

Mời đọc sách Từ Vựng Thần Học Kinh Thánh

Đối với chúng ta, Tin mừng chỉ rõ hoặc như là chuyện kể về cuộc đời Đức Giêsu, hoặc như bản trình thuật được đọc lên trong mỗi thánh lễ. Nơi dân ngoại Hy lạp, Tin mừng có nghĩa là “tin mới”, đặc biệt là tin loan báo chiến thắng. Sự yên bình của La Mã, những sự kiện quan trọng về cuộc sống của hoàng đế, một vị thần và vị cứu tinh, tất cả đều được cử hành như là những tin mừng. Tuy nhiên, trong Cựu ước thì động từ “rao truyền tin mừng” rõ ràng là mượn từ ngôn ngữ của người Kitô hữu mà nó đã từng mang một ý nghĩa đặc biệt: loan báo ơn cứu độ.

I. CỰU ƯỚC

Tiếng Do thái có một từ để diễn tả sự loan báo những tin mừng cho cuộc sống cá nhân hay đời sống của đất nước: cái chết của kẻ thù (2 Sm 18,19-26), sự chiến thắng (Tv 68,12), sự giải thoát của dân thành Giu-đa (Na 2,1). Từ này đúng là mang giá trị tôn giáo trong sách Isaia (40-66). “Người loan báo tin mừng” công bố triều đại Thiên Chúa ngự đến, cùng với sự chấm dứt thời kỳ lưu đày (Is 52,7). Thông điệp của người ấy là sự an ủi, là tha thứ tội lỗi, là Thiên Chúa trở về với dân Sion (40,1-9). “Tin mừng” này là một nguồn sức mạnh hành động của Thiên Chúa (52,1). Được cất vang trên núi (40,9), tin mừng ấy đã cuốn hút mọi dân tộc (52,10; Tv 96,2). Nó cũng vượt qua mọi thế kỷ. Đi xa hơn tin mừng về sự trở về từ thời lưu đày, nó còn loan báo sự chiến thắng và triều đại cuối cùng của Thiên Chúa.

II. ĐỨC GIÊSU

1) Người loan báo tin mừng. Trong câu trả lời của Đức Giêsu dành cho các môn đệ của Gioan Tẩy Giả (Mt 11,4) cũng như trong hội đường Nagiarét (Lc 4,16-21), Ngài đã áp dụng vào chính mình đoạn văn của ngôn sứ Isaia (61,1): “được xức dầu bởi Thiên Chúa của quyền năng và Thánh Thần” (Cv 10,38; Mt 3,16), Ngài đến để “rao truyền tin mừng cho người nghèo khó”.

2) Tin mừng. “Thời đã mãn, Triều đại Thiên Chúa đến gần” (Mc 1,15), đó là điều chính yếu của thông điệp. Thế nhưng, lần này, con người rao truyền ấy cũng trở nên trung tâm của tin mừng. Tin mừng chính là Đức Giêsu (x. Mc 1,1). Các thiên thần đã loan báo sự giáng sinh của Ngài như một tin mừng (Lc 2,10). Cùng với Ngài là sự hiện diện của Triều đại Thiên Chúa (Mt 12,28). Ai từ bỏ tất cả vì Đức Giêsu và “vì Tin mừng” thì nhận được “gấp trăm ngay từ bây giờ” (Mc 10,30). Người ta cũng thấy những đám đông chen lấn vây quanh Đấng rao truyền tin mừng, và nỗ lực giữ Ngài lại. Thế nhưng tin mừng phải được lan truyền: “Tôi phải loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác, vì tôi được sai đến để làm việc đó” (Lc 4,43).

3) Đáp trả lại Tin mừng sẽ là sám hối và tin (Mc 1,15). Thiên Chúa đã ban tặng ơn tha thứ (Mc 2,10; 2,17), ơn đổi mới (Mc 2,21). Ngài chờ đợi nơi con người, kẻ xưng thú và từ bỏ tội lỗi của mình, dám liều mạng sống theo tin mừng: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, nhưng ai mất mạng sống mình vì Ta và vì Tin mừng thì sẽ cứu được nó” (Mc 8,35). Những người được sinh ra từ Tin mừng là “những người có tinh thần nghèo khó” (Mt 5,3; Mc 10,17-23), “những người bé mọn” (Mt 11,28; Lc 9,48; 10,21), người tội lỗi (Lc 15,1; 18,9-14; Mt 21,31), cũng như dân ngoại (Mt 8,10; 15,21-28). Cảm nhận sự nghèo nàn của họ sẽ mở đường cho họ lắng nghe và nhận ra tình thương của Thiên Chúa vốn là nguồn của cảm xúc này (Mt 9,36; 14,14; Lc 7,47-50;19,1-10).

III. CÁC TÔNG ĐỒ

1) Những nhà rao giảng. Đức Giêsu phục sinh đã sai các Tông Đồ “đi khắp muôn nơi rao giảng Tin mừng cho các loài thọ tạo” (Mc 16,15), “cho muôn dân” (Mc 13,10). Sách Tông đồ công vụ đã mô tả các giai đoạn rao giảng này (hay kérygme). Mặc cho gặp nhiều trở ngại, Tin mừng được lan truyền “đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Nhờ ân sủng của Thánh Thần, Giáo Hội loan báo Tin mừng cách “mạnh dạn” (2,29; 4,13.31; 28,31). Sứ mạng này rất quan trọng đến nỗi nó đủ để xác định phẩm chất những ai chu toàn nó, chẳng hạn như phó tế Philippe được gọi là “người loan báo Tin Mừng” (Cv 21,8; x. Ep 4,11; 2 Tm 4,5).

2) Thông điệp. Tin Mừng luôn là Tin Mừng về Nước Thiên Chúa (Cv 8,12; 14,21; 19,8; 20,25; 28,23); Tin ấy loan báo rằng “lời hứa với các tổ phụ của chúng ta thì đã được thực hiện” (13,32). Tin này ơn tha thứ, tặng ân của Thánh Thần (2,38; 3,26; 10,43; 13,38; 17,30). Nhưng từ nay trở đi nó đồng nhất với “Tin mừng Đức Giêsu” (8, 35; 17,18), “Tin mừng về Danh Đức Giêsu Kitô” (8,12), “Tin mừng Chúa Giêsu” (11,20), “Tin mừng bình an nhờ Đức Giêsu Kitô” (10,36). Sự phục sinh của Đức Kitô đi đến trung tâm của Tin mừng.

3) Đón nhận Tin mừng. Tin mừng luôn đi đôi với những “dấu chỉ” được Đức Giêsu hứa ban (Mc 16,17; Cv 4,30; 5,12.16; 8,6; 19,11). Tin ấy được truyền rộng trong môi trường khó nghèo, đơn sơ, chia sẻ cộng đoàn và niềm vui (Cv 2,46; 5,41; 8,8.39). Khắp nơi Tin mừng luôn gặp được những tấm lòng gắn bó, “khát khao nghe Lời Chúa” (13,7.12), khát khao hiểu biết điều phải làm để được cứu rỗi (16,29). Họ có nét chung này là “lắng nghe” (2,22.37; 3,22…), “đón nhận” (8,14;11,1;17,11), “vâng phục” (6,7). Trái lại, tính tự phụ kiêu căng (13,41) và ghen tương (13,45), phóng túng (17,32) thì đóng chặt tâm hồn con người trước Tin mừng.

IV. THÁNH PHAOLÔ

1) Người rao truyền. Phaolô chính là người tiêu biểu nhất của Tin mừng. Thiên Chúa đã “dành riêng cho ông việc rao giảng Tin mừng” (Rm 1,1). Ngài đã mặc khải cho ông Con của Ngài, để ông “loan báo Tin mừng về Con của Ngài cho các dân ngoại” (Ga 1,15). Ngài đã “giao phó Tin mừng” cho ông (1 Tx 2,4). Là “Người phục vụ” Tin mừng (Cl 1,23), Phaolô buộc phải rao giảng Tin mừng (1 Cr 9,16), và cũng “hết lòng thờ phượng” Thiên Chúa (Rm 1,9), lo “chức việc tế tự” (Rm 15,16).

2) Thông điệp. Tin mừng này được Phaolô gọi hoặc là Tin mừng, không thêm gì nữa, hoặc là Tin mừng “của Thiên Chúa”, “của Con Ngài… Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (Rm 1,3..9), “của Đức Kitô” (Rm 15,19; 2 Cr 2,12…), “của vinh quang Đức Kitô” (2 Cr 4,44), của “sự phong phú khôn lường” của Đức Kitô (Ep 3,8).

a) Sức mạnh cứu độ. Như Tin mừng của toàn thể Giáo hội nhưng với một sức mạnh đặc biệt, Tin mừng của Phaolô được tập trung vào cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô (1 Cr 11,1-5) và hướng đến sự quang lâm của Ngài (1 Cr 15, 22-28). Tin mừng là kết cấu mới theo cách nó lan truyền và phát triển nhờ lời rao giảng tông đồ và nhờ nguồn lực của Thiên Chúa hoạt động bên trong lời ấy, “Tin mừng là sức mạnh của Thiên Chúa dùng để cứu độ” (Rm 1,16). “Tin mừng này sinh hoa trái và lớn lên khắp thế giới” (Cl 1,6). Các Giáo hội đua nở, các đặc sủng dồi dào, sức sống thiêng liêng hồi sinh chưa từng thấy trước đó, tất cả những điều ấy chúng kết hợp với “sự vững tin” siêu nhiên của chính vị Tông Đồ, chúng làm chứng cho sức mạnh của vị Tông Đồ, thì đang chinh phục thế giới (Gl 3,5; 4,26; 2 Cr 2,12; 3,4; 1 Tx 1,5). Phaolô đã nỗ lực rao giảng và “chịu đựng tất cả…. để không gây trở ngại cho Tin mừng của Đức Kitô” (1 Cr 9,12).

b) Sự hoàn thành các Sách Thánh. Phaolô đã nhấn mạnh đến tính liên tục của Tin mừng so với Cựu ước: đó là “mặc khải mầu nhiệm đã được giữ kín từ ngàn xưa, nhưng nay lại được biểu lộ và được đem đến cho muôn dân nhận biết bằng các Sách Thánh” (Rm 16,25…). Lời hứa với tổ phụ Abraham (St 12,3) đã là một “tiền Tin mừng” mà nay trở thành hiện thực nơi sự hoán cải của dân ngoại (Gl 3,8; Ep 3,6).

3) Con người đáp lại Tin mừng. Tin mừng chỉ rèn luyện đức độ của con người nếu con người biết đáp lại Tin mừng bằng đức tin: “Tin mừng là sức mạnh của Thiên Chúa để cứu độ tất cả những kẻ tin… Trong Tin mừng, sự công chính của Thiên Chúa được mặc khải nhờ đức tin để đưa đến đức tin” (Rm 1,16… 1Cr 1,18.20). Tin mừng là nơi chọn lựa. Rao truyền sức mạnh cứu độ với sự yếu đuối và chìm đắm trong mầu nhiệm thập giá (1 Cr 1,17-2,5), đối với một số người thì lời rao giảng ấy lại là tai tiếng, “điên rồ” (1 Cr 1,18.21.23; Rm 9,32…; Gl 5,11) và “hãy còn bị che khuất”: đó là những người bị mù quáng bởi “vị thần của đời này”, họ “không còn thấy bừng sáng lên Tin mừng nói về vinh quang của Đức Kitô” (2 Cr 4,4). Họ không vâng theo Tin mừng của Chúa (2 Tx 1,8). Trái lại, đối với những người khác, Tin mừng được đón nhận trong “sự tuân phục của đức tin” (Rm 1,5; 2 Cr 10,5). Trong ân sủng của Tin mừng, họ mở lòng ra với “Tin mừng về ân sủng” (Cv 20,24).

V. THÁNH GIOAN

Không phải Tin mừng cũng không phải các thư của thánh Gioan sử dụng từ ngữ Tin mừng. Chính những lời chứng chiếm giữ vị trí trong các sách này; đối tượng của chúng là sự thật, sự sống và sự sáng. Thế nhưng, trong sách Khải Huyền, thánh Gioan có thị kiến về “một thiên thần bay trên vòm trời, mang một Tin mừng vĩnh cửu để loan báo cho những người còn ở trên mặt đất” (14,6…), Tin mừng về sự trị vì cuối cùng của Nước Thiên Chúa.

KẾT LUẬN

Trong suốt thế kỷ thứ II khi mà từ ngữ “tin mừng” được dùng để chỉ rõ mối tương quan đã định sẵn giữa cuộc đời và những lời giảng dạy của Đức Giêsu, thì cũng vì thế mà nó không mất đi ý nghĩa ban đầu. Nó vẫn có nghĩa là tin mừng cứu độ và tin mừng về Nước Thiên Chúa trong Đức Kitô. “Thánh Irênê đã viết, các Tông Đồ trước tiên đã rao giảng Tin mừng này. Sau đó, theo thánh ý của Thiên Chúa, các ngài đã truyền lại Tin mừng cho chúng ta qua các sách Thánh để Tin mừng ấy trở nên nền tảng và cột trụ cho đức tin của chúng ta”. Khi vị tư tế hay phó tế được xem như như vị tiên tri hay Tông đồ, cất tiếng hát trong thánh lễ, theo công thức “Tiếp theo Tin mừng…”, thì vị ấy loan báo cho thế giới biết tin mừng giải phóng nhờ Đức Giêsu Kitô. Trong những lời đáp phụng tự: “Vinh danh Chúa! Ngợi Khen Đức Kitô!”, nếu chúng ta chú ý đến ý nghĩa của những từ ngữ ấy thì với sự mới lạ của Tin mừng, chúng ta sẽ luôn có niềm hoan hỉ sướng vui được gặp gỡ thế giới đầu tiên.

Tác giả: Nguyễn Trí Dũng
   dunglac@gmail.com