Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Văn Trung
asas@yahoo.com
Bài Viết Của
Nguyễn Văn Trung
Chung quanh chuyện dịch thuật: Thần, Thần Khí, Thánh Thần
Nhìn lại những chặng đường đã qua: Nhìn lại tư trào hiện sinh tại Miền Nam
III. Nhìn nhận lại diện mạo một nền văn học
II. Những lựa chọn căn bản
Truyền thông dịch thuật liên bản
Ðưa tư tưởng văn học Việt Nam vào diễn đàn thế giới
Phương tiện truyền thông đại chúng, ngôn ngữ nói và viết
PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG, NGÔN NGỮ NÓI VÀ VIẾT

Sau 30 tháng 4 năm 1975, tôi ở lại Việt Nam không lên tiếng công khai về thời cuộc cho đến ngày nay nhưng lại được yêu cầu phát biểu làm những phân tích có tính cách nội bộ về các đường lối chính sách, thậm chí về Đảng và tôn giáo, đặc biệt Công giáo và Phật giáo. Chị T. là một người trong số nhiều người đưa ra những đề nghị tôi phát biểu biên soạn, chị T. là người còn sống đã về hưu, còn các vị khác đã qua đời. Chị biên thư cho tôi:

“Kính gửi thầy

Qua thời gian học ở Văn khoa, được tiếp xúc với thầy và trong quá trình trao đổi nghiên cứu về những vấn đề lý luận sau 30 tháng 4 năm 1975, em rất muốn viết về cuộc đời nghiên cứu của thầy mong lưu lại cho đàn em sau này những tấm gương đáng quý của những người làm khoa học nghiêm túc...”

Tôi nghĩ thiết thực và hữu ích hơn cả nhất là trong lúc này đang có những thảo luận của các cấp Đảng chuẩn bị đại hội vào cuối năm, chị có thể dùng những phát biểu phân tích của tôi về những vấn đề thật căn bản có tính chất triết học và tôn giáo và nói rõ đây là những phát biểu do được yêu cầu chứ không phải tự ý gửi đi, và yêu cầu người nghe chỉ lưu tâm đến những gì tôi đã viết trên văn bản mà không cần nói đến tác giả vì hễ liên hệ tác phẩm với tác giả không thể tránh được những ý kiến khác nhau về tác giả và điều đó có thể ảnh hưởng đến bài viết. Do đó tôi cũng tạm thời không cung cấp những gì chị yêu cầu về cuộc đời của tôi. Tuy nhiên nếu chị muốn làm một biên khảo công khai không phải về tôi mà về một vấn đề có tính cách khách quan dựa vào tài liệu và có lẽ cũng rất bổ ích. Đó là đề tài về phương tiện truyền thông đại chúng Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết mà chắc chị có nhiều kinh nghiệm do công tác chị đảm nhận trước khi về hưu.

Regis Debray lúc còn trẻ ông theo macxit ham hành động nên sang Cuba tham gia vào sự nghiệp thực hiện xã hội chủ nghĩa mà ông tin tưởng. Sau một thời gian chán nản, ông trở về Pháp suy tư các vấn đề triết học và tôn giáo. Vào những năm 1988-1989 ông được Collège international de philosophie mời tổ chức những khóa hội thảo về truyền thông học và cuốn “lớp giảng về truyền thông học tổng quát” được xuất bản năm 1991. Vấn đề ưu tiên đặt ra: truyền thông học là một khoa học hay chỉ là một phương pháp? Những phát biểu của ông đều bằng miệng, ông nói vấn đề này như một nhà diễn thuyết không phải như một giáo sư, tuy nhiên những bài nói chuyện đó sau cùng cũng được ghi lại và in thành sách. Đọc sách ông viết điều hiển nhiên nổi bật hơn cả là những tác động lẫn nhau giữa kỹ thuật và văn hóa. Theo ông tư tưởng không thể tách được khỏi những xã hội nâng đỡ và chuyên chở chúng. Do đó ông chú trọng những cái trung gian, những phương tiện kỹ thuật và những thể chế làm cho những ý tưởng trở thành những lực lượng vật chất. Tìm hiểu một cách cụ thể, ông chú trọng đến hai sự kiện: phổ biến đạo Chúa và chủ nghĩa xã hội. Ông không xét nội dung rao giảng của Kitô giáo hayttruyền bá của chủ nghĩa xã hội mà chỉ tìm hiểu xem Kitô giáo và chủ nghĩa xã hội đã được phổ biến cách nào.

Về Kitô giáo – ông tự hỏi một lời nói đơn giản gồm những truyện kể và những dụ ngôn của đức Kitô làm sao đã có thể được truyền bá rộng rãi lâu đời như vậy mà kết quả là đạo đã dựng lên một thể chế bền vững như thể muôn đời là giáo hội Roma? Ông cho rằng đây “là một thắng thế của tình cảm trên lý trí “ suốt thời Trung cổ kèm theo một thắng thế của ngôn ngữ nói so với ngôn ngữ viết.

Về chủ nghĩa xã hội ông cho thấy một diễn tiến trái ngược ở Âu Châu vì sự xuất hiện và phổ biến chủ nghĩa xã hội gắn bó mật thiết với ấn loát và nhà in... Do đó có thể nói chủ nghĩa xã hội “là một thắng lợi cuối cùng của cuốn sách” tác giả cho biết người tạo ra từ ngữ kể trên là một người xếp chữ Pierre Leroux Như vậy khoa học về phương tiện truyền thông đại chúng không nhằm mục đích tìm hiểu các tôn giáo hay ý thức hệ mà chỉ tìm hiểu những phương tiện nào đã làm cho những tôn giáo hay ý thức hệ có thể thực hiện được. Lối nhìn phân biệt hai cách truyền đạt tôn giáo và ý thức hệ dựa vào ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là một gợi ý thú vị có thể đưa vào những công trình tìm hiểu cụ thể dựa vào thực tế không phải lý luận, nghĩa là dựa vào những phương tiện truyền thông đại chúng. Về Kitô giáo thực ra đã có nhiều công trình nghiên cứu về phương diện này nhưng về chủ nghĩa xã hội theo sự hiểu biết của tôi, tôi chưa thấy những công trình nghiên cứu việc phổ biến chủ nghĩa xã hội ở Âu Châu là nơi có nhà in và có người đọc, còn phổ biến chủ nghĩa xã hội trong những nước thuộc văn minh nông nghiệp đa số dân chúng ở nhà quê còn mù chữ như ở Việt Nam vì tôi cũng chưa được biết có những ai lưu tâm đến công trình nghiên cứu này.

Về Kitô giáo: kinh thánh và ngôn ngữ nói – Marcel Jousse – tu sĩ dòng Tên, giáo sư Sorbone và Ecole des Hautes Etudes Paris đã nói “Tội tổ tông, cái tội lớn nhất mà nền văn minh chữ viết bút pháp mà chúng ta đã phạm là tự coi văn minh của chúng ta là tuyệt vời duy nhất vì tất cả những gì không sắp xếp vào được trong khuôn khổ chữ viết đều là đồ bỏ”. Sai lầm căn bản của các nhà chú giải kinh thánh phương Tây là chỉ miệt mài nghiên cứu văn bản La tinh và Hy Lạp trong khi thực ra Chúa đã rao giảng bằng một tiếng địa phương Aramenien, tiếng của một sắc tộc Palestin. Những lời rao giảng đều là truyền miệng. Marcel Jousse nêu trường hợp cụ thể: Bài giảng trên núi đã được in trong Sấm truyền mới làm sao những người đánh cá mù chữ đã chỉ nghe một lần ở một nơi nhất định lại có thể ghi đúng câu nói như đã thấy trong sách. Ông thành lập một phòng thực nghiệm thiết lập một chương trình nghiên cứu để có thể phục hồi Kinh Lạy Cha theo truyền thống văn nói.

Công trình nghiên cứu của Marcel Jousse chứng minh một điều lời chúa nói với đông đảo quần chúng ít học mù chữ được ghi lại bằng một thứ văn nói mọi người có thể hiểu nhưng về sau thứ văn nói đó được ghi thành văn viết để cho những người có thể học, có thể đọc bằng các tiếng he’breux, Hy Lạp, Latin rất đáng nghi ngờ về mức độ phản ánh trung thực so với nguyên tác là lời nói

 

Jack Goody:

Tìm hiểu vấn đề về phương diện nhân loại học, quan điểm của ông có thể lược tóm như sau: Các tôn giáo lớn như Kito giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Khổng giáo thuở ban đầu các vị sáng lập đều rao giảng bằng ngôn ngữ nói nhưng rồi những lời giảng dạy đó đều được san định viết bằng văn bản trở thành kinh thánh, kinh Phật, kinh Co ran, kinh thư.... Nhưng làm thế nào để khẳng định và bảo vệ sự khẳng định những văn bản viết nào là phù hợp hơn cả với lời giảng của các vị sáng lập. Đòi hỏi này tất nhiên đưa đến việc thành lập một giới giáo phẩm được nhìn nhận có thẩm quyền quy định cái hư thực, cái đúng, cái sai của những văn bản được coi là chính thức.

Jack Goody đã nghiên cứu vai trò của chữ viết trong xã hội và tôn giáo cho thấy chữ viết không đơn giản chỉ là một phương tiện diễn tả tư tưởng tình cảm mà còn là một phương tiện để các quyền lực tôn giáo và chính trị bày tỏ và biện minh cho quyền hành của mình.

*

*          *

Kitô giáo bao gồm công giáo, Tin Lành, Chính Thống về mặt hành chánh và giáo hội giảng dạy, chữ viết là phương tiện truyền đạt trong các bộ, học viện chủng viện, đại học giảng dạy triết học thần học, giáo luật... và đó là sự thắng thế của lý trí, lý luận trên tình cảm. Nhưng xét về mặt giáo hội bị trị, giáo hội được giảng dạy thì phương tiện truyền đạt chủ yếu vẫn là ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết để nói. Nhờ những phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại như máy phóng thanh, truyền thanh, truyền hình. Những lời giảng dạy vượt khỏi khuôn viên nhà thờ hàng nghìn hàng triệu người có thể được nghe nói và có thể nói đây là sự thắng thế của tình cảm trên lý trí, lý luận. Ngoài đời, truyền thanh, truyền hình, ngôn ngữ nói lấn át ngôn ngữ viết tạo ra hậu quả làm cho những nhà dạy văn phạm ngôn ngữ học lo ngại về sự kiện tuổi trẻ hiện nay viết sai chính tả. Ở Pháp, sự lo lắng trên rất rõ rệt được biểu lộ qua việc tổ chức những lớp thi viết chính tả trên toàn quốc cho cả người lớn và thanh niên. Điều đáng lưu ý ở Việt Nam vào những năm 1932, 1933 ông Phan Khôi chê trách những nhà văn lớn ở miền Nam như Nguyễn Chánh Sắt viết sai chính tả ngay cả tên mình, đã gây ra những cuộc tranh luận biện minh cho việc  viết sai chính tả của người miền Nam vì người miền Nam nói sao viết vậy.

Trở lại tìm đạo chúa ở Tây Phương từ sau thế chiến hai có hiện tượng bỏ đào hàng loạt do sự kiện đô thị hóa nông thôn đe dọa trầm trọng sự sống còn của Ki tô giáo. Ngoài ra hiện tượng gọi là tục hóa các thể chế xã hội như y tế, giáo dục... Đặc biệt ở tỉnh Quebec Canada khi xảy ra cuộc cách mạng thầm lặng (Revolution tranquille) giáo hội đồng ý từ bỏ quyền hành điều khiển các bệnh viện, trường học, phương tiện truyền thông đại chúng, người ta thấy vắng bóng hẳn các nữ tu thày dòng và các tu viện rộng mênh mông nay hầu như trống rỗng.

Nhiều người bi quan đã nghĩ rằng tôn giáo nói chung và đạo Chúa nói riêng đã hết thời. Nhưng những hiện tượng như cộng đồng Taize’ của Tin Lành ở Pháp quy tụ hàng ngàn, hàng vạn giới trẻ và nhất là những ngày gọi là Ngày Giới Trẻ Thế Giới do Giáo Hoàng Gioana Thaolo’ Đệ Nhị khởi xướng đã quy tụ hàng triệu giới trẻ từ khắp các nơi tụ tập hàng tuần sinh hoạt tôn giáo với nhau ở các đô thị lớn như Paris Roma, Toronto với sự hiện diện của Giáo Hoàng đã buộc dư luận và những nhà nghiên cứu về tôn giáo phải xét lại luận điểm về sự tàn tạ của tôn giáo đạo chúa. Phải chăng giới trẻ bỏ đạo chẳng qua chỉ là bỏ lối sống đạo, gò bó, thu hẹp trong khuôn viên nhà thờ với những lễ nghi thiếu tính cách cộng đồng, sóng động để chọn những lối sống đạo ngoài nhà thờ giữa trời cùng với những người xa lạ thuộc nhiều dân tộc, quốc gia bày tỏ niềm tin tôn giáo công khai của mình và tất cả những biểu lộ tập thể đó đã chỉ có thể được thực hiện nhờ những phương tiện truyền thông truyền hình đại chúng. Giáo Hoàng là cái đinh tụ điểm thu hút giới trẻ đã làm cho những người, những chuyên viên về truyền thông gọi ông là một sự kiện truyền thông Fait me’diatique.

 

            Chủ nghĩa xã hội:

            Những người sáng lập CNXH ở âu châu đều là trí thức, nhà triết học. Trong số đó Marx nổi bật nổi lên như một nhà triết học lớn của Tây Phương, đánh dấu một thời kỳ của nền triết học đó. Ngay từ thời trẻ Marx viết báo sử dụng ngôn ngữ bút chiến để phê phán bằng lý luận, những bài báo và sách ông viết nhằm thuyết phục người đọc thuộc giới tri thức. Ông không thích tiếp xúc với quần chúng diễn thuyết hùng hồn để lôi cuốn đám đông. Đối với Marx kẻ thù của ông là sự ngu dốt và những chính sách ngu dân để lừa bịp những kẻ ngu dốt. Trái lại ông dùng phân cách lý luận phê phán phê phán để tạo ra sự giác ngô tri thức giác ngộ cách mạng.

            Do đó sách báo, chữ viết là phương tiện truyền thông để ông tiếp xúc với người đọc và sách báo đó phản ánh đúng những gì Marx muốn truyền đạt với người khác. Do đó không có vấn đề xác định văn bản vì cho đến bây giờ người ta giữ được nguyên bản kể cả các bản thảo ghi chú đọc sách đầy đủ đến nỗi giáo sư Trịnh Văn Thảo có thể làm luận án tiến sĩ về bản thảo của Marx. Trường hợp Kinh Thánh lại khác; phúc âm ghi lại lời Chúa là theo 4 người đã ghi và được nhìn nhận chính thức còn Phúc âm của những người khác Thomas, Philipe, Madeleine người đàn bà gần gũi với Chúa, những Phúc âm này bị gạt ra không được nhìn nhận. Đọc giả đương thời và về sau đọc Marx là người trí thức; dĩ nhiên giới công nhân cũng đọc Marx nhưng thường là những lược tóm kiểu cộng sản abc. Còn giới nông dân thôn quê thì sao? Gramsci, tổng bí thư Đảng cộng sản Ý thời 1970 được coi là một Lenin của cộng sản Âu Châu đã kể lại trong hồi ký của ông về sự kinh ngạc mỗi khi ông đi qua các nhà sách Công giáo thấy nhiều cuốn mỏng, khổ nhỏ in đến lần thứ 17, 18. Ông nghĩ rằng tác giả và nhà xuất bản không lừa bịp vậy tại sao số lượng in lớn như vậy và giới văn học trí thức không hề hay biết loại văn học này, ngòai ra những sách này cũng không phải vì bán rẻ mà được phổ biến trong giới bình dân công giáo vì đó là loại sách thuộc loại văn nói hay văn viết để nói về tôn giáo, về các Thánh bằng lời văn bình dân dễ đọc, dễ hiểu. Rồi ông gợi ý Đảng cộng sản Ý muốn tiếp cận nông dân nên bắt chước Công giáo.

            Cộng sản Việt Nam

            Việc phổ biến lý thuyết cộng sản ở âu châu là công khai, họat động tranh đấu trong các phong trào nghiệp đòan cũng là công khai, nghĩa là được các chính phủ tư sản để cho tự do họat động nhằm lật đổ chế độ tư bản. Gần đây có một cuốn sách nhan đề “Chuyên chính tư sản” giải thích tại sao chuyên chính tư sản lại để cho những cá nhân đoàn thể họat động nhằm lật đổ chế độ của họ. Nhưng ở các nước thuộc địa, thì chính quyền thực dân ngăn cấm việc tuyên truyền và họat động của Đảng cộng sản có thể bằng cả những biện pháp đàn áp khủng bố. Do đó việc tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và họat động phong trào nói chung đều diễn ra trong bí mật. Sâu xa hơn nữa ngay trong khi truyền bí mật cũng ít nói hay chưa nói thẳng ra những chủ trương tranh đâu của Đảng không phải vì sợ thực dân đàn ápmà còn vì sợ người dân không hiểu  những đường lối chủ trương. Về điểm này có một câu nói của ông Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của một ký giả tờ báo nhân đạo cơ quan của Đảng cộng sản Pháp 1946 mà tôi có văn bản nhưng không mang theo. Đại ý câu trả lời: “Sở dĩ không thể công khai hóa đường lối chủ trương của Đảng vì sự ngu dốt là chỗ dựa của thực dân”. Ông Đông Tùng đảng viên cùng thời với ông Hồ Chí Minh theo sát ông Hồ nhất là thời kỳ ở Thái Lan, trong một hồi ký đăng trên báo Sài Gòn trước 1975 cho biết vào những năm sau cách mạng tháng 10 (1917) tuyên truyền của thực dân đã trìnhh bày cộng sản là vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo, chung vợ, chung chồng như súc vật, bằng ca dao truyền miệng và như vậy thực dân Pháp đã chống cộng trước khi có Đảng CSVN được thành lập vào năm 1930.

Cũng nên lưu ý sự ra đời của Đảng CSVN nên việc đặt trong diễn tiến các phong trào chống Pháp và Đảng CS xuất hiện vào giai đoạn các đảng phái quốc gia thất bại. Do đó Đảng Cộng Sản ở các nước thuộc địa xuất phát từ ý thức dân tộc quốc gia trước ý thức xã hội khác với các đảng Âu Châu xuất phát từ ý thức xã hội. Mục tiêu chống thực dân giành độc lập quốc gia đòi hỏi vận động toàn dân mà đa số là nông dân ở thôn quê không phải trí thức và công nhân chỉ là thiểu số. Để thực hiện việc vận động đa số dân chúng ít học hoặc mù chữ thật dễ hiểu phải sử dụng ngôn ngữ nói văn học dân gian ca dao tục ngữ tuồng chèo cải lương. Do đó cũng thật dễ hiểu Đảng Cộng Sản Việt Nam không thể có một đội ngũ trí thức có thể đóng góp về tư tưởng với phong trào Cộng sản quốc tế như nhà sử học Jean Chesnaux thuộc Đảng Cộng sản Pháp đã ghi nhận trong bài: Fondements historiques du communisme Vietnamien :”Đảng Cộng Sản Việt Nam chưa bao giờ đóng góp về lý luận cho phong trào cộng sản một nhà tư tưởng tầm cỡ một Gramsci, một G. Lukacs hay một Adam Schaff, trừ lý luận về quân sự”. Sự vắng bóng một đội ngũ trí thức lại có điểm hay là tránh cho Đảng Cộng sản Việt Nam những cuộc khủng hoảng về ý thức hệ được gọi là chủ nghĩa xét lại.

Vì không thể phổ biến trong quần chúng những lý luận cao xa khó hiểu vậy có một lối tiếp cận nào khác cụ thể đơn giản đưa chủ nghĩa Mác vào quần chúng? Ở đây có thể đề nghị một lối tiếp cận gọi là mô phỏng “Mimetisme” do nhà nhân loại học người Pháp – giáo sư Rene Girard để giải thích về vai trò của đức Kitô trong đạo Chúa.

Người theo đạo Kitô giáo đông đảo không biết lý luận triết học thần học và phải tin những điều thật khó hiểu của đạo gọi là mầu nhiệm thì chỉ đòi hỏi họ bắt chước theo gương Chúa Kitô, sống lời Chúa và trở nên giống Chúa, vì thế cuốn sách phổ biến sau Kinh Thánh là cuốn Gương phúc Chúa Kitô.  những người đại diện Chúa là các Giáo hoàng, Giám mục, linh mục cũng phải trở thành những gương mẫu như Chúa Kitô, vì thế mới nói linh mục là một Chúa Kitô khác, giáo dân tin hay không tin, giữ đạo hay bỏ đạo là tùy thuộc vào tư cách gương mẫu của những người đại diện Chúa. Trong các Giáo hoàng gần đây, Giáo hoàng Pio XII vì thái độ đối xử với người Do Thái thời Đức quốc xã nên có dư luận không phục ngài và một kịch gia người Đức đã sáng tác một vở kịch gọi là “Vị đại diện Chúa” để phê phán Giáo hoàng, nhưng đến Giáo hoàng vừa qua đời Gioan Phaolô II đã được dân chúng, nhất là giới trẻ cảm phục mến chuộng mà chẳng cần chú ý tới những sách báo, thông điệp, lý luận khó hiểu hoặc những cấm đoán nghiêm ngặt về phương diện đạo lý. Những lần xuất hiện trước đám đông, ông chỉ nói một vài câu, thậm chí có câu chỉ có hai chữ và một vài cử chỉ đã đủ lôi cuốn thuyết phục qua truyền thanh truyền hình và khi ông chết, đám tang đã làm ngưng hết các đài truyền hình và quần chúng đòi phong thánh ngay cho ông.

Có thể nhìn như vậy về vị trí vai trò của ông Hồ Chí Minh được coi là Hồ Chủ Tịch hay Bác Hồ? Theo cộng sản, không phải là theo lý thuyết này lý thuyết nọ thường rất khó hiểu nhưng là theo một người và sống theo lời Bác dạy, theo gương Bác. Khi ông Hồ qua đời rồi, những người kế vị lãnh đạo có còn giữ được sự mến phục của dân chúng như đối với ông Hồ Chí Minh hay không? Và theo Đảng hay bỏ Đảng cũng như người tôn giáo theo đạo hay bỏ đạo mặc dù những lời rao giảng tốt đẹp trong Kinh Thánh hay trong lý thuyết cộng sản tùy thuộc vào những người đại diện Đảng có còn là những gương mẫu cho dân chúng tin theo và mến phục không? Thực ra việc đề cao một lãnh tụ như khuôn mặt gương mẫu cũng nằm trong truyền thống Việt Nam coi vua quan là phụ mẫu dân, đòi những người cầm quyền phải nêu gương như bậc cha mẹ và trong xã hội cha mẹ là gương mẫu cho con cái. Gần đây nhân ngày Gia đình có đưa ra khẩu hiệu “Ông bà mẫu mực, con cháu hiếu thảo”. Ngoài đời có ba giới được gọi là “thầy” tức là những người nêu gương mẫu: thầy tu, thầy thuốc, thầy giáo. Thầy giáo được coi là nhà mô phạm.

Đó là một vài gợi ý để chị khai triển thêm, nếu chị đồng ý đi vào đề tài này có thể cùng với người khác thì tôi sẽ gửi những tài liệu về cho chị, nhất là cuốn của ông Regis Debray mà tôi cũng mới chỉ đọc một bài báo giới thiệu rồi nghĩ ra cái đề này.

            Sài Gòn, ngày 03 tháng 07 năm 2005

            Nguyễn Văn Trung

 

 

CHÚ THÍCH : Năm 1987 ông Nguyễn văn Linh làm tỗng bí thư đưa ra khẫu hiệu phải đỗi mới nếu không thì chết. Không phải chỉ đảng chết mà kéo cả dân tộc chết theo. Tôi được đề nghị góp ý về mặt triết học và tôn giáo. Tôi lưu tâm đến vấn đề then chốt: Độc tài toàn trị mang tính chất tôn giáo; đi tìm hiễu từ những biễu hiện trước mắt đến nguồn gốc của lịch sử sự kiện. Ông Nguyễn Linh  PGĐ nhà xuất bản Sự thật cơ quan của trung ương đảng biên thư và gặp tôi nói ý định của lảnh đạo nhà xuất bản muốn thực sự đỗi mới về thễ chế và tư tưỡng gọi là đỗi mới tư duy. Ông ngõ ý nhờ tôi liên lạc với các bạn ở âu châu đễ góp phần của họ vào việc đỗi mới ở VN. Ông hỏi tôi có bản thảo nào đễ xuất bản, tôi đưa cho ông bản thảo nhan đề: Vấn đề công giáo đặt cho  dân tộc  nhằm mời gọi những người không công giáo nhất là người cộng sản nhìn lại mình qua công giáo xem những gì mình đang chủ trương thực hiện về chính trị văn hóa xã hội lấy của phương tây bắt nguồn từ Kitô giáo là một trong hai nguồn mà bất cứ người phương tây nào dù là vô thần hay cộng sản đều không phủ nhận nguồn gốc văn hóa tư tưỡng của mình. Tôi xử dụng lối nhìn của Rene Girard một nhà nhân học người pháp dạy ở hoa kỳ viết nhiều sách mà tôi được biết qua tạp chí Esprit từ 1967 ông đưa ra hai thái độ bắt chước người khác ( mimétisme) và đỗ tội cho người khác bị coi như một dê tế thần đễ giải thích lịch sử xả hội con người. Người công giáo âu châu bắt chước Đức Kitô và đỗ mọi tội lỗi do mình gây ra do ma quỷ xúi dục. Ở âu châu người CS chống Kitô giáo, nhưng Lenin, Staline lại tiếp thu nhiều khái niệm về tỗ chức của giáo hội. Cộng sản VN theo khuôn mẫu Liên xô; nhưng có lẻ ít người hiễu biết nguồn gốc tôn giáo của đảng mình,.Trong bản thảo tôi nêu lên 4 khái niệm chính mà đảng CS bắt chước theo Kitô giáo trong khi chính người Kitô giáo đã nhìn lại mình rôì bỏ đi hoặc giảm nhẹ việc áp dụng những khái niệm kễ trên nhất là sau công đồng Vatican II. Tôi đề nghị ông Nguyễn Linh tỗ chức một buỗi toạ đàm gồm một số nguời của nhà xuất bản và một số do tôi mời đễ xem phản ứng của các đảng viên về lập luận của tôi. Phát biễu đáng chú ý hơn cả trong buỗi toạ đàm là của Thiết Vũ đã chuẫn bị bài góp ý bằng cách viết ra. Thiết Vũ nói: Trước hết phải cám ơn anh Nguyễn Linh đã tạo điều kiện có buỗi  trao đỗi này là người đi đầu dám đụng đến một vấn đề tế nhị thì quả thật là dũng cảm….trong thời kỳ đỗi mới hiện nay hàng loạt vấn đề phải đem ra đánh gía lại bằng chính cái đầu của mình. Ngay đến những vấn đề rất cơ bản như đảng ta bao giờ cũng đúng, bảo vệ sự thống nhất của đảng  như bảo vệ con ngươi mắt mình…. Cũng cần phải suy nghĩ đáng gía lại. Mục đích của việc đánh giá lại là phải tìm ra chân lý lẻ phải dẫn tới hành động cứu vãn đất nước đang rơi xuống vực sâu, đang ở thời kỳ tiền khủng khoảng như Rosa Luxembourg đã viết cho Lê nin: Tự do trước hết là tự do cho những người suy nghĩ khác mình. Với ý nghĩ đó tôi đã đọc bản thảo của Nguyễn văn Trung, anh Trung đặt vấn đề gì trong công trình này.

Thứ 1; công giáo Vn có thực liên hệ mật thiết với thực dân đế quốc không?

 Thứ 2 : Văn hóa công gíao có thực sự lai căng mất gốc không ? anh NVT đặt lại cho người đọc một cánh nhìn khác vấn đề Kitô giáo ở VN. Cách nhìn ấy không phải chỉ nhằm thay đồi cách nhìn của CM mà thay đỗi cách nhìn củacả dân tộc suốt mấy thế kỷ nay. Vấn đề lớn lắm chứ. Buỗi toạ đàm có kết quả là tán thành việc xuất bản bản thảo. Nhưng không hiễu vì lý do gì bản thảo đang được sắp chữ ở nhà in bị tịch thu ban đêm.

     Sau khi chế độ Liên xô sụp đỗ, một nhóm trí thức trẻ đảng viên cựu sinh viên saìgòn trứớc 75 đề nghị tôi tiếp tục tìm hiễu ĐCS đễ trao đỗi nội bộ thôi. Tôi viết một tập nhan đề trở về nguồn đặt vấn đề ĐCS toàn trị mang tính chất tôn giáo nhưng lại không phải là một tỗ chức tôn giáo và vì mang tính chất tôn giáo nên Đảng cũng không phải là một Đãng chính trị theo nghĩa bình thường cái cao cả và lầm than của đảng là ở chỗ đó. Ngoài ra tập này có một phần quay về miền nam gồm hai chương nêu vấn đề đỗi mới phải chăng là trở lại những cái cũ đã bị phủ nhận. Sau này tôi lấy một chương đăng trong tạp chí văn học số 174 ở hoa kỳ nhan đề tưỡng niệm VNCH.

Tháng 7-2005 nhân kỷ niệm năm sinh của ông Nguyễn văn Linh 90 tuỗi đã qua đời, các báo nhắc đến sự nghiệp của ông. Chị T đề nghị tôi nhìn lại công cuộc đỗi mới do Nguyễn văn Linh khởi xướng trong một buỗi trao đỗi do TTKHXHNV của thành phố tỗ chức vào cuối tháng7. Trong các bài đăng trên báo nhân dịp này, tôi chú ý bài của ông Hồng Hà, TTK hội đồng lý luận trung ương trả lời phỏng vấn của báo tuỗi trẻ(1-7-2005) nhìn nhận đỗi mới chính trị chậm hơn do với đỗi mới kinh tế. Ông Lê đăng Doanh trong một buỗi nói chuyện nội bộ đã nói thẵng chế độ đảng trị chuyên chế mất lòng dân nặng nề. Bài này được các báo hải ngọai phỗ biến rộng rãi có bào đăng tòan văn. Trong buỗi trao đỗi này tôi so sánh mùa xuân Praha ở Tiệp 1968 với mùa xuân hà nội 1987 lúc ông NVL tuyên bố cỡi trói cho giới cầm bút. Sự so sánh này cho thấy những điễm khác nhau và giống nhau tuy cả hai đều thất bại do những nguyên nhân khác nhau. 70 nhân vật nỗi tiếng của Tiệp gồm đủ các thành phần trong đảng, ngòai đảng đưa ra một tuyên ngôn mang tên hai nghìn chữ như một cương lĩnh hướng dẫn hành động. Hai điễm đáng lưu ý hơn cả là sau khi nhận định ban đầu đảng được dân chúng tín nhiệm dần dần đem lòng tín nhiệm đỗi lấy địa vị cho đến khi chỉ còn địa vị chứ không còn gì khác nữa và từ đầu năm nay chúng ta bước vào tiến trình dân chủ hóa; việc này bắt đầu ngay từ đảng CS. Điều thứ hai bản cương lĩnh cảnh giác không được xử dụng những phương sách không đứng đắn thô lỗ mạt sát người khác, tác động xấu vào qúa trình dân chủ hóa. Bản tuyên ngôn này được dịch đăng trong tạp chí Đất nước số 7-11-1968. Một nhómn trí thức SG trước những xáo trộn về chính trị xả hội ở miền nam sau đảo chính chế độ ông Diệm đã đưa ra nhận định : miền nam phải làm CMXH hoặc theo CS nghĩa là theo khuôn mẫu độc tài tòan trị Stalinnit hoặc không theo CS. Nhóm theo dõi tình hình Tiệp khắc vì ĐCS do tỗng bí thư Dubcek muốn thực hiện một XHCH có khuôn mặt người. Quan điễm của hành trình đất nước được một số tướng lảnh trẻ đồng tình như thư của thiếu tướng Lê nguyên Khang tư lệnh quân đòan 3 gửi cho chúng tôi. ( tôi hòan tòan đồng ý với anh không phải chỉ súng đạn mà giải quyết được CS trên đất nước này; còn ông Nguyễn mạnh Hà từ paris gửi thư cho tôi dục : mong anh đi ngay phục vụ quần chúng nông thôn lao động..ngồi một chỗ mà vạch hành trình chẵng ai theo đâu. Có nhiều sinh viên học sinh không tin có thễ có CMXH không CS và họ đi ra khu làm CMCS như trường hợp một học sinh đệ nhất LTD ký bút hiệu Trường kháng gửi cho tôi một thư từ biên giới vào đầu năm 1967. Thư bộc lộ một thứ lãng mạn CM của tuỗi 20 trong thơ tác gỉa nói không tin có thễ có CMXH không CS và vì thế quyết địng ra khu cần súng theo kháng chiến. Tôi đã trả lời tác gỉa1 lá thư dài đễ ở phần cuối tập trở về ngưồn. Tôi viết nếu anh đã hy sinh thì khỏi phải thấy thực tế không như anh mong ước, nếu anh còn sống tôi mong liên lạc được với anh đễ gửi lá thư của tôi. Sau 30 năm người ta vẫn tỗ chức kỷ niệm ngày 30-4-1975 có một buỗi họp mặt giới lảnh đạo chính trị quân sự ở dinh thống nhất( Dinh độc lập củ) nhưng ba người lảnh đạo miền nam Mai chí Thọ, Võ văn Kiệt, Trần bạch Đằng không đến dự vì bất mãn với lập luận của những vị lảnh đạo chính trị hà nội cho rằng giải phóng SG hòan tòan do công của các binh đòan bắc việt và tướng Dương văn Minh không có con đường nào khác ngòai đầu hàng. Anh ra khu cầm súng dưới sự lảnh đạo của mấy vị kễ trên anh có suy nghĩ gì về lựa chọn của anh hồi 1967´. Theo chỗ chúng tôi nhận định mùa xuân hà nội thất bại phải chăng vì thiếu một vận động sâu rộng trí thức trong đảng ngòai đảng tạo được một cương lĩnh cảnh giác những họat động lệch hướng như trường hợp Nguyễn huy Thiệp.

   Chị T cho tôi biết ý định của chị viết về tôi. Tôi nghĩ lúc nào chính tôi phải viết về những đãng viên mà tôi quen biết chẵng hạn những người đã quyết tâm đỗi mới và thực hiện đỗi mới về tư tưởng qua công trình biên sọan của tôi. Đó là các ông Thiết Vũ, Nguyễn quang Huy và Nguyễn Linh. Thiết vũ một nhà sọan kịch đã viết bài góp ý dài về bản thảo của tôi một cách thẵng thắn. Ông đã đau xót nhiều vì bị một chế độ nhồi sọ làm cho ông mù quáng như ông đã than thỡ với tôi khi Stalin qua đời không phải chỉ Tố Hữu khóc mà chúng tôi cũng khóc. Ông Nguyễn quang Huy với tư cách trưỡng ban tôn giáo chính phủ đã viết cho tôi một thư in vào cuốn sách đễ đề phòng những người không tán thành, thư ông bày tỏ một thái độ trí thức khiêm tốn  dễ có khả năng thuyết phục ( nhận định đánh giá một vấn đề thuộc quá khứ bao giờ cũng là một vấn đề khó khăn và phức tạp do đó nếu trãi qua một quá trình trao đỗi tranh luận càng dễ đi đến chân lý khách quan cuốn sách của anh sẽ đóng góp vào quá trình đó nếu được in ra và phát hành đến tay những nhà nghiên cứu. ông Nguyễn Linh qua những thư từ gửi và qua lời phát biễu trong buỗi tọa đàm  cho thấy thái độ của ông nhìn nhận tôn trọng sự khác và đối thọai với những người khác ý kiến mình, và vì thế đi tìm những người đó như ông đã phát biễu tôi biết anh nguyễn văn Trung là người nghiên cứu và hiễu nhiều vấn đề…phải nói là tôi cũng hiễu biết ít nhiều nhưng thật không biết nhiều. Và khi đến với anh Trung thì thấy anh có nhiều thông tin cụ thễ là tac phẫm mà chúng tôi đã cho in roneo và chuyễn đến tay anh em. Trong buỗi tọa đàm ông cũng bày tỏ một thái độ khiêm tốn trí thức :`` Điều tôi sợ nhất là cái ngu của mình nên cần học hỏi. Có lần tôi nghe một vị trong phật giáo nói phật giáo là vô thần và Thiên chúa giáo cũng là vô thần thì tôi hết sứ ngỡ ngàng vì thiếu thông tin thiếu hiễu biết nên cán bộ lảnh đạo các cấp thường có định kiến từ lâu đời. Cần phải gỡ, vấn đề là phải gỡ thế nào. Một điều tôi muốn nói là không phải các cán bộ đều suy nghĩ như tôi vì thế chúng ta phải dè dặn. Không phải chỉ vấn đề tôn giáo mà các vấn đề khác  vế văn hóa văn học ông cũng có thái độ cỡi mỡ trân trọng như đối với văn học  miền namVN. Trong một lần trò chuyện ông hỏi tôi anh đã đọc Loan mắt nhung của Nguyễn thụy Long chưa, tôi trả lời tôi có nghe nói chưa đọc vì ở miền nam trước 75 nhiều người nỗi tiếng có nhiều tác phẫm hay được nói đến nên tôi không thể đọc hết, ông nói với tôi anh phải đọc rồi ông kễ sau 75 ông được tuyên huấn trung ương do Tố Hữu phụ trách cử vào nam nhận định về văn học miền nam. Về hà nội báo cáo với Tố Hữu, ông nói có nhiều tác phẫm hay đễ đọc nhưng chỉ đễ nghị anh đọc tiễu thuyết này của Nguyễn thụy Long. Sau 1 tuần tôi sẽ trở lại xin ý kiến của anh. Khi trở lại Tố Hữu nói với tôi:Ngoài Bắc mình không ai viết được như thế này.  Nếu thay đổi chế độ hiện nay trước hết là trách nhiệm của những đảng viện cấp lảnh đạo như Thiết Vũ, Nguyễn quang Huy, Nguyễn Linh thì cần phải nói lên đễ nêu gương cho những người khàc. Những người còn sống như chị T cũng cần được đề cao mà các bạn của chị trong thành đòan đều qúy mến thái độ của chị. Tôi viết bài giới thiệụ hồi ký của một nhà thần học Yves Congar đăng trong tạo chí Dấn thân ở Houston đăng lại trong tạp chí Công giáo và dân tộc ở sảigòn tôi gửi tặng chị với mấy lời sau đây . Đảng CS cũng đề ra một lý tưỡngcón hững lý thuyết thễ chế những con người cụ thễ với những tâm tình này nọ. Vào thời kỳ suy thóai khủng khỏang củng thấy những thái độ tương tự nơi người công giáo. Có người bỏ đạo ra khỏi giáo hội cởi áo Dòng một cách thầm lặng hoặc lên tiếng tố cáo giáo hội được những người thù ghét giáo hội hoan nghênh vì biện minh cho thái độ thù ghét của họ, hoặc vẫn ở lại trong giáo hội Dòng tu của mình, chịu đựng trong thầm lặng những đau khỗ vì giáo hội do giáo hôi tạo ra cho mình và đau khỗ với giáo hội nghĩa là với những người khác trong giáo hội cũng đau khỗ vì giáo hội như mình.Kinh nghiệm công giáo cho thấy chỉ những người như Congar mới có thái độ đáng phục và thữc sự xây dựng. Tôi biết chị và nhiều đảng viên khác vẫn giữ được thái độ chịu đựng trong thầm lặng những đau khỗ vì đảng do đảng gây ra cho mình và cho đân tộc đất nước nhưng vẫn kiên trì ở lại n ỗ lực không ngừng thực hiện những thay đỗi từ nội bộ trong nội bộ một giải pháp hiệu nghiệm mà ngay cả những người chóng cộng quyết liệt cũng công klhai nhìn nhận không cò con đường nào khác. Tôi gửi chị và những người có thái độ như chị chứng từ này về nhà thần học nỗi tiếng Yves Congar .

                         Montreal     10-10-2005

Tác giả: Nguyễn Văn Trung
   dunglac@gmail.com