Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Trí Dũng
Bài Viết Của
Nguyễn Trí Dũng
Nhật ký của kẻ theo tiếng gọi tình yêu
Đường hẹp (truyện ngắn)
Đi tìm (truyện ngắn)
Truyện ngắn: Nắng, mây và gió - Người phi thường
TỪ VỰNG THẦN HỌC KINH THÁNH: ĐỀN THỜ

Mời đọc sách Từ Vựng Thần Học Kinh Thánh

Trong tất cả các tôn giáo, đền thờ là chốn thiêng liêng được xem như nơi Thiên Chúa hiện diện với con người để đón nhận sự thờ kính của họ và làm cho họ dự phần vào ân phúc cũng như cuộc sống của Ngài. Dĩ nhiên, chốn cư ngụ thông thường của Ngài không thuộc về thế giới này; nhưng ở mặt nào đó, đền thờ được đồng nhất với nơi ấy, đến nỗi nhờ Ngài mà con người đi vào sự giao tiếp với thế giới thần thánh. Tính biểu tượng nền tảng này tìm thấy trong Cựu ước, ở đó đền thờ Giêrusalem là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa giữa con người. Nhưng đó chỉ là dấu chỉ tạm thời nó sẽ được thay thế trong Tân ước bằng một dấu chỉ loại khác: Thân Thể Đức Kitô và Giáo Hội của Ngài.

Cựu Ước

I. ĐỀN THỜ GIÊRUSALEM

1) Ngôi Nhà Tạm xưa của Israel. Người Do thái ở thời đại các tổ phụ không biết đến đền thờ, mặc dù họ có những nơi thánh thiêng mà họ “kêu gọi danh Giavê”, đó là Béthel (Bêt-ên) (= Nhà Chúa: St 12,8; 28,17), Bersabée (Bơ-sa-bê) (St 26,25; 45,1), Sichem (Si-khem) (St 33,18). Núi Sinai vào thời kỳ Xuất Hành là nơi thánh thiêng thuộc dạng này, tức nơi dành cho Thiên Chúa hiện ra (Xh 3; 19,20). Nhưng về sau, Israel có được ngôi Nhà Tạm di động mà nhờ đó Thiên Chúa có thể ở luôn với dân Ngài đưa vượt khỏi sa mạc. Ngôi Lều mà sách Xuất Hành (chương 26, 27) đưa ra cách mô tả lý tưởng và phần nào đó gây cảm hứng cho Ngôi Đền Thờ tương lai, đó là nơi hội ngộ giữa Thiên Chúa và dân Ngài (Ds 1,1;7,89…). Thiên Chúa cư ngụ ở đó giữa các thiên thần, bên trên phúc lộc nó lấy lại hòm bia giao ước. Ngài trả lại cho chốn ấy những mệnh lệnh của Ngài, từ đó danh xưng “Hòm Bia Chứng Ước” được đặt cho Ngôi Lều (Xh 25,22; 26,33…). Sự hiện diện của Ngài ở Ngôi Lều thì vừa rõ rệt vừa bí ẩn: đằng sau cột mây (Xh 33,7-11’ 40,36) che khuất vinh quang sáng lán của Ngài (Ds 14,10; 16,19). Cũng vậy ký ức giao ước trên núi Sinai được gìn giữ nơi chính giữa Nhà Tạm nhằm quy tụ toàn thể dân Israel. Sau khi đặt nó ở Ca-na, ngôi nhà tạm chung của các chi tộc lần lượt được đặt ở Gilgal (Gi-gan), ở Sichem (Si-khem) (Gs 8,30-35; 24,1-28), ở Silo (Si-lô) (1 Sm 1-4), đồng thời giữ lại vẻ cổ kính ban đầu của nó nhằm phân biệt rõ ràng với những nơi thờ cúng của người Ca-na, chúng nhìn chung mang dáng dấp những đền thờ được xây bằng đá: Thiên Chúa ở núi Sinai không thể lẫn lộn với văn minh dân ngoại ở Ca-na.

2) Kế hoạch của Đavit. Chính ngôi nhà tạm chung này mà Đavit đã đặt ở Giêrusalem sau khi giành lại được hòm bia từ tay người Philistin (2 Sm 6). Thủ đô chính trị mà Đavit vừa mới xâm chiếm cũng sẽ là trung tâm tôn giáo của dân Giavê. Do vậy, cùng lúc ông thực hiện việc xây dựng vương triều của mình theo cách của các vương quốc đương thời – tuy không mất đi cái nhìn đặc thù của Israel – ông cũng nghĩ đến việc đổi mới nơi thờ phượng truyền thống: sau khi cung điện được xây, ông mơ ước xây một đền thờ cho Giavê (2 Sm 7,1-4). Thiên Chúa đã chống lại điều đó: không phải Đavit sẽ xây cho Giavê một ngôi nhà (=đền thờ), nhưng chính Giavê sẽ xây cho Đavit ngôi nhà (= vương triều) (2 Sm 7,5-17). Sự phản ứng này được giải thích hai lần. Đối với dân của giao ước, ngôi nhà tạm lý tưởng vẫn còn là ngôi lều của thời xa xưa, nó nhắc lại những tháng ngày ở sa mạc (2 Sm 7,6). Hơn nữa, việc thờ phượng Thiên Chúa duy nhất có ý nghĩa thì không thích hợp với sự sao chép máy móc những việc thờ phượng của dân ngoại mà những đền thờ của họ tự cho là một loại nắm giữ thần tính (cũng như những Ziggourat của người Babylon, St 11,1-9) và bị ô uế bởi những việc thực hành thờ ngẫu tượng, ma quái hay vô luân.

3) Sự thực hiện của Salomon. Tuy nhiên, kể từ triều đại Salomon, kế hoạch của Đavit được thực hiện mà không phải không có sự chống đối của tiên tri (1 V 5,15-7,51). Tôn giáo thờ Đức Giavê thì tương đối lớn mạnh để làm giàu thêm những yếu tố nền văn hóa xứ Cana đem lại mà vẫn trung thành với truyền thống Sinai. Điều này lại càng được khẳng định mạnh mẽ trong Đền Thờ: hòm bia giao ước đặt ở chính giữa đền thờ (8,1-9), còn ngôi thánh điện Giêrusalem thì mở rộng nơi thờ phượng chính ngày xưa của các chi tộc. Vả lại, khi tỏ bày vinh quang giữa đám mây (8,10-13), Thiên Chúa cho biết một cách rõ ràng rằng Ngài chấp nhận Đền Thờ này như nơi Ngài “làm cho Danh Ngài cư ngụ” (7,16-21). Chắc hẳn Ngài không bị ràng buộc vào dấu chỉ hiện diện của Ngài cách nhạy cảm này: các tầng trời còn không chứa nổi Ngài, huống chi là ngôi nhà dưới đất (8,27)! Thế nhưng để cho phép dân Ngài được gặp Ngài theo lối chắc chắn, Ngài đã chọn nơi này như Ngài đã nói: “Danh Ta ở đây” (8,29).

4) Vai trò của đền thờ trong dân Chúa. Từ nay trở đi, không nói đến những thánh điện khác cũ kỹ, Đền Thờ Giêrusalem sẽ là trung tâm thờ phượng Giavê. Người ta từ các nước khác đến đó “để chiêm ngắm tôn nhan Thiên Chúa” (Tv 42,3), còn Ngài là đối tượng của một tình yêu thiết tha đối với những người trung thành (x. Tv 84; 122). Ta biết rõ ràng rằng ngôi nhà của Thiên Chúa thì “ở trên trời” (Tv 2,4; 103,19; 115,3…); nhưng đền thờ thì giống như phiên bản cung điện sáng lán của Ngài (x Xh 25,40), mà có thể nói là Ngài hiện diện trên trần gian này. Cũng vậy việc thờ phượng diễn ra ở đền thờ mang một giá trị chính thức: chính nhờ sự thờ phượng này mà vua và dân chúng làm tròn việc phục vụ Thiên Chúa của dân tộc.

II. TỪ ĐỀN THỜ BẰNG ĐÁ ĐẾN ĐỀN THỜ THIÊNG LIÊNG

1) Sự mơ hồ của chỉ dấu đền thờ. Vào thời vua chúa, chỉ dấu đền thờ đóng vai trò thiết yếu trong việc thờ phượng của Israel, nhưng nó lại không thiếu mơ hồ. Đối với những người theo nghĩa tôn giáo hời hợt thì những nghi thức diễn ra ở đền thờ có khuynh hướng trở thành những cử chỉ trống rỗng. Hơn nữa, việc những người này gắn bó với những nghi thức ấy có nguy cơ rơi vào niềm tin dị đoan. Người ta sẽ nói: “Đền thờ Giavê! Đền thờ Giavê!” (Gr 7,4), như thể Thiên Chúa phải bảo vệ đền thờ ấy bằng mọi giá, ngay cả khi dân chúng năng đến với Ngài không chịu thực hành Lề Luật. Những sai lệch này giải thích thái độ khôn khéo của các tiên tri đối với Đền thờ. Do đó, chính ở đền thờ mà Giavê mặc khải cho Isaia trong thị kiến đầu tiên của ông (Is 6), và cũng vị tiên tri này loan báo rằng nơi này có lẽ không biết bị tiêu hủy bởi tên đạo nghịch Xan-khê-rip (Is 37,16-20.33). Nhưng ngược lại, Isaia, Giêrêmia, Edêkien đã bãi bỏ đặc tính hời hợt của việc thờ phượng diễn ra ở đền thờ (Is 1,11-17; Gr 6,20; 7,9) cũng như những việc cử hành các thần tượng được giới thiệu ở đây (Ed 8,7-18). Sau cùng, họ cảnh báo việc Giavê bỏ rơi chốn cư ngụ mà Ngài đã chọn này, và họ loan báo sự sụp đổ của chốn thờ phượng ấy nhằm trừng phạt tội lỗi của dân tộc (Gr 7,12-15; Ed 9-10). Đặc điểm đích thực của việc thờ phượng của Israel thật ra quan trọng hơn chỉ dấu vật chất mà ở đó Giavê đã có nhằm liên kết thời gian với sự hiện diện của Ngài.

2) Từ đền thờ thứ nhất đến đền thờ thứ hai. Thực tế, đền thờ Giêrusalem tham dự vào những biến cố thăng trầm của dân tộc. Những nỗ lực cải cách tôn giáo trước hết làm cho tăng thêm tầm quan trọng của đền thờ: dưới thời Edêkien (2 V 18,4; 2 Sb 29-31), nhất là dưới thời Giô-si-gia (Josias), vị vua đã thực hiện việc thống nhất đền thánh theo lợi ích của mình (2 V 23,4-27). Nhưng cuối cùng, những lời đe dọa của các tiên tri đã thành hiện thực (25,8-17): vinh quang của Giavê đã rời bỏ nơi bị ô uế (x Ed 10,4.18). Đó có phải là sự kết thúc chỉ dấu của đền thờ? Không phải, vì những lời phán truyền về ngày tận thế của các tiên tri đã đem lại cho đền thờ một vị trí quan trọng trong những tấm bảng tương lai của họ. Isaia đã nhìn thấy nơi chỉ dấu ấy một trung tâm tôn giáo tương lai của toàn thể nhân loại được hòa giải trong việc thờ phượng Thiên Chúa thật (Is 2,1-4). Edêkien đã dự báo một cách chi tiết sự tái thiết đền thờ, vào thời điểm khôi phục lại dân tộc (Ed 40-48). Cũng vậy, sự chăm sóc ban đầu của những người Do Thái hồi hương, khi kết thúc thời kỳ lưu đầy, là xây dựng lại đền thờ, nhờ sự khuyến khích của các tiên tri Khácgai (Aggée) và Gia-ca-ri (Zacharie) (Étra 3-6) và những lời phán truyền mới ca vang vinh quang lại đến của đền thờ (Khacgai 2,1-9; Is 60,7-11). Ở ngôi đền thờ thứ hai này, việc thờ phượng do đó giống với việc thờ phượng thời xưa: đền thờ là trung tâm của Do thái giáo, bây giờ trở lại với cấu trúc thần quyền nguyên thủy của nó; một lần nữa đền thờ là chỉ dấu sự hiện diện của Thiên Chúa giữa con người; người ta đến đó hành hương, và Sách Huấn Ca ca tụng những nghi thức rạng ngời bằng giọng nhiệt tình (Hc 50,5-21). Cũng vậy, khi vua Antiokhia làm ô uế đền thờ và ấn định một lối thờ phượng của dân ngoại ở đây, thì người Do Thái nổi dậy để bảo vệ đền thờ ấy, và mục đích đầu tiên của cuộc thánh chiến của họ là thanh tẩy đền thờ để trả lại cho nó lối thờ phượng truyền thống (1 Mcb 4,36-43). Còn vài thập niên sau nữa, Hêrôđê Cả sẽ cho xây dựng lại đền thờ một cách lộng lẫy. Nhưng quan trọng hơn sự rạng ngời bề ngoài chính là lòng đạo nhiệt thành nó được biểu lộ nơi những nghi thức.

3) Hướng đến đền thờ thiêng liêng. Mặc dù gắn bó với ngôi đền thờ bằng đá, một dòng chảy tư tưởng mới đã bắt đầu được khẳng định kể từ cuối thời các tiên tri. Những lời đe dọa của tiên tri Giêrêmia chống lại đền thờ (Gr 7), sau đó là sự sụp đổ đền thờ và nhất là kinh nghiệm lưu đày đã góp phần làm nổi bật sự thiết yếu của lối thờ phượng mang tính tâm linh hơn, gắn với những đòi hỏi của “tôn giáo của con tim” được sách Đệ Nhị Luật và tiên tri Giêrêmia khuyên làm (Đnl 6,4; Gr 31,31…). Ở đất lưu đầy, người ta thực hiện việc này tốt hơn, rằng Thiên Chúa hiện diện khắp nơi Ngài ngự trị, khắp nơi Ngài được thờ lạy (Ed 11,16): vinh quang của Ngài đã không tỏ bày cho Edêkien ở Babylon ư (Ed 1)? Cũng vậy, sau thời kỳ lưu đày, ta thấy một số tiên trí cảnh giác những người Do Thái đề phòng chống lại việc bám dính quá mức vào đền thờ bằng đá (Is 66,1). Cứ như thể việc thờ phượng thiêng liêng được Thiên Chúa đòi hỏi này – việc thờ phượng của những người nghèo và những tâm hồn thống hối (66,2)- thì thích hợp hơn với sự hiện diện thiêng liêng của Thiên Chúa vốn tách khỏi những dấu hiệu nhạy cảm. Giavê ngự ở trên trời, và từ đó Ngài lắng nghe lời cầu xin của những người trung thành Ngài được cất lên ở một vài nơi (x Tb 3,16). Sự tồn tại của dòng chảy tư tưởng đó giải thích rằng, không lâu trước khi Đức Kitô đến, phái Essen có lẽ tách việc thờ phượng khỏi đền thờ mà họ cho là bị ô uế bởi một thầy tư tế bất hợp pháp, và tự mình xem như đền thờ thiêng liêng nơi Thiên Chúa đón nhận một sự thờ lạy xứng đáng với Ngài. Đó là thời kỳ mà các sách khải huyền ngụy tạo mô tả đền thờ này ở trên trời, nó không được bàn tay con người dựng lên: chính ở đó mà Thiên Chúa ngự trị; đền thờ dưới đất này chỉ là hình ảnh khiếm khuyết của đền thờ trên trời (Kn 9,8), và chính đền thờ trên trời ấy theo kỳ hạn sẽ xuất hiện ở dưới đất để trở thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa trong “thế giới sắp đến”.

Tân Ước.

I. ĐỨC GIÊSU KITÔ, ĐỀN THỜ MỚI

1) Đức Giêsu và đền thờ xưa. Cũng như các tiên tri, Đức Giêsu đã bày tỏ sự kính trọng sâu xa nhất đối với đền thờ xưa. Ngài được Đức Maria dâng tiến trong đền thờ (Lc 2,22-39). Ngài trở lại đó vào những dịp lễ trọng đại, như thuộc về một nơi gặp gỡ với Cha Ngài (Lc 2,41-50; Ga 2,14). Ngài tán thành việc thực hành thờ phượng ở đền thờ, đồng thời lên án thói hình thức nó có nguy cơ làm hỏng những việc thực hành ấy (Mt 5,23; 12,3-7; 23,16-22). Đối với Ngài, đền thờ là nhà của Thiên Chúa, nhà cầu nguyện, nhà của Cha Ngài, và nó không xứng đáng là đền thờ khi nó bị người ta biến thành nơi buôn bán; cũng thế, bằng một hành động tiên tri, Ngài đã đuổi những kẻ buôn bán khỏi đền thờ để làm cho nó khỏi ô uế (Mt 21,12-17; Ga 2,16; x Is 56,7; Gr 7,11). Tuy thế, Ngài loan báo sự sụp đổ của ngôi đền thờ lộng lẫy nó sẽ không còn hòn đá nào trên hòn đá nào (Mt 23,38; 24,2). Trong vụ xét xử Ngài, người ta tố cáo Ngài cũng vì Ngài đã tuyên bố sẽ phá hủy đền thờ này được bàn tay con người xây nên, rồi trong ba ngày Ngài sẽ xây dựng lại ngôi đền thờ khác không phải do tay người phàm (Mc 14,58), và cũng lời tố cáo nhục mạ ấy được nhắc lại khi Ngài hấp hối trên thập giá (Mt 27,39). Thế nhưng vấn đề ở đây đó là một lời nói bí nhiệm mà chỉ có tương lai mới giải thích được ý nghĩa của nó. Trong khi chờ đợi, vào lúc Ngài sắp trút hơi thở cuối cùng, việc vén lên bức màn Thánh của các Thánh chỉ cho biết rằng đền thờ xưa mất đi đặc tính thiêng của nó: đền thờ Do thái đã hoàn thành việc thực hiện nhiệm vụ là trở nên dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa.

2) Đền thờ mới. Thực vậy, từ nay trở đi chức năng này được thực hiện bằng một dấu chỉ khác, đó chính là thân thể của Đức Giêsu. Tin mừng theo thánh Gioan đặt lời bí nhiệm nói về đền thờ bị phá hủy và được xây lại trong ba ngày (Ga 2,19) vào trong bối cảnh tẩy sạch ở đền thờ. Nhưng tác giả thêm vào: “Ngài nói về ngôi đền thờ là chính thân thể Ngài”, và các môn đệ của Ngài, sau khi Ngài phục sinh đã hiểu câu nói ấy (2,21). Như thế đây là đền thờ mới và cũng là đền thờ cuối cùng, không do tay con người dựng lên, là nơi Ngôi Lời của Thiên Chúa cư ngụ giữa con người (1,14) giống như xưa Ngài ở trong ngôi lều của Israel. Tuy nhiên, để ngôi đền bằng đá này bị truất phế, Đức Giêsu phải chết và sống lại: Đền Thờ thân thể Ngài sẽ bị tiêu hủy và được xây lại, đó là ý Cha Ngài (10,17; 17,4). Sau khi phục sinh, thân thể này – dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở trần gian – sẽ biết đến một trạng thái mới là được biến hình, nhờ đó mà hiện diện khắp nơi qua mọi thời đại trong việc cử hành thánh lễ. Do đó, đền thờ xưa sẽ không chỉ phải biến mất, vì sự phá hủy Giêrusalem năm 70 đến xác nhận một cách quyết định rằng vai trò của nó từ nay trở đi sẽ chấm dứt.

II. GIÁO HỘI, ĐỀN THỜ THIÊNG LIÊNG.

1) Người Kitô hữu và đền thờ Do thái. Trong suốt thời kỳ chuyển tiếp nó theo sau Lễ Hiện Xuống, các Tông Đồ và những người tin vào Lời vẫn tiếp tục lui tới đền thờ Giêrusalem (Cv 2,46; 3,1-11; 21,26). Thật vậy, nếu như Do thái giáo, điển hình nơi những người đứng đầu và trong dân chúng, đã chưa loại bỏ Tin Mừng một cách dứt khoát, thì nơi thờ phượng xưa đã không mất mối liên kết với việc thờ phượng mới được Đức Giêsu khai mở: trong bối cảnh này Do thái giáo có lẽ hấp thụ một ý nghĩa mới nào đó, cũng giống như dân Do thái, khi hoán cải, có lẽ đóng một vai trò trong việc hoán cải thế giới. Tuy nhiên ta thấy có những triệu chứng đổ vỡ. Tê-pha-nô, trong lời biện hộ về việc thờ phượng thiêng liêng, đã làm cho cảm thấy cần sự truất bỏ đền thờ do tay con người dựng lên, và những lời này được xem như một sự báng bổ nó dẫn ông đến cái chết. Hơn nữa, vài năm sau đó, sự sụp đổ thành Giêrusalem sẽ phá bỏ sự cứng nhắc của Do thái giáo: trong khi tuyệt thông với người Kitô hữu, Do thái giáo sẽ gây ra sự đổ vỡ với Giáo Hội của Đức Giêsu.

2) Đền thờ mới. Nhưng trước điều đó, người Kitô hữu ý thức rằng chính họ thiết lập đền thờ mới, đền thờ thiêng liêng, nối dài thân thể Đức Kitô. Đây là lời giảng dạy rõ ràng của thánh Phaolô: Giáo Hội là đền thờ của Thiên Chúa, được xây trên Đức Kitô, là nền móng và là viên đá góc tường (1 Cr 3,10-17; 2 Cr 6,16; Ep 2,20); đền thờ đặc biệt nơi mà dân Do thái và dân ngoại, không có sự phân biệt, đều đến gần Cha trong cùng một Thánh Thần (Ep 2,14-19).

Xét đến mặt cá nhân, các thành viên của Giáo Hội này đều là đền thờ của Thiên Chúa, đền thờ của Thánh Thần (1 Cr 6,19; Rm 8,11) và là chi thể của Thân Thể Đức Kitô (1 Cr 6,15; 12,27…). Có hai điều gắn kết với nhau: vì thân thể phục sinh của Đức Giêsu, mà thần tính hiện diện cách hữu hình nơi thân thể ấy (Cl 2,9), là đền thờ tiêu biểu nhất của Thiên Chúa, nên người Kitô hữu như những chi thể của thân thể này là đền thờ thiêng liêng với Ngài; trong đức tin và đức ái, họ phải hợp sức để làm cho toàn thân lớn lên (Ep 4,1-16). Cũng vậy Đức Kitô là viên đá sống động bị con người loại bỏ nhưng lại được Thiên Chúa chọn. Những ai trung thành, họ cũng là những viên đá sống động, sẽ cùng với Ngài xây dựng một ngôi đền thờ thiêng liêng cho một hàng tư tế thánh, để dâng những lễ tế thiêng liêng (1 Pr 2,4; x Rm 12,1). Đó là đền thờ cuối cùng không do bàn tay con người dựng lên: Giáo Hội, thân thể của Đức Kitô, nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người, dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở trần gian. Từ đền thờ này, đền thờ xưa do đó chỉ là một mẫu hình, tuy gợi cảm nhưng không hoàn hảo, mang tính tạm thời và hiện giờ bị qua mặt.

III. ĐỀN THỜ SÁNG LÁN

1) Thư gửi tín hữu Do thái. Tuy nhiên, ở một chiều hướng khác, Tân ước cũng khai thác biểu tượng ngôi đền thờ xưa. Do thái giáo đã nhìn thấy đền thờ của con người rất giống với cung điện sáng lán của Thiên Chúa, từ cung điền này mà các sách khải huyền rất thích mô tả bắt đầu từ đền thờ. Chính trong bối cảnh này mà thư gửi tín hữu Do thái mô tả sự hy sinh của Đức Kitô-Tư Tế được thực hiện bằng cái chết, sự phục sinh và lên trời của Ngài. Thoát khỏi cuộc sống trần gian, Ngài đã đi vào thánh điện trên trời, không phải với máu của những con vật hiến tế như trong việc cử hành phụng tự, mà với chính máu Ngài (Dt 9,11-14.24). Ngài đã vào ngôi thánh điện trước để dọn lối cho chúng ta lại gần Thiên Chúa (4,16; 10,19). Kết hiệp với vị Tư Tế duy nhất này, chúng ta sẽ có thể vui hưởng sự Hiện Diện của Thiên Chúa, trong vị Thánh của các Thánh nơi Thiên Chúa cư ngụ, và chúng ta đã vào trong đó bằng đức tin (6,19).

2) Sách Khải huyền của thánh Gioan. Trong sách Khải huyền, hình ảnh đền thờ sáng lạn ăn khớp với hình ảnh đền thờ tại thế là Giáo Hội. Ở trần gian này có một đền thờ nơi những người trung thành đến thờ phượng Thiên Chúa: dân ngoại đến chà đạp những tiền đình phía ngoài của đền thờ, hình ảnh cuộc bách hại nhằm say mê chống Giáo Hội (Kh 11,1). Nhưng cũng có một đền thờ ở trên cao nơi Con Chiên bị sát hại đang ngự trên ngai, nơi phụng vụ cầu nguyện và chúc tụng được cử hành (5,6-14; 7,15). Dẫu thế, theo kỳ hạn, tính hai mặt này sẽ không còn tồn tại nữa. Thật vậy, khi thành Giêrusalem sáng lán bước xuống trần gian này, vợ đính hôn của Con Chiên trang hoàng lộng lẫy cho hôn lễ vĩnh cửu, sẽ không còn nhu cầu có đền thờ ở thành ấy nữa: đền thờ của thành đó sẽ là chính Thiên Chúa, và Con Chiên (21,22). Như vậy những ai trung thành sẽ chờ đợi Thiên Chúa mà không cần dấu chỉ nào cả; hay đúng hơn họ sẽ thấy Ngài mặt đối mặt để tham dự cách trọn vẹn vào cuộc sống của Ngài. Thành tựu tuyệt đỉnh và sau hết của điều mà hai sách Tin Mừng đã mặc khải dần dần.

 

Tác giả: Nguyễn Trí Dũng
   dunglac@gmail.com