Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Trí Dũng
Bài Viết Của
Nguyễn Trí Dũng
Nhật ký của kẻ theo tiếng gọi tình yêu
Đường hẹp (truyện ngắn)
Đi tìm (truyện ngắn)
Truyện ngắn: Nắng, mây và gió - Người phi thường
NHẬT KÝ CỦA KẺ THEO TIẾNG GỌI TÌNH YÊU

NTD

 

Cách đây hai năm, Bạn có gửi tặng tôi tập bút ký trước khi Bạn lên đường theo tiếng gọi Tình Yêu. Thời gian qua, tôi biết Bạn phải lo tu tập để tâm hồn luôn hướng về Trời Cao, nên không nhận được tin tức của Bạn. Nay Bạn cho tôi bất ngờ qua những trang nhật ký mà Bạn viết bằng sự cảm nghiệm của bản thân. Có lẽ noi theo Gabriel Marcel, triết gia người Pháp, Bạn muốn viết những cảm nghiệm về tình yêu qua mỗi ngày sống. Tôi muốn sắp xếp lại theo trình tự nội dung những điều Bạn viết, nhưng làm thế là tôi đánh mất ‘dòng mạch’ sống nơi những trang viết của Bạn. Bởi vậy, tôi chỉ có nhiệm vụ chia sẻ với các bạn trẻ đồng trang lứa những suy nghĩ cảm xúc của Bạn, ‘Kẻ Theo Tiếng Gọi Tình Yêu’.

 

Ngày… tháng… năm...

Nếu tính theo chiều dài sống lý tưởng của con người là trăm năm thì mình đã đi được một phần tư chặng đường đời rồi. Dù mình vẫn chưa tới tuổi ‘tam thập nhi lập’, nhưng ở tuổi này, mình cũng đã bắt đầu băn khoăn nghĩ suy về đời mình. Mình khắc khoải, ngóng trông, mơ về một cuộc sống nào đó mà mình chưa hề sống, chưa hề kinh nghiệm, chưa in dấu ấn trong ký ức mình. Chỉ cần một hình ảnh chợt lướt qua là mình nghĩ đến điều gì đó. Mình không biết ý nghĩ ấy dẫn mình đến đâu. Mình chỉ biết dẫn đưa tâm trí mình đi theo con đường ý nghĩ đó. Rồi đột nhiên ý nghĩ ấy biến mất, để lại dấu vết nơi mình những tư tưởng cảm xúc thật lạ như khung trời lộng lẫy đẹp rực màu. Mình như lạc vào khu rừng huyền bí đầy tiếng muôn loài đang ca vang đất trời. Và mình cảm thấy cái tôi mình như tan biến do sự bùng vỡ cảm xúc làm trào dâng nước mắt. Cảm nghiệm này đã kéo mình ra khỏi những tư tưởng chết mà người ta dạy mình. Mình nhận ra rằng tư tưởng chết chỉ đưa đến hành động chết. Hành động chết là sự vật vờ của thân xác thiếu sức sống chân thật, thiếu ý thức sâu sắc, nói đúng ra là thiếu Thần Khí Hằng Sống. Chỉ Thần Khí ấy mới làm cho những tư tưởng chết được sống lại, mới biến đổi những con người ‘sống mà như đã chết’ thành những người ‘sống và sống dồi dào’. Mình thích thú với ý nghĩ ấy. Mình muốn ý nghĩ đó dẫn đưa mình đến với Thần Khí để nhờ đó mình được Thần Khí dẫn đi hân hoan vui sướng giữa lòng cuộc sống hôm nay.

Mình đã một lần lỡ chuyến đò. Đã tới bến sông. Con đò năm đó đợi mình để đưa mình qua sông. Mình nhìn dòng sông mênh mông sóng, cũng đầy sóng trào dâng trong lòng. Không sao cất bước lên đò được. Hình như phút cuối mình xuống đò nhưng khi đò vừa rời bến thì mình cũng vội nhảy lên bờ. Để lại nuối tiếc sau lưng. Người đưa đò năm xưa ấy đã nhìn mình bằng đôi mắt trách móc. Đò đi rồi không thể quay lại liền. Vả lại mình đã có ý định ở lại bờ bến này, không dám mạo hiểm qua sông, nên nếu người lái đò có quay lại đón mình thì mình cũng không muốn đi. Có lẽ tâm hồn mình chưa chuẩn bị đầy đủ để thực hiện cuộc vượt sông năm ấy. Đúng hơn, mình thấy con đò năm đó có nhiều người lắm. Mình sợ chìm đò. Tâm hồn mình đầy lo sợ, suy tính, bất an. Mình không thể đi được. Mình sợ chính sự lo sợ, toan tính ấy là đúng lắm. Làm sao mình có thể qua sông lớn bằng một con đò nhỏ chở đầy người? Làm sao mình có thể vượt qua dòng đời nếu tâm hồn mình nặng nề? Nghĩ vậy để tự an ủi mình thôi, chứ thật ra mình thiếu niềm tin lắm. Bằng chứng đến hôm nay, mình muốn lên đường ‘vượt sông leo núi’ để tìm kiếm ‘lâu đài thánh thiêng’ nhưng lòng mình vẫn nặng trĩu ưu tư.

 

Ngày… tháng… năm…

Từ vùng nước mênh mông, ruộng đồng bát ngát, mình đã học được nhiều bài học. Dòng sông kia đã dạy mình luôn phải hướng lòng ra thế giới, luôn phải vận động không ngừng, không thể tự mãn trong không gian chật hẹp êm đềm như làn nước lặng yên của ao hồ, phảng phất những trầm lắng nhẹ nhàng. Ao hồ ấy chỉ để làm cảnh cho khách bộ hành đi ngang qua, dừng chân ngắm nhìn chốc lát rồi lại lên đường. Nước trong ao hồ không còn vùng vẫy sóng nữa mà chỉ lăn tăn gợn theo con gió buồn hắt hiu. Mình không thích cảnh ao tù. Nó ngột ngạt và buồn bã lắm. Mình muốn bầu trời tâm hồn bao la, tầm nhìn trí tuệ rộng lớn để thâu tóm vạn vật, để ôm trọn biển đời.

Những cánh đồng ngát hương đã dạy mình luôn phải biết tỏa hương cho đời, luôn vươn lên từ những hạt giống tài năng mình để làm cho cuộc đời thêm tươi đẹp hơn, đáng yêu hơn. Không thể là hạt lúa ích kỷ nằm trong kho lúa, ngủ quên trong chiến thắng. Nhưng hãy là hạt lúa cho đi để trở thành cơm gạo nuôi sống con người. Mình không thích ở yên. Mình thích sự thay đổi. Nếu không, mình sẽ cảm thấy vô giá trị, tồn tại như một vật thể trong không thời gian sống chật hẹp. Như thế có thể gọi là tự do không? Cái tự do mà người ta tôn thờ ấy phải chăng là thứ tự do chết đói? Đói tình thương. Đói sự cảm thông, tha thứ. Đói lòng quảng đại bao dung. Vậy mà tự do chết đói ấy lại lôi cuốn được nhiều người. Người ta có thể sống trong không gian rộng lớn, di chuyển nhiều, tiếp xúc nhiều nguồn thông tin khác nhau, làm phong phú trí tuệ, nhưng lại nhỏ hẹp tấm lòng nó khó mở ra với mọi người để đi vào cuộc sống tha nhân và để tha nhân đi vào cuộc sống mình.

Vậy con người chỉ tự do khi tâm hồn tự do, thoát khỏi những ràng buộc của ngoại cảnh là không gian sống xã hội và nội cảnh là không gian sống cá nhân, tức cõi lòng mình? Tự do đích thực sẽ cứu mình thoát khỏi đói khát công chính, tình thương chứ không đem lại sự chết, lòng hận thù như thứ tự do người đời rêu rao. Ngước nhìn trời cao xanh thẳm, mình thấy cảnh sắc ấy bày ra trước mắt mình sức sống tràn trề mãnh liệt. Mình thoáng thấy thế nào là tự do thật theo nghĩa của trời cao đất thấp, mở rộng lòng mình ôm trọn cuộc đời. Chỉ cách ấy mình mới thật sự tự do.

Làm thế nào mình có thể vững tin tiến bước trên con đường kiếm tìm hạnh phúc? Trong kho tàng văn hóa tư tưởng nhân loại có ai dạy mình biết hạnh phúc là gì? Cho dù người ta chất thành núi sách bàn về vấn đề hạnh phúc thì cũng chẳng thể làm mình thỏa mãn. Bởi lẽ hạnh phúc trong quan niệm của người ta được diễn giải thành hang núi sách ấy vẫn không phải là hạnh phúc của mình. Mình chưa cảm nghiệm được hạnh phúc nơi con người mình thì những lý thuyết về hạnh phúc nào có ích gì. Hạnh phúc phải khởi phát từ chính bản thân mình thông qua môi trường sống quanh mình. Hạnh phúc có thực và ở trong những con người thật, chứ không ở trong những công thức lý thuyết khô khan. Mình muốn đi tìm những con người có hạnh phúc, những ai đã cảm nghiệm được hạnh phúc đích thực, chứ không phải hạnh phúc giả do mình tạo ra. Nhưng nhìn ra cuộc sống bên ngoài, mình thấy ít người hạnh phúc lắm, dĩ nhiên trong đó có mình.

 

Ngày… tháng… năm…

Có khi nào ta yêu ai mà lại buồn sầu, chán nản, lo âu khi ở bên người ấy không? Hẳn không rồi. Cũng vậy, người tin theo Chúa chắc sẽ không cảm thấy mình rơi vào trạng thái cảm xúc ấy. Vì trong ta có Chúa và ta luôn tin Chúa ở bên ta nên ta luôn tràn ngập niềm an vui nội tâm. Dĩ nhiên có những lúc ta không tránh khỏi những lo buồn chúng là thuộc tính của con người, nhưng đó là tâm trạng của đứa con ngóng chờ mẹ đi chợ về. Nó biết mẹ sẽ về nhưng không biết lúc nào mà thôi. Chúng ta tin Chúa không có nghĩa lúc nào ta cũng cảm nghiệm Chúa ở trong tâm hồn mình. Những khi ta thấy Chúa như bỏ rơi ta là lúc ta ngóng trông Ngài nhiều nhất. Và niềm âu sầu ấy nhiễm mùi siêu nhiên chứ không còn là những bám dính vào đối tượng mà mình hiện giờ đánh mất. Nỗi chờ mong được ‘an nghỉ trong Chúa’ của thánh Augustin đã diễn tả trọn vẹn tâm hồn kẻ tin theo Ngài. ‘An nghỉ trong Chúa’ hẳn sẽ hạnh phúc ngàn lần ‘an nghỉ’ nơi những đối tượng không phải là Chúa mà là các ngẫu thần, quản thần như thần tài, thần quyền… Thật vậy, trong Chúa chúng ta sẽ ngập tràn tình yêu và qua ta mà tình yêu của Ngài sẽ tuôn chảy vào lòng thế giới làm sinh sôi nảy nở muôn loài tươi đẹp hơn.

 

Ngày… tháng… năm…

Dường như mình thích nói những điều tốt đẹp để cho người khác thực hiện còn mình thì được miễn trừ! Kể cả khi mình sử dụng Thánh Kinh để phê phán những người thời xưa đã kết án Chúa, trong khi chính mình lại vi phạm những điều Kinh Thánh dạy. Mình thích áp đặt những chuẩn mực tốt đẹp lên người khác và rồi tự nhận mình tốt đẹp! Thái độ ấy không còn là đạo đức giả bên ngoài mà là cái tâm giả bên trong. Như thế, mình nặng tội hơn những người Pharisiêu xưa khi mà mình biết Chúa Giêsu đã có thái độ thế nào đối với họ mà còn lập lại những việc làm của họ dưới hình thức mới ‘nhân danh Đức Giêsu’. Không, mình phải sống điều Chúa dạy, không chỉ đối với những lời giáo huấn mà còn cả những lời phê phán của Ngài nữa. Ngài đang nói, đang dạy dỗ mình mỗi ngày, chứ không phải mình trang bị những lời của Ngài để ‘bắt chước’ Ngài phê phán người khác khi mà mình chưa thực sống điều Ngài dạy. Thầy Giêsu là người tự do nên sự phê phán của Thầy không nhiễm cái tôi, còn mình thì ngược lại, mình để cái tôi chi phối khiến những lời phê phán của mình mất tự do.

Nhìn lại bản thân mình, mình thấy nhiều lần mình sử dụng lời Chúa dạy ‘hãy mến Chúa yêu người’ để dạy và chia sẻ với người khác nhưng chính mình lại chưa cảm nghiệm sâu điều mình nói. Những ai nghe Lời ấy bằng việc cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa qua việc yêu tha nhân hẳn sẽ chỉ mượn Lời Chúa để giãi bày cảm xúc yêu thương của mình mà thôi, chứ không dám dung Lời Ngài để ‘nói với người khác’ về tình yêu huyền diệu ấy. Còn những người chỉ để Lời dừng lại ở lý trí mà không thấm nhập vào cõi lòng thì sẽ lập lại Lời ấy một cách xáo rỗng.

Yêu người thân cận không phải yêu con người trừu tượng xa vời nhưng cụ thể là những người quanh mình, sống hằng ngày với mình, mình gặp mỗi ngày… Tuy nhiên khái niệm thân cận cũng bao gồm cái toàn thể, nghĩa là ai cũng yêu người thân cận thì rõ ràng nhân loại đạt đến đỉnh điểm của tình yêu rồi. Tôi yêu những người thân cận quanh tôi. Bạn yêu những người thân cận quanh bạn. Và như thế chúng ta sẽ gặp nhau trong cái thân cận ấy. Điều này cũng đồng nghĩa mọi người yêu thương nhau vậy.

 

Ngày… tháng… năm

Khi nói đến tình yêu, người ta thường đề cập tới ba mối tương quan phổ biến: yêu Chúa, yêu người, yêu thiên nhiên. Nhưng ba mối tương quan yêu thương này đang rạn nứt trầm trọng. Mối tình dành cho Thiên Chúa dường như đã nhạt phai đến nỗi ngày nay ở phương Tây, mặc dù người ta tiên báo thế kỷ 21 là thế kỷ của tôn giáo, nhưng thực tế cho thấy Thiên Chúa đã bị loại khỏi đời sống xã hội, và chỉ còn thu hẹp lại nơi tình cảm tôn giáo của cá nhân mà thôi. Còn tình yêu thiên nhiên thì người ta đang ý thức trở lại, tuy nhiên sức mạnh của khoa học kỹ thuật tự hào đã chinh phục thiên nhiên, nay do con người sử dụng sức mạnh ấy để khai thác quá mức chịu đựng của thiên nhiên khiến nó quay lại phản ứng. Và con người phải gánh hậu quả nặng nề là sự thay đổi khí hậu dẫn đến lũ lụt, hạn hán, động đất, thiên tai… Rồi yêu người thì ta thấy mức độ yêu thương giữa người với người vẫn còn ở dạng ‘thăm dò’, nó chưa xâm nhập sâu vào lòng mỗi người nên chưa cải biến con người toàn bộ được.

Đứng trước hoàn cảnh thực tế ấy, mình lắng nghe lời Đức Giêsu truyền dạy: ‘anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em’. Mình không thấy Ngài giảng dạy giáo huấn này cho đám đông nghe nhưng chỉ nói với một nhóm nhỏ là các tông đồ mà thôi. Ấy vậy, thực hiện trọn vẹn triệt để lời dạy của Ngài quả là rất khó, vì các thành viên trong cộng đoàn đã phơi bày con người họ với đầy đủ cá tính, tâm tư tình cảm, suy nghĩ hành động nên họ rất dễ sa vào thái độ xem thường, hoặc thiếu nhạy bén. Đức Giêsu dạy các tông đồ yêu thương nhau, chứ Ngài không bảo các ông phải yêu mọi người: ‘Thầy truyền cho anh em điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau’. Ở điểm này, mình cảm nhận một điều quan trọng: yêu người thân cận, gần bên mình quả không dễ chút nào. Nhiều khi mình cũng rơi vào tình trạng yêu ‘bao đồng’ ấy, chỉ thích yêu mọi người, yêu nhân loại ‘trừu tượng’ hơn là yêu những người quanh mình, những người mình gặp và sống chung với họ hằng ngày. Thái độ muốn yêu những đối tượng bên ngoài không thời gian tôi đang sống là lúc này và ở đây đã kéo tôi ra khỏi chính bản thân mình, rồi ra khỏi cộng đoàn tôi sống, nhất là cộng đoàn gia đình tôi. Từ đó, tôi dần mất đi cộng đoàn yêu thương, mất luôn cả chính mình nữa, vì tôi không thể yêu thương những người quanh tôi thì làm sao tôi có thể yêu những người tôi chưa hề gặp mặt? Thế nên, tôi phải biết quay về tiếp xúc yêu thương trở lại với bản thân, gia đình, xóm làng, những người tôi gặp hằng ngày để từ đó tình yêu của tôi mới có thể lan rộng.

 

Ngày… tháng… năm…

Chúng ta khó yêu nhau như Lời Chúa truyền dạy ‘anh em hãy yêu thương nhau’ là vì ta đã mất niềm tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Tin vào lòng thương xót của Ngài là nhận biết rằng Ngài yêu thương tôi dù tôi tội lỗi, rằng Ngài chấp nhận những khuyết điểm yếu đuối của tôi dù tôi khinh ghét chúng. Phải chăng đây là nguyên nhân làm cho chúng ta không thể cùng nhau kiến tạo nên những cộng đoàn yêu thương để ‘người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con hãy yêu thương nhau’? Nhiều khi tôi thích lo chuyện thiên hạ hơn chuyện trong gia đình. Vì chuyện trong nhà khiến tôi chán ngán, nhưng chạy theo chuyện thiên hạ tôi chỉ muốn trốn tránh cái trống trải khi ở nhà mà thôi. Nhiều khi tôi nổi loạn chống lại thực tại thế giới bệnh tật, khổ đau, chiến tranh, đói nghèo là vì tôi bất lực trước bản thân để phóng chiếu sự bất lực ấy ra thế giới bên ngoài. Những lúc như thế, làm sao tôi có thể nói tôi yêu anh em được, nhất là những người trong cộng đoàn tôi đang sống là gia đình, xóm làng…?

Bởi vậy, tôi cần ý thức rằng những khổ đau bên ngoài tự nó không phải là phương tiện để tôi xử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, dù đó là nhu cầu làm ‘sáng danh Chúa’ và ‘lợi ích cho các linh hồn’, nhưng là cơ hội để thanh luyện tâm hồn tôi trước khi tôi vào đời để đem tin vui cứu độ của Chúa cho muôn người. Tại sao tôi may mắn được ngồi ở ghế giảng đường học hành trong khi các bạn tôi đang ở quê nhà phải làm việc vất vả để kiếm sống? Sao đất nước tôi lại phải chịu cảnh chiến tranh dai dẳng, rồi phải chịu bao cảnh áp bức bất công xã hội? Tại sao và tại sao… những câu hỏi ấy giúp tôi cảm nghiệm rằng Chúa yêu thương tôi nhiều lắm, để đến lượt tôi, nhờ lòng xót thương của Ngài mà tôi cảm thấy cần phải yêu người, giống như đói thì ăn vậy. Cái khổ của kẻ khác cũng là nỗi khổ của tôi, và khi tôi khổ vì ai đó thì tôi cũng yêu họ luôn. Lúc ấy, tôi không còn khỏa lấp tâm hồn tôi bằng những hoạt động giúp đỡ bên ngoài mà bằng chính lòng xót thương của Chúa.

 

Ngày… tháng… năm…

Chúng ta dễ mở lòng ra với thiên nhiên để đón nhận cái đẹp đầy sức sống diệu kỳ vào trong tâm hồn ta, bằng chứng là những phút giây hướng lòng ra trời đất vũ trụ, ta thường quên hết mọi sự đời khốn khổ. Đối với thiên nhiên ta cảm thấy thoải mái vì biết rằng thiên nhiên sẽ không lấy đi cái gì đó của riêng ta, trái lại còn rộng ban nhiều điều mới lạ để nuôi dưỡng tâm hồn ta nữa. Tuy nhiên, đối với tha nhân, ta thường khép kín lòng mình, không dám để người khác đi vào cuộc đời ta cách trọn vẹn, chỉ vì ta sợ người ta sẽ lấy đi cái thân thiết nhất của ta.

Tình yêu hợp nhất mình và người nên một để trở thành chúng mình thân thương nhất, như đôi trai gái yêu nhau để trở nên ‘một huyết nhục’, để ‘không còn là hai mà là một’. Tình yêu hợp nhất mọi người trong cộng đoàn để mỗi thành viên thể hiện ý chí của mình trong sự hợp nhất ý chí chung của tập thể.  Không thể yêu trong sự chia cách hay hỗn loạn. Muốn thế sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa là điều kiện tiên quyết giúp ta có được sự hợp nhất với tha nhân. Bằng không, ta chỉ tương quan với người khác ở bề mặt chứ chưa thể tương thấu bề sâu được. Tương quan ấy là hình thức xã hội thiên về những quy tắc luật lệ chúng làm cho các cá nhân thu vào vỏ bọc cái tôi, khiến họ không thể thông giao với người khác được. Chỉ bằng tình yêu, người ta mới dám ‘mở lòng’ ra để trao ban chính mình. Tuy nhiên, tình yêu chân thật luôn vượt trên tình yêu ta dành cho đối tượng yêu. Thật vậy, để yêu người thì tôi phải có tình yêu. Nhưng tình yêu ấy khi thể hiện ra bên ngoài luôn mang những khiếm khuyết do tác động của cảm xúc, ước muốn. Do đó, tôi luôn được yêu trước khi tôi yêu. Và đó là Thiên Chúa yêu tôi. Cảm nghiệm Tình yêu Thiên Chúa dành riêng cho mình sẽ đem lại cho ta niềm vui là có Chúa Tình yêu trong tâm hồn ta, nhờ đó ta thể hiện bằng hành động là ‘yêu người như Chúa yêu ta’ để rồi chính ta trở thành tình yêu luôn. Có điều Tình yêu Thiên Chúa dành cho ta vượt trên tình yêu của ta dành cho Chúa và tha nhân. Thế nên, có những khi ta bất lực không thể hành động đáp trả tình yêu Chúa qua việc yêu người. Khi ấy, ta chỉ còn cách hiện diện trước Chúa và ở bên cạnh người anh em ta yêu như một sự bất lực tràn đầy sức mạnh tình yêu. Và để thực hiện điều đó, chúng ta phải đi sâu vào lòng mình để nhận ra người khác như cái Mình khác của ta. ‘Yêu người như yêu mình’ là nhận ra mình và người có mối liên hệ chí thân chí nghĩa để rồi nơi người mình gặp mình và nơi mình mình khám phá ra người. Từ đó, mình và người vươn lên trong tương quan thân thiết để hướng đến sự hợp nhất nên một trong Chúa, Đấng mà mình và người sẽ nhận ra nơi chiều sâu lòng của nhau.

Chúng ta mượn hình ảnh đôi trai gái yêu nhau để diễn tả sự hợp nhất tình yêu. ‘Tiếng sét ái tình’ đã thu hút người nam và người nữ lại với nhau. Đó có thể là cảm xúc yêu nó bùng cháy trong tâm hồn họ, khiến họ cảm thấy ‘ngất ngây’ như không thể sống nếu thiếu nhau. Có điều cả hai đều quyến luyến cái phút giây rực sáng nó làm nên điều thần diệu là cải biến tâm hồn hai người khiến cho anh có thể từ bỏ một tính hư nết xấu nào đó để làm đẹp lòng chị, hay làm cho chị trở nên dịu dàng hơn và biết quan tâm đến người khác. Ánh sáng xuất hiện trong tình yêu nam nữ dẫn đưa hai người đến với nhau thì cùng lúc đó cũng nảy sinh bóng tối nó trì kéo hai người ở lại với chính họ như là những thói quen chiếm hữu, hay những điểm tựa an toàn là tài năng, sắc đẹp, giàu sang… Cái ánh sáng ái tình ấy tạo nên vết hằn sâu trong tâm hồn hai người khiến họ cảm thấy không thể thiếu nhau. Chính vì sự quyến luyến ấy mà cả hai đã quên mất thực tại con người họ. Đó là con người của những dục vọng chúng khiến họ chỉ nhìn thấy nơi người họ yêu thứ đam mê vị kỷ, để rồi tuy gắn kết nhau đấy nhưng người này chỉ nhìn thấy đối tượng yêu như bản thân mình mà thôi. Khi tình yêu nam nữ ấy kết thành hôn nhân thì theo thời gian, bao nhiêu sự kiện in dấu sâu đậm trên thân xác và tinh thần của hai người khiến họ quên mất giây phút rực sáng của tình yêu mà họ đã cảm nghiệm được. Lẽ ra hai người phải nuôi dưỡng cái cảm xúc diệu kỳ ấy như là ‘dấu chỉ’ của tình yêu chứ chưa phải là tình yêu thực sự, để rồi tiếp tục khám phá sự hiện hữu của nhau hầu làm tràn đầy tình yêu ấy nơi tâm hồn mỗi người. Đó là sự mở rộng chính mình để đón nhận người mình yêu, chứ không phải thỏa mãn cái tôi vị lợi là chiếm hữu người yêu ấy cho mục đích riêng mình. Sự mở rộng mình không làm mất đi chính mình nhưng ngược lại ‘cứu’ được nó trong thể viên mãn với người mình yêu! Khi ấy hai người yêu nhau không phải vì nhìn thấy nơi nhau những thuộc tính hay nội dung đáng yêu, nhưng vì cả hai đều muốn được thăng hoa trong Tình yêu diệu vợi, được biến đổi thành những con người mới dồi dào sức sống hơn. Chỉ lúc đó hai người mới tạo ra môi trường tình yêu thực sự là gia đình

 

Ngày… tháng… năm…

Vũ trụ dưới cái nhìn của Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nó, thật hoàn hảo và đẹp biết dường nào. Nhưng con người vì bản tính tội lỗi do sa vào sự tranh chấp thiện ác, tốt xấu nên nhìn vũ trụ ấy theo hướng phân biệt đối lập, tức tính nhị nguyên. Nhân loại trải qua dòng lịch sử nó in dấu sâu đậm cái nhìn nhị nguyên ấy nên luôn xảy ra xung đột. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã yêu thương con người nên Ngài đã thực hiện công trình cứu độ nơi Con Một của Ngài để hóa giải sự xung đột do con người gây ra, đã đóng dấu cái đẹp siêu nhiên nơi con người, khôi phục thể viên mãn đầy sức sống của mỗi cá thể, thăng hoa đời sống mỗi người lên một tầm cao mới, qua đó con người tìm về sự thống nhất nơi Đấng Cứu Độ như ‘Cha ở trong con và con ở trong Cha’. Những ai cảm nghiệm sâu sắc tình yêu cứu độ của Thiên Chúa hẳn sẽ không thể không tiếp tục công trình cứu độ của Ngài, không thể ‘ngủ yên’ trong niềm vui nội tâm bản thân, mà phải ‘xuống núi’, phải ‘vào đời’ để loan Tin Vui cứu độ mình đón nhận được từ Thiên Chúa cho mọi người.

 

Ngày… tháng… năm…

Tình yêu của Thiên Chúa không thể tồn tại một cách trừu tượng nhưng hiện thực cụ thể qua vũ trụ vạn vật, nhất là qua chính người Con của Ngài là Đức Kitô. Dung mạo Tình yêu Thiên Chúa được hiển lộ cao nhất nơi Đức Giêsu để những ai tin vào Ngài thì cũng yêu Ngài, và Thiên Chúa cũng yêu người đó luôn. Sự phong phú tột đỉnh của Tình yêu Thiên Chúa còn được tiếp nối suốt chiều dài lịch sử nhân loại để thâu nhận mọi loài thụ tạo vào tham dự bàn tiệc vinh phúc Nước Trời, nơi tràn ngập Tình yêu Chúa.

Khi Tình yêu Thiên Chúa thấm nhập con người ta, điều đó có nghĩa nơi sâu thẳm lòng ta đã được Chúa mặc khải cho biết điều gì đó về Ngài, và cũng là nơi khởi điểm để Thiên Chúa thực hiện cuộc biến đổi nội tâm ta để ta cũng trở nên tình yêu làm ‘men muối’ cho đời. Tuy nhiên, tình yêu ta thể hiện vẫn mang tính bất toàn, không thể thu nạp trọn vẹn đối tượng mình yêu, đồng thời cũng không thể bao gồm tất cả những ai cần được mình yêu. Bởi vậy, ta yêu Chúa ở ‘mức trần tục’ là ta vừa cậy trông vào lòng thương xót của Ngài vừa là lời mời gọi người khác hãy nhận ra tiếng gọi tình yêu nơi con người họ để họ có thể lan tỏa tình yêu ấy cách mạnh mẽ đầy sức sống hơn. Như thế, tình yêu con người giới hạn của ta sẽ trở thành dấu chỉ cho Tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Nhận ra giới hạn bản thân, ta mới có thể yêu trần tục bằng tình yêu của Chúa.

Tình yêu của con người chỉ có thể vô hạn nếu nó sát nhập vào Tình yêu của Thiên Chúa. Đúng hơn, nhờ giới hạn của tình yêu ‘ở mức trần tục’ mà con người hướng về nội tâm mình để cải biến nó và nhờ đó nó gặp chính Thiên Chúa Tình yêu luôn. Chỉ trong ý nghĩa này, con người mới thể hiện tình yêu mình một cách bao la rộng lớn dù bị giới hạn.

Một khi Tình yêu thấm nhiễm vào toàn bộ con người ta là thể xác, tinh thần và linh hồn, hay ‘tình cảm, tư duy, ý chí’, chúng ta sẽ sống tràn đầy yêu thương. Nơi thân xác, ta sẽ không có những xung đột của các tế bào vốn gây ra bệnh tật. Nơi tinh thần, ta không còn những bất an. Nơi linh hồn, ta luôn hướng về Đấng Chí Tôn để được an nghỉ trong Tình yêu của Ngài.

 

Ngày… tháng… năm…

Sự lo lắng băn khoăn, ưu tư về tương lai là một chuyển động nội tâm lớn nó hoặc đưa ta đến với thế giới ngập tràn những của cải vật chất hoặc hướng ta về cội nguồn Tình yêu đã sinh ra ta. Bởi vậy, chúng ta cần quan sát những ‘vì sao’ giữa bầu trời thế nhân để tìm thấy ánh sáng giữa đêm đen, dù rằng những ánh sao đêm ấy không thể xua tan bóng tối. Những ‘vì sao’ ấy có thể nói là những người đã vượt qua thời đại tăm tối của họ để vươn lên cất cao tiếng hót báo hiệu cho thế hệ sau biết rằng Mùa Xuân Tình Yêu đã đến, chúng ta hãy đón nhận tin vui ấy.

Trong tương quan giữa con người với nhau, tiếng gọi của Tình yêu không chỉ thể hiện qua những giây phút hạnh phút lóe sáng tuy ngắn ngủi chóng qua nhưng để lại ấn tượng khó phai, mà còn vang vọng nơi những khổ đau của kiếp nhân sinh như là hậu quả của sự ‘vô minh’, của sự sa ngã phạm tội ‘ăn trái cấm’. Thế nên, chúng ta có thể đáp trả lời mời gọi của Tình yêu qua việc thu nhận vào mình toàn bộ thực tại muôn màu muôn vẻ ấy, hạnh phúc hay khổ đau, để thăng hoa nó lên tầm siêu nhiên mang giá trị vĩnh hằng và để chính bản thân mình cũng được cải biến trở thành Tình yêu luôn.

Do đó, có thể nói Tình yêu thể hiện muôn sắc thái trong cuộc sống con người. Những lời mời gọi yêu thương ấy đến từ thế giới bên ngoài, từ nền văn hóa xã hội chúng ta sống và từ chính nội tâm sâu thẳm lòng mỗi người. Thật vậy, mối tương quan yêu thương được hình thành do sự thẩm thấu qua lại giữa cá thể và môi trường tự nhiên và xã hội chúng vốn dĩ là những thực tại luôn biến đổi. Do đó, mối liên kết bộ ba ấy cũng phải linh động nhằm thích ứng với từng hoàn cảnh, từng giai đoạn lịch sử. Nhân loại tồn tại và phát triển nhờ sự gắn bó mật thiết yêu thương, bằng không sợi dây nối liền bộ ba ấy sẽ tách đứt khiến cá thể được tự do suy tôn mình làm chủ tể, tự nhiên vận hành xoay vần theo quy luật của nó mà không đếm xỉa đến sự tồn vong của muôn loài, nhân loại lạc hướng không biết đích đến.

 

Ngày… tháng… năm…

Tiếng gọi của Tình yêu luôn để ngỏ sự tự do để con người đáp trả cách tự nguyện hiến thân hay từ chối dửng dưng đứng bên ngoài thực tại Tình yêu để chấp nhận cách lệ thuộc những lời mời gọi của tội lỗi.

Trong sự thần hóa vật chất, con người không thể quyết định bằng những sáng tạo trí tuệ của mình nhưng đòi hỏi và luôn cần phải có sự ứng trợ tiếp sức của Thánh Thần, Đấng tự do tuyệt đối.

 

Ngày… tháng… năm…

Sự tiến hóa không hề biết xót thương. Nó theo quy luật sinh tồn để làm cho vạn vật luôn ‘sinh sinh bất nghỉ’. Nó cuốn trôi tất cả và lại làm đầy tất cả, như sóng biển vậy. Nhưng Thiên Chúa nhắm đích là con người nên bằng Tình yêu Ngài đã cứu con người khỏi ‘vòng xoáy’ của quy luật tự nhiên để con người được ‘sống và sống dồi dào’.

 

Ngày… tháng… năm…

Chúng ta bỏ nhà đi hoang chỉ vì bản thân mình chứ không phải nguyên do Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa, không vì chúng ta mà Ngài mất đi bản tính Thiên Chúa. Ngài không tạo ra vấn đề để chúng ta giải quyết, nhưng chính chúng ta tạo ra những vấn đề, đó là vấn đề chúng ta gọi là sự dữ, là cái ác. Bởi vì chúng ta không chấp nhận Thánh ý Chúa như là nguồn mạch tình yêu đang tuôn chảy giữa lòng thế giới mà chỉ là sự ô nhiễm đầy rác rưởi của tội lỗi. Chúng ta một mặt nghĩ rằng Thiên Chúa đầy quyền năng nhưng mặt khác thì chống lại thế giới của Ngài vốn tràn ngập sự dữ. Tại sao Ngài không dùng quyền năng của Ngài để loại bỏ cái ác? Đó là câu hỏi mà con người đã đặt ra cho Ngài. Nhưng vì nhìn dưới góc độ con người mà trí tuệ hạn hẹp nhỏ bé nên chúng ta đã lần mò trong tuyệt vọng tìm giải pháp cho những vấn đề sự dữ mà ta nghĩ do Chúa tạo ra. Ở điểm này, cái nhìn thiếu đức tin ấy cũng đồng nghĩa với việc ta không yêu Chúa. Tin và yêu liên hệ mật thiết với nhau. Tin Chúa quyền năng mà không yêu Chúa thì niềm tin ấy dễ dẫn đến nổi loạn chống lại Chúa và thế giới Ngài tạo dựng. Ngược lại, yêu mến Chúa mà không tin Ngài qua những việc xảy ra nơi thế giới này thì tình yêu ấy dễ đưa ta đến chỗ chối Chúa, như Phêrô và Giuđa vậy.

Ý thức sự vắng mặt của Thiên Chúa cũng có thể đưa ta đến thái độ nổi loạn chống lại Ngài, phủ nhận Ngài. Chủ thuyết vô thần, chủ thuyết ‘tuyệt đối cái tương đối’ đã lan truyền trong xã hội ngày nay chúng tạo nên sự khủng hoảng nội tâm trầm trọng của con người ‘thời mới’, bên cạnh con người ‘bỏ Chúa’, con người ‘vật chất’. Thái độ của đức tin trước sự vắng mặt của Thiên Chúa trong đời sống nội tâm mình là tin rằng Chúa sẽ trở lại dù bây giờ mình cảm thấy Ngài không còn hiện diện trong mình nữa.

 

Ngày… tháng… năm…

Tội là thực tại cuộc sống của ta chứ không phải là những công thức hay sự vật bên ngoài ta. Ta sám hối không có nghĩa ta từ bỏ những gì ta cho là xấu chúng gắn liền với cuộc đời ta, nhưng là nhìn nhận chúng đã ngăn trở ta tiếp xúc với Thiên Chúa Tình Yêu. Ước muốn từ bỏ tội vì thế là muốn được Chúa yêu và cũng là muốn yêu mình vậy. Mình không muốn phạm tội là mình yêu mình. Nghĩa là mình không muốn vô minh nó khiến mình phạm tội, ‘mình không biết việc mình làm’. Mình muốn tỉnh thức để có thể nhìn thấy thực tại cuộc sống tươi đẹp đang hiện hữu quanh mình. Và ước muốn đó chỉ có thể thực hiện được nhờ tình yêu. Tuy nhiên, dù yêu mình nhưng tự mình ta không thể tháo gỡ bức màn vô minh được, có chăng cũng chỉ vén lên một góc nào đó để nhìn cuộc sống mà thôi. Nhưng như thế mình vẫn còn phiến diện, nhìn đời chỉ một góc thôi, chứ không phải cái toàn thể của nó. Và trong nỗ lực một cách tuyệt vọng với tất cả tình yêu của mình đối với mình để vén bức màn vô minh đang che tâm trí mình ấy, mình sẽ được Chúa thương cứu mình thoát khỏi tình trạng đáng thương là tội lỗi của mình.

 

Ngày… tháng… năm…

Tình yêu của tôi luôn cần gắn kết với Tình Yêu Thiên Chúa, hút lấy mật ngọt từ nguồn Tình yêu ấy để bồi dưỡng cho sức khỏe thể chất cũng như tinh thần mình. Chính Tình Yêu Thiên Chúa mới duy trì sự nhiệt huyết của tình yêu ta dành cho tha nhân, cho thiên nhiên. Chính Tình Yêu Thiên Chúa bảo vệ sự sống nơi ta trong một thân xác khỏe mạnh và một tinh thần minh mẫn để ta vững bước trên con đường đáp trả tiếng gọi Tình yêu ấy. Tuy nhiên, ta không thể gắn kết với Tình Yêu Thiên Chúa nếu ta không sống trong tình yêu của ta, nghĩa là bằng cuộc sống hằng ngày, qua thân xác, suy nghĩ, cảm xúc ta diễn tả tình cảm của ta đối với tha nhân, với muôn loài. Nhìn một người nghèo đói khốn khổ mà ta không cảm giác gì hết thì làm sao tình yêu của ta nảy sinh được?  Nhìn cảnh xung đột giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, ta không cảm thấy gì cả thì làm sao tình yêu của ta có thể chiếu giãi ra bên ngoài được? Phải chăng ta không thấy được sức hấp dẫn của Tình Yêu đang hoạt động mãnh liệt trong cuộc sống? Phải chăng ta không thể nghe hiểu được những âm thanh đang vang vọng giữa đất trời như bản trường ca hào hùng đầy sức sống?

Bao lâu tôi còn ở lỳ trong không gian cái tôi chật hẹp thì tôi vẫn cứ như ‘người điếc mù’ vậy. Thế nên, tôi cần khôi phục lại những tình cảm, xúc cảm ban sơ như thưở ta còn là đứa trẻ luôn ngạc nhiên với thế giới bên ngoài, dĩ nhiên không phải tôi trở về trạng thái trẻ con rồi. Cái tình cảm ban sơ ấy chính là sự vô phân biệt giữa ta và người để trở nên thống nhất, không phân ly và như vậy tình yêu trong ta sẽ nảy nở và phát triển một cách mạnh mẽ.

 

Ngày… tháng… năm…

Tình yêu có sức sáng tạo làm biến đổi những đối tượng nó tác động đến. Chúng ta thụ hưởng công trình sáng tạo của Thượng Đế, cảm nhận được cái đẹp của thế giới, nhưng ta có thể vẫn chưa biết sáng tạo. Chính trong Tình yêu ta học được sự sáng tạo của Thượng Đế để góp sức hoàn thiện thế giới Ngài đã nhắm đích tới. Nhờ đó, niềm vui sáng tạo sẽ tăng gấp đôi vì nó đi kèm với sự cảm nhận cái đẹp và sự sáng tạo cái mới. Không biết sáng tạo tình yêu của ta chưa trọn hảo và có thể nói còn ‘dang dở’ vì nó dừng lại nơi cái đẹp của thiên nhiên mà không đi sâu vào cái đẹp của nội tâm vốn là ‘lâu đài Thiên Chúa ngự trị’.

Đức Giêsu đã diễn tả Thiên Chúa Tình yêu một cách hết sức sinh động, như chúng ta đọc thấy trong các dụ ngôn của Ngài, đó là Tình yêu vượt ngoài dự kiến của con người. Sức sống của Tình yêu qua những câu chuyện của Ngài được thể hiện nơi từng người riêng biệt. Nơi người tội lội, Tình yêu ấy được thể hiện qua người chủ chiên nỗ lực đi tìm chiên lạc, hay qua người cha nhân lành kiên nhẫn đợi chờ đứa con hoang đàng trở về. Nơi người bất hạnh, Tình yêu ấy được diễn tả qua dung mạo người ‘ngoại đạo’ Samaritain bất chấp gian nguy sẵn sàng cứu giúp người gặp nạn. Nơi người trí thức, Tình yêu ấy làm thay đổi tận gốc suy nghĩ của Nicôđêmô. Bởi vậy, Tình yêu đã diễn đạt rõ nét nhất dung mạo của Thiên Chúa.

 

Ngày… tháng… năm…

Tình yêu đòi hỏi sự sáng tạo. Nhưng sự sáng tạo này không thể quy chiếu về những chuẩn mực quy định của đạo đức luân lý. Đơn giản sự sáng tạo của Tình yêu là vượt chuẩn, là biến đổi, là phiêu lưu mạo hiểm chấp nhận rủi ro, nghĩa là không có tiền lệ trước để Tình yêu bám dính. Sự sáng tạo vì thế đòi hỏi mình phải có cá tính mạnh mẽ để vượt qua những trở ngại khó khăn khiến mình không thể hiện thực tình yêu nơi đối tượng mình yêu. Vậy Tình yêu sáng tạo không phải tạo nên những giá trị mới, nhưng là đề nghị những phương cách mới để thăng hoa những giá trị hiện hữu nhằm làm lan truyền cảm hứng yêu thương trong môi trường xã hội, nhất là mời gọi người ta tham gia vào hoạt động thăng hoa ấy nhằm tự biến đổi bản thân mình.

 

Ngày… tháng… năm…

Chúng ta không biết việc mình làm nên thường hay làm đổ vỡ mọi sự. Đúng hơn, ta tưởng mình biết nhưng lại làm hoàn toàn trái ngược với điều mình nghĩ. Mình tưởng mình biết Chúa, yêu Chúa, nhưng lại làm những việc không hợp ý Chúa, không xứng danh Chúa. Tôi có thể cho đi tình yêu, ca ngợi tình yêu nhưng lại rất e dè đón nhận tình yêu. Tôi thích cho mà không muốn nhận, chỉ vì khi cho đi tôi thỏa mãn cái tôi của mình, còn lúc đón nhận thì tôi cảm thấy mình như đánh mất cái gì đó khiến mình phản kháng. Tôi sợ mất cái hào nhoáng của cái tôi, mất hình ảnh tốt đẹp tôi tạo nên nhờ sự cho đi ấy. và thế là sự dữ đã len vào con người tôi, thâm nhập vào ý nghĩ, tư tưởng hành động của tôi, để rồi tôi cứ sống trong sự lầm tưởng rằng ‘tôi là thế đó’, là ‘hào quang’ của tình yêu cho đi ấy! Từ đó, tôi không còn trở nên ‘tinh ròng nhạy bén’ với thực tại cuộc sống mà chỉ ‘nhạy bén’ với cái tôi của mình mà thôi.

 

Ngày… tháng… năm…

Khi vật chất phơi bày vẻ đẹp của nó, điều đó không có nghĩa cái đẹp đã tồn tại sẵn trong nó nhưng như một tiềm lực chờ con người khai phóng. Thông qua những biến đổi theo quy luật nó in dấu sự sáng là Cái Đẹp của Thượng Đế, con người góp phần làm cho những tia sáng ẩn dấu ấy được bừng lên nơi thế giới vạn vật. Bằng cách nào? Bằng chính những rung cảm của trái tim, trí tuệ và linh hồn. Đúng hơn, do sự thu hút lẫn nhau mà ta tìm thấy nơi vạn vật những cảm xúc rạt rào nhờ đó ta khám phá ra những bí ẩn đằng sau thế giới ấy. Tuy nhiên, vì con người là sinh linh ưu tú được Thiên Chúa đặc tuyển và trao ban cho sứ mạng cai quản vũ trụ nên cảm xúc ấy cần được thăng hoa hơn nhờ lý trí để hiện thực hóa cái đẹp của vạn vật nơi cuộc sống xã hội, cụ thể là khoa học, nghệ thuật, văn hóa, tư tưởng…

Nếu bằng sức mạnh trí tuệ ý chí, con người đã cải tạo thiên nhiên, bắt thiên nhiên phải tiết lộ cái bí ẩn của nó, đồng thời đến lượt mình cái bí ẩn kia lại tác động vào ý thức con người tạo nên những biến chuyển nhận thức, thì bằng sức mạnh tinh thần tâm linh, chúng ta vén bức màn tăm tối của lòng mình để ánh sáng Thượng Đế chiếu tỏ trong ta, biến đổi ta trở nên giống Ngài hơn.

 

Ngày… tháng… năm…

Tình yêu không phải là sản phẩm của lý trí hay ý chí, nên để tác động đến ‘tảng băng’ đang ngăn trở ánh sáng yêu thương đến trong cõi lòng mình, mình rất cần những tác động bên ngoài chúng va chạm con người mình để làm tan rã ‘khối băng’ là cái tôi ấy. Có điều khi hai vật tạo lực tiếp xúc nhau thì dễ nảy sinh tương khắc, tức sự va chạm. Trong sự va chạm này, một cái gì đó như tia lửa lóe ra từ hai hòn đá ma sát nhau xuất hiện làm tan dần khối băng. Chính cái lóe sáng ấy là dấu chỉ của tình yêu đi vào cuộc sống con người. Nhưng sự mất mát lại đưa đến cảm giác khổ. Như thế, tiếng gọi của Tình yêu còn thể hiện qua đau khổ.

Trên con đường đáp trả lời mời gọi từ trời cao hướng về Tình yêu đích thực có sức hóa giải khổ đau của nhân loại, chúng ta sẽ gặp những miền hoang vu tăm tối, nơi đó dường như tình yêu đã nhường chỗ cho sự dữ. Đây hoàn toàn không phải là thử thách áp đặt từ bên ngoài nhưng là con đường tất yếu của nội tâm mà khi ta nghe được tiếng gọi của tình yêu và đáp trả tiếng gọi ấy thì ắt hẳn ta phải gặp miền hoang vu đó.

Đau khổ luôn gắn liền với đối tượng nào đó. Nhưng đối tượng ấy không phải là sự trừu tượng không thể cảm nhận được mà cụ thể nó tác động trực tiếp đến cảm giác nội tâm tôi. Thế nên, đau khổ tôi trải qua không giống nội dung khổ đau anh gánh chịu, vì đối tượng tác động lên tôi và anh khác nhau. Có thể nói đau khổ được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau, không giới hạn trong phạm vi lý thuyết cũng như quan niệm sống của mỗi người.

Đau khổ về một đối tượng nào đó là một bước dẫn đến đau khổ vì một ai đó. Một bên là thụ động chịu sự khổ đau do bên ngoài đưa đến, một bên là thái độ chủ động chấp nhận đau khổ để đạt mục đích hóa giải nỗi khổ nơi mình, đồng thời giúp người khác cũng vượt qua đau khổ như mình. Đây là đau khổ vì yêu, tức sẵn sàng chấp nhận khổ đau vì đối tượng mình yêu.

 

Ngày… tháng… năm…

Khi tôi gặp một người đau khổ mà tôi bất lực không thể giúp họ thoát vượt khỏi khổ đau thì hoặc là tôi dửng dưng, tâm hồn chai lỳ, hoặc tôi động lòng thương, tâm hồn cũng lây nhiễm khổ đau của người luôn. Có điều lúc ấy tôi cần tỉnh thức để nỗi khổ ấy của mình không biến thành ‘khí cụ’ chống lại Thực Tại. Nhiều người chứng kiến sự tàn phá của Cái Ác gây bao đau khổ cho con người đã chối bỏ Thiên Chúa, không còn tin vào Ngài là Đấng Quyền Năng nữa. Phần mình, yêu thương là giải thoát khỏi khổ đau. Ước muốn yêu thương phải bắt nguồn từ ước muốn sâu hơn, đó là sẵn sàng chịu đau khổ với người yêu. Mình không thể đi tìm lý lẽ giải thích sự hiện hữu của Khổ. Chấp nhận khổ và chuyển hóa nó bằng tình yêu. Nhờ thế mình mới được thông phần vào Sự Sống của Thiên Chúa.

 

Ngày… tháng… năm…

Những đứa trẻ khuyết tật dị dạng hiện diện trên trần gian này phải chăng chứng minh về một Thiên Chúa bất toàn như Jacques Dusquene mô tả trong cuốn sách của ông ‘Thiên Chúa của Đức Giêsu’? Người ta thường lấy các chuẩn mực phân biệt tốt xấu, thiện ác của bản thân để áp đặt hay nhìn vũ trụ Thượng Đế tạo dựng. Với cái nhìn phân biệt đầy thiếu xót do ước muốn phân biệt như Thiên Chúa nên dẫn đến hậu quả là con người sa vào cám dỗ chọn điều mình muốn hơn là điều thực tại hiện hữu. Làm sao chúng ta biết được những người khuyết tật thân thể hay tâm thần phải chịu nhiều khổ đau vì họ không giống chúng ta?

Những người kêu gào Thượng Đế tại sao lại để cho sự Ác tung hoành tàn phá thế giới khiến con người phải chịu khổ đau thì chính họ, tận sâu trong vô thức, họ ước mong Thiên Chúa giải quyết vấn nạn cái Ác gây ra. Họ yêu con người thật đấy, nhưng ‘nóng quá mất khôn’. Vì nóng lòng muốn tìm giải đáp cho vấn nạn khổ đau của con người do Sự Dữ gây ra nên họ dễ rơi vào chính Sự Dữ ấy là chống lại Thiên Chúa, phủ nhận Ngài. Đứng trước Cái Ác, nhiều người vẫn còn mang cái nhìn của đứa trẻ, tức chỉ ước muốn điều tốt cho mình thôi! Thế nên, một đằng con người khao khát sự thiện hảo nó bắt nguồn từ chính Thiên Chúa là Đấng Toàn Thiện, nhưng mặt khác con người lại bị lôi kéo về Sự Dữ nó do hậu quả của sự sa đọa muốn thoát khỏi Thiên Chúa để trở nên tự do tuyệt đối.

 

Ngày… tháng… năm…

Thiên Chúa là Đấng ‘phân biệt vô phân biệt và vô phân biệt phân biệt’. Ngài tạo dựng vũ trụ bằng cách phân biệt rõ ràng trời đất, ánh sáng và bóng tối, núi sông, ao biển, muôn loài muôn vật mà con người không thể phân biệt được như không thể phân biệt ‘đâu là ngày đâu là đêm’ vậy. Nhưng bằng Tình Yêu, Ngài đã cứu chuộc và hoàn thiện nhân loại trong ánh sáng diệu vợi của Ngài. Thế nên Ngài không phân biệt kẻ giàu người nghèo, nam nữ, bác học hay bình dân, đạo đức hay tội lỗi…, trong khi những đối tượng ấy con người rất dễ phân biệt.

Rõ là, đối với Thiên Chúa, cái không thể phân biệt thì Ngài lại có thể phân biệt, còn con người thì không thể phân biệt. Còn cái có thể phân biệt thì Ngài lại không phân biệt, nhưng con người lại thích phân biệt

 

Ngày… tháng… năm…

Hành động dễ đưa chúng ta đến sự quên lãng, mất dần ý thức về chính hành động của mình luôn. Chẳng hạn khi chúng ta ăn nhanh nên không ý thức được vị ngon của thức ăn. Chúng ta đi vội đi vàng nên quên mất từng bước chân đưa ta đến nơi ta muốn đến. Hay khi chúng ta suy tưởng về thế giới bên ngoài nhiều quá nên đánh rơi ý thức về cái đẹp đầy sức sống, rực rỡ nơi thế giới ấy. Người trẻ chúng ta rất dễ bị cuốn vào hành động vì lẽ tâm hồn ta chưa có nhiều dấu ấn của ký ức về con người và sự vật nên ta muốn lấp đầy cái nội tâm còn trống rỗng ấy bằng hành động. Tuy nhiên, càng bị lôi kéo vào những hành động bên ngoài, chúng ta càng dễ đánh mất mình, càng hướng về đối tượng nhiều hơn. Nếu mình đưa ý thức vào những việc mình làm thì hẳn là tâm hồn mình sẽ ngập tràn ánh sáng và qua đó ‘vạn vật trong tâm ta’ cũng rực sáng luôn. Bởi lẽ, tuổi trẻ dễ ngả theo hơn là bám trụ vào một điều gì đó hay một ai đó, nên mình cần biết ý thức nhiều hơn những việc mình làm để hướng những việc ấy đến mục đích tốt đẹp. Như thế, mình không đánh mất mình trong hành động, lại vừa thăng hoa hành động của mình, nghĩa là ‘nâng tâm hồn mình lên’ vậy! Có điều, ý thức về hành động bản thân luôn phải được thấm nhiễm tình yêu. Bởi lẽ, bề mặt ý thức tuy sáng trong, nghĩa là nó đã thâu nhận nguồn sáng của Tình yêu như là tư tưởng, nhưng cùng lúc nó tiếp nhận nguồn sáng ấy là những sự tội lẻn vào trong vô thức để phá rối ta. Tình yêu một khi thấm nhập vào cõi sâu thẳm là tiềm thức, vô thức nơi ‘con người tội lỗi’ của mình đang trú ngụ, sẽ như lửa làm rực sáng vùng sâu tối ấy. Bằng không, chúng ta chỉ dừng lại ở cửa ngõ nội tâm, không thể đi sâu hơn ‘chiều sâu của tôi’. Ý thức mở cửa nội tâm để tình yêu đi sâu vào tâm hồn mình hầu làm rực sáng con người nội tâm ấy của mình. Tuy nhiên, ta không thể chống lại tội mình bằng sức mạnh của ý thức, nhưng phải bằng Tình yêu, tức nhìn nhận sự hiện diện của ‘con người tội lỗi’ như một phần con người mình.

 

Ngày… tháng… năm…

Goethe đã nhại lại lời Gioan tông đồ khi viết ‘từ nguyên thủy đã có hành động’. Rõ ràng, ông đề cao hành động hơn Lời, trong khi đó chính Lời mới làm nên sức sống: ‘Ta muốn dựng nên con người…’ Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy nhiều khi con người lao vào hành động nên đã rơi vào cạm bẫy của Quỷ Vương mà chối từ Ngôi Lời, từ bỏ Đấng Hằng Hữu, quên đi căn tính thần thiêng của mình. Ađam và Evà đã làm trái ý Chúa không phải vì ông bà không nghe Lời Chúa, nhưng vì tâm trí ông bà thôi thúc phải tìm biết sự thiện hảo của Thiên Chúa, muốn biết sự thiện ác, phải trái, tốt xấu nên đã thực hiện ‘cuộc phiêu lưu’ hướng về đối tượng bên ngoài nhằm phân biệt vạn vật, làm sáng tỏ chúng trong hình hài đẹp nhất để giống Ngài. Thế là hai ông bà trong giây lát đã quên Lời Chúa mà lao vào hành động. Kết quả của hành động ‘ăn trái cấm’ ấy là cảm thức xấu hổ, mang mặc cảm tội lỗi. Từ đó con người luôn phải chịu đau khổ. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã không dừng công trình sáng tạo con người ở mức đặt nó cai quản vũ trụ, vì như thế, sau khi con người sa đọa, không còn sống hòa hợp với vạn vật và với Thiên Chúa nữa, chắc hẳn Ngài sẽ bỏ mặc con người bơ vơ lạc lõng giữa vũ trụ bao la của Ngài. Không, Thiên Chúa vẫn tiếp tục công trình sáng tạo con người qua việc nhập thể làm người để thần hóa con người, đưa con người trở về thể viên mãn tràn đầy là hợp nhất với Ngài.

 

Ngày… tháng… năm…

Xã hội hôm nay đề cao chủ nghĩa nhân bản, chủ nghĩa tự do chúng làm cho con người có giá trị hơn. Người ta đã dẫn đưa tư tưởng của Kinh Thánh vào cuộc sống, biến đổi xã hội trở nên tốt hơn. Nhưng rồi con người đã bị cuốn hút vào những hoạt động thăng tiến bản thân ấy nên dần quên mất Chúa, Đấng Hằng Sống. Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã cảnh báo chúng ta cần biết phân biệt giữa Chúa và việc của Chúa. Trải qua lịch sử, con người đã thực hiện được các việc của Chúa một cách xuất sắc mà bằng chứng là khoa học kỹ thuật phát triển đưa mọi người xích lại gần nhau hơn. Tuy nhiên, vì mải lo hành động nên con người đã mất dần ý thức về sự hiện hữu của Thiên Chúa, đến nỗi ngày nay ở phương Tây người ta loại bỏ dần Thiên Chúa ra khỏi đời sống xã hội, chỉ còn thu hẹp lại trong phạm vi cá nhân mà thôi.

 

Ngày… tháng… năm…

Tình yêu hướng về trời cao dễ đưa người ta xa rời thế giới khổ đau hiện tại, chỉ còn ước muốn đắm chìm vào những điều ‘cao siêu trên trời’. Trong khi đó, Tình yêu hướng về đất thấp lại kéo con người ra khỏi chính họ để ném họ vào ‘cái mớ tập thể hỗn độn’’ không còn thấy bóng dáng cá nhân nữa. Chủ nghĩa Max đã khởi đi từ tình yêu thương con người cùng khổ nhưng lại dẫn người ta đến chỗ chém giết nhau. Còn tôn giáo vốn mang sứ mạng loan báo yêu thương và thể hiện tình yêu ấy trong cuộc sống hằng ngày thì lại tự biến thành ‘công cụ tâm linh’ nhằm hướng người ta đến tình trạng bất dung nhận nhau, đưa tới chiến tranh tôn giáo, xung đột giữa Đạo và Đời. Bởi vậy Chúa Kitô đã để lại cho nhân loại giới luật yêu thương ‘mến Chúa yêu người’. Đây không phải là giới luật áp đặt từ bên ngoài, nhưng là ‘nội luật’ khởi đi từ cội nguồn Tình Yêu Thiên Chúa lan truyền nơi sâu thẳm lòng mỗi người. Tuy nhiên, việc thực hiện giới luật Chúa dạy không thể biến thành công cụ tuyên truyền nhằm lôi kéo người khác ’hãy yêu nhau đi’nhưng trở nên ‘khí cụ bình an’ của Chúa để thanh luyện mình khỏi sự kềm hãm của cái tôi nó vốn ngăn cản giới luật yêu thương của Chúa thâm nhập gây tổn thương cho nó. Dù vậy, chỉ những ai đang yêu mới biết mầu nhiệm của Tình yêu, nhất là khi Tình yêu ấy đang ngày bị thoái hóa thành những tình cảm mông muội, hỗn tạp nhiễm mùi dục vọng. Người mải mê những hoạt động mang tính từ thiện xã hội thì chỉ còn biết đến chiều kích nhân bản của tình yêu, trong khi kẻ nhân danh Thiên Chúa thì lại làm chứng cho tình yêu giả dối nó hướng đến sự loại trừ thay vì hợp nhất con người.

 

Ngày… tháng… năm…

Nếu ‘hoa trái’ của tình yêu nam nữ là hôn nhân gia đình thì mối tình giữa Thiên Chúa và con người cũng phải ‘sinh hoa kết trái’, đó là những con người mới mang sức sống tràn đầy. Tuy nhiên, nơi tình yêu của con người bị giới hạn nên nó cần có sự tiếp nối tình yêu ấy nơi các thế hệ con cháu, chứ Tình Yêu Thiên Chúa thật ‘vô biên vô tận’ nên Ngài ôm trọn con người Ngài yêu, cải hóa họ nên ánh sáng yêu thương đích thực của Ngài để làm cho nhân loại ngày một trở nên giống Ngài hơn, nghĩa là ngày càng yêu nhau nhiều hơn như chính Ngài đã yêu thương họ. Do vậy, mối tình giữa Thiên Chúa và con người mang tính phổ quát và có giá trị vĩnh cửu nhưng đồng thời cũng thể hiện rất cụ thể nơi những con người lịch sử đã được Ngài yêu thương cách đặc biệt để làm ‘men muối’ cho Tình yêu Ngài phát triển giữa Đời. Và vì thế Tình yêu ấy cũng mang giá trị lịch sử của từng thời đại luôn. Thật vậy, con người cảm nghiệm và diễn đạt Tình yêu bằng ngôn ngữ riêng của thời đại mình, của hoàn cảnh xã hội, môi trường văn hóa mình sống. Mỗi người cảm nhận tình yêu theo cách thế riêng của mình, không ai giống ai.

 

Ngày… tháng… năm…

Tình yêu luôn phải vượt trên mình, thoát khỏi mình để nhìn mình một cách mến thương hơn. Khi mình quan tâm chăm sóc người bệnh tật nghèo khổ thì đó là hành động diễn tả tình yêu. Nhưng vì mình chưa ở trong tình yêu một cách trọn vẹn nên vẫn còn khẽ hở để những ý nghĩ đen tối thâm nhập vào tâm hồn mình, khuấy nhiễu mình bằng những khích động ham muốn danh vọng, ngay cả ham muốn quan tâm đến người khác luôn.

 

Ngày… tháng… năm…

Tình yêu là một cái gì đó siêu hình mà ta không thể thấy dù nó hiện thực trong cuộc sống, mà ta không thể nắm bắt hay sở hữu dù nó ở trong ta và thuộc về ta. Chúng ta không thể hiểu Tình yêu là gì. Bởi thế, Tình yêu vượt mọi biên cương không gian thời gian để trở thành thuộc tính phổ quát nơi con người. Con người được mời gọi hướng đến Tình yêu vô biên vô tận ấy. Cũng do đó, con người tự do sáng tạo nhằm thể hiện Tình yêu ấy nơi bản thân mình là thể xác lẫn tinh thần. Đỉnh cao của sự thể hiện Tình yêu là khi chúng ta yêu ‘hết lòng hết sức hết trí khôn’. Qua con người ta, Tình yêu sáng tỏ như một sự hiện hữu thật để những ai gặp ta cũng đều cảm nghiệm tình yêu dạt dào đang sống động trong ta. Trong ý nghĩa này, chúng ta hiểu lời Chúa Giêsu nói với các tông đồ ‘ai thấy Thầy là thấy Cha’. Thật vậy, Chúa Cha đã tỏ bày dung mạo Ngài qua Người Con Yêu Dấu là Đức Kitô – Đấng cứu chuộc nhân loại bằng Tình yêu. Tình yêu Thiên Chúa hiển hiện thành Con Người để những ai tin yêu Người và thực hành giới răn yêu thương Người truyền lại sẽ được Tình yêu của Ngài thấm nhiễm và biến đổi trở nên Con Thiên Chúa. Thiên Chúa đã thông đạt bản tính Yêu Thương của Ngài qua Đức Kitô. Bởi vậy, có thể nói chúng ta gặp Chúa qua Tình yêu, nhờ đó mà ta kết hiệp với Ngài đến nỗi như Đức Tông đồ Phaolô đã nói ‘tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là Chúa Ki tô sống trong tôi’. Có điều không phải khi yêu là chúng ta thông dự hoàn toàn vào Tình yêu của Chúa. Phải nói là tình yêu của con người vẫn chưa đạt đến mức ‘vô biên’, hay ‘siêu nhiên’, nghĩa là ta vẫn chỉ yêu những gì thuộc về mình, nhóm mình, dân tộc mình… Đúng ra, ‘cái bao la’ của tình yêu ta vẫn còn nằm gọn trong ‘cái rộng lớn’ của bản ngã ta. Thế nên, đối tượng ta yêu vẫn chịu sự phối của cái tôi ấy nó ưng hay ghét, nó cảm thấy được lợi hay hại…Bởi thế, trước hết và trên hết để tình yêu của ta đạt đến ‘vô biên’ thì không thể không hướng tình yêu mình đến ‘vô biên vô tận’. Và đó là Tình Yêu Thiên Chúa. Khi chúng ta hoàn toàn ở trong Tình Yêu Thiên Chúa, điều này có nghĩa là ta đã kết hiệp với Chúa một cách mãnh liệt và trọn vẹn nhất.

 

Ngày… tháng… năm…

Sự tích tụ năng lượng yêu thương lệ thuộc vào ‘môi trường’ tâm sinh lý của mỗi cá thể, vào hoàn cảnh lịch sử xã hội nó tác động và biến đổi ‘môi trường’ tâm sinh của cá thể đó. Nguồn năng lượng yêu thương có thể được tích tụ qua gen di truyền từ đời này đến đời nọ, để đến một thời điểm thích hơp nó bùng vỡ nơi ý thức tâm linh của một người nào đó. Và đây là sự xuất hiện thánh nhân, tiên tri, những thiên sứ loan báo những biến cố trọng đại xảy ra cho con người… Do vậy, những hành động yêu thương của ta ở hiện tại này sẽ trở nên những hạt giống gieo vào dòng thời gian, được nuôi dưỡng qua không gian sống của con người xã hội mỗi thời, để rồi phát triển nơi cá nhân hay tập thể nào đó và từ đấy lan truyền trong ‘muôn dân qua muôn thế hệ’. Hiểu theo nghĩa này, ta thấy sự nhập thể của Con Thiên Chúa làm người đã được chuẩn bị từ rất lâu. Nhờ thế, sứ điệp Tin Mừng của Ngài sau khi gieo vào lòng lịch sử dân tộc Do Thái dần dần lan truyền khắp nơi trên thế giới. Tin Mừng được rao giảng cho mọi loài thụ tạo. Khi chúng ta đón nhận Tin Mừng cũng có nghĩa chúng ta được thấm thấu Tình yêu Thiên Chúa để trở nên tốt đẹp hơn, để tâm trí và hành động của ta luôn hướng về Chúa, nhất là để nối kết với chiều dài lịch sử cứu độ nhân loại nó nhắm đích Nước Trời.

 

Ngày… tháng… năm…

Tình Yêu Thiên Chúa chiếu tỏa trên thế giới muôn loài nên hết sức đa dạng và phong phú khiến cho con người chỉ có thể cảm nghiệm Tình yêu ấy ở một mặt nào đó, trong không gian lịch sử của đời mình mà thôi. Tính biểu hiện đa dạng của Tình yêu nơi thực tại làm tăng ý nghĩa sống cho con người hơn. Tuy nhiên, ý nghĩa sống ấy bị giảm trừ khi ta muốn diễn tả Tình yêu Thiên Chúa theo ý ta, đồng thời áp đặt ý hướng yêu ấy của ta lên vạn vật.

Khi tôi yêu thích bình minh hay hoàng hôn mà chẳng ưa mưa rơi rả rích thì cùng sự kiện ấy người khác lại có ý thích ngược lại. Sự xung đột xảy đến khi tôi cố chứng minh cho người ta thấy cái đẹp của bình minh hay hoàng hôn để rồi cũng muốn họ yêu cái đẹp ấy; còn họ thì chỉ cho tôi thấy cái đẹp trầm buồn của mưa và cũng muốn tôi thích cái đẹp đó luôn. Những cảnh thiên nhiên ấy tự bản chất là đẹp vì chúng được Thiên Chúa đóng dấu ấn. Thế nên, cảm giác yêu ghét của tôi, mà trường hợp cụ thể này là yêu bình minh, hoàng hôn và ghét mưa rơi, cảm giác ấy nó nói lên con người thật của mình. Ừ, mình có những sở thích này, sở đoản nọ. Nhưng mình không thích cái này, mình ghét bỏ cái kia thì luôn tạo ra xung đột nơi bản thân mình mà thôi. Đó là mạc khải về con người mình: mình có những xung đột do yêu ghét tạo ra. Từ đó, hoặc tôi hướng đến Tình Yêu Thiên Chúa để hợp nhất khác biệt trong tôi nên một với tôi, để hóa giải xung đột nội tâm tôi, hoặc tôi dừng lại nơi những yêu ghét ấy để rồi chỉ còn bám dính vào đối tượng yêu và loại bỏ đối tượng ghét. Như thế, tình yêu của tôi bị giới hạn nơi những đối tượng tôi yêu thích. Tôi đã bám dính vào đối tượng yêu đó. Và chính Tình Yêu Thiên Chúa sẽ giúp tôi nhận ra rằng cái cảm xúc ghét cũng là một phần tình cảm của tôi. Cho nên, tôi không thể tách biệt tôi ra khỏi chính tôi bằng cảm xúc yêu ghét được. Đồng hóa bản thân với ‘cái tôi’ yêu để loại trừ ‘cái tôi’ ghét là một sự ngớ ngẩn, vì chẳng lẽ tôi muốn đánh tôi?

 

Ngày… tháng… năm…

Không thể muốn sao trên trời,

Chỉ có thể vui sướng trước sự lộng lẫy của chúng (Goethe)

Thật vậy, trong tương quan với thiên nhiên, nếu mình không thể chiếm hữu ánh sao đêm kia, mình không thể thu vén cảnh thiên nhiên rực sắc nọ, thì trong tương quan với tha nhân, mình cũng không thể chiếm hữu họ. Bởi vì mỗi người là huyền nhiệm nên mình chỉ biết vui hưởng sự hiện diện của họ trong cuộc sống hằng ngày, cũng như mình biết hoan say cảnh đẹp thiên nhiên vậy. Tuy nhiên vẫn có khoảng cách giữa tôi với thiên nhiên và tha nhân. Khoảng cách ấy chỉ được thu hẹp đến mức sát nhập và hợp nhất với nhau khi tôi đi sâu vào nội tâm mình để chính nơi sâu thẳm ấy tôi vượt khỏi tôi mà hòa hợp với vạn vật và tha nhân. Có điều, tôi ý thức được khoảng cách bao la ấy, và chỉ có thể thu hẹp khoảng cách ấy bằng việc khám  phá chiều kích siêu nhiên trong nội tâm tôi, nhưng thực tế tôi vẫn ham muốn chiếm hữu những đối tượng bên ngoài là thiên nhiên và tha nhân ấy. Và như thế, ngay chính con người tôi có sự phân ly, tức có khoảng cách, giữa ý thức và cảm nghiệm, giữa thân và tâm nó khiến tôi nghĩ và làm hoàn toàn khác nhau như Thánh tông đồ Phaolô đã chia sẻ về ‘ước muốn làm điều thiện, điều tốt nhưng lại làm điều mình không muốn là điều xấu, điều ác’. Chính tôi cũng trở nên ‘xa lạ’ với tôi! Vậy ai có thể thống nhất tôi nên một? Chỉ Tình Yêu Thiên Chúa mới giúp tôi hòa hợp xác hồn, thân tâm tôi để nhờ đó tôi mới kết hợp thiên nhiên và tha nhân. Khi ấy sẽ không còn phân ly đất trời người nữa mà tất cả hợp nhất nên một trong Thiên Chúa Tình Yêu. Và tôi sẽ không còn xung đột để có thể yêu ‘hết lòng, hết sức, hết trí khôn’.

 

Ngày… tháng… năm…

Tình yêu kết nối con người lại với nhau nhưng trong tương quan yêu thương ấy ta thấy vẫn xuất hiện những ngăn cản chúng làm cho tình yêu của ta trở nên yếu đi đến độ không còn cảm xúc yêu nữa. Những ngăn cản ấy là chính là những ước muốn của ta. Ước muốn của ta là thể hiện mình qua hành động yêu. Hành động yêu của tôi lúc ấy nhiễm mùi cái tôi khiến nó không thể trở nên chất xúc tác kết dính tôi với tha nhân một cách sâu đậm. Có thể tha nhân cảm mến tôi, khen tôi làm việc tốt… nhưng vẫn chưa có sự kết hợp giữa tôi và tha nhân, bởi vì đối tượng tôi yêu chỉ được xem là ‘đối vật’ để tôi thỏa mãn ‘cái tôi’ của mình mà thôi. Như thế, làm sao biết được tôi yêu thực sự? Không thể biết được, và cũng không thể nỗ lực đạt đến tình yêu đó được. Bởi lẽ Tình yêu là tặng phẩm, là những nén bạc Chúa ban cho mỗi người để rồi tự mình khai mở và phát triển ‘tặng ân’ ấy hầu làm cho Tình yêu được ‘sinh hoa kết quả’, làm lợi thêm những nén bạc khác. Và chỉ có sự hợp nhất giữa tôi và đối tượng tôi yêu mới đem lại hoa trái tình yêu.

 

Ngày… tháng… năm…

Để đáp trả tiếng gọi của Tình yêu, mình cần có sự ‘phân định thiêng liêng’ để nhận biết rõ đâu là Tình yêu chân chính hướng đến sự sống, đâu là tình yêu giả dối lôi mình về phía sự chết. Những chủ thuyết triết học, chính trị kêu gọi mọi người đoàn kết yêu thương để đấu tranh chống áp bức bóc lột, bất công hầu xây dựng một xã hội ‘công bằng, dân chủ, bác ái, bình đẳng, huynh đệ…’, những chủ thuyết ấy khởi đi từ ước vọng yêu thương con người nhưng lại dẫn đến hậu quả tai hại là hủy diệt, là sự chết. Phải chăng vì người ta chỉ yêu ‘tập thể nhân loại khốn khổ’ chứ không thể yêu từng người khốn khổ, nên tình yêu ấy bị giam hãm trong vòng vây ý thức hệ nó khiến người ta suy tính tìm cách phổ biến ‘triết thuyết yêu thương’ của họ? Và khi suy tính ấy bế tắc tắc trong việc hiện thực hóa triết thuyết thì họ dùng đến bạo lực?

 

Ngày… tháng… năm…

Khi đi sâu vào nội tâm, ta gặp và tiếp xúc với một Tình Yêu đã in dấu trong ta từ lúc ta sinh ra và nhờ đó tinh thần của ta được tràn đầy tình yêu. Chính ở độ sâu nhân tính mà ta gặp gỡ với Tình Yêu bao la rộng lớn ấy. Nhưng đó là những người được Thiên Chúa yêu mến cách đặc biệt. Phần đông chúng ta phải qua nhiều trung gian dẫn đường chỉ lối để có thể cảm nghiệm Tình yêu của Ngài.

Trước hết, con đường Đức Kitô sẽ dẫn ta đến gặp Chúa Tình Yêu, vì Ngài khẳng định rằng ‘Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống’, ‘ai đến với Chúa Cha phải qua Thầy’. Nhưng làm sao chúng ta có thể tiếp xúc mật thiết với Đức Kitô khi mà Ngài đã về cùng Chúa Cha? Thì đây, những người anh em sống xung quanh ta sẽ giúp ta đến gặp Đức Kitô vì như thánh Gioan tông đồ đã nói ‘ai không yêu mến anh em họ thấy thì làm sao họ yêu mến Thiên Chúa họ không hề thấy’.

Tuy nhiên, phải chăng những người anh em sống quanh ta chỉ là phương tiện để ta đến với Chúa, để rồi khi gặp Chúa thì ta cũng quên họ luôn? Chúng ta không thể xem anh em là phương tiện nếu như ta yêu thương họ thực sự. Bởi lẽ, tình yêu sẽ gắn kết người và ta thành người ta, sẽ gắn kết chúng ta thành chúng mình, để rồi không chỉ tôi gặp anh nơi chính con người tôi mà còn nơi chính con người anh nữa. Từ đó, tôi và anh sẽ nhận ra bên kia tương quan chúng mình ấy là Tình Yêu Thiên Chúa để rồi tôi yêu anh, yêu chị, yêu em thì cũng yêu Ngài luôn.

 

Ngày….tháng….năm…

Tình yêu và hành động yêu không giống nhau. Nói đúng hơn tình yêu là bản chất còn hành động yêu là hình thức. Tình yêu mang tính phổ quát nhưng lại được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Có thể quy về ba hình thức cơ bản: khi tôi yêu ai tôi sẵn sàng cho họ cái tôi không cần, tôi hy sinh cái tôi thích để dành cho người tôi yêu, và cuối cùng là tôi sẵn sàng hiến thân mình cho người mình yêu. Tùy mức độ thấm nhiễm Tình Yêu trong con người mình mà mình thể hiện Tình yêu ấy theo một trong ba cách thức trên. Hẳn là khi mình thấy kẻ khốn khổ ngoài đường, mình sẽ động lòng trắc ẩn. Nhưng hành động của mình có thể dừng lại ở mức bố thí, hoặc mình tích cực hoạt động kêu gọi mọi người hợp sức giải quyết tình trạng nghèo khổ của kẻ ấy, hoặc tôi sẽ hy sinh cuộc sống ấm êm của tôi mà đến sống với họ để cùng họ vượt qua hoàn cảnh khốn khổ ấy. Tuy nhiên mình không thể đế cao hành động một cách thái quá vì như thánh Phaolô dạy mình rằng dù mình có giúp đỡ nhiều người mà mình không có tình yêu thì cũng vô ích. Còn thánh Augustin thì khuyên nhủ mình hãy yêu trước đi rồi sau đó mình muốn làm gì cũng được. Bởi vì mình có thể chạy trốn mình trong những việc làm từ thiện, hay giúp đỡ người khác để rồi chôn dần con người thật của mình dưới lớp ‘hào quang’ của công việc. Hay có thể mình phóng chiếu cái tôi mình ra bên ngoài, mà cụ thể là hành động của mình, để rồi mình đề cao cái tôi ấy một cách ‘âm thầm’ hay ‘công khai’. Tình yêu phải đặt móng nơi nội tâm mình chứ không phải nơi công việc, như không ai ‘xây nhà trên cát’ vậy vì những công việc từ thiện bác ái ấy có thể cũng khiến mình mệt mỏi chán chường, cảm thấy lo lắng bất an chứ còn vui nữa.

Vậy tôi có thực sự yêu người không qua những việc tôi làm cho người?

 

Ngày… tháng… năm…

Nhiều lúc mình dễ bị cám dỗ trở thành những ‘ông trời con’ thích ban phát. Và khi hay tin nơi nào đó xuất hiện ‘ông trời con’ khác thì mình phản ứng. Sự phản ứng này bắt nguồn từ tham vọng muốn ‘thống lĩnh’ người khác bằng sự hào phóng rộng rãi của mình để chứng tỏ mình là người quảng đại, giàu lòng bác ái. Phải chăng khi sự thiện tiến tới đâu thì sau nó vẫn có sự dữ luôn tìm cách vượt lên khống chế sự thiện. Thái độ thiếu tỉnh thức trong hành động làm việc thiện sẽ dễ dẫn mình đến sự tự mãn và điều đó có nghĩa mình đã ‘bắt tay’ với cái ác rồi!

 

Ngày… tháng… năm…

Thực hiện các giới luật mà Thiên Chúa đã chỉ dạy qua các tiên tri là một hình thức thể hiện tình yêu của mình đối với Ngài. Tuy nhiên, những luật ấy vẫn chưa đủ đảm bảo đưa mình vào sự sống của Vương Quốc Thiên Chúa! Bởi đó là những luật từ bên ngoài và mình hướng về việc thi hành luật như hướng về đối tượng bên ngoài, nên dù mình có chu toàn luật mình vẫn ‘khắc khoải ngóng chờ’ một điều gì đấy ở bên kia luật: Sự Sống! Mình thực hành luật Chúa mà mình không cảm thấy ‘sống và sống dồi dào’ là vì mình xem luật ấy như sự vật. Và mình triệt để giữ luật như giữ một vật làm sở hữu. Thế là mình không cảm thấy hạnh phúc vì còn phải bận tâm lo lắng giữ luật!

Đức Giêsu đã biết điều ấy nên Ngài đã dạy mình luật yêu thương. ‘Hãy bán tất cả tài sản mà cho người nghèo’. Những người khốn khổ quanh mình sẽ tác động trực tiếp đến tâm hồn mình và giúp mình mở rộng lòng ra hơn. Mối tương quan ấy dẫn đến việc mình phục vụ người khác hơn là được người khác phục vụ. Nhờ vậy mình sẽ cảm nghiệm sâu hơn ý nghĩa cuộc sống nhân sinh, khác hẳn với việc thi hành luật một cách cứng nhắc, thiếu sức sống. Thực hành việc bác ái tông đồ là một hình thức thể hiện cao tình yêu của mình đối với Chúa.

Tuy nhiên, Đức Giêsu vẫn chưa dừng lại ở mức yêu như là hành động ‘bán hết tài sản rồi cho người nghèo’. Ngài mời gọi mình tiến thêm một bước nữa cao hơn, đó là ‘hãy theo Ta’. Theo Chúa là hình thức thể hiện tình yêu cao nhất mình dành cho Ngài. Bởi lẽ mình yêu Chúa không còn qua những đối tượng như luật lệ và con người nữa, mà là chính Chúa. Chúa là nguồn mạch sự sống sẽ ‘nâng đỡ và bổ sức’ cho mình, sẽ làm cho mình ‘sống và sống dồi dào’. Yêu Chúa là theo Ngài triệt để trọn vẹn, không còn dựa vào những đối tượng nữa. Vậy là mình cần phải có đức tin. Vì Chúa không hứa đảm bảo gì cho ta hết ngoài việc Ngài hứa sẽ thực hiện lời hứa của Ngài.

 

Ngày… tháng… năm…

Mình nghĩ tình yêu thể hiện qua ba cấp độ: cảm xúc, hiểu biết, tâm linh. Cảm xúc yêu thường chỉ là phản ứng nhất thời, chóng qua khi mình thấy ai đó đói khổ đáng thương. Hiểu yêu là mình dùng phán đoán, phân tích hoàn cảnh sống của đối tượng cần được giúp đỡ để có thể đáp ứng nhu cầu cần và đủ của họ. Còn tâm yêu là mình phải vượt qua những cảm xúc bộc phát cũng như ngay cả sự hiểu biết cần có về đối tượng yêu. Bởi lẽ khi dùng cảm xúc, mình chỉ thực hiện hành vi ‘ban phát’ để cho hợp tình, khỏi phải áy náy lương tâm; còn khi mình hiểu rõ đối tượng cần được giúp đỡ thì mình chỉ căn cứ vào luật lý trí để đối xử với họ sao cho hợp lý. Nhưng Đức Giêsu đòi hỏi mình phải có tâm yêu, nghĩa là tự do can đảm vượt qua các luật của lý trí để dấn thân vào hành động yêu một cách sáng tạo triệt để. Ngài dạy rằng ‘lề luật vì con người chứ con người không vì lề luật’. Nếu luật lý trí ngăn trở mình không thể đến với những người bị loại trừ thì mình phải dũng mạnh thắng lướt luật ấy để yêu người cách trọn vẹn. Cách thức nhận biết mình có yêu người trọn vẹn, tức có tâm yêu hay không, chính là khi mình bất lực không thể giúp được ai đó, dù cảm xúc trong mình trào dâng, dù mình có suy tính hết cách. Trong sự bất lực, mình nhận ra cảm xúc yêu, và lý trí yêu đều nhiễm mùi cái tôi vị kỷ. Và cái tôi này có thể khiến mình nổi loạn chống lại thực tại đau khổ nơi đối tượng mình yêu để rồi dẫn mình đến việc khước từ họ luôn.

Tâm yêu là sự hiện diện của mình bên đối tượng mình yêu. Bề ngoài, mình là kẻ bất lực không thể giúp được gì cho người ấy hết, nhưng trong tâm mình hoàn toàn vắng bóng bản ngã. Lúc ấy, mình không còn bố thí những của dư thừa hay những thứ tôi không gắn bó, mình cũng không thực hiện những chương trình dự án, cải cách xã hội, kinh tế chính trị nhằm bảo vệ quyền lợi của đối tượng tôi yêu, nhưng mình chỉ hiện diện bên họ mà thôi. Bởi vì sự hiện diện của mình toát lên sức sống nội tâm, đó là cho đi chính mình với toàn bộ những yếu hèn, bất tài, bất lực, để chỉ còn cái tâm vô ngã đầy yêu thương nó sẽ đem lại an vui cho người mình yêu.

 

Ngày… tháng… năm…

Tâm yêu hoàn toàn thoát khỏi cái tôi nó vốn kềm hãm mình không thể vươn lên cao hòa nhập với Tình Yêu Thiên Chúa, cũng chẳng thể rộng lòng hướng về tha nhân, trái lại, nó khiến mình lo lắng, tính toán, tranh giành, sợ mất đối tượng yêu. Nhiều khi mình nói mình yêu Chúa yêu người nhưng lại không cho người khác cái ‘nhu cầu’ ấy để rồi mình tìm cách hạn chế tình yêu của họ mà đề cao tình yêu mình.Chẳng hạn khi mình thực hành các việc đạo đức từ thiện cốt nhắm tới người khác biết đến thì sự xuất hiện của một người đạo đức thánh thiện thực sự quả là cái gai trong mắt mình. Mình không muốn chia sẻ lòng yêu Chúa yêu người của mình với người đó. Mình sợ người đó được nhiều người mến hơn mình. Và cái phần thưởng ‘danh tiếng đạo đức’ của mình đã bị người đó tước mất. Thế là có sự xung đột nội tâm. Thế là tâm không yên. Mà tâm động thì làm sao mình yêu thực sự được. Vậy nên tâm yêu chính là đỉnh cao của tình yêu con người nhằm diễn tả một góc đẹp nào đó của Tình Yêu Thiên Chúa.

 

Ngày… tháng… năm…

Yêu mình là gì? Phải chăng đó là tình yêu vị kỷ? Nếu vậy thì yêu người như yêu mình phải hiểu thế nào? Mình hiểu yêu mình là chăm lo cho sức khỏe thân xác cũng như tinh thần mình, nhưng không phải để thỏa mãn cái thân xác và tinh thần ấy, mà hướng về phục vụ tha nhân một cách tích cực hơn, nhiệt tình hăng say hơn. Bằng không, với sức sống rạo rực đang tuôn chảy trong con người mình, mình sẽ phung phí vào những thỏa mãn đòi hỏi của nhu cầu nó phát sinh do sự ‘kích hoạt’ của bản năng và được môi trường xã hội tiêu thụ ngày nay ‘tiếp sức’. Bởi vậy, điều nghịch lý ở chỗ yêu mình chính là làm cho con người mình thêm đẹp thì cách tốt nhất là không thể chiều theo thỏa mãn nhu cầu bản năng của con người ấy. Nhu cầu bản năng của mình gồm nhu cầu thể xác và tinh thần. Thỏa mãn các đòi hỏi của thân xác một cách vô độ thì dẫn mình đến tình trạng suy đồi sự sống. Thỏa mãn ham muốn của tinh thần một cách vô lối sẽ đưa mình đến sự chối bỏ sự sống, vì mình chỉ còn bám dính vào những tư tưởng chết mà thôi. Cả hai nhu cầu ấy mình phải vượt qua.

Nhìn lại mình, mình tự hỏi mình có tiếp xúc được với những khiếm khuyết tội lỗi chúng gây bất an, ưu tư, sợ hãi… trong tâm hồn mình không? Hay khi đối diện với con người yếu hèn bất toàn ấy, mình tránh né, chạy trốn, bỏ đi tìm những thứ bên ngoài nhằm lấn át con người ấy? Nếu mình nhận mình là người tội lỗi mà không dám tiếp xúc với tội mình để nhờ đó Thiên Chúa sẽ cứu mình thì làm sao mình có thể tiếp xúc với những người bất hạnh, khổ đau cũng do tội gây nên? Thiên Chúa cứu những ai bệnh tật vì Ngài hiểu và yêu tình trạng ‘bệnh tật’ ấy của họ. Ở điểm này, người tội lỗi đã tiếp xúc được với con người thật của họ, nên họ đã đón nhận lòng thương xót của Chúa. Chỉ khi mình tiếp xúc được với con người yếu đuối tội lỗi của mình thì mình mới cảm nghiệm niềm vui được Chúa thương tha thứ, nhờ đó mình mới có thể loan truyền tin vui cứu độ của Ngài.

Vậy có thể nói yêu mình là nhận biết mình đang bệnh để chạy đến thầy thuốc Nhờ đó mình mới thực thi ý Chúa, mới để tình yêu Chúa choán đầy tâm trí hồn xác mình, khiến mọi lời nói, hành động, việc làm của mình đều quy hướng về Tình Yêu Chúa cao vời ấy. Nhờ đó, tôi vừa giúp đỡ yêu thương tha nhân, vừa yêu mình đến nỗi quên mình như là những nhu cầu thân xác và tinh thần, để rồi mình tìm được nguồn sống nơi Thiên Chúa Đấng làm cho mình ‘sống và sống dồi dào’.

 

Ngày… tháng… năm…

Khi tha nhân chạm đến con người thật của tôi, tôi cảm thấy sụp đổ hoàn toàn. Đó là sự mất đi những hình ảnh về tôi mà tôi đã tạo ra. Tôi tưởng mình thánh thiện tốt lành, nhưng thực ra tôi đang núp dưới lớp vỏ vị kỷ để tự ru ngủ chính mình. Tôi nghĩ đến những viễn cảnh tươi sáng cho cái tôi của tôi, nhưng tha nhân đã ‘vặt mặt thật’ của tôi nên tôi cảm thấy sợ hãi, lo lắng… Một người thánh thiện! Đó là hình ảnh của tôi. Nhưng giờ đây, sự thánh thiện ấy không còn nữa. Hóa ra mình ngây thơ ảo tưởng! Mình cũng tội lỗi như ai vậy mà mình lại ngụy tạo tài tình dưới ‘vẻ mặt tốt lành’. Vậy là tội lỗi sinh tội lỗi. Thế là tôi tìm cách xa lánh tha nhân, tự cô lập mình. Hoặc tôi tìm cách làm hại kẻ đã ‘vặt mặt thật’ của tôi, kẻ đã ‘chạm’ đến con người thật của tôi. Tâm thần tôi bấn loạn, tâm trí tôi bất an luôn nghĩ những điều xấu, luôn tìm cách che đậy con người thật của mình. Rõ ràng, trong hoàn cảnh này tôi không hề yêu tôi cách lành mạnh. Tôi chỉ yêu hình ảnh tôi tạo ra. Tôi chỉ yêu ‘con người cũ’ của tôi mà thôi.

 

Ngày… tháng… năm…

Tha nhân tiếp xúc con người tôi vừa làm tôi bị mất đi nhưng cũng lại làm phong phú tôi. Nếu tôi nhìn ở khía cạnh ‘mất đi’ tôi sẽ dễ phản ứng chống lại tha nhân, đó cũng là sự phát sinh tội lỗi trong tôi và làm lan truyền tội lỗi sang người khác. Như khi nhìn thêm khía cạnh ‘được’ của việc đánh mất cái tôi khi người ta chạm đến con người thật của tôi, thì rõ là tôi được hồi sinh thành người mới, tâm hồn tôi sẽ phong phú hơn. Lúc ấy, tha nhân vừa là tôi vừa không phải là tôi. Tôi không còn ‘cay cú’ khi tha nhân ‘chạm’ đến tôi. Nhưng tôi chủ động đón nhận sự tiếp xúc ấy để ‘chuyển hóa’con người bệnh tật của tôi thành con người ‘sống và sống dồi dào’.

 

Ngày… tháng… năm…

Sự trưởng thành đức tin, tức sự lớn mạnh tình yêu của tôi, là nhờ ‘chết’ đi con người tội lỗi. Nếu tôi lên án tội của tôi thì tôi hãy nhớ rằng Chúa Kitô vẫn yêu thương con người tội lỗi ấy của tôi. Thái độ kết án hay thờ ơ với tội mình đều không giúp tôi lớn lên trong yêu thương mà chỉ có thể là khổ đau mà thôi! Thái độ đúng nhất là chấp nhận để Thiên Chúa tiếp xúc con người tội của mình! Chính Ngài sẽ cứu lấy tôi! Nhờ cảm nghiệm tình yêu của Ngài mà tôi có thể tiếp xúc với Ngài không chỉ qua con người tội của tôi mà còn qua con người tội lỗi của tha nhân nữa. Tôi cũng sẽ yêu thương tha nhân như Chúa đã yêu thương tôi vậy! Tội lỗi đi vào thế gian khi người phạm tội không biết đón nhận lòng thương xót của Chúa mà chỉ biết lên án mình và kết án người khác. Có thể nói Tình Yêu Thiên Chúa đến với con người nhờ tội lỗi của con người, chứ không do công trạng nào của con người làm nên hết. Vì yêu thế gian tội lỗi mà Chúa Kitô đã hy sinh chịu chết để phục sinh con người trong ơn nghĩa Thiên Chúa thì tiếc thay, con người vì không chấp nhận tình trạng tội lỗi khổ đau nên đã khước từ tình yêu của Ngài để rồi tạo nên nhiều tội lỗi khổ đau khác. Khi tôi ý thức mình tội lỗi không có nghĩa đó là hành vi mặc cảm tâm lý, nhưng là hành động chuyển hóa thật sự con người mình theo hướng Tình Yêu. Nếu tôi thờ ơ lãnh đạm với tội mình hoặc tôi không chấp nhận tình trạng tội lỗi chỉ vì tội đã đánh mất hình ảnh tốt đẹp do tôi tạo ra, thì tôi vẫn ở trong tình trạng tội, tức tôi vẫn còn khổ đau, tôi vẫn chưa cảm nghiệm Chúa thương tôi. Trong tình trạng ấy, đúng là tôi khốn khổ biết dường nào! Điều tôi muốn thì lại không làm, nhưng lại đi làm điều tôi không muốn. Tôi muốn giũ bỏ tội mà cứ kết án tội! Tôi muốn được Chúa thương nhưng lại cứ lẩn tránh Ngài trong cái tôi ảo tưởng tốt đẹp do tôi tạo ra.

 

Ngày… tháng… năm…

Mình vào đời với hành trang không chỉ là tri thức mình thu nhận được khi còn ở trường học mà còn là ý thức về giá trị độc đáo của mình đối với xã hội và môi trường xung quanh. Hơn nữa, mình còn mang cả vô thức, tiềm thức chúng hình thành không chỉ do các gen của tổ tiên để lại nhưng còn là những ‘áp lực dồn nén’ từ bên ngoài khi mình còn ấu thơ in dấu ấn khó phai trong tâm thức mình. Thế nên, trong con người mình thực sự tồn tại hai ‘lực lượng’ đối kháng nhau, đúng như Đức Tông đồ Phao-lô đã cảm nghiệm được: ‘điều tốt tôi muốn làm nhưng tôi không làm, còn điều xấu tôi không muốn làm thì tôi lại làm’. Cái điều tốt ấy đã tiềm ẩn sẵn trong con người mình như một ‘ấn tích xót lại’ của hình ảnh Thiên Chúa (vì con người được tạo dựng nên giống hình ảnh Ngài), để rồi cùng với sự lớn lên của mình, cái bản năng xác thịt cũng lớn theo tỷ lệ thuận với sự chiều chuộng cám dỗ từ bên ngoài khiến ‘ấn tích’ ấy không có cơ hội phát triển. Thế nhưng, ngay khi mình sống trong môi trường đạo đức nó giúp nuôi dưỡng hạt giống yêu thương của Thiên Chúa là ‘ấn tích’ đó, thì mình cũng không thể nói là tránh được sức tấn công của ‘vũ bão’ của sự dữ. Bởi vậy, mình luôn cần tái khám phá sâu hơn con người xung đột của mình để học biết ‘tỉnh thức và cầu nguyện’ trong lòng nhằm tránh sự ‘chiếm đóng’ của Cái Ác. Vì khi có xung đột trong con người mình là có sự phân ly, là giằng xé về phía hai cực Thiện hay Ác, là ‘nội chiến’ xảy ra. Làm cách nào có thể hóa giải cuộc xung đột nội tâm ấy?  Phải chăng mình đứng về phe Thiện để chống lại cái Ác đang tiềm phục trong mình? Mình không thể yêu hai thế lực ấy, cũng không thể đứng về bên nào được. Bằng chứng là khi mình ham muốn làm điều tốt đẹp nhưng mình lại có những suy nghĩ xấu, ý hướng không ngay lành, vậy lúc ấy mình đứng về bên tốt hay bên xấu? Hay mình chiều theo ham muốn dục vọng và khinh chê những giá trị luân lý đạo đức nhưng lại áy náy về việc mình làm, lúc đó mình đang đứng về bên nào? Mình phải thừa nhận mình bất lực không thể hóa giải cuộc xung đột ấy. Chỉ có tình yêu đầy xót thương của Thiên Chúa mới giúp mình giải quyết ‘nội chiến’. Ngài nhìn tôi không một chút phán xét hay kết án. Và qua cái nhìn xót thương của Ngài, mình nhìn mình cũng bằng con mắt thương yêu hơn. Mình thừa nhận mình có những ý nghĩ, lời nói, việc làm xấu nhưng không vì thế mà mình ‘đổ dầu vào lửa’ để làm cho những điều xấu ấy bùng cháy hơn! Những điều xấu ấy mình phải yêu, vì chúng là một phần con người mình. Tâm hồn mình hỗn loạn thì làm sao mình an vui thanh thản được.

Chính Tình Yêu Thiên Chúa mới hóa giải con người xung đột của mình, mới giúp mình ý thức về sự bất toàn đáng yêu của mình để mình không còn công kích chính mình khi mình làm điều xấu, hoặc mình không tán dương mình khi mình làm việc tốt.

 

Ngày… tháng… năm…

Đức Giêsu đã để lại cho nhân loại giới răn yêu thương. Giới răn ấy luôn nhắc nhở con người mọi nơi qua mọi thời đại phải hướng đến đích viên mãn là Thiên Chúa Tình Yêu. Nhưng để làm cho thế giới tràn đầy tình yêu thì trước tiên tình yêu phải nhập thể nơi tôi, phải biến đổi tôi trước khi tôi yêu thương anh em. Cảm nghiệm được Thiên Chúa yêu vẫn chưa thể nói là tôi đã hoàn toàn trút sạch tội lỗi trong con người tôi. Có thể nói rằng cảm nghiệm ấy là dấu chỉ cho tôi biết Chúa yêu tôi đến muôn đời. Tuy nhiên hiện giờ tôi còn đang sống trong thực tại nhân loại còn quá nhiều đau khổ tội lỗi nên hẳn nhiên tôi không thể thoát khỏi những ‘ảnh hưởng’ ấy! Có điều khi cảm nghiệm tình Chúa dành cho tôi, tôi sẽ thay đổi thái độ đối với tội, tôi không còn kết án hay thờ ơ tội lỗi nữa mà là ôm trọn nó trong yêu thương. Tội lỗi không làm tôi xa cách Chúa mà chính thái độ của tôi về tội. Ngay khi tôi được Chúa cho hiểu và cảm nghiệm điều này như một mặc khải lý trí thì thực tế con người toàn vẹn của tôi vẫn còn tội lỗi, ở nơi vô thức, tiềm thức và ý thức. Ý thức có thể nhận biết tội nhưng vô thức hay tiềm thức lại là nơi ‘tích trữ tội’, nên ý thức tôi rất dễ phản ứng trước những khích động tội lỗi của vô thức và tiềm thức. Nhưng khi tôi cảm nghiệm Chúa yêu tôi, thì tôi cũng ý thức rằng tình trạng tội nơi thâm sâu vô thức của tôi cũng đáng được Tình Yêu Chúa biến đổi. Ý thức tôi sẽ không kết án tôi khi tôi phạm tội do tiềm thức hay vô thức gây ra, vì tôi ý thức tình yêu Chúa dành cho tôi. Nhờ vậy, dù vô thức có dùng tội để khuấy động tâm hồn tôi thì ý thức tôi cũng ‘bình tĩnh’ đón nhận để chuyển hóa tội ấy chứ không gây chiến bằng những tư tưởng tốt đẹp mà ý thức tôi đã hấp thụ. Nói đúng hơn, tôi đã đón nhận cả phúc lẫn tội, nhưng vì chưa ý thức trọn vẹn, chưa tỉnh thức triệt để nên phúc tội ấy đã tạo ra ‘nội chiến’ trong con người tôi. Những lúc tôi thấy lòng bình yên thì không có nghĩa khi đó tôi an hòa thật sực. Kẻ thù và đồng minh của tôi chỉ tạm lui về ‘biên giới’ mỗi bên để dưỡng sức chuẩn bị chờ cơ hội gây chiến tiếp. Chỉ nhờ Tình Yêu Thiên Chúa vào cuộc mới có thể hòa giải, biến đổi tất cả ‘bạn và thù’ trong con người tôi nhằm hợp nhất tôi nên một, không còn phân chia hai giới tuyến tội và phúc nữa. Hòa bình giữa hai nước đều trang bị vũ khí hạt nhân rất khác với hòa bình không có vũ khí! Con người tôi cũng vậy.

 

Ngày… tháng… năm…

Giữa người và tôi có mối liên hệ mật thiết với nhau nên người khổ thì tôi cũng khổ. Tôi không thể nói rằng đau khổ của người không liên can gì đến bản thân tôi. Thế nên, có thể nói thờ ơ với khổ đau của tha nhân được xem như chứng bệnh biếng ăn vậy. Mà không chịu ăn thì càng dẫn tới bệnh trầm trọng, nên người thờ ơ với khổ đau tha nhân cũng là những người khổ nhất, có thể nói họ ‘khổ mà không biết mình đang khổ’, họ ‘sống mà như đã chết’. Trái lại, nếu tôi khổ cái khổ của người thì liền đó trong tôi phát sinh tình yêu, nhưng không phải tự tôi tạo nên tình yêu ấy mà chính Thiên Chúa Tình Yêu đã chuyển hóa khổ đau trong tôi thành tình yêu. Vậy là tôi cảm nghiệm được rằng cùng lúc đau khổ xuất hiện nơi tôi thì tôi cũng ý thức Tình Chúa thương tôi, và nhờ đó mà tôi đem tình yêu ấy đến với người khổ đau.

 

Ngày… tháng… năm…

Công trình cứu độ của Thiên Chúa nhiều lần bị con người trì hoãn với lý do rất chính đáng: tôi phải giúp người khác nhận biết Chúa. Khi tôi tưởng những việc làm ấy là thực hiện thánh ý Chúa thì thực sự tôi đang làm theo ý tôi. Nhiều khi mình lấy lý do rao truyền danh Chúa nhưng lại ngầm muốn làm nổi danh mình. Chúa muốn mình phải thay đổi trước rồi sau đó qua mình Ngài sẽ thay đổi người khác, nhất là những ai không tin vào Ngài. Vậy mà mình làm ngược lại là tìm cách thay đổi họ để họ chạy về với Chúa trong khi mình ngày một xa Chúa.

 

Ngày… tháng… năm…

Tách khỏi lịch sử mình sẽ không biết mình đến từ đâu. Lìa bỏ tương lai mình sẽ không biết đi về chốn nào. Nhưng nếu nhận hiểu giây phút sống lúc này đây, mình sẽ cảm nghiệm chiều kích thiêng liêng đã nối kết mình với tổ tiên và với muôn thế hệ sau. Thật vậy, nhìn vào bản thân,  mình thấy mình mang ‘bản sao di truyền’ của tiền nhân, rồi ở tầng sâu vô thức liên thông với cái u uẩn của văn hóa tâm linh mà tiền nhân mình đã in dấu ấn, và hơn nữa, mình còn phải có ý hướng về tương lai nữa, nghĩa là trong mình tiềm phục sẵn những điều kiện của sự tạo sinh để khi gặp ‘duyên’ thì sự sống mới trồi sinh nó mang lấy trọn vẹn những gì thuộc về quá khứ và tiềm năng kiến tạo tương lai. Nếu mình không ý thức Thiên Chúa đã yêu mình từ khi mình chưa sinh ra thì cũng có nghĩa là mình tách khỏi dòng lịch sử và tiến về miền vô định của tương lai vậy. Bởi lẽ, Thiên Chúa là khởi đầu cũng như đích điểm nên trên ‘con đường hoạt động’ của Ngài, Ngài đã ôm trọn lấy tất cả sinh linh để luôn mang hình ảnh Ngài đến muôn đời. Điều này không có nghĩa mỗi cá thể nằm trong ‘guồng máy hoạt động’ sáng tạo của Thiên Chúa mà không có trách nhiệm ‘kiến tạo thế giới’, cai quản và bảo vệ địa cầu. Vì vậy, mình ý thức Tình yêu của Ngài ‘từ muôn thưở’ không có nghĩa mình phải truy tìm về nguồn gốc đích thực của mình, nhưng là nhận hiểu tình yêu bao la của Ngài đã và đang hoạt động thật sự giữa lòng nhân loại. Mình không ý thức điều đó thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến Thiên Chúa nhưng là ‘thiệt cho mình vì đã không kết dính với Tình yêu Ngài để được ‘sống và sống dồi dào’.

 

Ngày… tháng… năm…

Nhìn lá vàng rơi, đối với kẻ mải mê với công việc, với những lo toan cuộc sống cơm áo gạo tiền, chắc sẽ không thể khám phá ra ý nghĩa gì hết, nhưng với một người sống nội tâm sâu sắc thì chiếc lá ấy như có sức nặng làm bật dậy cái quy luật của tạo sinh, làm khơi nguồn cảm hứng bất tận cho hồn thơ trào dâng, làm rung động con tim đang thao thức tìm lẽ sống. Hiện tượng thiên nhiên ấy đưa ta về với ta, nuôi dưỡng tâm trí ta, làm cho ta lớn khôn hơn, đầy lòng quảng đại và tình yêu hơn, để rồi đến lượt ta, ta dùng khả năng trí tuệ và con tim mà ‘thổi hồn’ vào thế giới vật chất tự nhiên ấy, khiến choo vạn vật trở nên linh thiêng huyền nhiệm hơn.

Có thể nói thiên nhiên phản ánh đời sống nội tâm của mỗi người, đặc biệt về tình yêu. Thánh Kinh đã sử dụng rất nhiều hình ảnh thiên nhiên để nói về Thiên Chúa Tình Yêu. Hẳn là khi ý thức vai trò quan trọng của thiên nhiên trong đời sống, ta sẽ yêu từng phút giây sống hơn, nhất là nhận biết mình rõ hơn. Ta sẽ không còn chạy theo những lo lắng ưu tư riêng nữa mà biết mở lòng lắng nghe từng ngọn cỏ rung theo gió, từng chiếc lá xào xạc, từng tiếng thì thầm của núi đồi, từng lời ca dịu êm của sông biển. Như thế, tâm hồn ta sẽ hòa vào hồn non nước mà ở đỉnh cao là thể viên mãn thống nhất nên một không còn chủ thể và khách thể, không còn thế giới bên trong và thế giới bên ngoài nữa. Và chính Tình Yêu sẽ thúc đẩy ta vươn đến đỉnh cao ấy để từ đó ta có thể chiếu giãi Tình Yêu ấy ‘khắp tận cùng thế giới’.

 

Ngày… tháng… năm…

Tình yêu thể hiện ở sự lắng nghe. Trước hết, ta phải biết lắng nghe những người đã trải qua giai đoạn lịch sử đời họ để còn sống với ta hôm nay. Lắng nghe không với mục đích khẳng định hay phủ định điều họ nói những là nhìn nhận sự thật nơi họ cũng như nơi bản thân ta. Sự thật nơi họ là những giá trị sống họ sử dụng để sống một thời đã qua hẳn phải mang ý nghĩa nào đó để giúp ta nhìn nhận sự thật nơi mình. Ta có những giá trị sống nào để tồn tại trong xã hội ngập tràn tranh chấp xung đột hiện nay? Liệu với những giá trị ta đang sử dụng có giúp ta sống vững mạnh hơn không?

Mặt khác, ta còn phải biết lắng nghe những tiếng nói vượt thời đại như các tiên tri, ngôn sứ, thánh nhân, hay các bậc hiền triết, vì họ đã thắng lướt sự kềm hãm của thời đại họ sống để loan truyền chân lý cho mọi người qua mọi thời. Những tư tưởng của họ vẫn còn chi phối và ăn sâu trong tiềm thức cộng đồng. Bởi vậy, có thể nói họ vẫn còn sống trong ta và ta phải biết khám phá để nhận biết sự hiện diện ấy để có cảm hứng sáng tạo nên những giá trị mới đáp ứng nhu cầu thời đại ta đang sống.

Cuối cùng, ta lắng nghe những tiếng nói của lương tâm mình. Đó là nơi ta nhận biết những dấu tích đã in sâu trong tâm trí ta và làm nên con người ta hôm nay. Những dấu tích văn hóa, đạo đức, tôn giáo… ta thừa hưởng từ tổ tiên cũng như từ môi trường xã hội ta đang sống sẽ giúp ta nhận biết những vấn đề thời đại cách sáng suốt hơn.

Ba thái độ lắng nghe trên bắt rễ từ tình yêu, vì nếu không ta sẽ phản ứng tiêu cực hoặc thờ ơ với những tiếng nói thời đại. Tình yêu sẽ giúp ta đón nhận một cách vui tươi những giá trị mà người đi trước ta đã tạo ra nhằm kiến xây những giá trị mới, giúp cho cuộc sống hiện tại của ta thêm tươi đẹp và đầy ý nghĩa hơn. Tình yêu thổi luồng sinh khí mới cho những giá trị xưa để vực dậy tinh thần con người thời đại. Tình yêu giải thoát ta khỏi mọi ràng buộc để giúp ta mở lòng đón nhận tất cả ‘hồng ân’ của Chúa đang tuôn chảy trong dòng lịch sử nhân loại.

 

Ngày… tháng… năm…

Tình yêu giúp ta mở lòng đón nhận không chỉ tin vui mà còn tin buồn của thế giới. Dĩ nhiên sự thúc đẩy của tình yêu không đến từ bên ngoài ta nhưng chính trong nội tâm sâu xa của ta. Cũng như cỗ máy không thể đẩy chiếc xe từ bên ngoài thì con người cũng không thể yêu nếu tâm hồn mình không có tình yêu. Điều này đòi hỏi ta phải tái khám phá những nhu cầu cần thiết cho đời sống bản thân ta. Và ta sẽ thấy rằng tình yêu là một nhu cầu thâm sâu nhất mà nếu ta không đáp ứng thì ta cũng giống như người đói không chịu ăn vậy. Đáp ứng nhu cầu yêu thì cần phải nhận thức sâu xa rằng ta cần yêu và được yêu. Nhờ đó, khi ta yêu ai thì không phải vì mục đích nào đó nơi ta, nhưng vì sự sống bản thân ta. Ta không yêu thì ta sẽ chết! Cái chết của tâm hồn. Hồn chết rồi thì thân xác cũng không thể cảm nhận hạnh phúc được. Bởi vậy, những ai yêu thì thường họ quên mình, và như thế là họ tìm được chính mình vì họ đã đáp ứng nhu cầu yêu. Thế nên thái độ sống khép kín không chỉ thể hiện tâm trạng bệnh tật mà còn chứng tỏ dấu hiệu người đó ‘sống mà như đã chết’ vậy!

Trong việc đạo đức, nếu ta không có tình yêu, hay đúng hơn ta ‘ích kỷ thiêng liêng’ thì ta cũng dễ rơi vào tình trạng ‘sống dở chết dở’. ‘Sự ích kỷ thiêng liêng’ là mình làm các việc đạo đức mà không muốn người khác thực hiện, là mình muốn Chúa tha thứ cho mình nhưng lại không thích Ngài tha cho kẻ khác, là mình mê say với sự tĩnh lặng để hướng lòng về Thượng giới mà ghét bỏ những sự ồn ào náo nhiệt của ‘thế gian’… Xét thật lòng, mình muốn trở thành ‘vị cứu tinh’, ‘nhà đạo đức’, ‘bậc chiêm niệm’… để được người khác tán thưởng danh mình. Mình muốn nhận những lời khen chúc tụng tung hô của ‘thế gian’ để đảm bảo cho mình một vị trí trong xã hội cũng như trong Giáo hội, để mình trở nên ‘tiếng nói của Chúa Kitô’ dạy bảo người khác trong khi lòng mình lại chẳng thấm nhập những lời mình giảng rao ấy! Sự ích kỷ thiêng liêng sẽ cản ngăn tình yêu hoạt động sáng tạo!

 

Ngày… tháng… năm…

Dường như thế giới hôm nay bị phân chia thành hai ‘chiến tuyến’: vô thần và hữu thần, kẻ tin và kẻ không tin, người thực hành các việc đạo đức và người thờ ơ với các giá trị tinh thần… Mỗi bên đang ra sức hoạt động để chứng tỏ sức mạnh của mình. Tâm lý chung ấy đã ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội khiến người ta ngại nhận mình là kẻ tin, là người theo Đạo khi sống trong môi trường toàn những người vô thần; và ngược lại, những kẻ không tin cảm thấy chán ghét những màn trình diễn thiêng liêng quy tụ những người tin. Hai thái độ ấy đều rất cần cho việc thanh lọc đời sống tâm linh của con người thời đại.

Thật vậy, người tin và kẻ không tin đều có mẫu số chung là họ không biết thực sự đối tượng họ tin hay không tin. Tôi tin Thượng Đế, còn anh không tin thì phủ nhận Ngài. Nhưng cả tôi và anh đều không biết Ngài. Tuy nhiên, cái không biết của kẻ tin gắn liền với hành động, họ cứ đi nhưng không biết mình khi nào tới đích. Họ biết đích là Thiên Chúa nhưng càng đi họ càng xa cảm thấy mù mờ, chẳng biết Ngài đang ở đâu. Họ không biết nhưng vẫn đi, tức là liều lĩnh rồi. Sự liều lĩnh ấy chỉ có được do tình yêu thúc đẩy mà thôi. Tôi yêu Chúa thì tôi phải biết Chúa, muốn biết Chúa tôi phải kiếm tìm Ngài, nên tôi chỉ có thể tin Ngài sẽ chỉ dẫn tôi con đường đến với Ngài. Mà thật Ngài là đường, là sự thật và là sự sống, nên tôi đi trên con đường là chính Ngài thì cũng là tôi sống trong Ngài và Ngài sống trong tôi. Nhưng vì tôi hữu hạn còn Ngài thì vô hạn nên tôi chỉ có thể tin vào sức mạnh yêu thương của Ngài sẽ cho tôi được ở trong Ngài. Và như thế tình yêu nơi tôi cũng là tình yêu Ngài dành cho tôi. Nhờ tình yêu ấy mà tôi đi như một ‘người hát rong’, ca vang Tình Yêu của Chúa, dù tôi chưa gặp Ngài. Đó là thái độ của kẻ tin. Tin vì yêu chứ không vì mình trở nên người này kẻ nọ. Vì yêu nên tôi lên đường dù không biết lúc nào tới đích.

Ngược lại, kẻ không tin thì dừng lại ở ngưỡng cửa ‘sự bất khả tri’, ‘sự không biết’ Thiên Chúa để quay về nhà với nét mặt buồn bã vì ‘anh ta có nhiều của cải không chịu bán cho người nghèo mà theo Chúa’. Kẻ không tin không biết Thiên Chúa nhưng lại phủ nhận Ngài. Họ tìm kiếm sự hiểu biết của ‘thế gian’ để chứng minh Ngài không hiện hữu, và sự hiểu biết ấy là một bảo đảm cho họ.

Yêu mạnh hơn biết. Tình yêu giải phóng ta khỏi những hạn hẹp của cái tôi, còn sự hiểu biết có thể nhốt ta trong ‘tháp ngà vị kỷ của tư tưởng’. Kẻ yêu dám xả thân vì người mình yêu, còn kẻ biết thì lo bảo vệ những quan điểm của bản thân. Khi yêu không phải ta chỉ chu toàn lề luật yêu thương Chúa dạy mà còn là lời đáp trả tiếng gọi Tình Yêu của Ngài, Đấng đã yêu ta trước khi ta sinh ra. Còn kẻ biết thì chỉ muốn bảo đảm, không thích đổi thay nên không thể nhìn thấy bên kia chân trời là vũ trụ rộng lớn mà sự hiểu biết của hắn chỉ là hạt cát!

Kẻ tin hôm nay không nên chỉ dùng lý luận của khối óc mà thuyết phục hay dẫn kẻ không tin đến với Chúa. Mình tin Chúa vì yêu Ngài, chứ không vì thứ hư danh bên ngoài, kể cả cái danh của kẻ tin Chúa. Mình tin Chúa thì cũng tin vào sức mạnh tình yêu của Ngài có thể biến sỏi đá thành cơm bánh. Bởi vậy mình không thể dựa vào tình yêu và lý trí của mình để nói về Chúa cho kẻ không tin, vì tình và lý của mình rất giới hạn. Đúng hơn, mình chỉ đánh thức tiềm năng yêu thương nơi họ bằng tình và lý của mình để nhờ đó họ nhận ra mối tình cao sâu hơn là Thiên Chúa Tình Yêu.

Làm chứng cho đức tin Kitô giáo không phải là làm chứng về một học thuyết mà là Tình Yêu Thiên Chúa. Nên mình mang danh nghĩa là kẻ tin thì phải sống tràn đầy yêu thương mỗi giây phút trong đời.

 

Ngày… tháng… năm…

Người ta không thể yêu người mà không yêu Chúa! Yêu Chúa không chỉ là tôn thờ Chúa, vì tôn thờ còn pha chút kính sợ, chứ đã yêu thì chỉ kính trọng tin tưởng thôi. Tình yêu sâu hơn sự thờ kính. Nói đúng hơn, thờ kính Chúa là một biểu hiện tâm tình thảo kính của con đối với Cha, vượt xa những lễ nghi hình thức.

Yêu người là biểu hiện lòng yêu Chúa, nhưng không vì thế mà tôi nói tôi yêu người là đủ. Một khi tôi chỉ yêu người thì liền đó là các mối xung đột nội tâm xảy ra vì tôi phải đối diện với nhiều loại người khác nhau. Khi tôi chỉ yêu người thì dần dần tình yêu ấy bị giảm trừ thành những công việc thuần túy mang tính ‘vật chất’, tính ‘hành chính’ mà không thấm nhiễm ‘sự sống’ nó là nguồn sức mạnh tình yêu. Khi tôi chỉ yêu người thì tôi sẽ phải đáp ứng liên tục những nhu cầu của người trong khi khả năng tôi giới hạn. Khi tôi chỉ yêu người thì gặp người phản bội, tôi sẽ dễ trở nên cô đơn nhất, không còn biết nương tựa vào đâu. Chỉ khi yêu Chúa sâu xa tôi mới yêu người cách trọn vẹn, tôi mới không bị những chuyện con người cuốn hút, tôi mới tự do hoạt động phục vụ người mà không dính bén vào những danh vọng ‘thế gian’, nếu cần tôi có thể ‘bỏ mặc người ta’ mà ở lại với Chúa trong sâu thẳm lòng.

 

Ngày… tháng… năm…

Thiên Chúa đã nhập thể làm người, mang thân phận kẻ bị áp bức, bị loại trừ. Đó không phải là chiến thuật nhằm kêu gọi quần chúng chống lại tầng lớp cai trị, tầng lớp trí thức thượng lưu. Đó cũng không phải là sự tranh thủ lá phiếu cử tri mang tính chính trị nhằm dành lấy quyền lực khỏi tay kẻ cầm quyền. Không! Thiên Chúa làm người và chọn những người thấp hèn nhất là để ‘nâng họ lên’ vị trí làm Con Chúa. Những người thông thái, giàu sang, quyền lực đã được chúc phúc, đã được hưởng phần thưởng rồi. Có thể nói họ là ‘những tinh hoa’ trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Tiếc thay, ‘trái cây trí thức’ ấy đã khiến người ta trở nên ‘vô minh’ không còn nhận biết Thiên Chúa, loại bỏ Ngài ra khỏi đời sống để chỉ còn khẳng định những giá trị tri thức khoa họ chúng sẽ cải biến xã hội và cải tạo thiên nhiên tốt hơn. Những ‘người trí thức’ ấy đã quay lưng lại với Thiên Chúa để hướng về những vị thần sáng tạo của họ. Thay vì bằng tài năng sáng tạo được Thiên Chúa ban cho, họ phải biết ‘cúi xuống’ để nâng người an hem mình lên xứng với phẩm giá con người thì họ coi những người đó như trở ngại cho quá trình phát triển xã hội, tự nhiên, đúng hơn cho sự tiến hóa loài. Và Thiên Chúa đã can thiệp bằng cách chọn những người thấp hèn! Đây là chiến lược nhằm thần hóa con người trở nên con Chúa. Thực hiện chiến lược của Chúa, người có đức tin cũng phải chọn cách Chúa làm là ‘cúi xuống’ phục vụ ‘những người khốn khổ’ hoặc theo ‘thế gian’ để ‘nâng mình lên’ bằng tài năng, quyền lực, tiền bạc…

Nếu như giai đoạn tiến hóa vật chất hướng đến đích nhắm là con người mà nhờ đó con người biết khám phá ra các quy luật tự nhiên, xã hội, nhằm phục vụ cho cuộc sống, thì giai đoạn tiến hóa tâm linh chính là hướng tới những ai ‘đói khát sự thật’, những ai ‘bị bắt hại’, bị tù đầy, khổ đau… Ở giai đoạn này, Thánh Thần Thiên Chúa sẽ làm việc chứ không còn là các quy luật tự nhiên, quy luật xã hội nữa. Tình Yêu Thiên Chúa sẽ thấm nhiễm từ ‘hạ tầng cơ sở’ là nơi phần đông nhân loại đang sống trong đau khổ để tiến tới ‘thượng tầng kiến trúc’ là nơi con người thông phần vào mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô để cùng được sống lại với Ngài ‘trong vinh quang Đức Chúa Cha’.

 

Ngày… tháng… năm…

Nhu cầu được yêu khi mạnh hơn nhu cầu yêu sẽ dễ dẫn mình đến đòi hỏi, bảo vệ quyền lợi của mình, muốn người khác thực hiện ý mình, không chấp nhận chia sẻ lợi ích với tha nhân… Ngược lại, khi nhu cầu yêu mạnh hơn nhu cầu được yêu thì mình thường thích cho đi mà không muốn đón nhận vì sợ mình trở nên yếu đuối dưới mắt đối tượng yêu, hay sợ mình lệ thuộc vào họ… Cả hai nhu cầu trên xuất phát từ sự khích động của cái tôi. Cái tôi muốn thỏa mãn nhu cầu nên nó gây xáo trộn tâm trí khiến mình lo âu, buồn phiền, chán nản vì không ai quan tâm tới mình, vì người ta bỏ rơi mình, quên mình; hoặc mình sung sướng, vui cười vì mình đã làm được việc gì đó giúp ích cho tha nhân, mình được người ta khen là người tốt… Khi nhu cầu của cái tôi được thỏa mãn thì liền đó nảy sinh những hình ảnh về con người mình. Mình muốn được yêu nhiều nên sợ mất đối tượng yêu mình. Mình muốn trao ban nhiều cho đối tượng mình yêu để họ luôn là ‘của mình’. Vì vậy nhu cầu yêu và được yêu có thể phát sinh những quyến luyến, những ảo ảnh về tình yêu. Thế nên thỏa mãn nhu cầu yêu và được yêu không phải bằng quyến luyến lệ thuộc vào người khác, mà là từ bỏ những hình ảnh do cái tôi tạo ra từ nhu cầu ấy. Ở đây, yêu quên mình không có nghĩa là bám dính vào đối tượng yêu, nhưng là không để cái tôi của mình tạo nên những ảo ảnh về đối tượng yêu. Chẳng hạn, mình sẵn sàng hy sinh quên mình vì họ nhưng là để thỏa mãn cái tôi muốn được khen ngợi, muốn được bảo đảm. Chấp nhận được yêu cũng đòi hỏi sự quên mình luôn, vì mình sẽ dễ phản kháng trước thực tế bất lực của mình, phải cậy nhờ vào người khác, mình sẽ dễ nổi loạn khi mình ở trong tư thế kẻ nhận. Bởi thế được yêu thì cũng phải quên mình, nhưng không có nghĩa mình đón nhận tình yêu người khác một cách thụ động, mà là chủ động mở rộng tâm hồn mình nhận lấy tất cả những tình cảm người ta dành cho mình, không phân biệt người cho nhiều hay ít, cũng không quyến luyến với đối tượng cho mình nhiều thiện cảm. Chủ động mở lòng đón nhận yêu thương là cách thức quên mình khi mình được yêu!

 

Ngày… tháng… năm…

Đối với Thiên Chúa ta không thể nói mình yêu Chúa nhiều hay ít mà chỉ có thể nói mình hiện diện với Chúa thế nào trong cuộc sống. Bởi lẽ tình yêu là sự hiện diện giữa hai ngã vị chứ không phải là lượng vật chất có thể cân đo đong đếm. Thế nên, tôi yêu Chúa là tôi hiện diện với Ngài, sống với Ngài mỗi ngày. Dĩ nhiên tôi cũng không thể lấy lượng thời gian ra đong đo tình yêu ta dành cho Chúa. Vì thời gian đâu thể đong đếm! Tôi không thể nói mỗi ngày tôi dành bao nhiêu tiếng để cầu nguyện, trò chuyện kết hiệp với Chúa! Thật thế, vì có lúc ta dành nhiều thời gian cho các việc ấy nhưng không phải là hiện diện với Chúa mà tôi chỉ hiện diện với tôi thôi. Nghĩa là, tôi nói nhiều trong giờ cầu nguyện. Tôi để tâm trí đi hoang tìm kiếm những tư tưởng, hình ảnh, kỷ niệm của quá khứ. Tôi để mặc Chúa đang ngóng chờ tôi trở về như Cha già chờ đứa con đi hoang vậy! Tôi chưa yêu Chúa dù chỉ một giây phút thôi nếu tôi không hiện diện bên Ngài.

 

Ngày… tháng… năm…

Sự hiện diện của tha nhân trong đời tôi làm nên sự hiện hữu của tôi. Ông bà, cha mẹ, anh chị em tôi hiện diện trong tôi nên tôi thấy mình đang hiện hữu với họ. Đó là hiện diện của tình máu mủ ruột thịt. Mở rộng hơn, những người tôi gặp trong đời hiện diện trong ký ức tôi cũng làm tôi hiện hữu giữa đời. Đó là những người đã đem đến cho tôi niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc hay khổ đau. Tuy nhiên, để hiện diện thật sự với tha nhân, tôi phải yêu tha nhân. Những việc tôi làm có thể giúp ích cho tha nhân, nhưng trên hết vẫn là sự hiện diện đầy tình yêu của tôi dành cho họ. Một đứa trẻ mồ côi, tôi có thể giúp em vật chất, để em có được cuộc sống ấm no, nhưng có thể em vẫn không hạnh phúc. Tôi không thể làm cho cha mẹ em sống lại để ở bên em, chăm sóc em. Bởi vậy, tôi yêu em thật sự thì tôi phải hiện diện bên em bằng tất cả trái tim tôi. Trong sự hiện diện ấy chỉ có tình yêu chứ không có bất kỳ ý nghĩ thương hại hay những dự định cho tương lai đời em (chúng sẽ đến sau khi ta đã yêu), không có những cảm xúc tiêu cực nào như là kết án ai đó đã gây ra đau khổ cho em, chống lại số phận nghiệt ngã đã ập xuống cuộc đời em… Chỉ còn Tình Yêu choán ngập tâm hồn tôi và em. Tình Yêu đến với em không chỉ làm cho em bớt khổ đau mà còn biến đổi tâm hồn em nó có nguy cơ bị tổn hại do khổ đau ấy gây ra, giúp em hiểu sâu hơn về thực tế đời mình. “Thái độ duy nhất trước khổ đau là yêu thương” (Carlos G.Valles). Thái độ yêu thương có giá trị nhất trong hoàn cảnh khổ đau của người là hiện diện thật sự bên người để chia sẻ khổ đau với người. Chúng ta có thể giải quyết hậu quả chiến tranh, thiên tai bằng các biện pháp lý trí, nhưng những người khổ đau do chiến tranh, thiên tai ấy, chúng ta chỉ có thể hiện diện bên họ cách tràn đầy yêu thương. Bởi vì yêu thương có sức giải phóng con người khỏi đau khổ.

 

Ngày… tháng… năm…

Mình thấy có ba thái độ thể hiện tình yêu đối với người nghèo. Đó là mình cho họ cái mình có theo cảm xúc bản thân. Thứ đến mình giúp họ tự vươn lên, tự cải thiện đời sống của họ. Và cuối cùng là mình tiếp xúc với họ ở sâu thẳm tâm hồn họ để khám phá ra rằng họ có một chỗ đứng quan trọng trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa, họ có giá trị đặc biệt. Khi mình tiếp xúc với người nghèo khổ qua việc cho họ ‘của ăn vật chất’ là để mình có thể tiếp xúc sâu hơn con người họ, nhờ đó tình yêu mình dành cho họ nơi chiều sâu ấy sẽ giúp họ ‘nâng tâm hồn’ lên cùng Thiên Chúa Tình Yêu! Tình yêu là phương cách quy tụ con người về với Thiên Chúa!

 

Ngày… tháng… năm…

Tình yêu không chỉ gắn kết con người hôm nay mà còn hòa giải quá khứ của chủ thể yêu và đối tượng yêu, làm cho họ trở nên hiệp nhất trong cùng một đức tin, đức mến để làm triển nở đức cậy nó mở ra tương lai nhân loại mới. Tiến trình ấy đòi hỏi mỗi người phải hội nhập nơi chính mình toàn bộ con người của quá khứ, hiện tại và tương lai. Sự hội nhập ấy chỉ có thể hoàn thành trong và nhờ tình yêu mà thôi. Và ở đây, mỗi người lại đứng trước những thách đố riêng của mình để hiện thực hóa tình yêu một cách sáng tạo, vì không ai yêu giống ai!

 

Ngày… tháng… năm…

Tình Yêu Thiên Chúa vượt trên tất cả mọi lý lẽ quan niệm, cảm xúc ước muốn của con người. Mỗi người hiểu và cảm nghiệm về tình yêu khác nhau nên không thể diễn đạt nó giống nhau. Có thể nói Tình Yêu là thực tại đầy sống động, hiện diện cách phổ quát khắp nơi, không phân biệt sắc tộc, cũng không bị giới hạn trong bất cứ ngôn ngữ nào. Thực tại ấy biến đổi con người, vạn vật nhằm hướng về chung đích là thống nhất nên một, không còn tách biệt phân ly. Như thế, khi tiếp xúc với thực tại ấy ta cũng sẽ cảm nghiệm rõ hơn tình yêu của ta. Nhưng phải chăng thực tại ấy rất ư trừu tượng, rất mênh mông nghĩa nên cũng không thể tiếp xúc với nó được? Tình Yêu là thực tại nhưng không trừu tượng mà cụ thể rõ ràng nơi sông núi đất trời, nơi muôn loài muôn vật và nhất là nơi mỗi người.

 

Ngày… tháng… năm…

‘Tình yêu thắng vượt sợ hãi’. Sợ hãi trì kéo ta lại trong không gian bản ngã nó làm ta không dám vươn ra bên ngoài để đến với tha nhân. Vậy sợ hãi phải chăng phát sinh từ cái ngã? Đúng hơn, cái too6i quyến luyến với những sự vật quen thuộc chúng làm nên thành trì vững chắc để tôi cảm thấy được an toàn. Thế nên, khi ta sợ hãi chính là lúc ta thấy mình mất một cái gì đó thân thiết lắm. Bởi vậy, ta không thể yêu ai thật sự nếu thành trì bảo vệ cái ngã không bị phá bỏ, bằng không những việc làm mang danh yêu thương kia cũng chỉ cung cấp thêm phương tiện để bảo vệ cái tôi mà thôi. Tình yêu thật sự sẽ giải thoát ta khỏi lo lắng, sợ mất những gì làm nên bản ngã của ta. Hơn nữa, tình yêu bồi đắp phù sa để tôi tiếp nhận những mầm giống từ tha nhân cho tâm hồn tôi, nên tôi lúc nào cũng tươi mới, cũng tràn đầy nhựa sống. Phá bỏ những quyến luyến quen thuộc không phải bằng những quyến luyến khác mà bằng tình yêu. Ta có thể thoát khỏi quyến luyến này nhưng lại bám dính vào đối tượng khác, và như thế vẫn còn đó cái ngã. Trong khi đó, tình yêu sẽ giúp tôi nhận biết những quyến luyến ngăn tôi đến với tha nhân, cho tôi can đảm vượt khỏi tháp ngà cái tôi để mở lòng đón nhận tha nhân.

Tuy nhiên, tình yêu ấy có thể bắt nguồn từ những tư tưởng văn hóa, tôn giáo của tôi, chứ không hoàn toàn khởi phát từ Thiên Chúa. Tôi có thể sẵn sàng quên mình phục vụ anh em nhưng điều đó vẫn chưa nói là tôi yêu anh em thật sự. Vì rất có thể hành động ấy do ‘chương trình đã cài đặt sẵn trong đầu ta’, nên khi đứng trước tình huống đòi hỏi sự hy sinh, tôi liền phản ứng ngay. Mức biểu lộ sự thắng vượt sợ hãi ở đây chính là do tâm lý nó được nhào nặn từ truyền thống, giáo dục đạo đức của gia đình, nhà trường, xã hội. Để kiểm chứng mình yêu thật sự tha nhân hay không ta có thể đặt mình vào trường hợp bất lực không thể giúp đỡ họ được. Khi ấy, trong ta sẽ xuất hiện hai thái độ tiêu cực: một là than thân trách phận (điều này ta cũng bị điều kiện hóa, rằng nếu ta không làm việc tốt thì ta là kẻ vô dụng…), hai là nổi loạn chống lại thực tế phũ phàng đã khiến người tôi yêu phải đau khổ (điều này do quá trình lịch sử tạo ra khi mà con người nhìn thấy sự ác tràn ngập nhưng lại được dạy cho toàn sự thiện hảo, nhất là về một Thiên Chúa quyền năng mà để cho sự dữ tung hoàn gây bao khổ đau cho nhân loại).

Tình yêu thật sự luôn hiện diện bên cạnh khổ đau mà không nảy sinh bất kỳ cảm xúc tiêu cực nào trong tâm trí ta. Tình yêu thật sự đem đến bình an trong từng phút giây sống với đau khổ. Đó không phải là ‘an bình yếm thế’, xa lánh khổ đau để vui hưởng hạnh phúc riêng mình. Đó cũng không phải là ‘an bình thuốc phiện’, tìm cách giải sầu bằng những trò đời. Nhưng đó là ‘an bình vĩnh hằng’ như hoa sen giữa bùn lầy, hiện diện tình yêu một cách mạnh mẽ oai hùng giữa lòng cuộc sống này.

Để cảm nghiệm sự ‘an bình vĩnh hằng’ ấy thì tình yêu tôi dành cho tha nhân không thể bắt nguồn từ cảm xúc hay tư tưởng, từ tình cảm hay lý trí, mà từ chính Thiên Chúa là nguồn Tình Yêu. Ngài sẽ tuôn đổ yêu thương xuống tâm trí ta nhưng không có nghĩa ta luôn sử dụng tâm và trí làm bệ phóng để ta yêu người yêu đời. Vì lẽ đơn giản là tâm trí ta giới hạn không thể nào mô tả cách trọn vẹn Tình Yêu được. Chỉ có quy hướng về Thiên Chúa với thái độ tin cậy mến, ta mới có thể yêu người mà không sợ hãi, không nổi loạn. Nhờ đó ta có bình an đích thực đến từ Thiên Chúa, Đấng hứa ban cho những ai biết luôn tìm kiếm Ngài.

Cảm nghiệm sự sợ hãi nó gây khổ đau trong ta sẽ giúp ta nhận biết mình đang dính bén với ‘nhiều thứ trên đời’, để rồi không phải vì yêu người mà mình can đảm vượt thắng sợ hãi nhưng vì tình yêu Chúa bao phủ tâm hồn mình khiến mình đến với tha nhân mà không có bất kỳ cảm xúc tiêu cực nào. Bởi lẽ, tôi yêu người thì tình yêu của tôi vẫn còn giới hạn nơi con người tôi; nhưng tôi yêu Chúa thì tình yêu của tôi hướng về vô biên vô tận, không sao diễn tả thành lời được.

Tình yêu Thiên Chúa một khi đã thấm nhiễm toàn bộ con người tôi thì nỗi sợ hãi không còn nữa. Ai cũng khao khát yêu thương nhưng lại sợ không dám yêu, giống kẻ biếng ăn dù rất muốn ăn nhưng không thích ăn vậy. Kết quả chỉ có thể là đau khổ mà thôi! Cũng vậy, nếu tôi khát khao yêu Chúa mà không dám yêu, vì cho đó là ảo tưởng thì tôi càng đau khổ biết dường nào. Bởi lẽ như thánh Augustin đã mô tả tình trạng khổ đau khi chưa được ‘an nghỉ trong Chúa’, tình trạng con người tôi sẽ thảm hại khi tôi không yêu Chúa trọn vẹn

 

Ngày… tháng… năm…

Nếu mình nới rộng ‘vành đai bản ngã’ của mình đến với tha nhân thì mình không còn sợ mình nữa, nên cũng chẳng sợ tha nhân luôn. Hẳn đây là điều nghịch lý, vì mình mà lại sợ mình ư? Thế nhưng thực tế cho thấy mình sợ mình lắm: sợ cô đơn, sợ buồn chán, sợ không đáp ứng những đòi hỏi của xã hội, gia đình… Do đó, mình tìm cách trốn mình bằng hành động, chạy theo những đam mê ‘trò đời’. Ngược lại, khi mình ý thức sự hiện diện của tha nhân qua những tư tưởng, cảm xúc, hình ảnh, thói quen… trong con người mình, mình sẽ thấy mình thật đáng yêu vì mình được tạo dựng nên không giống người khác. Thế nên, những cảm xúc sợ hãi bắt nguồn từ sự đồng hóa mình với người khác, để rồi khi thấy mình không giống họ thì mình sợ mình.

 

Ngày… tháng… năm…

Tâm lý học hiện đại đã có những khám phá về tình yêu như là phương thuốc chữa tâm bệnh. Tuy nhiên, tình yêu ấy cho dù mở rộng bản ngã đón nhận tha nhân thì cũng đồng thời làm phát triển bản ngã. Khi ấy, đòi hỏi phải có sự từ bỏ cái ngã mới phát sinh ấy để làm cho tâm trí ta lúc nào cũng sinh động, tươi mới. Phải xây dựng cho mình một bản ngã rồi mới có thể phá bỏ bản ngã ấy được (M.Scott Peck) Tình yêu con người vẫn còn hạn chế ở chỗ đó. Ta mở lòng đón nhận tha nhân nên tâm hồn mình tràn ngập những ý nghĩ, hình ảnh, lời nói, việc làm của họ chúng làm nên tính cách vay mượn nơi ta. Thế nên ta cần phải phá bỏ bản ngã do sự vay mượn ấy. Nhưng ta thường thiếu tỉnh thức khi nghĩ những sự vay mượn ấy là cái ngã của mình. Và ở đây rất cần đến Tình Yêu Thiên Chúa như là nguồn năng lượng giúp phá bỏ ảo tưởng về bản ngã ấy để làm cho cái ngã chân chính hiện lộ, đó là lúc tôi kết hợp nên một trong Đức Kitô, như chính Ngài đã nên một với Chúa Cha. Cái ngã chân chính ấy chỉ có thể xuất hiện nhờ Tình Yêu Thiên Chúa mà thôi!

 

Ngày… tháng… năm

Ta hay nghe nói yêu là quên mình vì người mình yêu. Nhưng cần hiểu sao về sự quên ấy? Làm sao tôi có thể quên những việc tôi làm cho tha nhân, bởi thế là tôi mất ký ức và không thể sống như người bình thường? Hoặc giả sử tôi không nghĩ tới những gì tôi làm mà người ta cho là tốt thì tôi cũng còn nhớ những động lực thúc đẩy tôi làm những việc đó trong hoàn cảnh của tôi lúc ấy? Trong lúc gặp hiểm nguy tôi có thể chẳng nghĩ đến bản thân, sẵn sàng xả thân cứu người, nhưng sau đó chắc chắn tôi phải nhớ đến việc làm nó tạo trong tôi cảm xúc buồn vui. Vậy quên khi hành động có phải là biểu hiện tình yêu không?

 

Ngày… tháng… năm…

Chúa Kitô đã yêu thương con người tội lỗi đến nỗi Ngài đã hy sinh chịu chết trên thập giá để cứu chuộc nhân loại, nhưng điều đó có nghĩa Ngài quên hết tội lỗi của ta chăng? Rõ ràng tôi không thể làm việc gì đó nếu tôi quên nó! Chúa Giêsu hẳn không thể cứu độ trần gian tội lỗi nếu Ngài quên tội lỗi trần gian. Ngài vẫn nhớ tội chúng ta nhưng hành động chuộc tội đầy tình yêu của Ngài vượt qua tội ta phạm để thiết lập mối tương quan mới với ta. Ngài đã chủ động làm việc đó trước. Vậy trong tình yêu quên và nhớ không làm ngăn trở mối tương quan giữa người yêu và đối tượng yêu. Tôi yêu người không phải vì tôi nhớ những tính tốt và quên những tính xấu của người. Vượt trên tất cả, tôi yêu người vì người có những tính tốt xấu, nên tính xấu của người không ngăn trở tôi đến với người, còn tính tốt của người không làm tôi bám dính vào người đến độ tôi mù quáng, ghen ghét, đố kỵ.

Thiên Chúa vẫn nhớ những gì Ngài đã hứa với con người, nhưng điều đó không có nghĩa tôi phải bắt Ngài nhớ thực hiện điều Ngài hứa theo ý tôi, trong hoàn cảnh tôi đang sống. Dường như ta có cảm tưởng Ngài quên điều Ngài hứa vì Ngài để bao sự dữ hoành hành khiến con người luôn khổ đau. Tình yêu đôi lúc buộc ta phải quên đối tượng ta yêu. Quên trong tình yêu không có nghĩa là không biết sự hiện diện của đối tượng yêu, là bỏ mặc đối tượng yêu, nhưng là biết người mình yêu hiện diện như chính họ là họ.

Ta hãy thử trắc nghiệm mình xem sau khi mình làm điều gì đó cho người khác, mình có muốn họ đáp lại tình cảm của mình không. Thật dễ nhận thấy những cảm xúc ghen tương, đố kỵ, so bì khi mình giúp ai đó nhưng lại không được họ nhớ tới mình. Mình nghĩ đến người không phải vì người nhưng là vì mình, mình muốn người cũng nghĩ đến mình. Rõ ràng ở đây, cái nhớ mang màu sắc vị kỷ, nên hành động của mình hoàn toàn vụ lợi. Trong khi đó, mình giúp đỡ ai một cách hết lòng, hết sức, không tính toán hơn thiệt, không quan tâm được mất, lúc ấy mình cảm thấy như ‘siêu thoát’, như ‘quên mình thật sự’, như thể những việc làm ấy thể hiện qua mình chứ mình không hề dính dáng gì đến chúng. Và ở điểm này cái quên mang sắc thái vị tha, nên hành động quên ấy cũng là hướng tha.

Tuy nhiên, vấn đề xung đột nội tâm phát sinh khi tôi nhớ lại việc tôi làm. Tôi nhớ đến những việc mình làm cho mình mà quên tha nhân, lúc ấy tôi tự trách mình hoặc xem như bình thường. Hay khi tôi nhớ đến việc tôi làm cho tha nhân đến nỗi quên mình, tôi dễ bị cuốn hút về tha nhân nhiều hơn nên cùng lúc đó xuất hiện sự phản hồi về tôi: tôi tốt bụng tôi, tôi làm việc thiện, tôi thích quan tâm giúp đỡ người khác… Và thế là tôi hình thành cái tôi bên ngoài tôi, để mỗi lần được người ta phản hồi tốt, tức cái tôi bên ngoài của tôi ấy làm tôi vui, còn khi nhận được phản hồi xấu như sự ghen ghét của người ta thì cái tôi ấy làm tôi khổ.

Đức Kitô đã chỉ cho chúng ta một phương pháp hành động có thể nói là nhớ mà quên, quên mà nhớ; đó là ‘khi tay phải làm việc lành thì đừng cho tay trái biết…’ Chúng ta hãy quên những lời khen chê của thế gian, nhưng hãy nhớ ‘Cha trên trời sẽ ban phần thưởng cho chúng ta’. Như vậy, ta cần học quên vinh quang của thế gian mà luôn nhớ đến Cha trên trời, Đấng luôn nhớ đến ta. Ta nhớ những việc làm đã được thực hiện qua ta chứ đừng nhớ đến những lời khen chê của người đời, để rồi dần dần ta quên luôn những việc làm ấy trước mặt Thiên Chúa.: ‘có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống đâu…” Lúc ấy, Chúa sẽ nhớ tới tấm lòng của ta: ‘những gì các ngươi đã làm cho những người hèn mọn là làm cho chính Ta…’ Tuy nhiên, thực hiện được điều này đòi ta phải luôn tỉnh thức nhìn nhận mọi việc xảy đến với ta nhằm tránh bám dính vào chúng. Cái nhìn tỉnh thức ấy là kết quả của tình yêu! Đúng là khi yêu ta không thể mù quáng được. Điều mà chúng ta gọi là tình yêu mù quáng không phải là tình yêu. Đó là sự bám dính vào đối tượng, là sự lệ thuộc vào tha thể, nhưng lại được khoác cho nhãn hiệu ‘tình yêu’ (Anthony de Mello).

 

Ngày… tháng… năm…

Mỗi khi ta nhớ đến những gì ta làm cho người thì đồng thời nảy sinh sự so sánh với những gì người làm cho ta. Thế là bắt đầu một chuỗi những phản ứng tiêu cực chúng dẫn đến khổ. Tâm trí ta xáo trộn vì luôn tìm cách bảo vệ lợi ích bản thân. Lợi ích này chỉ phát sinh khi ta thấy người khác thích dành lợi ích cho họ. Lúc này, nếu ta yêu người thật sự ta cần phải quan tâm hơn nữa lợi ích của họ, giúp họ phát triển bản thân hơn. Nhờ tình yêu mà tôi khám phá ra nơi tôi vẫn chưa yêu thật sự, tôi vẫn chưa có Tình Yêu Chúa trong tôi nên Tình Yêu của Ngài không thể qua tôi mà đến với người được. Bởi vậy, nếu tôi biết khai thông nghẽn mạch cái tôi thì Tình Yêu Chúa sẽ tuôn chảy trong tâm hồn tôi, vừa làm tươi mát trái tim tôi, vừa biến đổi con tim chai đá của người. Ai có thể giúp tôi khai thông nghẽn mạch cái tôi? Chỉ Đức Kitô mới giúp tôi thực hiện điều đó. Nhưng đây mới chỉ là ý nghĩ trừu tượng, chưa thấm nhiễm toàn bộ con người tôi, nên có thể những tư tưởng này lại trở thành rào cản để Đức Kitô đến với tôi. Vì thế tôi cũng cần quên luôn chính tư tưởng của tôi để Đức Kitô tự do hoạt động nơi tôi, có như vậy Ngài mới giúp tôi mở lòng đón nhận Thiên Chúa Tình Yêu, có như vậy tôi mới luôn tự do sống theo Ngài chứ không còn sống cho riêng tôi nữa, như Đức tông đồ Phaolô đã cảm nghiệm điều đó.

 

Ngày… tháng… năm…

Tình Yêu Thiên Chúa như một tụ điểm thu hút con người để những ai tin yêu Ngài đều bị Ngài hấp dẫn và trở nên chứng nhân tình yêu của Ngài. Công trình cứu độ của Chúa vẫn đang trong giai đoạn ‘xây dựng’, vẫn chưa hoàn thành. Nhưng không vì thế mà công trình ấy sẽ không bao giờ thành hiện thực. Con người đang ra sức góp phần xây dựng cũng như phá hoại công trình ấy. Hoàn thành công trình cứu độ nhân loại, Thiên Chúa có thể dùng quyền năng của Ngài, nhưng đó không phải là ý tưởng của Tình Yêu. Đó là ý chí của quyền lực! Ý chí dễ trở nên cứng nhắc trong hành động và như thế dễ tước mất tự do của đối tượng. Còn ý tưởng thì mềm dẻo, linh hoạt nên có nhiều sáng tạo trong hành động và vì vậy tôn trọng tự do của đối tượng. Chẳng hạn, tôi có ý tưởng xây nhà, nhưng không vì thế mà tôi dùng ý chí cá nhân bắt buộc công nhân xây ngay căn nhà ấy cho tôi. Trái lại, tôi phải tính toán, trình bày ý tưởng ấy cho kiến trúc sư, rồi trong khi xây dựng tôi thấy nhiều vấn đề phát sinh cần giải quyết…. Dĩ nhiên, đối với Tình Yêu Thiên Chúa thì ta không thể dùng những ý tưởng về sự vật để diễn đạt. Nhưng qua trường hợp trên ta có thể hình dung Tình Yêu Thiên Chúa như Ý Tưởng Toàn Vẹn hấp dẫn con người, để nhờ đó con người có thể được cứu độ qua sự công tác vào việc hiện thực Ý Tưởng ấy thành Nước Trời.

Tuy nhiên, đối với con người, ý tưởng thường rất mông lung, không rõ ràng nên dễ rơi vào quên lãng. Chúng ta ít khi thực hiện ý tưởng đến cùng. Ngược lại, với Thiên Chúa, ý tưởng cứu độ đã thành hiện thực nơi Đức Kitô dù rằng ta thấy hình như Ngài đã thất bại. Chính vì đích nhắm của Ngài là Tình Yêu có sức thu hút con người nên công trình cứu độ nhân loại qua Đức Giêsu cũng phải hướng về Tình Yêu. Nhờ vậy, con người có hướng đi là Đức Kitô, vì Ngài là đường, có đích nhắm là Thiên Chúa Tình Yêu. Chúng ta đi trên con đường Giêsu thì chắc sẽ đến đích là Thiên Chúa nên con đường Giêsu cũng là con đường tình yêu luôn. Bởi thế, chúng ta tin ơn cứu độ của Thiên Chúa đến với chúng ta qua con đường Giêsu tình yêu (trở thành hiện thực), nhưng chưa đạt đến viên mãn (là gặp Thiên Chúa Tình Yêu), nên trên con đường ấy ta sẽ còn gặp nhiều khó khăn gian khổ chúng đồng hành với ta.

 

Ngày… tháng… năm…

Hai người yêu nhau thật sự sẽ không cảm thấy mệt mỏi hay chán nản khi ở bên nhau, trái lại, họ tìm được niềm vui, sự nâng đỡ, động viên nhau. Tuy nhiên, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta nhận ra rằng mình cảm thấy mệt mỏi, chán chường, mất tinh thần… khi tiếp xúc, khi sống chung với nhau. Trong cơ quan, xí nghiệp, người ta làm việc với nhau, xem nhau như đồng nghiệp, nhưng lại luôn cảm thấy mình mệt mỏi do các mối quan hệ ấy gây ra. Trong gia đình, vợ chông sống chung với nhau quen rồi, hiểu nhau quá rồi, nên rất dễ rơi vào tâm trạng chán chường. Bởi vậy, gia đình không còn là nơi nương tựa của con cái, vợ chồng, cha mẹ nữa, mà như cái ách phải mang. Trong cộng đoàn tu trì, người ta sống với nhau như huynh đệ nhưng vẫn chưa thể san sẻ niềm vui nỗi buồn của nhau, vì có sự khác biệt giữa các thành viên. Trong môi trường tôn giáo, nhiều lễ nghi hình thức lặp đi lặp lại dễ gây tâm lý nhàm chán, nhất là đối với người trẻ. Họ không còn yêu mến thánh lễ, vì họ cảm thấy chán khi tiếp xúc với những thói quen công thức ấy!

Tâm lý ấy có nguy cơ đi vào tương quan với Thiên Chúa khi mà người ta không còn thích nghe nói về Chúa, như muốn gạt Chúa ra khỏi cuộc sống hằng ngày của họ. Họ không yêu Chúa nữa! Nhưng điều đó nào lợi hại chi cho Chúa! Chỉ thiệt cho bản thân ta mà thôi. Thật sự, yêu Chúa không hề chán, vì Ngài là Đấng Hằng Sống. Sự sống ta kín múc từ tình yêu của Ngài không làm vơi đi chính sự sống của Ngài. Vậy nên, ta không thể lấy tâm lý thường ngày của ta để giao tiếp với Thiên Chúa. Ta chán gặp người này kẻ nọ vì ta không còn yêu thích họ, nhưng ta không thể đem tâm lý áp dụng đối với Chúa. Làm như thế là ta chỉ tự hại mình mà thôi!

 

Ngày… tháng… năm…

Tình yêu không thể giam hãm đối tượng yêu trong cái tôi của tôi. Khi tôi yêu ai mà tôi chỉ muốn họ ở mãi bên tôi thì tôi không thể gọi là yêu họ. Bởi lẽ, đối tượng yêu sẽ mất tự do và họ sẽ nổi loạn chống lại tôi, gây đau khổ cho tôi.

Thiên Chúa yêu tôi hẳn nhiên Ngài không để tôi trong căn phòng êm ấm của Ngài để hằng ngày chăm sóc tôi. Vì làm thế Ngài đã lấy mất tự do của tôi, điều đó không phù hợp với bản tính tự do của Ngài. Ngài yêu tôi nhưng để tôi tự do chạy nhảy trong khu rừng cuộc sống! Ngài không ‘bắt’ tôi về với Ngài. Nhưng Ngài luôn theo dõi tôi, nhìn thấy nhu cầu cần thiết của tôi, và ban cho tôi những điều Ngài muốn, để tôi nhận ra Ngài mà chạy đến nương tựa vào Ngài.

Bởi thế, trong tương quan yêu thương với tha nhân, tôi cần có thái độ siêu thoát, tự do như chính Chúa đã yêu tôi mà không lấy tự do của tôi. Điều này quả là khó vì trong tôi luôn có khuynh hướng chiếm hữu đối tượng yêu như một sự bảo đảm an toàn cho tôi. Thế nên, khi đối tượng yêu khước từ tình yêu của tôi, tôi cảm thấy như bị xúc phạm, tâm trí tôi dằn vặt xung đột khi thấy người tôi yêu bỏ tôi đi… Những lúc ấy, tôi yêu cái tôi của tôi hơn là yêu người ấy! Nếu tôi yêu họ thật sự tôi sẽ không để bị dính bén vào đối tượng mà đánh mất tự do của tôi. Tôi yêu người một cách tự do, chứ không vì mong người đáp lại tình yêu của tôi.

Trong tương quan yêu Chúa, tôi hãy nhìn lại những lúc tôi cầu nguyện xin ơn mà không được Chúa nhậm lời, để biết xem tôi yêu Chúa thật hay không. Những lúc ấy, tôi thường có thái độ mất tin tưởng vào Ngài, và có thể chối Ngài, phản Ngài… Nhưng nhìn lại bản thân, tôi xin ơn cho tôi, hay cho những người nhờ tôi cầu xin là để thỏa mãn cái tôi của tôi, chứ tôi nào yêu Chúa đâu. Nếu yêu Chúa tôi phải nghĩ đến điều Chúa muốn nơi tôi chứ không phải điều tôi muốn nơi Chúa. Bởi vậy, tôi yêu Chúa thật sự thì tình yêu của tôi phải dựa trên thái độ tin tưởng tuyệt đối vào Ngài, nếu không thì tình yêu ấy quay ngược về tôi.

Cũng vậy trong tương quan yêu người, tôi không thể quảng đại, tốt lành, phục vụ giúp đỡ người khác để làm đẹp hình ảnh cái tôi của tôi, mà phải biết nhìn nhận họ như những chủ thể đặc biệt không dính bén gì tới tôi, nghĩa là không làm cho tôi trở nên quan trọng trong tương quan với họ, tôi không lệ thuộc vào tình cảm của họ, tôi không tìm cách kiểm soát họ.

Tuy nhiên, nếu không có sự quyến luyến, không có đau khổ do lệ thuộc vào đối tượng bên ngoài tôi thì tôi không thể học cách từ bỏ chính mình, lột bỏ cái tôi của mình, và như thế tôi cũng không thể trưởng thành mạnh mẽ chiến đấu vượt qua cửa hẹp được. Tôi phải ý thức tôi đang đau khổ do các mối quan hệ dính bén của tôi với đối tượng bên ngoài thì tôi mới nhận hiểu chính tôi hơn và do biết thao gỡ các mối liên hệ quyến luyến ấy, tôi mới từ bỏ cái tôi cách dễ dàng. Chính Tình yêu đã giúp tôi lột xác.

 

Ngày… tháng… năm…

Sự hiểu biết bằng tình thương sẽ giúp ta sống hòa hợp với tha nhân và môi trường sống xung quanh. Cũng cần phân biệt với sự hiểu biết bằng lý trí nó giúp ta nắm bắt được quy luật tự nhiên và xã hội, tìm ra nguyên nhân hành động của người khác, nhưng không có tình yêu thì sự hiểu biết ấy dễ đến ý nghĩ chinh phục, nổi loạn chống lại thực tại, không chấp nhận tha nhân như chính họ là họ. Sự hiểu biết bằng tình yêu cũng chính là sự thức tỉnh thường xuyên để luôn nhận diện sự vật sự việc xảy đến với mình qua môi trường tự nhiên, môi trường xã hội. Sự hiểu biết ấy không chỉ giúp ta tồn tại được trong hoàn cảnh xã hội hiện nay vốn đề cao chủ nghĩa cá nhân tự do, hướng đến một trật tự theo ý chí cá nhân và loại bỏ dần Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống, mà còn đưa ta kết hiệp mật thiết với Chúa nữa. Việc kết hiệp với Chúa sẽ củng cố đức tin của ta, thúc đẩy ta hăng hái nhiệt thành loan báo Tin Mừng cứu độ của Ngài, làm lan truyền Tình Yêu Thiên Chúa khắp thế giới để góp phần cải biến vũ trụ này nên giống thánh ý Chúa hơn. Dĩ nhiên ở khía cạnh bản thân, sự hiểu biết bằng tình yêu của ta vẫn còn giới hạn, vẫn không thể lột tả hết dung nhan Chúa, vẫn không thể làm rõ ý Ngài cho người khác nhận biết. Bởi thế tôi chỉ có thể trở thành khí cụ bình an của Chúa nhờ sự hiểu biết bằng tình yêu mà Chúa đã ban cho tôi. Bản thân tôi không thể tự mình hiểu và yêu như Chúa nếu không được Chúa hiểu và yêu. Tôi chỉ biết dùng sự hiểu biết yêu thương ấy để chu toàn trách nhiệm làm người, để hoàn thành sứ mạng làm chứng nhân cho Tình Yêu Thiên Chúa mà thôi.

Tuy nhiên, sự hiểu biết bằng lý trí không thể loại bỏ được, vì nhờ đó ta có thể phân biệt sự vật sự việc rõ hơn. Có điều ta không thể dùng để phân biệt con người được. Tôi vẫn là người như bao người khác, nên việc dùng lý trí để phân biệt người này người nọ chính là tôi đã ‘tự nâng mình lên và hạ người khác xuống’ vậy. Bởi vậy, trong tương quan với người khác, tôi chỉ hiểu họ bằng yêu thương mà thôi. Bằng không, tương quan ấy sẽ ở thế giằng co nghiêng ngả vì ai cũng cố ra sức sử dụng tài trí và khả năng của mình để chinh phục kẻ khác, chứ không còn là tương quan hòa hợp hướng đến sự hiệp nhất nên một như các chi thể trong một thân thể mà Đức tông đồ Phaolô đã nói. Sự hiệp nhất ấy chỉ thành hiện thực khi tôi và người cùng liên kết mật thiết với Đức Kitô- Đấng hiểu biết và yêu thương chúng tôi, Đấng đã cứu chuộc chúng tôi khỏi sự dữ do ‘vô minh’ của chúng tôi tạo ra, Đấng đã chủ động hợp nhất chúng tôi nên một để chúng tôi không còn sống giành giật nhau nữa mà là chia sẻ và trao ban cho nhau chính cuộc sống của mình.

 

Ngày… tháng… năm…

Thiên Chúa đã yêu tôi vì Ngài muốn cứu tôi khỏi tội. Nhưng Ngài không thể bắt tôi phải theo chương trình cứu độ mà Ngài đã khởi công thực hiện trong suốt chiều dài lịch sử, nên như thánh Augustin đã nói ‘Thiên Chúa muốn cứu độ tôi thì Ngài cần tôi cộng tác”. Đơn giản vì Ngài là Đấng tự do nên Ngài tôn trọng tự do của con người tham gia hay từ chối cộng tác với Ngài thực hiện chương trình cứu độ ấy. Thế nên, chỉ bằng tình yêu Ngài mới thu hút ta về với Ngài để ta nhận ra kế hoạch cứu độ của Ngài không chỉ ích lợi cho bản thân ta mà còn cho cả vũ trụ Ngài tạo dựng nữa. Nhờ vậy, khi ta thực hiện việc hoán cải bản thân để trở nên giống Chúa thì đó là lúc ta đang góp phần thực hiện chương trình cứu độ của Chúa. Có điều ta cần phải ý thức rằng nỗ lực riêng của ta cũng không thể….cứu ta thoát khỏi tội lỗi. Hẳn là mâu thuẫn khi vừa khẳng định vai trò cá nhân trong công trình cứu chuộc của Chúa nhưng cũng lại phủ định nỗ lực cá nhân luôn. Tuy nhiên, mâu thuẫn này sẽ được giải quyết bằng mâu thuẫn lớn hơn, đó là Tình Yêu Thiên Chúa. Ngài yêu ta ngay cả khi ta không yêu Ngài, như mưa tuôn xuống cả người công chính lẫn người tội lỗi vậy. Nhưng khi ta nhận ra Tình Yêu của Ngài, ta muốn trở nên giống Ngài là Tình yêu, ta muốn yêu như Chúa yêu, ta muốn thực hiện các việc lớn lao lạ lung như Chúa đã làm, ta hăng say nhiệt tâm thi hành Lời Chúa, ta dốc lòng hoán cải tâm hồn để khỏi mất lòng Chúa, và sau đó, ta nhận ra mình không thể sánh bằng Thiên Chúa! Mình không thể yêu như Chúa, mình không thể làm được việc gì lớn lao như Chúa, mình không thể luôn hăng say mãi như Chúa, mình cũng chẳng thể bỏ hết tội lỗi mình nữa. Dường như mình đang đuổi bắt bóng mình vậy! Mình càng yêu Chúa qua các việc của Chúa thì Chúa càng vượt xa mình. Vậy là mình bất lực. Những nỗ lực của mình nhằm thực hiện cứu độ mình theo chương trình cứu độ của Chúa đã trở nên mây khói, không sinh được kết quả gì hết. Mình vẫn chưa trở nên giống Chúa! Và kỳ lạ làm sao, khi nỗ lực cá nhân không còn nữa thì cũng là lúc mình cảm nghiệm Chúa yêu mình hơn. Đó là khi mình dừng lại, không còn đuổi bắt bóng mình nữa, vì bóng mình đang ở cạnh mình đây. Có lẽ Chúa yêu tôi để hấp dẫn tôi về phía Ngài, để tôi không chạy theo phía sự dữ của tội, nên khi tôi cố sức theo tiếng gọi yêu thương của Chúa để cảm nghiệm Tình Yêu Ngài sâu hơn thì chính sự nỗ lực đó đưa tôi đi về phía khác với hướng của tội. Nhờ vậy, tôi đã tránh các dịp làm nên tội, nhưng vẫn chưa gặp Chúa. Và điều này tạo nên cảm giác bất lực trong tôi.

Tóm lại, Chúa cứu độ tôi thì cần tôi cộng tác, nhưng không có nghĩa sự nỗ lực cộng tác của tôi làm cho tôi được cứu độ. Chúa gọi tôi mà tôi không chịu lên đường thì làm sao tôi gặp Chúa! Nhưng không vì tôi đi theo tiếng Chúa gọi là tôi gặp Chúa! Tất cả đều do Chúa. Mọi nỗ lực của tôi chỉ có giá trị trên con đường theo Chúa, còn việc gặp Chúa thì không phải do nỗ lực tạo ra mà do chính Chúa!

 

Ngày… tháng… năm

Không lời nào có sức sống phổ quát làm triển nở sự sống nơi muôn thế hệ. Có chăng đó chỉ là những lý thuyết được bảo tồn trong các hàn lâm viện. Ta học các lý thuyết từ cổ chí kim là nhằm bôi trơn cỗ máy tư duy của ta, chứ không thể làm cho chúng thấm nhiễm vào con tim, máu thịt ta, tức cho ta sự sống.

Không một ai có thể thể hiện sự sống một cách dồi dào vượt mọi thời gian. Có chăng đó là những danh nhân, vĩ nhân, hay thánh nhân, họ đã thổi luồng sinh khí mới cho thời đại họ và được người ta tôn kính như mẫu gương sống. Ta học nơi họ tính cách này nọ để kích thích tâm hồn ta ước muốn nên giống họ hầu đem lại cho cuộc sống mình ý nghĩa nào đó, chứ họ không hề ở với ta luôn mãi trong mọi hoàn cảnh cuộc đời ta.

Chỉ có Lời Thiên Chúa mới chứa đựng sự sống phổ quát làm cho muôn người tràn đầy niềm tin yêu vào cuộc sống, biến đổi mọi người trở nên những chứng nhân loan báo Tin Mừng của Chúa, hoàn thiện thế giới vũ trụ này thành Nước Trời. Ta không thể học Lời Chúa như một lý thuyết của ai đó sáng lập. Ta cũng không thể đem Lời Chúa ra phân tích đúng sai hay so sánh với các lý thuyết do con người viết ra. Lời Chúa chính là sự sống. Ngài sáng tạo vũ trụ bằng Lời của Ngài và qua đó mà sự sống trồi sinh nảy nở phát triển. Ta học Lời Chúa trước hết là học sống. Sống đúng Lời Ngài trước hết phải để Lời ‘nhập thể’ trong thân tâm ta, biến đổi ta trở thành người mang sự sống chứ không phải người sở đắc lý thuyết về sự sống! Ta phải sống Lời Chúa. Ta không thể đưa quan điểm mình để khẳng định hay phủ định Lời Sự Sống. Bằng không, ta chỉ có thể đặt Lời Chúa bên cạnh cuộc đời ta, được ta xem như ‘sách tham khảo’, hay ‘bảng chỉ dẫn’ mà thôi.

Lời của ta thường tách khỏi cuộc sống của ta, nghĩa là ta thường nói mà không sống điều mình nói. Trái lại, Đức Giêsu đã sống và rao giảng Lời sự sống, hoàn toàn không có sự khác biệt giữa Lời Ngài và cuộc đời Ngài. Có thể nói Lời Hằng Sống của Chúa diễn tả Sự Sống Ngài, không giống như lời con người dùng để diễn tả đối tượng bên ngoài, hay các ý tưởng. Chính Đức Kitô đã khẳng định Ngài ‘là đường, là sự thật và là sự sống’. Và Lời đó hẳn nhiên cũng là ‘đường, sự thật, sự sống’ luôn. Bởi thế, ngày hôm nay ta nghe Lời Chúa không phải như nghe những thông tin về Chúa, những kiến thức diễn đạt tư tưởng của Chúa, những việc phi thường Chúa đã làm… mà là nghe chính sự thật của Chúa, là tiếp xúc chính sự sống của Chúa, là đi trên con đường của Chúa. Ngài đang nói với ta mỗi ngày, và qua đó ta theo hay từ chối Ngài, chứ không thể làm lơ sự hiện diện của Ngài trong cuộc đời ta. Nếu ta nghe và sống Lời Ngài, chứ không phải suy tư, tranh luận hay phân tích về sự sống của Ngài, thì ta sẽ cảm nếm sự sống tuôn chảy trong ta. Ở điểm này, Đức Kitô đã sống vượt thời gian để đem sự sống của Ngài đến với mọi loài thụ tạo khắp nơi qua Lời Hằng Sống. Thiên Chúa sẽ không để Lời Ngài bị mất hút trong vũ trụ hay bị con người làm cho sa đọa thành những câu chữ vô hồn kết dính trong những cuốn sách bọc thép để ở các thư viện cổ kính cho người ta nhìn ngắm.

Vậy điều gì làm cho Đức Kitô và Lời Ngài có sức sống vĩnh cửu? Thưa đó là Tình Yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương nhân loại nên Ngài muốn thiết lập mối liên hệ yêu thương ấy qua Lời: ‘anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em’. Nhờ Lời Yêu Thương Cứu Độ của Thiên Chúa mà nhân loại thấm nhiễm dần sự sống từ trời cao để ‘sống và sống dồi dào’.

 

Tác giả: Nguyễn Trí Dũng
   dunglac@gmail.com