Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Trí Dũng
Bài Viết Của
Nguyễn Trí Dũng
Nhật ký của kẻ theo tiếng gọi tình yêu
Đường hẹp (truyện ngắn)
Đi tìm (truyện ngắn)
Truyện ngắn: Nắng, mây và gió - Người phi thường
TỪ VỰNG THẦN HỌC KINH THÁNH: THẤY

Mời đọc sách Từ Vựng Thần Học Kinh Thánh

Trong khi những thần tượng “có mắt mà không thấy” (Tv 135,16), thì Thiên Chúa thấy “tất cả mọi sự dưới bầu trời” (G 28,24), đặc biệt “những người con của Ađam” (Tv 33,13) mà Ngài “dò thấu lòng dạ” (7,10). Nhưng đối với con người Ngài vẫn còn là “một Thiên Chúa ẩn mình” (Is 45,15), “mà không ai thấy hay có thể thấy được” (1Tm 6,16; 1,17; 1Ga 4,12). Tuy nhiên, Thiên Chúa đã tự chọn một dân tộc mà “Ngài tỏ bày cho họ thấy” (Ds 14,14) cho đến lúc Ngài xuất hiện nơi hình hài của Con duy nhất của Ngài (Ga 1,18; 12,45) trước khi giới thiệu cho dân ấy “thấy mặt Ngài” (Kh 22,4) một ngày nào đó trên trời.

Cựu ước

I. ƯỚC MUỐN THẤY CHÚA

Thấy Thiên Chúa “mắt trong mắt” (Is 52,8) là ước muốn sâu thẳm nhất của Cựu ước. Nỗi nhớ vườn địa đàng chi phối toàn bộ Kinh Thánh, trước hết đó là ý thức vì đã mất sự tiếp xúc trực tiếp và thân mật với Thiên Chúa, đó là luôn sợ hãi Ngài nổi giận, nhưng đó cũng là niềm hy vọng không thể bỏ được gặp mặt Ngài và thấy Ngài cười. Hai kinh nghiệm lớn mang tính tôn giáo của Israel, kinh nghiệm về sự hiện diện của Thiên Chúa trong việc thờ phượng và kinh nghiệm về Lời của Ngài qua các tiên tri, cả hai đều căng hướng về kinh nghiệm đặc biệt này: thấy Chúa.

1) Những lời tiên tri về sự hiện ra của Thiên Chúa được coi là đỉnh cao của cuộc đời và sứ mạng của các tiên tri. Môisen và Êlia đã biết đến kinh nghiệm này dưới hình thức cao nhất. Còn nữa, khi Môisen cầu nguyện với Chúa: “Xin cho con thấy vinh quang của Ngài” (Xh 33,18) thì Thiên Chúa chấp nhận lời cầu xin của ông và trả lời rằng: “Ta lấy bàn tay che ngươi trong khi ta đi qua…., ngươi sẽ xem thấy lưng Ta, nhưng tôn nhan của Ta thì người ta không thể thấy được” (33,22). Êlia khi lại gần Đức Giavê thì “tự choàng che mặt lại” và chỉ còn nghe có tiếng gọi (1 V 19,13). Không một ai có thể thấy Thiên Chúa nếu Thiên Chúa không tỏ bày cho thấy. Ơn huệ đặc biệt của Môisen có cái gì đó độc nhất, “ông nhìn thấy hình ảnh của Giavê” (Ds 12,8). Ở những mức độ khác nhau, nhưng rất nhỏ bé, các tiên tri “trong thị kiến và trong giấc mộng” (Ds 12,6) đã thấy cái gì đó nó không có ở thế giới này (Ds 24,4.16; 2 Sb 18,18; Am 9,1; Ed 1-3; Đn 7,1…). Abraham và Giacóp cũng đã biết đến những kinh nghiệm tương tự (St 15,17; 17,1; 28,13) và cũng vậy đối với Ghit-ôn (Gédéon) (Tl 6,11-24), Ma-nô-a (Manoah) và vợ ông (13,2-23). Ngay cả bảy mươi kỳ mục của Israel, ở một vài điểm nào đó, cũng dự phần đặc huệ của Môisen khi ở trên núi “chiêm ngắm Thiên Chúa của Israel” (Xh 24,10).

2) Thờ phượng, ở những nơi mà Thiên Chúa hiện diện (Xh 20,24), gợi lên nơi những người ưu tuyển ước muốn thấy Chúa, “tìm kiếm tôn nhan Ngài” (Tv 24,6), thấy “sự dịu hiền của Ngài” (27,4), “quyền năng và vinh quang của Ngài” (63,3), nhìn về phía Đền Thờ dù ở xa (Giona 2,5). Thị kiến của Isaia, rất gần với những sự hiện ra của Thiên Chúa cho Môisen, thì hợp với thị kiến tiên tri nó hướng đến lời nói và sứ mạng, và thị kiến thờ kính nó hướng đến sự hiện diện (Is 6; x. 2 Sb 18,18; Ed 10-11).

II. THẤY VÀ TIN

Nếu ước muốn thấy Chúa mãnh liệt ấy vẫn còn quá hiếm và chỉ được thỏa mãn một phần nào đó, thì tức là Thiên Chúa là “một Thiên Chúa ẩn mình” (Is 45,15) Ngài tỏ bày nơi đức tin. Để biết Ngài thì phải nghe Lời Ngài và nhìn xem những công trình của Ngài; vì trong những kỳ công sáng tạo của Ngài “điều gì không thể nhìn thấy thì được thấy” (Rm 1,20); rõ ràng Ngài vượt qua tất cả những gì con người có thể tưởng tượng khi xem trời và vẻ đẹp của các tinh tú (Is 40,25). Nhất là khi nhìn những kỳ công mà Ngài mở ra cho dân Ngài (Xh 14,13; Đnl 10,21; Giona 24,17), thông qua những dấu chỉ vì người ta chưa từng bao giờ thấy (Xh 34,10), Israel đã “nhìn thấy vinh quang của Ngài” (Xh 16,7); phải hiểu rằng “Giavê là duy nhất” (Đnl 32,39) và nếu ta nghe tiếng Ngài mà không thấy hình dạng gì hết, thì đó là vì không gì ở thế giới này có thể so sánh với Ngài và diễn tả được Ngài (Đnl 4,12-20). Biết Thiên Chúa, đó cũng là “thấy những sự việc trên cao của Ngài” và “hiểu Ngài là ai” (Tv 46,9; x. Is 41,20; 42,18; 43,10), thấy được những kỳ công của Ngài và tin vào Ngài (Xh 14,31; Tv 40,4; Giudith 14,10). Thế nhưng, con người bị điếc và mù (Is 42,18) giống như những thần tượng điên khùng, “chúng có mắt mà không thấy; có tai mà không nghe” (Gr 5,21; Ed 12,2), đến nỗi những dấu chỉ và ân huệ của Thiên Chúa vốn thường được sử dụng để soi sáng họ lại làm cho họ chai cứng trong sự mù quáng của mình: giáo huấn của các tiên tri đưa đến việc “làm cho lòng dân này đần độn, cho mắt nó mù, kẻo mắt nó thấy… lòng nó hiểu” (Is 6,10).

Tân ước

1) Nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa tỏ cho thấy những kỳ công đã được các tiên tri nói đến (Is 52,15; 64,3; 66,8), những điều “chưa bao giờ thấy” (Mt 9,33). Si-mê-ôn (Siméon) có thể ra đi bình an vì “mắt (ông) đã thấy ơn cứu độ” (Lc 2,30). “Phúc cho mắt những ai thấy” những việc làm của Đức Giêsu: họ thấy “điều mà các tiên tri và những người công chính đã ước muốn thấy nhưng không được thấy” (Mt 13,16); họ nhìn gần điều mà Abraham đã thấy “từ xa” (Dt 11,13) và điều mà họ đã từng hoan hưởng, đó là “Ngày” của Đức Giêsu (Ga 8,56). Họ sẽ vui sướng với điều kiện là không bị Đức Giêsu làm cho vấp phạm và thấy điều xảy ra trong thực tế: “người mù thấy được… Tin Mừng được loan báo…” (Mt 11,5). Bởi vì rất nhiều người, mặc dù thấy trước mắt nhiều dấu lạ được thực hiện, vẫn không thể tin (Ga 12,37) và không có khả năng thấy (Mt 13,14; Ga 12,40; x.Is 6,9). Đối với họ, ánh sáng của thế gian (Ga 8,12;9,5) trở nên bóng tối, người sáng mắt trở thành mù lòa: “Nếu các người là những người mù thì các người đã không mắc tội; nhưng đằng này các người nói: “Chúng tôi thấy”, nên tội các người vẫn còn đó” (Ga 9,39).

2) Nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa thì hữu hình. Không chỉ các tầng trời mở ra trên Con Người (Ga 1,51; x.Mt 3,16) và các mầu nhiệm của Thiên Chúa được vén mở, cuộc sống được ban cho những ai tin vào Ngài (Ga 3,21.36), nhưng cả vinh quang của Thiên Chúa nữa, vinh quang mà Môisen chỉ có thể chiêm ngắm trong chốc lác và ở một phần nào đó (Xh 33,22.; 2 Cr 3,11), vinh quang ấy chiếu tỏa mãi và vén bức màn che hình hài của Chúa (2 Cr 18): “Chúng tôi đã thấy vinh quang của Ngài” (Ga 1,14). Dẫu thế “vinh quang này là vinh quang của Người Con duy nhất” (1,14) và đó là lý do tại sao “ai thấy (Con) thì thấy Cha” (14,9; 1,18; 12,45).

II. THẤY THIÊN CHÚA NHƯ NGÀI LÀ

Sự Nhập Thể của Người Con cũng không thể lấp đầy ước muốn của chúng ta là thấy Thiên Chúa, vì nếu Đức Giêsu chưa trở về với Cha Ngài (Ga 14,12.28) thì Ngài cũng chưa vén mở tất vinh quang dành cho Ngài (17,1.5). Đức Giêsu phải biến mất, phải lấy lại thế giới vô hình mà từ đó Ngài đến, thế giới của “những thực tại mà người ta không thấy” và nó là nguồn của những thực tại mà chúng ta thấy (Dt 11,1…), đó là thế giới của Thiên Chúa. Đấy là lý do tại sao ta không còn phải nhìn thấy Ngài nữa (Ga 16,10-19), tại sao con người phải tìm tìm kiếm Ngài mà không thể gặp Ngài (14,19). Tuy vậy, từ nơi thế giới vinh quang vô hình này Đức Giêsu có thể xuất hiện, có thể “tỏ mình” (1 Cr 15,5-8; Cv 13,31) cho một vài nhân chứng được chọn thấy (Cv 10,40), có thể ăn uống với họ, chứng tỏ cho họ biết rằng Ngài chính là người mà họ đã từng biết, để khi mắt họ được vén mở bởi việc Ngài Lên Trời, họ có thể làm chứng rằng Ngài sẽ trở lại như họ đã thấy Ngài biến mất (Cv 1,9). Niềm hy vọng của người Kitô hữu không thể tách khỏi hai sự chờ đợi này: gắn bó với Chúa để luôn ở với Ngài (1 Tx 4,17; Pl 1,23) và “thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8), “thấy Chúa như Ngài là” (1 Ga 3,2), trong mầu nhiệm của Ngài vốn không thể hiểu thấu được, nhưng lại hoàn toàn trao ban cho con cái của Ngài.

 

Tác giả: Nguyễn Trí Dũng
   dunglac@gmail.com