Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Văn Trung
asas@yahoo.com
Bài Viết Của
Nguyễn Văn Trung
Chung quanh chuyện dịch thuật: Thần, Thần Khí, Thánh Thần
Nhìn lại những chặng đường đã qua: Nhìn lại tư trào hiện sinh tại Miền Nam
III. Nhìn nhận lại diện mạo một nền văn học
II. Những lựa chọn căn bản
Truyền thông dịch thuật liên bản
Ðưa tư tưởng văn học Việt Nam vào diễn đàn thế giới
Phương tiện truyền thông đại chúng, ngôn ngữ nói và viết
CHUNG QUANH CHUYỆN DỊCH THUẬT: THẦN, THẦN KHÍ, THÁNH THẦN



THANH LÃNG TỰ KIỂM THẢO

Trích một đoạn Thanh Lãng tự kiểm thảo nhân bàn về từ "thần khí" mà nhóm dịch Kinh CGKPV đã thay từ Chúa Thánh Thần, trong "Thử thiết lập một hồ sơ về hai người con gái, một con của Phật, một con của Chúa". Bản thảo này có thể được coi như di cảo văn hóa của ông, viết xong 27/1/1987 trước khi qua đời năm sau. Đoạn trích này tôi gởi cho linh mục Quế trong nhóm dịch Kinh.
 

Rồi cũng chính chúng tôi, bỏ nước đi ra ngoài, quen nói tiếng nước ngoài, quên cả nguồn gốc ngôn ngữ của tổ tiên, đến khi về nước nghe lỏm được từ này từ nọ, xuất hiện trong một môi trường đặc biệt nào đó, được mặc cho một bộ áo ý nghĩa "đặc biệt" nào đó, chúng tôi tí hửng cũng đòi ngôn ngữ tôn giáo phải đổi đời theo cái sàng khôn mà chúng tôi mới vỏ vẻ học lỏi được. Chúng tôi cũng từng vỗ ngực miệt thị cha ông xưa là dốt nát, nhưng chính trong lúc tố cáo cái dốt nát của tổ tiên thì chúng tôi lại để bại lộ cái dốt tệ hại của chính mình. Chúng tôi chế diễu các bản văn cổ, chúng tôi đòi sửa đổi cho bằng hết các bản kinh, bản bổn, sách xưa, sách cũ. Lâu lâu có một lần điều chỉnh một hai từ quá xưa, quá cổ có thể gây ngộ nhận, thì là việc làm bình thường, không có gì đáng nói. Đằng này, do cái "sính" đồ mới, "sính từ ngữ mới" thì thật tai họa. Tôi lấy một thí dụ điển hình. Trong tiếng La tinh, từ "spiritus" có nghĩa là hơi thở, là khí trời, mà bởi hơi thở, khí trời đều là vật không trông thấy, không nhìn thấy mà vẫn vận hành bình thường trong trời đất, vì vậy người ta cũng gọi là spiritus những vật giống như khí, tức không có thể xác, tức là vật thiêng, hay thiêng liêng. Từ spiritus bị người Pháp phát âm sai lệch đi trở thành tiếng Pháp là esprit cũng mang những nghĩa giống y như từ gốc La tinh. Từ La tinh spiritus, tiếng Pháp đọc là esprit, đã được dịch sang một từ Hán cũng hai ý nghĩa y như từ spiritus của tiếng La tinh, tức từ thần, viết: , cũng có nghĩa là hơi thở, là khí trời, mà cũng có nghĩa là vị không có xác, giống như hơi thở, giống như khí trời, tức là vị thiêng liêng có tư cách vô hình nhưng vẫn hoạt động như hơi thở, như khí trời. Các nhà tôn giáo Tàu và ta từ bốn, năm thế kỷ nay đã sử dụng từ "thần" để mà dịch từ La tinh spiritus, dù là khi từ spiritus hay esprit đứng một mình như khi nói ""spiritus Dei ferebatur super aquas" (Gen 1,2) và Cố Chính Linh (Schlicklin), Kinh Thánh, quyển I, năm 1913, Hongkong, dịch là "có thần Chúa chuyển vận trên khắp nước" (Sđđ, tr 27), dù là khi spiritus đi với adjectif "sanctus", thì trong tiếng Việt cũng thêm từ "thánh", thì spiritus sanctus cũng được dịch là thánh thần, rồi khi từ spiritus hay spiritus sanctus mà chỉ NGÔI BA THIÊN CHÚA, thì vẫn dịch với chữ "thần" đó, và gọi là Đức Chúa Thánh Thần. Nhưng ở trong tất cả mọi trường hợp, từ thần viết là: vẫn có nghĩa là hơi thở, là hơi, là khí, là không khí, là khí lực. Như vậy từ Hán viết là Thần mà được sử dụng đã dịch từ La tinh spiritus thì quả thật, từ Thần  với ngữ nghĩa là hơi, hơi thở, không khí, khí lực đã diễn dịch được mọi khía cạnh ngữ nghĩa của từ La tinh spiritus. Trong các trường hợp này, từ thần, viết , không chỉ ông thần. Như vậy thì tổ tiên người Công giáo Việt-Nam xưa "Nho đầy mình" đã sử dụng ngôn ngữ đích đáng, thông suốt, thế mà rồi chúng tôi lại tưởng người xưa Công giáo Việt-Nam là dốt cho nên chúng tôi đã bỏ cái từ thần, để đi chọn cái từ khí, thực ra nói cho cùng muốn sử dụng từ thần viết hay từ để mà dịch từ La tinh spiritus thì cũng chẳng có sao, từ thần hay từ khí khi nó đứng một mình đều có khả năng diễn dịch rất đúng nội dung ngữ nghĩa (sémantique) của từ La tinh spiritus. Nhưng chẳng hiểu tại sao chúng tôi lại kỳ cục phong cho từ khí một qualificatif, khốn nỗi lại là qualificatif "thần". Thật là khốn nạn, bởi vì trong trường hợp này, tức trường hợp thần đi với khí để trở thành thần khí ,thì thần ở đây không có có nghĩa là hơi, hơi thở, không khí, khí lực nữa, mà trái lại thần phải hiểu là ông thần và thần khí là cái khí của ông thần. Có ai hỏi tại sao nó như vậy, thì chỉ có thể trả lời: ngôn ngữ, tiếng nói, bản chất của nó là hàm hồ như vậy, bản chất của ngôn ngữ không nói lên ce qu'il doit être, mà ngôn ngữ chỉ diễn tả ce qu'il est. Do tính ký hiệu được ngầm hợp đồng để diễn tả một ý nghĩa như vậy, thì nó là như vậy, không thể giải thích tại sao nó lại như vậy mà không thế khác. Thí dụ một cộng đồng Việt-Nam đã ngầm thỏa thuận với nhau sử dụng cái dạng chính tả chó để chỉ định một con vật biết sủa để giữ nhà, nhưng hỏi tại sao gọi con chó là chó mà không gọi chó là cái gì khác, thì chịu thua. Tiếng Việt nó độc đoán như vậy. Cũng thế, người Tàu qua bao nhiêu ngàn năm đã sử dụng hai âm thần khí để diễn cái mà họ gọi là cái khí của ông thần. Mà trong quan niệm Tàu, được Việt-Nam chia sẻ, thì hễ cái gì thuộc về các đấng thiêng liêng như quỉ, như thần, như thiên, như thì (tức thì tiết, thời tiết) đều có sức mạnh khủng khiếp, đều đáng kinh sợ, đều gây chết chóc, gây tai họa. Như từ thì hay thời thường có nghĩa là thời tiết, là thiên nhiên, là vũ trụ, thì có gì là xấu đâu, nhưng tại sao khi nói thì khí, thời khí thực ra chỉ có nghĩa là cái khí của trời đất, cái khí của vũ trụ, thì trong trường hợp này, thì khí, thời khí lại có nghĩa xấu, chỉ những bệnh hoạn đáng sợ, gọi là bệnh thì khí, bệnh thời khí bởi vì người Đông phương, nhất là Tàu và Việt-Nam coi cái gì của trời đất đều đáng sợ, bởi vì trời to quá, mình bé quá cho nên dễ bị trời đất gây ảnh hưởng tai họa.

Cũng thế, từ thần khí, thực ra, theo Tứ Thư, Ngũ Kinh, theo Bách Gia Chư Tử, theo tự điển Từ Hải, hay theo Trung quốc đại từ điển đều có cả hàng mấy trăm lần sử dụng từ "thần khí" đều để nói về cái khí dũng mạnh của ông thần. Mà cái gì thuộc về của TRỜI ĐẤT hay THẦN MINH đều dũng mạnh, đều khủng khiếp, đều gây ra tai họa cho con người vốn mỏng manh, nhỏ nhoi. Chính xuất phát từ cái triết lý TRỜI ĐẤT, THẦN MINH, CON NGƯỜI tương dữ như vậy mà từ thần khí được sử dụng bởi người Tàu, rồi tổ tiên ta là những thâm Nho, tức "Nho đầy mình", nên cũng cũng đã ít ra từ bốn trăm năm nay đều đồng bộ, đều nhất trí sử dụng từ thần khí để chỉ bệnh dịch hạch, bệnh ôn dịch, bệnh thần khí đều đồng nghĩa với bệnh lệ khí, bệnh dịch khí. Tức cả ba từ lệ khí, dịch khí, thần khí đều đồng loạt được dịch sang từ La tinh là pestis (La tinh), la peste (Pháp). Các cuốn tự điển sau đây đều dịch từ thần khí là bệnh dịch hạch (la peste):

1. Dictionarium Annamiticum Latinum của Pigneau de Béhaine, 1772. Thần khí: pestis.

2. Dictionarium Annamiticum Latinum, Taberd, 1836. Thần khí: pestis.

3. Dictionarium Annamiticum Latinum, Theurel, Ninh Phú, 1877. Thần khí: pestis.

4. Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, Huỳnh Tịnh Paulus Của, 1895;

Tra nơi từ khí, thì từ khí được định nghĩa là: "hơi, lưu chất, vật tán mạn trong trời đất". Tiếp nêu lên từ ghép thần khí có ghi chữ Nôm như trên và được định nghĩa "là thứ khí rất dữ hay làm cho người ta thổ tả, hoặc mang bệnh kỳ quái mà chết tức". Cùng nghĩa như: lệ khí, dịch khí.

Tra nơi từ thần, thì từ thần được ông định nghĩa như sau: Thần khí là lệ khí, ôn dịch.

5. Dictionnaire Annamite Français, Genebrel, 1898.

Tra nơi từ khí, có thần khí dịch là maladie endémique. Tra nơi từ thần, có thần khí, dịch là la peste.

6. Dictionnaire Annamite Français, 1899, Bonet. Thần khí: la peste.

7. Dictionnaire Annamite Français, 1957, Goin. Thần khí: la peste.

8. Việt-Nam Tự Điển của Lê Văn Đức, Sài Gòn 1970. Thần khí được định nghĩa là: sinh khí, tinh thần con người, là lệ khí, là ôn dịch: mắc thần khí, đưa thần khí.

Như vậy là về mặt từ điển thì liên tục từ 1772 cho tới năm 1970 từ Bắc vô Nam đều nhất thiết dịch từ thần khí là bệnh dịch hạch, bệnh ôn dịch.

Nói đến sách biên chép, thì Maiorica qua 4.200 trang chữ Nôm, trong khi chép truyện đã nhiều lần nói đến bệnh thần khí với ý nghĩa là thứ bệnh ôn dịch giết người ta không có cách gì chữa được. Như nơi truyện ông Thánh Gregorio hay làm phép lạ vào tháng 9, nơi trang 38a, dòng 3 và 4 có viết như sau: "Có một lần thiên hạ phải tật thần khí: chết nhiều người lắm trong mười năm mà chưa khỏi lại lây đến nhà quê người cũng chết nhiều lắm". (B13/11/38ad3-4). Aáy là chưa nói tới trong Kinh Cầu Các Thánh, lời cầu nguyện: a peste, fame, et bello, libera nos Domine, thì được đọc bằng tiếng Việt là "Kẻo phải thần khí, mất mùa, giặc giã, Chúa chữa chúng tôi". Như vậy là, riêng ở Việt-Nam, suốt gần 400 năm, người Công giáo Việt-Nam đã sử dụng ký hiệu, tức từ ngữ thần khí để dịch từ pestis, la peste.

Chẳng hiểu tại sao vì sính dùng chữ mới, vì khoái đổi mới, chúng tôi đã tự ý chống lại luật ngôn ngữ, luật của tiếng nói, để cưỡng bách một từ ngữ mà tổ tiên mình đã thỏa thuận sử dụng từ ngữ đó để gọi cái thứ bệnh khủng khiếp là bệnh dịch hạch, bệnh pestis, bệnh peste, nay lại lựa chọn để sử dụng cũng từ ngữ đó để gọi MỘT trong BA NGÔI của Thiên Chúa là Thần Khí. Gọi Ngôi Ba Thiên Chúa là Thần Khí, mà Thần Khí, trong các bộ tự điển lớn đều dịch là bệnh ôn dịch, bệnh dịch hạch, bệnh giết người. Thật không có gì giống nhau giữa Ngôi Ba Thiên Chúa với cái bệnh dịch hạch cả, vậy mà mấy ông canh tân Kinh Thánh chúng tôi tự vỗ ngực là siêu bác học đã làm những việc canh cải đều theo cái kiểu chửi bố, chửi mẹ mình như vậy.


Tác giả: Nguyễn Văn Trung
   dunglac@gmail.com