Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Hữu Thuần
Bài Viết Của
Trần Hữu Thuần
Mời đọc sách: Tiến Đến Cách Xử Lý Mục Vụ về Văn Hóa (do Hội Đồng Giáo Hoàng về Văn Hóa của Tòa Thánh)
Giáo hoàng và báo chí (bài của Fr. Raymond J. de Souza)
Đổi mới trong tiếp diễn: Diễn dịch của Giáo hoàng Benedict về Vatican II
Khoa học, kỹ thuật và tương lai con người - Một hướng dẫn mới về đạo đức sinh học từ Vatican
Ý nguyện tự do, tiền định và chủ thuyết định đoạt - chương 3: Tự Do
Giọng nói tiếng Việt Nam từ Bắc vô Nam
Ý nguyện tự do, tiền định và chủ thuyết định đoạt (Sách): chương 1
Điểm sách (205): Sinh vật cao cấp: Vẻ đẹp, trang nhã, và sự kỳ lạ của xã hội côn trùng (của Bert Hölldobler và Edward O. Wilson)
Điểm sách (204): Chẳng ai nhìn thấy Thiên Chúa (của Michael Novak)
Điểm sách (200): Tiếp nhận quà tặng của tình bạn: Khuyết tật trầm trọng, Nhân chủng thần học, và đạo đức (của Hans S. Reinders)
Chuyện ngắn ngủn
Điểm sách (199): Ayatollah[1] xin không đồng ý: Nghịch lý của Iran hiện đại (của Hooman Majd)
Điểm sách (198): Chết với gián đoạn (của José Saramago, Margaret Jull Costa dịch)
Điểm sách (197): Vatican: Bí mật và kho tàng của thành thánh (của Michael Collins)
Điểm sách (196): Phát súng bạn bè: Song tấu (của A. B. Yehoshua, Stuart Schoffman dich từ tiếng Hebrew)
Điểm sách (195) : Ngoại giao bí mật của Vatican (của Charles R. Gallagher, S.J.)
Điểm sách (193): Lòng thương xót: Một cuốn tiểu thuyết (của Toni Morrison)
Điểm sách (192): Chị Teresa (của Barbara Mujica)
Điểm sách (191): Chân lý được tranh cãi: Hồi ức II (của Hans Küng)
Điểm sách (190): Vùng đất ngọt ngào của tự do: cuộc đấu tranh bị lãng quên cho nhân quyền ở miền Bắc (của Thomas J. Sugrue)
Điểm sách (189): Đức Kitô trong Phúc âm của năm phụng vụ (của Raymond E. Brown)
Điểm sách (188): Ân sủng tổ tiên (của Diarmuid O.Murchu)
Điểm sách (187): Lincoln: Tiểu sử một nhà văn (của Fred Kaplan)
Điểm sách (186): Bỏ lại đàng sau hay để bị mụ mẫm: Nguy hiểm khôn khéo của việc phổ cập thời tận cùng (của Gordon L. Isaac)
Điểm sách (185): Theo dòng đời: Dõi theo niềm tin tôn giáo, thực hành, và thay đổi (của Michelle Dillon và Paul Wink)
ĐIỂM SÁCH (1083): NGƯỜI TÌM THIÊN CHÚA: VE VÃN CỦA TÔI VỚI ĐẤNG THẦN THIÊNG (CỦA ERIC WEINER)

(Man Seeks God: My Flirtations With the Divine by Eric Weiner. Twelve, 2011. 368 trang. $26.99 nguyên thủy$15.99-17.81 tại amazon.com)

Bài của Joshua Hammer
Nguồn: The New York Times, December 23

Trần Hữu Thuần (dịch)

Sách về Thiên Chúa có xu hướng rơi vào hai chủng loại: tìm tòi khách quan về bản chất của niềm tin và các câu chuyện cá nhân về thức tỉnh tâm linh. Một loại thăm dò lịch sử, huyền nhiệm tạo dựng và nghi thức tôn giáo. Trong loại kia, tác giả tiêu biểu trải qua một tai biến—một cơn bệnh sống chết, cái chết của một người được yêu thương, khởi đầu nỗi khiếp hãi hiện sinh—gây cho ông ta phải đối đầu với sự trống rỗng của cuộc sống của ông ta, đi đến chỗ nhận ra rằng có một điều gì ngoài đó to lớn hơn chính ông ta.

“Người tìm Thiên Chúa” (Man Seeks God) của Eric Weiner linh lợi và thường buồn cười cỡi lên tường ngăn giữa hai chủng loại. Nguyên một phóng viên chiến tranh cho National Public Radio, Weiner cũng là tác giả của (một cuốn sách thành công bán chạy nhất). Cuộc ngao du mới của ông khởi đầu sau khi các bác sĩ nhầm lẫn một cơn đau vì hơi trong ruột với một điều gì kinh khủng hơn. Weiner sợ hãi về sự sống của ông, và sau khi một y tá đối đầu ông tại phòng bệnh viện của ông (“Ông đã tìm thấy Thiên Chúa của ông chưa?”), người tự mô tả là Người theo thuyết bối rối (Confusionist) này bắt đầu cuộc hành trình qua năm quốc gia và tám tôn giáo để tìm ra đức tin nào phù hợp với ông nhất.

Như Weiner giải thích trong phần dẫn nhập, ông sinh ra trong một gia đình “Do thái sành ăn” mà cảm quan về sự hiện diện thần thiêng khởi đầu và chấm dứt trong nhà bếp: “Nếu chúng tôi có thể ăn nó thì nó thuộc về Dothái giáo và, nói rộng ra, có gì đó dính líu với Thiên Chúa. Theo chừng mực tôi quan tâm đến, Thiên Chúa cư ngụ không phải trên Thiên đường hoặc trong Không trung bao la mà trong Tủ lạnh, đâu đó giữa kem phôma và gia vị trộn xàlách. Chúng tôi đã tin tưởng vào một thần chúa ăn được, và đó chính là về chiều kích của đời sống tâm linh của chúng tôi.”

Nhưng giai đoạn lãnh đạm đó chấm dứt với kinh nghiệm sợ chết của Wiener. Từng chương kế tiếp bắt đầu với quảng cáo cá nhân kiểu trang mạng quảng cáo, một cái cớ từ một “CWM” (Confusionist White Male—Người nam da trắng theo thuyết bối rối) đang tìm kiếm cảm hứng thần thiêng. “Khao khát minh mẫn và bình an của tâm trí,” ông viết trước khi lên đường đến Katmandu để thăm dò các khái niệm về karma (nghiệp chướng), đau khổ và tái sinh với các học giả Phật giáo, kể cả một nhà thần bí từ Đảo Staten tên là Wayne.

“Tìm kiếm một người cùng phe ngang đầu ngang đũa và người nói ra chân lí cao quí đã ở đây trước. Xin vui lòng khai sáng tôi.” Sau các kêu gọi như thế, Weiner trải qua các thời gian với các phù thủy, các tu sĩ dòng Phanxicô, người theo đạo Hồi quay cuồng cầu nguyện (whirling dervishes), thầy bùa phép và các người tin thực sự khác, điều hòa cả hai để gợi thành một giuộc và kích thích tìm hiểu bản chất của đức tin. Ông là Woody Allen hòa hợp với Karen Armstrong.

Việc nếm thử nhiều món ăn tôn giáo gợi nên một số nhận thức phong phú. Ông ghi nhận rằng Phật giáo dựa trên “một ngưng nghỉ có thể vừa quan niệm được chút ít giữa các tư duy của chúng ta, một ngưng nghỉ mà, trong khi bình thường thậm chí không biết đến sự hiện hữu của nó, chứa đựng toàn thể vũ trụ. Chúng ta biết điều này theo linh tính. Chúng ta nói một điều gì ‘đưa cho chúng ta ngưng nghỉ’ khi nó làm cho chúng ta ngưng lại và tư duy, hoặc tư duy lại.” Và ông chứng tỏ rằng tính hoàn toàn không thể được của nhiều câu chuyện tạo dựng là những gì làm cho chúng hấp dẫn, ràng buộc người tin vào một bước nhảy vọt chia sẻ nhau về đức tin. “Sự điên rồ của một người,” ông nhận xét, “là thần học của người khác, và ngược lại.”

Một hành trình đến Turkey để điều tra Thần bí Hồi giáo (Sufism) mở ra cho Weiner khía cạnh vui tươi, thần bí của Hồi giáo. Và ông xúc động bởi sự tự hiến mà nhiều tôn giáo chính, từ Phật giáo đến Công giáo Rôma, khuyến khích. Kề cận với một nhóm các tu si dòng Phanxicô điều hành một nơi trú ngụ cho người không nhà cửa tại South Bronx, ông cảm động bởi các các người đàn ông tận hiến này, những người chấp nhận một lời khấn hoàn toàn khó nghèo và đưa cuộc sống của họ vào phục vụ không chỉ Thiên Chúa mà người hư hỏng vì ma túy và người vô vọng. “Nếu một buổi sáng chúng ta thức dậy và nhận ra chúng ta đã mất hết mọi sự—việc làm, nhà cửa, tiền bạc, tiếng tăm, người thân yêu của chúng ta—liệu chúng ta có trở mình rồi chết không?” ông hỏi. “Các tu sĩ dòng Phanxicô không đơn thuần giải trí với câu hỏi đó như một loại thao dượt tâm linh. Họ sống nó.”

Ở một cực khác là cuộc thăm viếng náo động của Weiner đến một hội nghị Las Vegas những người theo Raël, một chi phái dựa trên Đĩa bay (U.F.O.) mà người tham gia tin rằng loài người đã được tạo ra 25.000 năm về trước bởi một sắc dân nhân từ người hành tinh gọi là Elohim. Pha trộn hầm bà lằng tự chế, thờ phượng người liên hành tinh và theo đuổi không nao núng thú vui xác thịt, nhóm được một kí giả Pháp, Raël, thành lập, người xuất hiện trước đám đông với tóc tai “buộc túm kiểu samurai” trong một trang phục làm ông xem ra “như vừa văng ra khỏi một chương trình ‘Star Trek.’”

Weiner mặc y phục ngược lại như là thành phần của một thao dượt chuyển quan điểm (“Mái tóc vàng dày của tôi nhẹ nhàng chảy xuống trên ngực rộng của tôi. Khuôn mặt mới cạo râu của tôi trơn tru, và phấn son cho nước da một ánh sáng nhẹ nhàng nhưng lành mạnh”), và ông nhăn nhỡ ghi nhận rằng Dòng các thiên thần (Order of Angels) của chi phái—một nhóm thủ túc phụ nữ đẹp đẽ—thề giữ một lới khấn độc thân, với một ngoại lệ có ý nghĩa: họ được phép có tình dục với người sáng lập. “Giáo thuyết Raël là tôn giáo tuyệt vời cho các cậu trai 16 tuổi,” ông kết luận. “Nó có công cụ hay ho và gái nóng bỏng, và đã nâng thủ dâm lên thành một hành động giao phó thánh…. Vâng, giữa người theo phái Raël và nhà nguyện địa phương của tôi, sẽ chẳng có đối nghịch. Thậm chí chẳng gần như vậy.”

Dẫu vậy, cuối cùng, Weiner loại bỏ các chi phái như vậy như là “một số thuốc bổ nông nỗi cho bệnh thần kinh hàng ngày của chúng ta,” quyến rũ của chúng trong trong việc chúng vượt thoát các đòi hỏi mãnh liệt do các “tôn giáo tốt” của thế giới đưa ra. Một chương sau cho thấy ông đồng hành với người Bùa phép (Wiccans), dự phần vào các nghi lễ phù thủy—“Macbeth gặp Harry Potter”—và cân nhắc lợi ích của việc thờ phượng ngoại đạo đối với chủ thuyết độc thần. “Nếu chiến xa của Hashem có một năm xấu, người Do thái chẳng cách nào xoay xở,” ông viết. “Với người Wiccans, không vậy. Luôn luôn có một thần chúa khác.”

Thế nhưng, cuộc phiêu lưu của Weiner cảm thấy không thỏa mãn. Việc ông lùng kiếm một nhân dạng tôn giáo không thuyết phục cách riêng; sự thực, nó thường xem ra là một cuộc tìm kiếm chẳng có tâm hồn hơn một công cụ một nhà báo chuyên nghiệp và các người biên tập của ông đặt làm, một phương cách đặt ông lại lên đường. Chúng ta không bao giờ tin, nói ví dụ, rằng Weiner đích thực bị cuốn đến thế giới tâm linh của giáo thuyết bùa phép hoặc các nghi lễ ma quái của phù thủy thời hiện đại. Cách xử lí lưu động của ông không cho phép có nhiều chiều sâu. Nhưng trong khi ông khéo léo nắm bắt tinh thần gàn dỡ của các tôn giáo bên lề, ông ở trên nền tảng lay động cố gắng giải thích các khái niệm, nói ví dụ, của Phật giáo hay Đạo giáo. Một liên tục gặp gỡ các bậc thầy, các thầy chiêm niệm và các cố vấn tâm linh khác kết quả thành các nhận xét thần bí và các nhận xét nhanh về tính hư vô làm cho vừa Weiner vừa người đọc ông bực bội.

Ông hoàn tất cuộc tìm kiếm của ông với việc quay về nhà cùng loại bằng cách đi đến thành phố Safed của Israel, từ lâu là một trung tâm cho việc nghiên cứu giáo huấn thần bí Dothái giáo (kabbalah), một cố gắng thần bí về Dothái giáo được tạo ra bởi các học giả Pháp và Tây ban nha đã sống ở đó vào thế kỉ thứ 16. “Tôi đã thèm khát trong tim tôi, ve vãn một nhóm thần chúa xa lạ, đắm mình trong phù thủy,” ông viết. “Tôi cảm thấy như một người chồng ương ngạnh, nồng nặc nước hoa dịu ngọt và rượu mạnh rẻ tiền, ngại ngùng gõ lên cửa chính sau một thời gian xa vắng dài và không giải thích được.” Weiner học trong Zohar—kinh thánh của thần bí Dothái—thưởng thức các đường phố lát đá và các cửa hàng đầy “quần áo Dothái không vừa,” nhen lại nhân dạng Dothái ngủ yên và cố gắng giải mã mà người đi theo Kabbalah tin giữ cho Thiên Chúa ẩn khuất khỏi mắt thường. Như mọi lúc, Weiner rất hay về bầu khí nhưng kém về riêng biệt: chúng ta ra đi chẳng với một cảm giác vững chắc về kabbalah là gì cũng chẳng một nhận thức về các đòi hỏi nó đưa ra cho các người theo nó.

Vào cuối cuốn sách, Weiner chấp nhận một Thiên Chúa pha trộn ghép lại với nhau từ các gặp gỡ khác nhau của ông: “Nền tảng của ông là Do thái giáo, nhưng củng cố của ông chiếu rọi người theo Phật giáo. Ông có con tim của thần bí Hồi giáo, sự đơn giản của Đạo giáo, tính khoan dung của các tu sĩ dòng Phanxicô, tính nết theo khoái lạc của người theo Raël.” Đó là một phương cách gẫy gọn để buộc lại các đầu rời, nhưng sao đó nó để tôi lại vẫn là một người không tin.

 

Tác giả: Trần Hữu Thuần
   dunglac@gmail.com