Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Văn Trung
asas@yahoo.com
Bài Viết Của
Nguyễn Văn Trung
Chung quanh chuyện dịch thuật: Thần, Thần Khí, Thánh Thần
Nhìn lại những chặng đường đã qua: Nhìn lại tư trào hiện sinh tại Miền Nam
III. Nhìn nhận lại diện mạo một nền văn học
II. Những lựa chọn căn bản
Truyền thông dịch thuật liên bản
Ðưa tư tưởng văn học Việt Nam vào diễn đàn thế giới
Phương tiện truyền thông đại chúng, ngôn ngữ nói và viết
TRUYỀN THÔNG DỊCH THUẬT LIÊN BẢN

Tôi nhận thư anh gửi ngày 11/11/2004 tường trình buổi bảo vệ luận văn thạc sĩ về đề tài: “ Đánh giá công trình lược khảo văn học của giáo sư Nguyễn Văn Trung”.

Tôi đã bày tỏ cảm nghĩ đọc luận văn. Sau đó tôi nhận được tin anh cho biết dự định đã được giáo sư bảo trợ thỏa thuận tiếp tục làm luận án tiến sĩ về đề tài: “Lý luận, phê bình văn học ở miền nam 1954 – 1975. Điều này có nghĩa là luận án sẽ mở rộng nghiên cứu nhiều tác giả khác trong đó sự nghiệp nghiên cứu của giáo sư là trọng điểm”.

Tôi không có ý kiến gì về đề tài mà anh và giáo sư bảo trợ đã quyết định.

Dưới đây, tôi bày tỏ một vài suy nghĩ đóng góp với anh. Anh là người thuộc thế hệ sinh ra sau 30/04/1975 nghĩa là cả hai chế độ VNDCCH và VNCH đã qua đi trước khi anh chào đời. Hai chế độ đó là thuộc thời đại của tôi và các giáo sư bậc đàn anh của anh.

Thời đại hiện nay là của thế hệ anh. Có lẽ nét trội bậc đang  lưu ý hơn cả của thời đại hiện nay là xu hướng toàn cầu hóa mà dù muốn hay không Việt Nam ở trong xu hướng đó. Toàn cầu hóa về các mặt kinh tế, thương mại, ngoại giao, văn hóa...

Khái niệm “Cộng nghiệp” của đạo Phật có thể được sử dụng để bày tỏ mối liên hệ, liên đới sống còn của các dân tộc trên thế giới. Trước đây gà vịt bị dịch là chuyện thường xảy ra ở một địa phương nào đó. Nay một thông tin về dịch gia cầm ở Trung Quốc, Việt Nam không những làm cho cả nước Trung Quốc, Việt Nam lo ngại mà cả các nước khác trên thế giới. Người ta phải tìm ra những biện pháp để tự bảo vệ đồng thời bảo vệ người khác. Những thông tin về dịch được loan truyền nhanh chóng bằng bản tin, hình ảnh trong các phương tiện truyền thông đại chúng. Về văn hóa, rãi rác khắp nơi trên thế giới có những trung tâm Việt Học nhằm nghiên cứu và trao đổi với nhau về văn hóa Việt Nam.

Dĩ nhiên mỗi nền văn học quốc gia đều có những sắc thái riêng của mình. Nhưng những người đi vào con đường nghiên cứu văn hóa ngày ngay không thể không biết đến những kiến thức các ngành xã hội khoa học nhân văn về những động tác đơn giản nhưng cơ bản như nhìn, xem, nghe, nói, đọc, nhớ và quên. Những kiến thức khoa học về những động tác đơn giản kể trên đưa tới khái niệm bao quát: Khái niệm truyền thông. Những kết quả đạt được cho đến nay về những khả năng và giới hạn của truyền thông buộc người ta phải có một thái độ khiêm tốn trí thức vì không có những tiêu chuẩn khách quan để đánh giá, phê bình.

Anne Reboul, Tiến sĩ ngôn ngữ học và triết học trong một bài viết: Nguồn gốc của ngộ nhận đã chứng minh ngộ nhận là một hiện tượng của truyền thông chứ không phải của ngôn ngữ. Chính trong việc sử dụng ngôn ngữ vào mục tiêu truyền thông mới xảy ra ngộ nhận và ngộ nhận xảy ra ngay trong thứ ngôn ngữ được mã số giữa người nói và người nghe, vì người nghe chỉ cần giải mã để hiểu đúng được người nói. Đó là thứ ngôn ngữ đáng lẽ phải đạt được sự chính xác minh bạch tối đa. Vậy mà vẫn xảy ra ngộ nhận như trường hợp trao đổi trên radio giữa người Mỹ và người Canada.

Người Mỹ: yêu cầu các ông chuyển hướng 15 độ về phía Bắc để tránh khả năng đụng độ.

Người Canada: yêu cầu các ông chuyển hướng 15 độ về phía Nam để tránh đụng độ.

Người Mỹ: Đây là thuyền trưởng một tàu của hải quân Hoa Kỳ. Tôi nhắc lại yêu cầu chuyển hướng thay đổi lộ trình.

Người Canada: Không, yêu cầu các ông chuyển hướng.

Người Mỹ: Đây là hàng không mẫu hạm VSS Lincoln, con tàu quan trọng thứ hai của hạm đội Hoa Kỳ. Chúng tôi được 3 tuần dương hạm và một số quan trọng tàu hộ tống, yêu cầu các ông đổi lộ trình 15 độ về phía Bắc hoặc nếu không chúng tôi phải thi hành một số biện pháp buộc các ông phải bảo đảm an ninh cho đoàn tàu chúng tôi.

Người Canada: Đây là một đài hải đăng

Ngộ nhận xảy ra vì người Mỹ tưởng người Canada cũng như mình đang di chuyển trên biển chứ không phải ở một vị trí cố định trên đất. Người Canada mặc dầu những yêu cầu được lặp đi lặp lại với thái độ hách dịch kèm theo đe dọa đã cố tình hay vô tình không cung cấp cho người Mỹ thông tin họ không phải đoàn tàu đang di chuyển mà là một đài hải đăng. Ngộ nhận xảy ra vì người nói không hiểu đúng hoàn cảnh của người nghe.

Bây giờ nếu chuyển việc truyền thông vào lãnh vực liên lạc giữa người nói và người nghe, giữa người viết và người đọc không có quy định về mã số, các tín hiệu ngôn ngữ thì hiểu lầm càng dễ xảy ra.

Umberto Eco, người Ý vừa là nhà văn, vừa là nhà ngôn ngữ, nổi tiếng trên thế giới hiện nay thuật lại trường hợp Tổng Thống Mỹ Reagan thử micro trước khi trả lời một cuộc họp báo, đã nói: “Trong chốc lát nữa, tôi sẽ ra lệnh ném bom nước Nga”.

Những nhà báo có mặt đã yêu cầu ông giải thích và dĩ nhiên ông Tổng Thống đã trả lời đây chỉ là một câu nói đùa. Tuy nhiên nhà báo vẫn chỉ trích Tổng Thống nói ra một điều ông không có ý nói và câu nói đó dù sao khách quan vẫn là một dọa nạt. Lúc đó, ý của câu nói là ý đùa, nhưng đặt câu nói trong toàn bộ chiến lược quân sự của Tổng Thống chiến lược chiến tranh các vì sao thì ý của câu nói có thể hiểu là ý thực, nhưng làm sao khẳng định được như câu nói của nhân dân Việt Nam: “Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người nham hiểm biết đâu mà dò”. Umberto Eco chỉ muốn chứng minh qua trường hợp kể trên, người nghe có khả năng hầu như vô hạn gán cho câu nói nghe được hay đọc được muôn vàn ý nghĩa tùy vị trí của người nói và người nghe. Nếu người nói câu trên là người dân thường thì đúng là câu nói đùa, nhưng xuất phát từ miệng ông Tổng Thống Hoa Kỳ thì câu nói vẫn có thể hiểu như một đe dọa, một cảnh cáo không phải là câu nói đùa.

Trong một cuốn biên thảo nhan đề bằng tiếng Latinh Lector in fabula “Umberto Eco đưa ra luận điểm: người đọc không đơn giản, chỉ là một người tiêu thụ một cách thụ động những sản phẩm bằng chữ nghĩa vì bản văn nào cũng có nhiều khoảng trống những cái không nói ra, vắng mặt bên cạnh những cái nói ra và đôi khi chính những cái khong nói ra mới lại là những cái có ý nói hay ít ra làm cho rõ nghĩa những cái nói ra.

Tác giả đưa ra một ví dụ đơn giản: “ Jean bước vào nhà. À anh đã trở về hả? Marie đã vui mừng và thốt lên như thế?” câu nói đòi hỏi người nghe phải nghĩ Jean là người thân với Marie và trở về nhà mà Marie vui mừng vì không biết trước. Jean trở về nhà, một sự trở về làm Marie vui mừng. Do đó đọc, nghe luôn luôn đòi hỏi sự cộng tác của người nghe đọc bản văn. Trong ngôn ngữ nói có đối thoại và những cử chỉ dáng điệu có thể góp phần vào việc truyền thông được dễ hiểu nhưng đọc đoạn văn của người viết là kẻ vắng mặt, người đọc chỉ đối diện với đoạn văn thì rõ ràng không thể cầu cứu ai được nữa và người đọc đưa ra một giải thích theo quan điểm của mình; như thế tất cả những giải thích theo quan điểm của người đọc. Vậy đâu là cái đúng cái sai của chính bản văn hay của tác giả bản văn, hay của chính người đọc gán cho bản văn hoặc cho tác giả bản văn?”. Dựa vào thẩm quyền nào, tiêu chuẩn khách quan nào để khẳng định chân lý bản văn hay chẳng qua chân lý chỉ là chân lý của người đọc truyện ngụ ngôn?

Nhớ và quên: Khi nói chuyện cũ, viết hồi ký, người ta phải nhớ lại quá khứ. Nhưng có thể nhớ lại quá khứ một cách trung thực không? Những kết quả các công trình khảo sát về sinh học (tôi không thể nói rõ tên vì không mang theo tài liệu) đã cho thấy óc con người ghi các sự kiện không phải như máy photocopy; khi cần nhớ có chọn lọc, chỉ nhớ cái cần nhớ, muốn nhớ theo tâm trạng bây giờ không phải lúc xảy ra trong quá khứ. Do đó động tác “Nhớ” khó tránh khỏi chủ quan và viết hồi ký là xây dựng lại quá khứ theo lối nhìn hiện nay có chọn lọc. Về hình thức diễn tả, Paul Ricoeur, một nhà triết học Pháp vừa qua đời trong bộ sách ba tập: Tempset Recit đã chứng minh nhà viết tiểu thuyết cũng như nhà viết sử đều kể chuyện với những chọn lọc sắp xếp theo một dàn bài nào đó và vì thế những kể chuyện cũng là một chuyện kể (recit). Như vậy thực ra không còn phân biệt dứt khoát hai thể loại: văn tiểu thuyết và văn sử ký. Quan điểm của Paul Ricoeur được nhiều nhà viết sử  và viết tiểu thuyết tán đồng. Trong thực tế biên soạn sử, người viết thường gặp những chỗ trống không có tài liệu ghi lại nên khi viết buộc phải dựa vào những điều nghe nói, tin đồn nghĩa là những cái có thực hay không thực. Do đó ít nhiều nhà viết sử đã sáng tác như nhà viết tiểu thuyết, sử dụng những điều có thể có thực, dường như thực và nói đúng ra ngay cả những điều được coi là thực đôi khi cũng chỉ là được coi là thực mà thôi. Hiểu như trên có thể coi cuốn Hoàng Lại Giang viết về Trương Vĩnh Ký là một cuốn tiểu thuyết hay là một cuốn sử ký đều được.

Dịch – Truyền thông trong khuôn khổ một văn hóa cùng chung một tiếng nói, chữ viết còn gây ra vô vàn ngộ nhận. Cộng đồng nhân loại có hàng nghìn ngôn ngữ chữ viết khác nhau làm sao thực hiện được truyền thông. Phải dịch. Nhưng dịch thế nào để dịch không phải là phản đồng thời vẫn làm cho người đọc hiểu được văn bản. Người ta đã và vẫn còn tranh luận những lý luận về dịch thuật. Theo một vài người đề cập về vấn đề này, ở Tây phương có thể nhắc đến Antoine Berman qua cuốn sách nổi tiếng của ông: (L‘Epreuve de L‘Etranger, tác giả nêu trường hợp M.luther, người chủ trương dịch kinh thánh bằng tiếng Latin ra tiếng Đức bản dịch đã giải thoát tiếng Đức khỏi cảnh kiềm tỏa của tiếng Latin, tạo điều kiện thiết lập một văn hóa quốc gia Đức sử dụng tiếng Đức. Thứ tiếng Đức nào? M.luther đã vạch ra đường lối dịch: “Hãy lắng nghe tiếng nói của những bà mẹ, của đàn trẻ chơi ngoài đường người buôn bán ở chợ, xem xét miệng lưỡi của họ nói ra sao rồi theo đó mà dịch”.

George Steiner, giáo sư văn học đối chiếu ở đại học Genève trong cuốn After Babel, bản dịch tiếng Pháp Apres Babel nêu trường hợp khó khăn làm sao dịch văn thơ Trung Quốc ra tiếng phương Tây và tác giả đi đến nhận định về những cách dịch phải có tối thiểu hai người: một người am hiểu văn chương Trung Hoa, biết nói thạo tiếng Anh, tiếng Pháp và một người Anh, người Pháp không am hiểu văn thơ Trung Quốc cũng không nói được tiếng Trung Quốc. Người Trung Quốc cứ việc dịch văn thơ Trung Quốc ra tiếng Pháp, tiếng Anh và người Pháp, người Anh hiểu ý lời thơ chuyển ra tiếng Pháp, tiếng Anh. Nếu không đúng y lời thơ thì người bạn Trung Hoa sửa sai. Kết quả là một bản văn dịch như vậy đạt một cách tuyệt vời hơn những bản dịch của người Pháp, người Anh dịch một mình. Điều nghịch lý là không biết tiếng lại là một thuận lợi về dịch.

Ngược lên thế kỷ 17, các giáo sĩ Tây phương sang truyền đạo Chúa ở Việt Nam có nhiều linh mục dòng tên đã thực hiện được lối dịch của Steiner và kết quả là họ dịch kinh sách đạo Chúa với sự hợp tác của các trí thức Việt Nam vừa trung thực và đúng văn tiếng Việt như thể không phải dịch.

Liên bản (intertexte): khái niệm này trước hết cho thấy có sự phân biệt tác phẩm thường gắn liền với tên tác giả tiểu sử thân thế sự nghiệp của tác giả chiếm một vị trí nhất định trong thư viện của một quốc gia, trái lại văn bản thuộc về địa hạt của ngôn ngữ mở rộng ra một cách vô hạn trong không gian và thời gian vượt khỏi biên giới các quốc gia và một thời đại. Một cách cụ thể tiếp cận các văn bản theo mối liên hệ giữa các văn bản không sử dụng văn bản để tìm hiểu tác giả hay thời đại tác giả hoặc ngược lại như Xuân Sách đã làm trong tập Chân Dung Các Nhà Văn.

Tìm hiểu một văn bản là tháo dỡ cấu trúc của nó xem có một hay nhiều motifs (chưa dịch được) để lắp ráp với cấu trúc của những văn bản có những motifs tương tự bất kể những khác biệt về ngôn ngữ khoảng cách không gian và thời gian của các văn bản. Tìm hiểu văn bản theo liên bản không chỉ dừng lại ở các bản văn của chữ viết mà còn liên hệ bản văn của chữ viết với bản vẽ, bản nhạc... Do đó khái niệm liên bản xóa bỏ sự phân biệt các thể loại văn học và xóa bỏ luôn cả sự phân biệt các thể loại văn học với các ngành nghệ thuật khác như hội họa, kiến trúc...

Như vậy, lối tiếp cận bằng liên bản là con đường thích hợp hơn cả để đưa một hay những văn bản của một văn học quốc gia vào diễn đàn văn học thế giới.

Nhưng thế giới biết gì về Việt Nam? Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Việt Nam chiếm hàng đầu thời sự thế giới. Nhưng sau chiến tranh, Việt Nam không còn gây được sự chú ý nữa. Người Việt Nam sống ở nước ngoài đi ngoài đường thường bị coi là người Tàu: ông có phải là người Tàu không? Thời thuộc địa người Pháp đã coi Việt Nam trong một khu vực gọi là Đông Dương gồm 03 nước Việt, Miên và Lào giữa Ấn Độ và Trung Hoa nên khó xác định được bản sắc người Việt Nam ở giữa 02 nước lớn kể trên. Không phải chỉ người dân thường mà ngay cả những người nghiên cứu cũng ít biết Việt Nam về văn hóa. Việt Nam là một nước có đông người theo đạo Phật. Lễ Vu Lan quan trọng như lễ Phật Đản.

Stephen F. Teiser viết bài : “Vong hồn và tổ tiên” trong tôn giáo Trung Quốc thời trung cổ, lễ Vu Lan Bồn xét như một nghi thức tang lễ” đăng trong tạp chí History of religion tháng 08/1986 vol.26. no 1 của Trường Đại học Chicago, nói đến nghi thức Lễ Vu Lan ở Trung Quốc và các nước Đông Nam Á mà không nói đến Việt Nam như thể Việt Nam không có người theo đạo Phật. Người Việt Nam đều biết rõ nghi thức lễ Vu Lan vẫn được cử hành hàng năm và người theo đạo Phật đọc kinh Vu Lan Bồn bằng tiếng Phạn nhưng cũng có một phóng tác kinh Vu Lan bằng quốc ngữ theo lối thơ cổ bốn chữ dễ hiểu dễ đọc. Đó là đóng góp của Phật giáo Việt Nam vào văn hóa Việt Nam và vào văn học Phật giáo thế giới.

Điều gây ngạc nhiên khác là sách kinh của các địa phận như Hà Nội, Phát Diệm có một kinh cầu hồn cũng theo lối phóng tác thơ cổ bốn chữ và lời kinh có một cấu trúc tương tự kinh Vu Lan bằng quốc ngữ. Kinh Cầu Hồn này khác hẳn kinh vực sâu được phỏng dịch ca vịnh De Profundis về cấu trúc và lời kinh. Tính cách tương tự giữa hai kinh Vu Lan và kinh Cầu Hồn buộc phải nghĩ đến giả thiết tác giả Kinh Cầu Hồn là một người đã theo đạo Phật. Nếu một gia đình công giáo có người qua đời, mời bà con lối xóm đến dự buổi cầu kinh và bà con theo đạo Phật được nghe Kinh Cầu Hồn tương tự Kinh Vu Lan, chắc hẳn sẽ cảm thấy gần gũi với người theo đạo Chúa, Kinh Cầu Hồn làm theo thể thơ bốn chữ là một đóng góp của đạo Chúa tại văn học Việt Nam và vào văn học tôn giáo của thế giới.

Việt Nam có chuyện Quan Âm Thị Kính mà ai cũng biết vì có câu Oan Thị Kính. Xét về mặt văn bản có lẽ khởi đầu chuyện được coi là kinh của người theo đạo Phật sau trở thành truyện cổ mà Trương Vĩnh Ký ghi lại bằng văn xuôi trong Miscellanees, ở ngoài Bắc truyện được dựng thành bản chèo, một nghệ thuật trình diễn trên sân khấu.

Nhưng dù có chuyển biến về thể loại, cốt chuyện QATK vẫn gồm 02 yếu tố chính không thay đổi mà chúng tôi gọi là Motifs chưa dịch ổn:

1.         Gái giả trai đi tu khác với trường hợp giả trai đi thi hay đi làm quan.

2.         Bị vu vạ cáo gian, nhưng không tìm cách minh oan mà âm thầm chịu đựng nổi oan ức cho đến chết. Lúc tẩm liệm mới biết sự thật.

Có truyền tụng chuyện QATK gốc Cao Ly, chúng tôi đã tìm trong kho tàng truyện cổ Cao Ly mà chưa thấy và cũng chưa thấy có chuyện tương tự ở các nước Đông Nam Á theo Phật giáo. Nhưng nhìn sang Âu Châu thời Trung Cổ có bộ truyện Các Thánh mang tính chất truyền kỳ viết bằng tiếng Latin do G. Voragine biên soạn từ 1260. Bộ truyện này không phải chỉ sưu tầm những chuyện truyền tụng ở Âu Châu mà cả các vùng xa xôi Ấn Độ, Tây Tạng, Châu Phi... Thời đó chưa có nhà in nhưng có đội ngũ các thày dòng sao chép dịch ra hầu hết các tiếng Âu Châu. Sau khi có nhà in, truyện các thánh được in ra với số lượng lớn hơn cả kinh thánh. Năm 2004, Larissa Tracy, Đại học Geogetown làm luận án tiến sĩ về 03 nhân vật nữ được coi là thánh: Theodora, Marina, Margaret Pelagia rút ra từ bộ các thánh truyện của Voragine. Ba thánh nữ này đều có cốt truyện giống nhau và nếu so với cốt truyện QATK thì thấy truyện nhà chùa và nhà chúa thật giống nhau. Nếu làm một phân tách cấu trúc thì hai điểm cốt lõi kể trên điều tìm thấy trong cả bốn truyện. Điều lý thú hơn nữa bộ các thánh truyện của Voragin đến thế kỷ XVII được Maiorica, một linh mục dòng tên sang Việt Nam và thông thạo chữ Nôm biên soạn ra bản Nôm các thánh truyện và trong bộ bằng chữ Nôm này có chuyện Theodora. Theo Philipphê Bỉnh thì chính một vị hòa thượng theo đạo đã cùng Maiorica biên soạn tập này, bộ truyện đã được nhóm Thanh Lãng, Nguyễn Hưng, Võ Văn Kinh phiên âm ra quốc ngữ và theo các vị này thì một người ngoại quốc dù thông thạo tiếng Nôm không thể viết thứ chữ Nôm thế kỷ XVII nhuần nhuyễn như vậy. Bản Theodora bằng chữ Nôm lại được Việt Nam hóa cả về ngôn ngữ và phong tục. Như vậy là có 03 QATK Tây Phương và 01 trong 03 Theodora về văn bản có bản nôm ghi từ thế kỷ XVII.

Giáo lý nhà Phật và giáo lý đạo chúa tuy lập luận khác nhau đều cùng chung một điểm căn bản: kẻ thù nghịch ở ngay trong chính lòng ta, do những lỗi lầm mà ta đã phạm nên phải cải nghiệp ăn năn đền tội cho đến khi qua đời.

Hồ Xuân Hương là một nhà thơ mà người Việt Nam nào cũng ưa thích những bài thơ Nôm nổi tiếng được gán cho nhà thơ.

Hồi tháng 12/1956, Nguyên Sa viết bài: “Hồ Xuân Hương – người lạ mặt” đăng trong tạp chí sáng tạo ghi nhận những giới hạn hay sự thất bại của những người nghiên cứu và phê bình thơ Hồ  Xuân Hương không đặt vấn đề đúng sai mà chỉ nhấn mạnh vào sự bất lực trước nụ cười của người đọc thơ Hồ Xuân Hương, nụ cười của học sinh nghe giảng thơ ở lớp học. Nụ cười đó dù ngụ ý gì đi nữa vẫn là một nụ cười thông cảm đồng tình không cần những giải thích bình luận này nọ.

08 năm sau, Đỗ Long Vân trong bài “Hồ Xuân Hương – nguồn nước ẩn” tạp chí Đại Học số 31 – 1964 là người đã suy nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương đứng ra ngoài hàng ngũ của tất cả những ai đi trước. Đỗ Long Vân đi từ khởi điểm: nếu không có thật Hồ Xuân Hương đi nữa thì vẫn có một truyền thuyết Hồ Xuân Hương và tất cả những bài thơ năm cha ba mẹ người ta gán cho nàng đều là của nàng. Đỗ Long Vân không có ý bình văn mà chỉ giải văn tức là tháo gỡ bài thơ được xác định những yếu tố nào cấu tạo nó mà ĐLV gọi là thường tố. Đó là một dòng nước ẩn và ĐLV tìm chỗ ăn khớp giữa các thường tố xếp lại thành cơ cấu của bài thơ. Điểm đáng lưu ý về công trình giải văn của ĐLV là đã đưa ra một cách đọc mới khôg dùng tài liệu nào để minh chứng tiểu sử Hồ Xuân Hương rồi lấy tiểu sử đó mà soi sáng thơ văn gán cho HXH như nhiều nhà phê bình đã làm.

Năm 2005, chúng tôi (tôi và một ông bạn cùng tuổi, cùng chỗ ở) tìm hiểu HXH có một khởi điểm tương tự với ĐLV coi HXH là một nữ sĩ mà không quan tâm đến những thoại đã được dựng lên xung quanh nữ sĩ. Chúng tôi chỉ quan tâm đến một điều rất thực tế HXH là một người đàn bà mà không gian và nhất là thời gian của người đàn bà khác hẳn thời gian liên tục của người đàn ông vì thời gian của người đàn bà được đánh dấu bằng những biến cố thay đổi chính thân xác của mình như kinh nguyệt mang thai, sinh con, tắt kinh... và lấy cái hồng nhan của người thục nữ mà chất vấn đo lường mọi sự trên thế gian hay con người. Tiếp cận thơ HXH bằng liên bản nghĩa là đọc thơ HXH đối chiếu với ca dao tục ngữ Việt Nam, thơ Nôm của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến và vượt khỏi biên giới văn học Việt Nam, đối chiếu với tác phẩm của F. Rabelais, tiêu biêu cho văn học đại chúng của Pháp, đối chiếu với kinh thi, tinh hoa của văn thơ đại chúng Trung Quốc, đối chiếu với những bức họa của Gustave Courbet (1821- 1880) và sau cùng liên hệ thơ HXH với những mô tả hiện tượng luận độc đáo của J.P. Sartre trong l’être et le neant và truyện L’invitee của Simone Beauvoir người bạn đời của Sartre được tìm hiểu qua cái nhìn về thân xác như một xác tôi, một tư thân với cái nhìn thân xác như cái xác, đối tượng của thèm muốn chiếm đoạt của người đàn ông.

*

*                      *

Truyền thông dịch thuật liên bản là 03 khái niệm mà người làm văn hiện nay quan tâm, anh thuộc thế hệ thời nay, dĩ nhiên có những cảm nghĩ của những người thời nay về những vấn đề  thời đại của mình cũng như của thời đại đã qua.

Trong một lớp dạy tiếng Việt ở hải ngoại, người dạy giới thiệu bài thơ: “Bước tới đèo ngang” của Bà Huyện Thanh Quan, một em bé khoảng 13, 14 tuổi nêu thắc mắc: “Ở đỉnh đèo có khách sạn nghỉ đêm không? Và nếu muốn tiếp tục đi thì những thành phố nào gần hơn cả ở dưới chân đèo cách xa bao nhiêu cây số có khách sạn tiện nghi hay không; gần đây mới khánh thành đường hầm qua đèo Hải Vân. Thuở trước đi đỉnh đèo, nhìn lên thấy mây, nhìn xuống thấy biển nên mới đặt tên đèo là Hải Vân. Bây giờ khách đi qua đèo không dừng lại bằng đường hầm, không nhìn thấy mây và biển nữa. Cảm nghĩ về đèo của một người sống trong hoàn cảnh xã hội công nghiệp sẽ khác của người sống trong xã hội nông nghiệp.

Anh thuộc thế hệ của hôm nay đương nhiên nhìn quá khứ với cái nhìn thời nay bằng những lối tiếp cận của thời nay. Chẳng hạn qua 03 khái niệm trên, không bị ràng buộc với những lối nhìn cũ lỗi thời và do đó dễ dàng xác định được những người đi trước đã đạt được đến đâu hoặc chưa đạt được so với những kiến thức về lý luận văn học của thời nay.

Anh chọn đề tài về những người làm lý luận phê bình văn học ở miền Nam (1955 – 1975). Tôi lưu ý anh trong thời kỳ đó vì nhu cầu giao lưu văn hóa cũng như nhiều nước khác miền Nam vẫn chấp nhận cho người Pháp mở những trường trung học dạy theo chương trình Pháp đến thi tú tài trên đại học văn khoa có những khoa văn chương Pháp, văn chương Anh, có nhiều giáo sư Pháp giảng dạy và sinh viên có thể làm luận văn bằng tiếng Pháp có thư viện tương đối đầy đủ sách báo Pháp.

Những người viết lý luận phê bình trong thời kỳ này hoặc từ nguồn miền Nam như nhóm Chân Trời Mới hoặc di cư từ Bắc vào sau năm 1954 và nhất là từ bên Tây về đều hấp thụ nền văn hóa Pháp. Những người như Đỗ Long Văn, Lê Tuyên từ Pháp về dạy ở Đại học và viết sách báo áp dụng những lối nhìn của Tây phương vào văn học VN. Sau  7 – 8 năm một số sinh viên xuất thân từ các đại học có người được nhận vào ban giảng huấn đại học hay dạy trung học và viết sách báo lý luận phê bình văn học áp dụng vào văn học Việt Nam như Đặng Tiến mà anh đã nhắc đến. Thực ra không phải các giáo sư Pháp chỉ dạy văn học ở Trung học, Đại học mà cả Triết học Đông Tây Sử địa, ngôn ngữ ....

Vì thế tôi đề nghị anh trình với khoa nhà trường liên lạc với các Đại học ở Pháp đặc biệt là Đại học Paris VII kết nghĩa với Đại học hà nội để tạo điều kiện cho anh và những bạn đồng nghiệp của anh đi vào con đường đó có thể sang Pháp một thời gian làm nghiên cứu sinh trau dồi tiếng Pháp và văn hóa Pháp. Chính phủ Pháp  lúc này rất quan tâm Francophơnie có thể cứu xét đề nghị của khoa trường với nhiều thiện cảm và thiện chí.

Ở Pháp anh sẽ gặp Đặng Tiến, sinh viên cũ ban Pháp văn của Đại học văn khoa Sài Gòn có giảng dạy ở Paris VII Trần Thiện Đạo dịch văn chương Pháp và Diễm Châu dịch văn học của các nước Đông Âu, Châu Phi, Châu Mỹ Latin từ tiếng Anh và nhiều giáo sư cũ người Pháp đã giảng dạy ở miền Nam Việt Nam.

Tài liệu tham khảo gửi anh:

1.         Khái niệm và thể loại văn chương, nội dung một buổi trao đổi ở lớp dọn thi tiến sĩ  ĐHSP Tp.HCM vào năm 1992 hay 1993 với các nghiên cứu sinh và các giáo sư văn học VN, Văn học Pháp, ngôn ngữ học... đăng trong tạp chí văn học Californie Hoa Kỳ số 100 tháng 8/1994.

2.         Dịch kinh sách đạo chúa như thể không phải dịch. Dịch thuật và lý luận dịch thuật 2002.

3.         Đưa tư tưởng văn học truyền thống VN vào diễn đàn tư tưởng văn học thế giới. Nghiên cứu liên bản, tài liệu gồm 3 mảng văn học: Văn học đượm màu thiền, sắc đạo,lễ nho. Thứ hai văn học mang dấu chúa từ thế kỷ XVII, thứ 3 văn học dân gian đại chúng (2004-2005).

 

            NGUYỄN VĂN TRUNG

                        Sài Gòn 06/2005

Chú thích:  

        - Bài gửi anh Hiếu thực ra cũng gửi cho mội người. Thư từ qua lại cho biết anh sinh năm 1979 ở Thái Bình, cha mẹ và hai anh em đều làm ruộng. Anh Hiếu hiện nay làm việc ở trường ĐHSP hà nội chưa lập gia đình không phải đảng viên. Hoàn cảnh của anh có nhiều hạn chế về mọi mặt nhưng nah rất muốn vươn lên. Trong  bài tôi đề nghị một cách giúp anh và các bạn của anh cùng hoàn cảnh. Nhưng thiết thực hơn cả đặc biệt những vị là đối tượng luận án tiến sỷ của anh hiện ở nước ngoài mỗi người góp chút ít đễ mua vé máy bay đi pháp,canada , hoa kỳ. Tôi quen mà chưa biết mặt một thanh niên khác cùng lứa tuỗi với anh Hiếu hiện đang học trường Cao Đẵng sư phạm ở Paris, nơi đào tạo những đức con ưu tú của nước pháp. Một vài người VN như Phạm Duy Khiêm, Trần đức Thảo cũng xuất thân từ trường này. Tôi hay nhờ anh tìm hiễu cho tôi một vài tác gỉa văn học pháp và anh đã đáp lại mỷ mãn những yêu cầu của tôi. Anh gọi tôi là Chú xưng cháu nhưng về kiến thức anh là bậc thầy. Nghĩ đến anh và các bạn trong lứa tuỗi của anh ở VN không có may mắn nhu anh tôi thấy họ vẫn còn là một thế hệ bị hy sinh về kiến thức. Tôi đã về hưu chẵng có tư thế gì ở trong nước ngoài nước đễ giúp họ chỉ còn biết đưa ra đề nghị kễ trên.                             MONTREAL 10-10-2005

                             NGUYEN VAN TRUNG.

                             1956 EMILE LE GRAND

                              H1N 3H5 MONTREAL

                PHONE: 514- 899-1135.

Tác giả: Nguyễn Văn Trung
   dunglac@gmail.com