Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Bùi Nghiệp
Bài Viết Của
Bùi Nghiệp
Xuân Phong
Tử Đạo Việt Nam
Tù Nhân Ba-By-Lon
MẸ QUÊ

Thôi là hết,

Mẹ đã chết.

Hiu hắt dòng sông,

Tan tác cánh đồng.

Trăm năm phù thế, thương thương thân cò lận đận.

Một cõi trần ai, héo uá xác vạc long đong.

 

Khi xưa:

Chào nhân loại, trang nữ nhi nước Việt,

Nhập giống nòi, dòng lịch sử Lạc Hồng.

Câu huấn tử chi sơ, thấm nhuần từ thai dưỡng!

Chữ giáo nhi trứng nước, nhân thức tại cung lòng.

Bà rủ rỉ, cũng nằm lòng câu tứ đức,

Ông ngâm nga, nên răm rắp chữ tam tòng.

Không chữ nghĩa mà thông ca vè kim cổ,

Chẳng lớp trường lại thạo kinh hạt ngoài trong.

Thập phân lẩm nhẩm: đo- đong- cân- lạng.

Bấm đốt ngón tay: xu- cắc- hào- đồng.

Chẳng gấm- vóc- nhiễu- điều tô dáng vẻ,

Chỉ vôi- trầu- cau- vỏ thắm khuôn dung.

 

Mười sáu tuổi, xuất giá vu quy về tổ nội.

Đẫy một năm, tòng phu thai nghén trẻ đầu lòng.

Ru ru – rín rín!

Bế bế - bồng bồng!

Tay đưa võng, à ơi bống ngủ!

Chân đạp xa, quay nhịp đánh vòng.

Đồng sâu đồng cạn, mạ gánh lon ton, đầu khăn mỏ qụa,

Chái bếp hiên nhà, ù  ì  xay thóc, cánh áo nâu sồng.

Sáng bèo trưa cám, rổ sảo khoai, quần xăn móng lợn!

Tối giã trưa xay, nia mẹt gạo, đáy thắt lưng ong.

Thúng mủng chợ phiên, đồng quà tấm bánh.

Kẽo cà quang gánh, be rượu chiều chồng.

Nhịn miếng giữa làng, tiếc chi tiệc tùng đình xã,

Cam sàng xó bếp, chiu chắt miếng ngọt tộc dòng.

Lăn lội quản chi mưa nắng.

Tảo tần nào ngại gió đông,

 

Sinh con:

Cưu mang chín tháng, kiêng khem kham khổ.

Bú mớm ba năm, mạch sữa cạn dòng

Nào những lúc: trái gió trở trời, cơn đau cơn ốm.

Nọ những khi: thay mưa đổi nắng, trúng nước trúng phong.

Ôm con đỏ, lòng đau xát muối.

Ẳm trẻ thơ, dạ rối bòng bong.

Trán hấp nóng, hào bạc trứng gà đánh cảm.

Lưng sẩy rôm, hương nhu bồ kết lau cùng.

Ngăn lỉnh kỉnh: Áo bạc- thần sa- linh đan- chánh khí,

Chái um tùm: Mền trầu- rau má- kinh giới- xương xông.

Tiệm thuốc bắc, thang đồng ấu: sinh - cam -thục – táo.

Hiệu lang tàu, chứng tiểu nhi: hoàn - tán - cao – đơn.

Ngày tất tả, dầm mưa giãi nắng.

Đêm mắt chong, ấp lạnh quạt nồng.

 

Ngờ đâu:

Cơ trời vận nước.

Lửa dậy gió bùng.

Ai khơi chinh chiến, chia hai miền Nam Bắc?

Ai mở phân tranh, cắt nửa ngã non sông?

Thương thay con đỏ, lìa xa quê cha đất tổ.

Thảm thiết dân đen, bái biệt  mồ mả tộc dòng.

Hai bàn tay trắng.

Một cuộc cờ không.

Vai quang gánh, cha dắt anh ly hương  ly tán.

Nách xách mang, mẹ dìu chị bỏ xứ bỏ đồng.

Cơn bĩ cực, đong đầy cam khổ.

Hồi thái lai, vơi bớt nguồn cơn.

Lại lập nghiệp, phát hoang- đào ao- đắp thổ.

Lại khởi công, cha cày- mẹ cấy- vun trồng.

Vách đất mỏng, đã ngăn ngừa khi chướng khí.

Mái rạ thưa, cũng che chở lúc oi nồng.

 

Đến ngày:

Con khôn lớn, thân phổng phao chân nhảy.

Mẹ già nua, mắt mờ đục lưng cong

Ghi giỗ chạp, giấy rách giữ lề, mâm cơm thịnh soạn,

Nhớ tết tư, đất lề quê thói, thịt lợn bánh chưng.

Con nhảy múa tung tăng cùng xóm ngõ.

Mẹ nhìn vui khấp khởi với làng thôn.

Con đi học, nhập trường chân khép nép.

Mẹ nhìn qua, khe vách dạ phập phồng.

Từng câu chữ ê a,  khai tâm hồn con trẻ,

Mỗi văn bài ra rả,  mở trí tuệ nhi đồng…

 

Ngày qua  - tháng lại!

Xuân – hạ - thu – đông.

 Chuyến tàu máy đưa con lên tỉnh học,

Ngọn đèn chai  tay mẹ tiễn run run.

Giọt nước mắt cố cầm nơi ngấn mẹ.

Quẩy hành trang phơi phới tự lòng con.

Tình mẫu tử chất đầy trong rương gỗ,

Sao lòng con , nhẹ tếch bước thong dong.

Thế giới mẹ, chính vườn rau- liếp cà tấm mẳn.

Bầu trời con, là núi biếc- sông rộng mênh mông.

Mẹ vò võ, tảo tần thắt lưng buộc bụng.

Con thênh thang, bay nhảy thỏa chí vừa lòng.

Cầu ao soi bóng, xác già nua héo hắt.

Bóng vách đèn khêu, hình bà lão lom khom.

 

Hỡi ôi:

Nào những tưởng, yên hàn êm ấm,

Có ngờ đậu, tai ách thê lương.

Súng lại nổ, quê chìm loang khói lửa.

Đạn lại rơi, đất  lở loét lằn  bom.

Ụ lô cốt  hố hầm ngăn pháo kích.

Rào kẽm gai, bao cát tránh ca nông…

Sông ngầu đục, bo bo - ca nô - tàu thủy.

Đất lở loang, tàu bò -xe pháo - cam nhông.

Đường cùng sinh tử.

Lối cuối tồn vong.

Bao trai tráng xếp bút nghiên, thì thôi ba liều bảy lĩnh!

Bao cha anh  rời cày cuốc, đành nhẽ một mất một còn.

Mẹ lặn lội, theo hành quân tìm con trẻ.

Mẹ lần mò, dõi lính tráng đến thăm con.

Đường xa dịu vợi,

Cách trở quan sơn.

Trường cải tạo ngục tù lao lý.

Chốn lao công cá chậu chim lồng.

Ngôi nhà vắng đìu hiu thân cô quạnh

Lối ngõ buồn héo hắt bước chân đơn.

Ngày ngóng đợi, lâm râm lần chuỗi hạt.

Đêm trông chờ, van vái đấng chí tôn….

Rồi cũng lúc đoàn viên hội ngộ.

Phải đến kỳ gạn đục khơi trong. 

…………………………………………….

Thương thay:

Chiều hôm nắng quái.

Bóng ngả ngô đồng.

Chẳng báo đáp, công ơn cù lao chín chữ,

Chưa đền bù,  ân nghĩa cúc dục nghìn trùng.

Lá về cội, một đêm sương nhẹ hẫng.

Nước xuôi nguồn, một khắc gió thu không.

Một mẹ dốt, nuôi mười con vuông vắn.

Mười con khôn, dưỡng một mẹ đâu tròn.

Đàn cháu dại, nhớ bà đai vành khăn trắng.

Lũ con thơ, thương mẹ ứa lệ đôi dòng.

Trăm năm phù thế hề viên mãn!

Một cội huyên già về tổ tông!

Lòng đau ruột thắt,

Nhớ mẹ khôn cùng…

Tác giả: Bùi Nghiệp
   dunglac@gmail.com