Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Trí Dũng
Bài Viết Của
Nguyễn Trí Dũng
Nhật ký của kẻ theo tiếng gọi tình yêu
Đường hẹp (truyện ngắn)
Đi tìm (truyện ngắn)
Truyện ngắn: Nắng, mây và gió - Người phi thường
TỪ VỰNG THẦN HỌC KINH THÁNH: HY VỌNG

Mời đọc sách Từ Vựng Thần Học Kinh Thánh

Nói về hy vọng tức là nói rằng tương lai giữ một vị trí trong đời sống tôn giáo của dân Thiên Chúa, một tương lai hạnh phúc mời gọi tất cả mọi người (1 Tm 2,4). Những lời hứa của Thiên Chúa dần dần tỏ bày cho dân Ngài thấy sự ràng ngời của tương lai này mà sẽ không phải là thực tại của thế giới đang sống, nhưng là “một quê hương tốt đẹp hơn, đó là quê hương trên trời” (Dt 11,16): đó là “cuộc sống đời đời” nơi con người sẽ “nên giống Thiên Chúa” (1 Ga 2,25; 3,2).

Chính đức tin bảo đảm cho thực tại tương lai vốn được Thiên Chúa hứa ban (x Dt 11,1) và những đòi hỏi mà tương lai này buộc phải có. Bằng niềm tin của mình, con người nương tựa vào Thiên Chúa Đấng quyết định tương lai này (Giuđitha 9,5). Niềm hy vọng vốn ăn sâu trong đức tin và niềm tin nên mới có thể mở rộng về tương lai và nâng toàn bộ đời sống của kẻ tin lên nhờ sự năng động của nó. Nó giữ sự kiên nhẫn và trung thành mà theo Tân Ước thì có một từ diễn tả rông nghĩa hơn, đó là tình yêu.

Đức tin, niềm tin, hy vọng, tình yêu, tất cả đểu là những khía cạnh khác nhau một thái độ tâm linh tuy phức tạp nhưng duy nhất. Trong tiếng Do thái, những gốc từ giống nhau thường diễn tả mặt này hay mặt khác những ý nghĩa của chúng; tuy nhiên, từ hy vọng thì lại gắn cách đặc biệt hơn với những gốc từ qawah, yahal và batah mà các nhà dịch thuật đã chọn lấy một từ để dịch sang tiếng Hy Lạp (elpizo, elpis, pepoitha, hypomenô…) hay tiếng Latin (spero, spes, confide, sustineo, exspecto…). Chính Tân Ước, và có lẽ trong các thư của thánh Phaolô (1 Tx 1,3; 1 Cr 13,13; Ga 5,5) sẽ thiết lập cách rõ ràng nên bộ ba đức tin, hy vọng, tình yêu.

Cựu ước

I. HY VỌNG VÀO SỰ CHÚC PHÚC CỦA GIAVÊ

Nếu từ thưở ban đầu lời hứa mầu nhiệm của Thiên Chúa dành cho nhân loại tội lỗi ( St 3,15; 9,1-17) xác nhận rằng Thiên Chúa sẽ không bao giờ bỏ mặc con người không có hy vọng, thì chính với Abraham mà lịch sử hy vọng của Kinh thánh bắt đầu. Tương lai được lời hứa ấy bảo đảm thì thật bình thường: một vùng đất và một dân đông đúc (St 12,1…). Trong nhiều thế kỷ, những đối tượng hy vọng của Israel luôn là những đối tượng ở dưới đất: “miền đất tràn trề sữa vả mật” (Xh 3,17), những hình thức trù phú (St 49; Xh 23,27-33; Lv 26,3-13; Đnl 28).

Tuy nhiên sự hăm hở mãnh liệt những thứ tốt đẹp của thế giới này lại không làm cho tôn giáo của Israel thành một thứ đạo đức đơn giản về sự sung túc. Đối với Israel những thứ trù phú trên trái đất này là sự chúc phúc (St 39,5; 49,25) và hồng ân (St 13,15; 24,7; 28,13) của Thiên Chúa Đấng luôn chứng tỏ trung thành với Lời Hứa và Giao Ước (Xh 23,25; Đnl 28,2). Khi lòng trung thành với Giavê đòi hỏi thì những thứ tốt đẹp trên trái đất này phải được hy sinh không chút từ chối (Gs 6,17-21; 1 Sm 15); sự hy sinh của Abraham vẫn còn là một mẫu gương hy vọng hoàn hảo vào lời hứa của Đấng Toàn Năng (St 22). Tình trạng này đã báo trước một ngày nào đó Israel sẽ biết đến “một niềm hy vọng tốt đẹp hơn” (Dt 7,19) mà Thiên Chúa sẽ dẫn đưa dân Ngài dần dần hướng về niềm hy vọng đó.

II. GIAVÊ, NIỀM HY VỌNG CỦA ISRAEL VÀ CỦA CÁC DÂN TỘC

Sự tiến triển này trước hết là thành quả của các vị tiên tri, những người đã mở ra cho Israel những viễn cảnh mới trong khi vừa tẩy sạch và gìn giữ niềm vọng của Israel.

1. Hy vọng sai

Israel thường quên rằng tương lai hạnh phúc là một tặng ân của Thiên Chúa của Giao Ước (Hs 2,10; Ed 16,15). Từ đó, nó nỗ lực giữ cho tương lai này bền lâu như những dân tộc khác đã làm: bằng sự thờ kính theo hình thức, các tượng thần, quyền thần và những giao ước. Các tiên tri đã tố cáo cái hy vọng hão huyền này (Gr 8,15; 13,16). Không trung thành thì sẽ không có hy vọng ơn cứu độ (Hs 12,7; Is 26,8; 59,9). Ngày của Giavê, “âm u, không có tia sáng nào” (Am 5,20) sẽ là “ngày giận dữ” (Xp 1,15…). Điển hình là tiên tri Giê-rê-mi-a (Jérémie) đã mô tả khía cạnh này của sứ mạng tiên tri (1-29).

2. Hy vọng đúng

Đôi khi tương lai có vẻ như khóa chặt đối với Israel lúc nó định nói lên: “Niềm hy vọng của chúng tôi bị phá hủy” (Ed 37,11; x Lm 3,18). Đối với các tiên tri, hy vọng giống như sự ẩn mặt (x Is 8,16…), nhưng không phải là sự biến mất: một cái gì đó còn lại sẽ được cứu vớt (Am 9,8…; Is 10,9). Việc thực hiện ý định của Thiên Chúa sẽ vẫn tiếp tục. Vào lúc trừng phạt, lời loan báo “tương lai đầy niềm hy vọng” này (Gr 29,11; 31,17) vang vọng đến tai của Israel (Gr 30-33; Ed 34-48; Is 40-55) để nó được an ủi và không mất hy vọng (Tv 9,19). Ngay cả sự bất trung của Israel cũng không ngăn cản nó hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ tha thứ (Hs 11; Lm 3,22-33; Is 54,4-10; Ed 33,29). Nếu ơn cứu độ có lẽ đến trễ (Xp 3,8; Kb 2,3) thì chắc chắn vì chính Giavê, Đấng trung thành và giàu lòng xót thương, là “niềm hy vọng của Israel” (Gr 14,18; 17,13).

3. Niềm hy vọng mới

Quan niệm về tương lai của tiên tri thì rất phức tạp. Các tiên tri loan báo về hòa bình, về ơn cứu độ, về ánh sáng, về sự chữa lành, về sự chuộc tội. Họ thoáng thấy một sự trở lại cuối cùng và kỳ diệu của vườn địa đàng, của Xuất Hành, Giao ước, hay vương quốc Đavít. Israel “sẽ được hưởng dư đầy ân phúc” (Gr 31,14) của Giavê (Hs 2,23; Is 32,15; Gr 31) và sẽ thấy muôn dân các nước chạy đến với Ngài (Is 61). Các tiên tri đã đặt Israel và hạnh phúc (bát phúc) tạm thời của nó ở trung tâm của tương lai, gần với Israel xưa.

Thế nhưng họ cũng hưởng vui ngày mà Israel được đổ tràn đầy sự hiểu biết của Thiên Chúa (Is 11,9; Kb 2,14) bởi vì Thiên Chúa sẽ đổi mới những tâm hồn (Gr 31,33; Ed 36,25), trong khi các dân tộc thì hoán cải (Is 2,3; Gr 3,17; Is 45,14). Tương lai này sẽ là thời đại của việc thờ phượng tuyệt hảo (Ed 40-48; Gia 14) mà có sự góp phần của các dân tộc (Is 56,8; Gia 14,16; x. Tv 86,8; 102,22). Thế mà, đỉnh cao của việc thờ phượng lại chính là sự chiêm ngắm Giavê (Tv 63; 84). Đối với các tiên tri, niềm hy vọng của Israel và của các dân tộc là chính Thiên Chúa (Is 60,19; 63,19; 51,5) và vương quốc của Ngài (Tv 96-99). Tuy nhiên hạnh phúc mà Israel chờ đợi trong tương lai thì vẫn còn ở trái đất, và trừ ngoại lệ (Ed 18), hạnh phúc ấy mang tính cộng đồng, trong khi sự trung thành để cho hạnh phúc đến thì mang tính cá nhân.

III. HY VỌNG CỨU ĐỘ BẢN THÂN VÀ BÊN KIA HY VỌNG

Chính nơi những người sùng đạo và khôn ngoan mà những tiến bộ này sẽ được thực hiện trong khuôn khổ đi từ đức tin đến sự ban thưởng cá nhân. Đức tin này đụng phải vấn đề được đặt ra bởi sự đau khổ của người công chính. Một vị tiên tri đã dạy rằng đau khổ này đã sinh ra chứ không ngăn trở hy vọng, bởi vì đau khổ thì cứu chuộc (Is 53). Thế nhưng trong Cựu ước, viễn tượng này không có tương lai. Chẳng hạn niềm hy vọng của Gióp, mặc dù có nhiều linh cảm (G 13,15; 19,25…) được khai thông dựa trên sự u mê (G 42,1-6).

Niềm hy vọng của các nhà thần bí được đổ tràn đầy sự hiện diện của Thiên Chúa lại được cảm thấy đến theo đúng kỳ hạn: đau khổ và cái chết không còn thật sự quan trọng nữa đối với hy vọng (Tv 73; 49,16; x. 139,8.16). Đức tin của các thánh tử đạo sinh ra niềm hy vọng phục sinh (Đn 12,1..; 2 Mcb 7), trong khi niềm hy vọng chung thì quay hướng về Con Người (Đn 7). Niềm hy vọng của các bậc thông thái thì quay hướng về hòa bình (Kn 3,3), an nghỉ (4,7), cứu độ (5,2) chúng không còn ơ trên trái đất này nữa, nhưng ở trong sự bất tử (3,4), tức ở gần Chúa (5,15…). Cũng do đó mà hy vọng trở nên riêng tư (5) và hướng về thế giới sắp tới.

Niềm hy vọng của người Do thái vào thời Đức Giêsu phản ánh những hình thức đa dạng niềm hy vọng của Israel. Niềm hy vọng ấy chờ đợi cùng lúc một thứ tương lai vật chất và tâm linh, tập trung vào Thiên Chúa và Israel, cái tạm thời và vĩnh cửu. Nơi Đức Giêsu, sự thực hiện tương lai này sẽ mời gọi hy vọng tự thanh tẩy lần nữa.

Tân ước

I. HY VỌNG CỦA ISRAEL ĐƯỢC ĐỨC GIÊSU HOÀN THÀNH

Đức Giêsu loan báo Vương Quốc Thiên Chúa đến trên trần gian này (Mt 4,17). Thế nhưng vương quốc này là một thực tại tâm linh mà chỉ có thể đạt tới nhờ đức tin. Để thỏa mãn điều này, hy vọng của Israel phải từ bỏ tất cả khía cạnh vật chất đang chờ đợi nó: Đức Giêsu đòi hỏi các môn đệ của Ngài chấp nhận đau khổ và cái chết để theo Ngài (Mt 16,24…). Mặt khác, tuy vương quốc đã hiện diện nhưng nó vẫn còn ở tương lai. Vì vậy niềm hy vọng vẫn tiếp tục nhưng chỉ hướng đến sự sống vĩnh cửu (18,8…), đến sự trở lại vinh quang của Con Người “Đấng ban thưởng cho mỗi người tùy theo cách sống của người ấy” (16,27; 25,31-46).

Trong khi chờ đợi ngày ấy đến, Giáo Hội dựa vào những lời hứa (16,18) và sự hiện diện của Đức Giêsu (28,20) cần phải hoàn thành việc thực hiện niềm hy vọng của các tiên tri trong khi mở rộng Vương Quốc và niềm hy vọng của Vương Quốc đó cho tất cả các dân tộc (8,11…; 28,19).

II. ĐỨC GIÊSU KITÔ, NIỀM HY VỌNG CỦA GIÁO HỘI

Niềm hy vọng của Giáo hội, trong đức tin, là niềm hy vọng tràn đầy. Vì ơn ban của Thánh Thần đã hoàn thành việc thực hiện các lời hứa (Cv 2,33.39). Toàn bộ sức mạnh của niềm hy vọng của Giáo hội được tập trung vào sự chờ đợi Đức Giêsu trở lại (1,11; 3,20). Tương lai này, được gọi bằng những từ như sự trở lại vinh quang của Chúa (Gc 5,8; 1 Tx 2,19), ngày của Chúa, sự viếng thăm, sự tỏ bày, có vẻ như đến rất gần ( 1 Tx 4,13; Dt 12,18; 1 Pr 4,7) và người ta dễ ngạc nhiên sao nó lại đến trễ (2 Pr 3,8). Trong thực tế, ngày ấy sẽ đến “như kẻ trong trong đêm” (1 Tx 5,1; 1 Pr 3,10; Kh 3,3; x Mt 24,36). Sự không chắc này đòi hỏi phải tỉnh thức (1 Tx 5,6; 1 Pr 5,8) kèm theo lòng kiên nhẫn không thể lay chuyển được vì gặp thử thách và đau khổ (G 5,7; 1 Tx 1,4; 1 Pr 1,5; x. Lc 21,19).

Niềm hy vọng của Giáo Hội là niềm vui (Rm 12,12), ngay cả trong đau khổ (1 Pr 4,13; x.Mt 5,11), vì vinh quang đang được chờ đợi thì thật lớn (2 Cr 4,17) đến nỗi nó lan sang cả hiện tại (1 Pr 1,8). Niềm hy vọng sinh ra sự tiết độ (1 Tx 5,8; 1 Pr 4,7) và sự dửng dưng (1 Cr 7,29; 1 Pr 1,13; Ti 2,13). Thật vậy, những thứ sung túc ở trên đời có là gì đối với niềm hy vọng được “dự phần vào bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1,4). Sau hết hy vọng gợi nên sự cầu nguyện và tình yêu tha nhân (1 Pr 4,7; G 5,8). Khi đã bám chặt vào thế giới sắp đến (Dt 6,18), niềm hy vọng sẽ thúc đẩy toàn bộ đời sống của người Kitô hữu

III. GIÁO THUYẾT CỦA THÁNH PHAOLÔ VỀ HY VỌNG

Thánh Phaolô đã cùng chung niềm hy vọng của Giáo Hội, nhưng sự phong phú về tư tưởng cũng như về đời sống tâm linh của ngài thì góp phần vào kho báu chung những yếu tố có giá trị lớn.

Chẳng hạn như vị trí mà thánh nhân dành cho “sự cứu chuộc thân xác chúng ta” (Rm 8,23), sự cứu chuộc ấy là sự biến đổi của những kẻ sống (1 Cr 15,51; x 1 Tx 4,13-18) hay trên hết là sự phục sinh của kẻ chết. Không tin vào điều này, theo thánh Phaolô đó là “không có hy vọng” (1 Tx 4,13; 1 Cr 15,19; x Ep 2,12)

Vinh quang sẽ chỉ khen thưởng “sự bền bỉ thực hành việc thiện” (Rm 2,7; x Dt 6,12). Thế mà sự tự do của con người thì dễ đổ vỡ (Rm 7,12-25). Liệu kể từ đây người Kitô hữu có thể hy vọng chiếm giữ thật sự phần gia tài đã được hứa ban không (Cl 4)? Như Abraham, người Kitô hữu có thể và phải “hy vọng để chống lại tất cả những hy vọng”. Vì đức tin của họ đối với những lời hứa (Rm 4, 18-25) và vì lòng tin tưởng của họ vào sự trung thành của Thiên Chúa Đấng đảm bảo sự trung thành của con người (1 Tx 5,24; 1 Cr 1,9; x Dt 10,23) kể từ khi họ được gọi cho đến ngày vinh quang (Rm 8, 28-30).

Sự thực hiện các lời hứa nơi Đức Giêsu Kitô (1 Cr 1,20) đóng một vai trò nền tảng trong suy tư của Phaolô. Vinh quang đang được chờ đợi là một thực tại hiện hữu (2 Cr 3,18-4,6) mặc dù vô hình (2 Cr 4,18; Rm 8,24). Một người chịu phép rửa tội thì đã được sống lại (Rm 6,1-7; Cl 3,1); Thần Khí ở nơi người ấy là những hoa quả đầu mùa của thế giới sắp đến (Rm 8, 11.23; 2 Cr 5,5). Thiên Chúa đã ban ân sủng dồi dào cho những người mà Ađam đã dẫn đưa đến sự chết; “hơn bao lần” sự liên đới của họ với Con Ngài dẫn họ đến sự sống (Rm 5). Việc thực hiện niềm hy vọng của Israel trong Đức Kitô là sự mặc khải trọn vẹn lý do hy vọng của người Kitô hữu: một tình yêu như vậy thì không có gì kể cả con người có thể tách người Kitô hữu khỏi Đức Kitô (Rm 8,31-39).

Niềm hy vọng cá nhân của thánh Phaolô là một mẫu gương tuyệt với. Nó lan rộng trông tâm hồn ngài với một cường độ cực mạnh. Nó rên xiết vì vẫn chưa được thỏa lòng (2 Cr 5,4; Rm 8,23) nhưng hớn hở khi nghĩ đến tương lai nó đang chờ (1 Cr 15,54). Dưới ánh sáng của niềm hy vọng ấy thì mọi cậy trông rất chính đáng nhất của con người đều mất giá trị (Pl 3,8). Chỉ nương tựa vào ân sủng của Thiên Chúa chứ không phải dựa trên những việc làm (1 Cr 4,4; 15,10; Rm 3,27), niềm hy vọng thúc đẩy lên đường (Pl 3,13) và chiến đấu (2 Tm 4,7) mà thánh Phaolô dẫn đầu để thực hiện sứ mạng của mình, trong khi tránh để “mình bị loại” (1 Cr 9,26). Như thế “trong Chúa”, hy vọng gợi lên những niềm cậy trông mới (Pl 2,19; 2 Cr 1,9; 4,7-18). Khi cái chết có vẻ tới gần, thánh nhân chờ đợi phần thưởng (Pl 3,14) tặng khen cho cuộc chạy đua của ngài (2 Tm 4,6; x 1 Cr 3,8). Nhưng ngài biết rằng phần thưởng của ngài là chính Đức Kitô (Pl 3,8). Niềm hy vọng của ngài, trước hết chính là ở với Đức Kitô (Pl 1,23; 2 Cr 5,8). Việc hy vọng đòi hỏi trả xong hết nợ còn được biểu lộ bằng sự mở rộng ơn cứu độ cho những “người khác” (2 Tm 4,8; 2,7), người Kitô hữu (1 Tx 2,19) hay dân ngoại, những người ngài muốn tỏ bày Đức Kitô “niềm hy vọng vinh quang” (Cl 1,24-29). Niềm hy vọng của thánh Phaolô cũng là nhiệt tình, với tất cả khả năng của mình, theo ý Thiên Chúa và đáp lại tình yêu của Chúa “bằng tình yêu” (2 Tm 4,8).

IV. HÔN LỄ CỦA CON CHIÊN

Niềm hy vọng của Gioan không dừng lại ở việc chờ đợi sự trở lại của Chúa (Ga 14,3; 1 Ga 2,18), sự phục sinh và sự phán xử (Ga 5,28; 6,39), nhưng thích được sở hữu hơn một cuộc sống vĩnh cửu vốn đã dành sẵn cho kẻ tin (3,15 ; 6,54 ; 1 Ga 5,11) là kẻ đã được sống lại (Ga 11,25 ; 1 Ga 3,14) và bị xét xử (Ga 3,19; 5,24). Sự chuyển sang đời sống vĩnh cửu của người Kitô hữu sẽ chỉ là sự biểu lộ an bình (1 Ga 4,18) của một thực tế đã tồn tại (1 Ga 3,2).

Trong sách Khải Huyền, những viễn cảnh này thì khác biệt ở bề sâu. Con Chiên phục sinh, được các Kitô hữu vây quanh (Kh 5,11-14 ; 14. 1-5 ; 15,2), đã chiến thắng trên trời nơi Giáo Hội là Tân Nương của Con Chiên ấy sẽ đến (21,2). Thế nhưng, vị Tân Nương này cũng ở trên trái đất (22,17) nơi diễn ra tấn tuồng bi kịch về niềm hy vọng của người Kitô hữu xảy đến cùng với lịch sử. Những chiến thắng bề ngoài của quyền lực Satan có nguy cơ làm cho niềm hy vọng này suy giảm. Thực tế, Ngôi Lời toàn thắng thì chiến đấu và cai trị bên cạnh những ai thuộc về mình (19,11-16 ; 20, 1-6) và chiến thắng cuối cùng đang đến gần (Kh 1,1 ; 2,5 ; 3,11 ; 22,6.12). Do vậy niềm hy vọng của Kitô hữu phải chiến thắng cho đến ngày xuất hiện « vũ trụ mới » nó sẽ kết thúc hoàn toàn việc thực hiện những lời tiên tri của Cựu ước (Kh 21-22).

Cuối quyển sách này, vị Tân Lang hứa : «Ta sắp sửa trở lại ». Và Tân Nương đáp lại : « Xin hãy đến, lạy Chúa Giêsu ! » (Kh 22,20). Lời gọi này lấy lại một lời cầu nguyện của người Xi-mít trong Giáo Hội thời kỳ đầu : « Ma-ra-na-tha ! » (x. 1 Cr 16,22). Niềm hy vọng của người Kitô hữu sẽ không bao giờ tìm được cách diễn tả nào tốt hơn, vì ở bề sâu nó chỉ là ước muốn nồng cháy một tình yêu đang thiếu đói sự hiện diện của Chúa.

 

Tác giả: Nguyễn Trí Dũng
   dunglac@gmail.com