Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Trí Dũng
Bài Viết Của
Nguyễn Trí Dũng
Nhật ký của kẻ theo tiếng gọi tình yêu
Đường hẹp (truyện ngắn)
Đi tìm (truyện ngắn)
Truyện ngắn: Nắng, mây và gió - Người phi thường
TỪ VỰNG THẦN HỌC KINH THÁNH: VÂNG PHỤC

Mời đọc sách Từ Vựng Thần Học Kinh Thánh

Đi xa hơn khía cạnh phải chịu đựng sự gò bó và thụ động nghe lời, vâng phục vốn là sự tự do gắn kết với ý định của Thiên Chúa, vốn đang còn là mầu nhiệm ẩn kín nhưng lại được Lời Chúa đề nghị thực hiện, sự vâng phục ấy cho phép con người sống đời phục vụ Thiên Chúa và đạt hưởng niềm vui.

I. VŨ TRỤ VÂNG PHỤC THIÊN CHÚA

Ngay trong vũ trụ, không kể tới con người, hình như phảng phất điều gì đó giống với sự vâng phục và niềm vui này. Rằng Đức Chúa thả móc bắt Con Giao Long (G 40,25) hay giày xéo thần Rahab (Ra-háp) (Tv 89,11), đó là bằng chứng quyền làm chủ tối cao của Ngài; rằng Đức Giêsu làm lặng bão tố hay trừ quỷ, đó là bằng chứng rằng những thứ giống như quỷ, “gió và biển phải vâng lời Ngài” (Mt 8,27; Mc 1,27), và những sự thể hiện quyền lực này gợi niềm sợ hãi mang tính tôn giáo; nhưng hơn thế, rằng sự lặng im của vũ trụ thừa nhận Ngài là Chủ Tể, điều làm cho Kinh Thánh ngạc nhiên và dâng lời tạ ơn, đó là sự nhiệt thành hoan hỉ của các tạo vật chạy đến với tiếng gọi của Thiên Chúa: “Các tinh tú bừng sáng…trong vui tươi; Ngài gọi chúng và chúng thưa: “Chúng tôi đây!” và chúng hân hoan chiếu sáng vì Đấng đã tạo dựng nên chúng” (Ba 3,34-35); x Tv 104,4; Hc 42,23;43,13-26). Trước niềm hăng say này của các tạo vật tươi đẹp nhất để làm tròn nhiệm vụ mà Thiên Chúa đã dành cho chúng trong vũ trụ của Ngài, nhân loại “bị giam hãm trong sự không vâng phục” (Rm 11,32) gợi lại một cách vô thức và đau khổ điều mà lẽ ra đã phải là sự vâng phục của họ, còn Thiên Chúa thì làm cho họ thấy và hy vọng vào điều có thể giống với lòng tự nguyện vâng phục của vũ trụ nó đã được cứu chuộc bằng sự vâng phục của Con Ngài (Rm 8,19-22).

II. THẢM KỊCH CỦA SỰ BẤT VÂNG PHỤC

1. Từ nguyên thủy, Ađam đã không vâng phục Thiên Chúa nên kéo theo con cháu đi vào sự phản nghịch của mình (Rm 5,19) và buộc muôn loài vào cảnh hư ảo (8,20). Sự phản nghịch của Ađam, trái lại, chỉ ra điều gì là vâng phục và điều gì Thiên Chúa chờ đợi từ sự vâng phục ấy: vâng phục là sự tuân theo ý Chúa của con người, là sự thực thi giới răn mà chúng ta không hiểu ý nghĩa và cái giá của nó nhưng chúng ta nhận thức được nó có tính chất mệnh lệnh của Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta vâng phục thì tức là Ngài muốn làm tròn kế hoạch, tức dựng nên vũ trụ, và Ngài cần đến sự cộng tác của chúng ta, tức sự gắn kết của chúng ta trong đức tin. Đức tin không phải là vâng phục nhưng là điều sâu kín của vâng phục; vâng phục là dấu chỉ và hoa trái của đức tin. Nếu Ađam bất vâng phục thì tức là ông đã nghe tiếng của Evà và tiếng của Kẻ cám dỗ mà quên đi Lời Chúa (St 3,4…).

2. Để cứu chuộc nhân loại, Thiên Chúa đã gợi nên đức tin của Abraham, và để bảo vệ đức tin này, Ngài làm cho nó trải qua sự vâng phục: “Hãy ra khỏi đất nước ngươi” (St 12,1), “Hãy bước đi trước mặt Ta và hãy nên hoàn thiện” (17,1), “Hãy đem con của ngươi…dâng nó làm lễ toàn thiêu” (22,2). Toàn bộ cuộc đời của Abraham đều đặt trên Lời Chúa, nhưng Lời này luôn buộc ông bước đi không suy xét và thực hiện những việc mà ông không hiểu nghĩa gì. Đối với ông, sự vâng phục cũng là sự thử thách, là ước muốn của Thiên Chúa (22,1), còn đối với Thiên Chúa thì đó là lời chứng vô giá: “Ngươi đã không tiếc con của ngươi cho Ta, đứa con một của ngươi” (22,16).

3. Giao ước chắc chắn đòi hỏi cách thực thi như thế: “Tất cả những gì Giavê đã nói thì chúng tôi sẽ làm và vâng phục”, đó là lời đáp của Israel khi gắn kết với điều ước mà Thiên Chúa đã đề nghị (Xh 24,7). Giao ước bao gồm Lề Luật, tức một loạt các giới răn và các thiết chế chúng bao trùm lên cuộc sống của Israel, chúng được định ra để làm cho Israel sống thành dân của Chúa. Rất nhiều trong số những quy định này buộc phải có bổn phận vâng phục với đồng loại, như với cha mẹ (Đnl 21,18-21), với vua, với tiên tri, với tư tế (17,14-18,22). Thường thì những bổn phận này đã được ghi dấu ấn trong bản tính con người, nhưng Lời Chúa, trong khi sáp nhập những bổn phận ấy vào giao ước của Ngài, đã làm cho sự phục tùng của con người thành sự vâng phục trong đức tin. Bởi vì trung thành với Lề Luật chỉ đúng trong sự gắn kết với Lời và Giao ước của Thiên Chúa, nên sự vâng phục những lời dạy của Ngài không phải là sự phục tùng nô lệ, nhưng là cách thực thi tình yêu. Giới răn trước tiên của Mười Điều Răn đã có tác dụng nối kết: “…ai yêu mến Ta và giữ các giới răn của Ta” (Xh 20,6); sách Đệ Nhị Luật thì lấy lại và phát triển giới răn này thêm (Đnl 11,13.22); các thánh vịnh thì theo Lề Luật ca ngợi quà tặng tình yêu cao cả của Thiên Chúa dành cho con người và nguồn của sự vâng phục yêu thương (Tv 19,8-11; 119).

III. ĐỨC KITÔ, SỰ VÂNG PHỤC CỦA CHÚNG TA

Thế nhưng không ai vâng phục Thiên Chúa cả. Israel là “nhà phản nghịch” (Ed 2,5), là « những đứa con nổi loạn” (Is 1,2), “tự hào vì Lề Luật, lại sỉ nhục Thiên Chúa khi vi phạm Luật” (Rm 2,23); nó không có ưu điểm gì có thể vượt trên dân ngoại, nó ở với dân ấy “bị giam hãm trong sự bất vâng phục” (3,10;11,32). Tuy nhiên, con người ở tận lòng mình thì khát khao nô lệ tội lỗi, nên không thể vâng phục Thiên Chúa (7,14). Để con người đạt đến vâng phục Thiên Chúa, để họ nhận ra “Luật ghi sâu trong tâm khảm mình” (Gr 31,33), Thiên Chúa phải sai Người Tôi Tớ của Ngài, phải “mỗi sáng Ngài đánh thức tai nghe” (Is 50,4) để người này có thể thưa rằng: “Này con đây, con đến….để làm theo ý Ngài” (Tv 40,7…).

“Cũng như bởi sự bất vâng phục của một người mà muôn người bị kết tội, thì nhờ sự vâng phục của một người mà mọi người được nên công chính” (Rm 5,19). Sự vâng phục của Đức Giêsu Kitô là ơn cứu độ của chúng ta và cho chúng ta tìm lại sự vâng phục Thiên Chúa. Cuộc đời của Đức Giêsu Kitô, từ khi “đi vào thế gian” (Dt 10,5) “cho đến chết trên thập giá” (Pl 2,8), là sự vâng phục, nghĩa là gắn kết với Thiên Chúa thông qua những sự trung gian: nhiều loại người, các sự kiện, các thiết chế, các Sách Thánh của dân tộc Ngài, những thứ quyền bính của con người. Ngài đến “không để làm theo ý (Ngài), nhưng là ý Đấng đã sai (Ngài)” (Ga 6,38; x Mt 26,39), nên toàn bộ cuộc đời Ngài trải qua nằm trong những bổn phận bình thường của sự vâng phục cha mẹ (Lc 2,51), tuân thủ luật pháp (Mt 17,27). Ở Cuộc Tử Nạn của Ngài, Ngài đã đẩy sự vâng phục lên đến tột định, tự nộp mình mà không chống trả lại các quyền lực phi nhân và bất công, “nghiệm ra được sự vâng phục qua nhiều đau khổ” (Dt 5,8), và từ cái chết của Ngài làm thành lễ hy sinh cao quý nhất dâng Thiên Chúa, tức hy lễ vâng phục (10,5-10; x 1Sm 15,22).

IV. SỰ VÂNG PHỤC CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU

Được trở nên “Chúa” (Pl 2,11) nhờ vâng phục, được mặc lấy “tất cả quyền năng trên trời và dưới đất” (Mt 28,18), Đức Giêsu Kitô có quyền được các tạo vật vâng phục. Chính nhờ Người, nhờ sự vâng phục theo Tin Mừng của Người và theo lời Giáo Hội của Người (2 Tx 3,14; Mt 10,40) mà con người đạt đến Thiên Chúa trong đức tin (Cv 6,7; Rm 1,5; 10,3; 2 Tx 1,8), thoát khỏi tội bất vâng phục xưa và đi vào Mầu Nhiệm cứu độ: Đức Giêsu Kitô là Luật của người Kitô hữu (1 Cr 9,21). Luật này cũng bao gồm sự tuân thủ những thứ quyền bính chính đáng của con người, như cha mẹ(Cl 3,20), thầy (3,2), chồng (3,18), nhà nước, và thừa nhận khắp nơi “quyền bính của Thiên Chúa” (Rm 13,1-7). Tuy nhiên vâng phục bao giờ cũng chỉ để phục vụ Thiên Chúa, nên người Kitô hữu có thể, nếu không muốn nói là phải dám bất chấp mệnh lệnh bất công mà “vâng phục Thiên Chúa hơn vâng phục người ta” (Cv 4,19).

 

Tác giả: Nguyễn Trí Dũng
   dunglac@gmail.com