Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Hữu Thuần
Bài Viết Của
Trần Hữu Thuần
Mời đọc sách: Tiến Đến Cách Xử Lý Mục Vụ về Văn Hóa (do Hội Đồng Giáo Hoàng về Văn Hóa của Tòa Thánh)
Giáo hoàng và báo chí (bài của Fr. Raymond J. de Souza)
Đổi mới trong tiếp diễn: Diễn dịch của Giáo hoàng Benedict về Vatican II
Khoa học, kỹ thuật và tương lai con người - Một hướng dẫn mới về đạo đức sinh học từ Vatican
Ý nguyện tự do, tiền định và chủ thuyết định đoạt - chương 3: Tự Do
Giọng nói tiếng Việt Nam từ Bắc vô Nam
Ý nguyện tự do, tiền định và chủ thuyết định đoạt (Sách): chương 1
Điểm sách (205): Sinh vật cao cấp: Vẻ đẹp, trang nhã, và sự kỳ lạ của xã hội côn trùng (của Bert Hölldobler và Edward O. Wilson)
Điểm sách (204): Chẳng ai nhìn thấy Thiên Chúa (của Michael Novak)
Điểm sách (200): Tiếp nhận quà tặng của tình bạn: Khuyết tật trầm trọng, Nhân chủng thần học, và đạo đức (của Hans S. Reinders)
Chuyện ngắn ngủn
Điểm sách (199): Ayatollah[1] xin không đồng ý: Nghịch lý của Iran hiện đại (của Hooman Majd)
Điểm sách (198): Chết với gián đoạn (của José Saramago, Margaret Jull Costa dịch)
Điểm sách (197): Vatican: Bí mật và kho tàng của thành thánh (của Michael Collins)
Điểm sách (196): Phát súng bạn bè: Song tấu (của A. B. Yehoshua, Stuart Schoffman dich từ tiếng Hebrew)
Điểm sách (195) : Ngoại giao bí mật của Vatican (của Charles R. Gallagher, S.J.)
Điểm sách (193): Lòng thương xót: Một cuốn tiểu thuyết (của Toni Morrison)
Điểm sách (192): Chị Teresa (của Barbara Mujica)
Điểm sách (191): Chân lý được tranh cãi: Hồi ức II (của Hans Küng)
Điểm sách (190): Vùng đất ngọt ngào của tự do: cuộc đấu tranh bị lãng quên cho nhân quyền ở miền Bắc (của Thomas J. Sugrue)
Điểm sách (189): Đức Kitô trong Phúc âm của năm phụng vụ (của Raymond E. Brown)
Điểm sách (188): Ân sủng tổ tiên (của Diarmuid O.Murchu)
Điểm sách (187): Lincoln: Tiểu sử một nhà văn (của Fred Kaplan)
Điểm sách (186): Bỏ lại đàng sau hay để bị mụ mẫm: Nguy hiểm khôn khéo của việc phổ cập thời tận cùng (của Gordon L. Isaac)
Điểm sách (185): Theo dòng đời: Dõi theo niềm tin tôn giáo, thực hành, và thay đổi (của Michelle Dillon và Paul Wink)
Ý NGUYỆN TỰ DO, TIỀN ĐỊNH VÀ CHỦ THUYẾT ĐỊNH ĐOẠT (SÁCH): CHƯƠNG 1

FREE WILL, PREDESTINATION AND DETERMINISM

 

 

JOHN COWBURN, SJ

TRẦN HỮU THUẦN (dịch)


DẪN NHẬP

Tôi nghĩ, không thông thường với một cuốn sách đơn độc đề cập đến các vấn đề vừa thần học vừa triết học liên quan đến ý nguyện tự do. Đó chính là điều cuốn sách này làm.

            Trong Phần I, tôi nêu lên những gì tôi gọi là giáo điều ý nguyện tự do (the free will doctrine) mà không chứng minh và không đi vào bất cứ vấn đề thần học nào. Bất cứ ai chỉ hứng thú về triết học nên đọc Phần này rồi bỏ qua đến Phần III, trong đó tôi bác bỏ chủ thuyết quyết định (determinism) và từ đó chứng minh ý nguyện tự do.

            Trong Phần II, tôi thảo luận các vấn đề thần học liên quan đến ý nguyện tự do: đó là các vấn đề, như là một vấn đề về đức tin Kitô giáo, liệu hiện thân con người có ý nguyện tự do hay không; nếu chúng ta có ý nguyện tự do đó, tuy thế, liệu Thiên Chúa có kiểm soát hành động của chúng ta hay không; và liệu Người có biết trước các hành động của chúng ta hay không. Bất cứ ai chỉ hứng thú với thần học nên đọc Phần I và rồi Phần này.

            Trong Phần IV, tôi phân tích việc đưa ra quyết định. Điều này có lẽ là tâm lý học hơn là triết học, với một chương về tâm linh được đưa vào.

Để tránh rườm rà trong các cước chú, tôi đã bỏ các sự kiện về xuất bản và chỉ đưa ra tên họ các tác giả và tên các cuốn sách và bài báo. Thông tin nhiều hơn nằm ở trong phần thư mục ở cuối sách.

            Khi câu diễn đạt chỉ xẩy ra một hai lần trong một câu văn, tôi sử dụng “ông ấy hay bà ấy” khi dẫn chiếu đến một người có thể hoặc đàn ông hoặc đàn bà, nhưng tôi không viết, ví dụ: “khi một người đưa ra một quyết định ông hay bà ấycó thể cần phải hội ý với vợ ông ấy hay chồng bà ấy và ghi chép những gì bà ấy hay ông ấy muốn.” Trong các trường hợp đó, tôi dùng “ông ấy[1]” như gọi tắt cho “ông ấy hoặc bà ấy.”

            Phần lớn các trích dẫn kinh thánh đều lấy từ Phiên bản tiêu chuẩn mới duyệt lại (New Revised Standard Version—NRSV); nếu một phiên bản khác được dùng, sẽ được ghi chú (NJB nghĩa là Kinh thánh Giêrusalem mới [New Jerusalem Bible]).


PHẦN I

GIÁO ĐIỀU Ý NGUYỆN TỰ DO

(The Free Will Doctrine)

CHƯƠNG I

Ý NGUYỆN TỰ DO

(Free Will)

BA THỂ LOẠI BIẾN CỐ

(Three Kinds of Event)

BIẾN CỐ ĐÃ QUYẾT ĐỊNH, NGHĨA LÀ ĐÃ TIỀN ĐỊNH

(Determined, which is to say predetermined, events)

Có một sự điều hòa trong thiên nhiên. Điều này được diễn đạt dưới các luật, không như luật dân sự, không nói đến điều gì phải xẩy ra mà là những gì sự thực có xẩy ra. Các luật không thống kê nói về những gì cần phải xẩy ra trong các trường hợp riêng biệt nào đó. Ví dụ, mặt trời cần phải mọc lên sáng nay ở đây chính xác vào lúc Giờ Đông Úc. Cũng vậy, nếu tôi giữ một cái cốc trong không khí và buông nó ra, nó rơi xuống; tôi không nói nó thường rơi xuống mà đơn giản nó rơi xuống, nghĩa là không có điều gì khác có thể xẩy ra.

            Thông thường người ta tin tưởng rằng các luật đó của thiên nhiên là phổ quát trong không gian và thời gian, thế nào để, nói ví dụ, các nhà khoa học tính toán về các mặt trăng của sao Mộc giả định rằng chúng “tuân theo” cùng các luật về trọng lực như áp dụng ở quả đất chúng ta, và các nhà khoa học khác ước tính về sự khởi đầu vũ trụ giả định rằng cùng các luật đó về thiên nhiên cũng được áp dụng lúc đó như bây giờ.

            Từ “cần thiết” bây giờ thường mang ý nghĩa cần thiết cho điều gì: ví dụ, chúng ta có thể nói, để trở thành thành viên của một ca đoàn, cần thiết phải có thể hát và có thể cần thiết phải có thể đọc nốt nhạc. Tuy nhiên, nó thường được sử dụng chính tự nó, thế nào để biến cố được nói là cần thiết nếu nó theo sau cách cần thiết tiền lệ (antecedents) của nó, và niềm tin rằng mọi hành động đều được quyết định hay “theo luật pháp,” điều giờ đây gọi là chủ thuyết quyết định (determinism), trước kia được gọi là “giáo điều về sự cần thiết triết lý” (the doctrine of philosophical necessity). Tuy nhiên, có hai thể loại khác về biến cố, hoặc ít nữa, có hai ý niệm khác nhau về các biến cố.

CÁC BIẾN CỐ TÙY TIỆN, SỰ VIỆC XẨY RA TÌNH CỚ

(Random events, things which happen by chance)

Qua một biến cố tùy tiện tôi muốn nói, trước tiên, một biến cố mà, với các tiền lệ của nó, liên quan đến nhiều khả dĩ. Tôi không chỉ muốn nói rằng chúng ta, khi chúng ta biết các tiền lệ của một biến cố, đôi khi nghĩ rằng nhiều sự việc là khả dĩ: tôi muốn nói rằng có nhiều hơn một khả dĩ, cho dẫu chúng ta biết điều đó hay không. Sự tùy tiện có thể không phải là toàn thể: ví dụ, một con ngựa đực rập một con ngựa cái, có thể chắc chắn rằng con vật con sẽ là một con ngựa con nhưng nó có thể khả dĩ đồng đều con ngựa con là con đực hoặc con cái và trong chiều hướng đó sẽ có sự tùy tiện. Tôi muốn nói, thứ nhì, rằng không ai chọn lựa giữa các khả dĩ. Một trong chúng chỉ việc xẩy ra. Tôi sẽ nói nhiều hơn về điều này ở chương 6.

HÀNH ĐỘNG TỰ DO

(Free acts)

Hành động tự do là chủ đề của cuốn sách này và vì thế tôi sẽ vắn tắt về các điều đó ở đây.

            Nói rằng một người trong một hoàn cảnh riêng biệt nào đó có ý nguyện tự do có hai ý nghĩa. Thứ nhất là rằng người đó có thể đưa ra một quyết định, và cũng có thể ít nhất đưa ra một quyết định khác[2]. Người đó có các điều thay thế (alternatives).[3] Nói ví dụ, nếu một người đàn bà đang làm cho một xí nghiệp và được cho một chức vụ khác tại một xí nghiệp khác, nói rằng bà ấy có ý nguyện tự do nghĩa là, trước hết, rằng bà có thể chấp nhận công việc đó và bà cũng có thể từ chối nó.

            Thứ nhì, nói rằng một người có ý nguyện tự do nghĩa là rằng người đó—không phải ai khác mà chính ông ấy hay bà ấy—chọn lựa đưa ra một trong các quyết định khả dĩ và không đưa ra điều nào trong các quyết định kia. Việc chọn lựa này nằm trong ý thức: nghĩa là, chính trong ý thức mà con người quyết định các quyết định của họ hoặc thực hiện những gì được gọi là “tự quyết định” (self-determination). Không có thể trực tiếp nhìn vào ý thức của người khác—ví dụ, chúng ta không thể nhìn vào tâm trí người khác và quan sát tư duy của người đó theo phương cách một bác sĩ có thể nhìn vào hai lá phổi của người khác và quan sát những gì đang xẩy ra ở đó—và do đó, trong khi chúng ta có thể kinh nghiệm về sự tự quyết định của chúng ta, chúng ta không thể quan sát trực tiếp điều đó của ai khác. Do đó, việc tự quyết định thường bị bỏ qua bởi những người tiến đến việc thảo luận về ý nguyện tự do bằng cách nhận vị thế những người quan sát người khác. Tuy nhiên, để hiểu ý nguyện tự do, thiết yếu phải ghi nhớ trong tâm trí rằng nó liên quan đến không chỉ nhiều khả dĩ mà còn đến việc “tự quyết định.” Trong sách này tôi sẽ bàn đến hầu như hoàn toàn về ý nguyện tự do, điều liên hệ đến các chọn lựa giữa các điều thay thế đã biết đến.

            Nếu hai khía cạnh của ý nguyện tự do được ghi nhớ trong tâm trí, dễ dàng để phân biệt khi người ta tin tưởng vào ý nguyện tự do, thậm chí khi họ không dùng từ ngữ đó. Ví dụ, nếu một ai đó nghĩ về các điều khác nhau người đó có thể làm, thiết lập một số các khả dĩ mở ra cho người đó, và nếu người đó nhằm chọn lựa giữa chúng, người đó tin rằng người đó có ý nguyện tự do. Tương tự, khi Isaia nói:

                        Nếu quí vị mong muốn và vâng phục;

                        quí vị sẽ ăn hoa màu của đất đai;

                        nhưng nếu quí vị từ khước và phản kháng,

                        quí vị sẽ bị gươm xé nát, (Is 1, 19-20)

rõ ràng ông giả định, trước tiên, rằng người nghe ông có thể vâng lời và cũng có thể tiếp tục phản nghịch; thứ nhì, ông giả định rằng họ sẽ chọn lựa giữa hai điều thay thế: do đó ông tin tưởng vào ý nguyện tự do, cho dẫu ông không nói thế trong các từ ngữ đó.

            Bằng cách dẫn chiếu đến hai khía cạnh của ý nguyện tự do, cũng có thể cho biết khi người ta không tin tưởng vào ý nguyện tự do. Nếu người ta nói khi chúng ta đến một giai đoạn phải chọn lựa, chỉ có một quyết định khả dĩ với chúng ta, họ không tin vào ý nguyện tự do; và nếu những người khác nói có nhiều quyết định khả dĩ và đến giây phút chót Thiên Chúa quyết định một quyết định mà chúng ta đưa ra, họ cũng không tin tưởng rằng chúng ta có ý nguyện tự do thậm chí nếu họ nói họ tin.

GIÁO ĐIỀU Ý NGUYỆN TỰ DO

(The Free Will Doctrine)

Nói cách sơ sài, giáo điều ý nguyện tự do là rằng nói chung hiện thân con người khi đã đến tuổi có lý trí, và không bị đau khổ vì xáo trộn thần kinh hay tình cảm nặng nề, theo bản chất có ý nguyện tự do tương quan với thái độ và với hành động là những gì trong quyền lực của họ, những gì họ có thể nghĩ đến. Nghĩa là, họ thường có thể chọn lựa theo hoặc chống lại một điều gì, họ có thể chọn lựa giữa hành động và không hành động, và họ có thể chọn lựa giữa các hành động khác nhau khả dĩ với họ, những hành động mà họ có thể nghĩ đến, ít nữa cách ngắn gọn, từ trước. Có những việc người ta làm cách không tùy ý: ví dụ, chúng ta mọi người đều bị đè xuống trên bất cứ cái gì chúng ta đang đứng hoặc ngồi, và một người có thể không tùy ý phản ứng theo một phương cách nào đó nếu một tiếng động mạnh (ví dụ  một khẩu súng phát nổ hoặc một chiếc đĩa rơi xuống vỡ ra) ầm lên gần họ: mệnh đề “mà họ có thể nghĩ đến” loại trừ các phản ứng như thế khỏi sự xác định của ý nguyện tự do. Cũng thế, một người nghiện một thứ ma túy hay nghiện rượu có thể không kiềm hãm được hành động liên hệ đến sự nghiện ngập của người đó nếu cơ hội để làm điều đó tự xuất hiện: các từ “những người không bị đau khổ vì xáo trộn thần kinh hay cơ thể” nghĩa là rằng những người như thế, trong các trường hợp như thế, không nói được là có ý nguyện tự do.

            Rõ ràng, một hành động tự do khác biệt với các biến cố vừa quyết định vừa tùy tiện. Tính số nhiều về các khả dĩ làm cho nó khác biệt với một biến cố tiền định , và sự chọn lựa có ý thức làm cho nó khác biệt với một biến cố tùy tiện. Robert Kane nói: “Khi được mô tả chỉ từ quan điểm tự nhiên mà thôi, ý nguyện tự do xem ra như là cơ hội[4]”: chính thành tố tâm lý làm cho nó hoàn toàn khác biệt.

NĂM HÀNH ĐỘNG TỰ DO

(Five Free Acts)

Trước khi phân tích ý nguyện tự do theo từ ngữ thông dụng, tôi sẽ kể năm câu chuyện về những người thực hiện chọn lựa tự do, thế nào để chúng ta sẽ biết những gì đang được phân tích. Tôi sẽ đặt chúng như là các câu trích dẫn.

Thứ nhất, một người đàn ông góa sống một mình ở New York. Con trai ông, đã thành hôn và sống tại một thành phố khác, không gần gũi ông, nhưng ông và con gái ông, đã ba mươi tuổi và là một giáo viên tiếng Pháp, và sống trong một căn hộ không xa lắm, lại gần gũi. Một hôm cô trở về từ một chuyến đi châu Âu với tin tức rằng cô dự định lập gia đình với một nhà khoa học năm mươi tuổi người da đen châu Phi sống và làm việc tại Pháp. Người cha điếng người. Khởi đầu, ông không biết phải nghĩ điều gì. Nói chung, cũng tốt nếu con gái ông lập gia đình. Hơn nữa, cô ấy không khờ dại và chưa bao giờ yêu rồi bỏ bỏ rồi yêu hoặc đã bị quyến rủ bởi những người đàn ông không thích hợp; ngược lại cô đã luôn luôn là một người phán đoán tốt về cá tính và cân bằng tình cảm, thế nào để nếu cô muốn thành hôn với người đàn ông này, ông ta phải là người đúng với cô. Mặt khác, rằng ông ta già hơn cô nhiều như thế, và rằng họ sẽ qua sống ở Pháp, đối với người cha hình như cuộc hôn nhân không đáng khuyến khích nhiều. Ông cũng kinh qua các cảm xúc đối nghịch. Có lúc tình yêu của ông với con gái làm cho ông cảm thấy hạnh phúc vì cô ấy. Có lúc khác ông cảm thấy nghiêng về việc chống đối cuộc hôn nhân vì nếu con gái ông qua sống bên Pháp, sẽ là chấm dứt việc gần gũi của họ, và tất cả nổi đau khổ mà ông cảm thấy khi mất vợ sống lại trong ông với viễn cảnh mất con gái của ông; thêm nữa, cô đã thay thế vợ ông trong tình cảm và ông đã ghen, cách riêng từ khi người chồng tương lai cũng vào trạc tuổi ông. Hơn nữa, như nhiều người thuộc thế hệ ông, ông có một ít tồn đọng của chủ thuyết kỳ thị chủng tộc. Tất cả các tư tưởng và cảm xúc đó nhảy nhót trong tâm trí và con tim giao động của ông, và ông thay đổi từ, “Nó có quyền lập gia đình với bất cứ ai nó chọn lựa, và nó có quyền bảo tôi phải chấp nhận anh chàng đó, tôi có thể thấy vậy” và, “Tôi yêu nó, và nếu đó là chuyện nó muốn, tôi chấp nhận điều đó” đến, “Tôi không chấp nhận điều đó!” Sau một lúc, ông nhận ra ông có thể theo bất cứ cách nào: ông có thể để tâm trí ông nhìn đến câu trả lời từ khía cạnh tươi sáng, không ích kỷ, và vừa trong thâm tâm vừa trong lời lẽ nói với con gái ông về chấp nhận cuộc hôn nhân; và ông cũng có thể nhìn vào khía cạnh tối tăm về những gì đã đề nghị, tự ý ghen tương, sở hữu, thiên kiến và bế tắc, và chống đối cuộc hôn nhân. Sau phấn đấu, ông quyết định tỏ ra rộng lượng, và ông chấp thuận. Cho dẫu ông cảm thấy một nổi chia ly đau đớn, ông cũng cảm thấy một thể loại bình an.

Thứ hai, một người đàn bà góa, có con cái, đã làm việc nhiều năm tại một thành phố, được chấp thuận một công việc to tát hơn tại một thành phố khác. Bà tự hỏi, “Hành động tốt hơn là hành động nào, chấp nhận hay không? Bà ghi nhận rằng không có ràng buộc luân lý nào ở bất cứ cách nào. Rồi bà duyệt lại các lý do tại sao chấp nhận công việc là tốt: lợi ích của trách nhiệm và vừa ý với công việc nhiều hơn, nguy hiểm của việc bà sẽ mất đi sự thích thú trong công việc và trong cuộc sống nếu bà tiếp tục ở lại với công việc lâu nay cho đến ngày về hưu, và thêm tiền bạc cho chính bà và cho con cái bà. Bà xem xét các lý do để ở lại với công việc lâu nay: sự căng thẳng tâm lý về việc phù hợp với công việc mới tại một thành phố mới; sự đau đớn, cho mọi thành viên của gia đình bà, về việc xa cách bạn bè; và nhiều tuế toái về di chuyển. Bà tự hỏi liệu bà có có ước vọng mạnh mẽ để đi hoặc để ở lại mà bà sẽ không bao giờ hạnh phúc nếu bà không đi hoặc nếu bà đi, và không tìm thấy niềm ước vọng như vậy trong chính bà. Lúc đó, đến điểm đó, bà phán đoán rằng có thể có một số lý do và động cơ tốt để nhận công việc và các lý do và động cơ tốt để từ chối nó, và rằng chẳng phải đi hay ở lại là điều đúng duy nhất để làm. Bà cũng biết rằng bà có đủ can đảm và táo bạo để có khả năng tâm lý về việc chấp nhận công việc; mặt khác, đó không phải là không kháng cự được: nghĩa là, cả hai cách hành động đều khả dĩ theo mọi phương cách. Sau một tuần lễ xoay trở các điều thay thế trong tâm trí bà, sau các cuộc trò chuyện dài với con cái và bạn bè bà, và một chuyến dạo bộ tại thôn quê, bà đưa ra quyết định và nhận công việc.

Thứ ba, một người đàn bà hai mươi ba tuổi tốt nghiệp đại học, có một việc làm tốt và đang tìm kiếm một nghề nghiệp. Cô hy vọng sẽ tự ổn định và rồi, khi cô được khoảng ba mươi tuổi, lập gia đình và có con cái. Cô gặp một người đàn ông ba mươi lăm tuổi, đem lòng yêu và hỏi cô làm vợ. Cô thấy có ba khả dĩ: lập gia đình sớm và có con cái, như ý anh ta muốn; lập gia đình và hoãn việc có con cái lại cho đến khi cô được ba mươi tuổi; nói “Không” với lời cầu hôn. Cô thấy mọi sự tùy thuộc vào cảm xúc của cô và cố quyết định chọn lựa tình yêu của cô với người đàn ông đó, và hạnh phúc của anh ta, trên ước vọng của cô về sáu năm như là một người đàn bà độc thân tiến tới trong nghề nghiệp: họ thành hôn, và trông mong sớm thành cha mẹ.

Thứ tư, một người đàn ông mắc bệnh ung thư đã biết được ông gần như chắc chắn sẽ chết trong thời gian vài tháng. Thoạt tiên ông ta không thể tin điều đó, và ông nói đâu đó trên thế giới phải có một bác sĩ có thể chữa lành ông, nhưng sau một thời gian, ông đành chấp nhận và thừa nhận sự kiện rằng ông sắp chết. Tuy nhiên, ông không muốn chết và ông cay đắng và giận dữ. Rồi, qua một thời gian, ông thấy ông có một sự chọn lựa: hoặc ông có thể tiếp tục từ khước việc chấp nhận sự chết và như là “người thua cuộc,” hoặc ông có thể chấp nhận nó và chết bình an. Sau một cuộc phấn đấu, và một thời gian buồn phiền, ông chọn chấp nhận cái chết, và từ đó có sự bình an nội tại.

           

            Thứ năm, A. E. Ellis (một bút danh) đã viết một tiểu thuyết, Nỗi đau (The Rack), hình như là một tự truyện, về một người đàn ông trẻ tuổi tại một viện bài lao tại Pháp, nhận ra rằng anh ta có thể bỏ đi và anh ta cũng có thể ở lại. Anh biết vào chiều Giáng sinh, nhân viên và bệnh nhân sẽ bận rộn và anh sẽ bị bỏ rơi một thời gian dài. Anh ta tự nhủ:

Rốt cuộc, tôi tự do. Nếu tôi ở lại đây và chấp nhận cách chữa trị, việc này là [sẽ là] tùy theo ý tôi. Nếu tôi quyết định tôi không ước muốn điều đó, tôi chỉ có việc phải giải thích với Bác sĩ Vernet, và rồi thu xếp hành lý. Điều tệ hại nhất mà tôi sợ là cái chết, điều mà, rốt cuộc, luôn luôn không tránh khỏi được. Mặt khác, nếu tôi ở lại và đồng ý trải qua bất cứ cách điều trị nào được đề nghị, tôi có thể xem điều đó một cách không hăng hái, gần như dưới ánh sáng của một cuộc thử nghiệm mà chính tôi đang thực hiện. Tất cả vấn đề là rằng phải là tôi đưa ra sự chọn lựa cách có ý thức: vào chiều trước Giáng sinh, khi hoàn toàn một mình, tôi sẽ cân nhắc các điều thay thế và quyết định[5].

ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT: NHIỀU KHẢ DĨ

(The Precondition: Multiple Possibility)

Trong mỗi một câu chuyện trên, khả dĩ nhiều hơn một chọn lựa. Ví dụ, người đàn bà trong câu chuyện thứ hai có thể chấp nhận sự cống hiến và di chuyển, và bà cũng có thể từ khước và ở lại nơi bà đang ở. Người đàn bà trong câu chuyện thứ ba có thể nói với người đàn ông: “Tôi chưa muốn lập gia đình và vì thế tôi sẽ nói “Không” với lời cầu hôn của anh. Vì lợi ích của anh, tôi hy vọng anh sẽ tìm được người đàn bà sẵn lòng thành hôn với anh, bây giờ.”

            Mỗi một chọn lựa phải khả dĩ nội tại. Xin xem xét câu chuyện này:

Một người đàn ông đến gặp một nhà kiến trúc và nói ông ta đã mua một miếng đất, với kích thước như vậy như vậy, và rằng ông muốn xây cất một căn nhà một tầng, với số phòng như thế, kích thước mỗi phòng ông đưa ra. Nhà kiến trúc nói, “Diện tích các phòng  cộng gộp lại, nhiều hơn diện tích của miếng đất; do đó, không thể cất ngôi nhà ông đã mô tả trên miếng đất ông đã mua.” Người đàn ông nói, “Ông muốn nói ông không thể thiết kế ngôi nhà tôi muốn, vì thế tôi sẽ thử một nhà kiến trúc khác,” nhà kiến trúc đáp lại điều đó: “Vấn đề không phải là tôi thiếu tài năng; không một nhà kiến trúc nào trên quả đất này có thể giúp ông; chỉ là điều đó không thể thực hiện được.”

            Nhà kiến trúc có thể chọn lựa giữa nhiều phương cách khác để giải quyết với người khác, nhưng hiển nhiên không có một chọn lựa nào giữa việc xây cất hay không xây cất ngôi nhà, chỉ vì không thể nào xây cất được. Cũng vậy, tôi sẽ giả định ở đây rằng không đơn thuần về kỹ thuật vượt quá chúng ta mà còn không khả dĩ nội tại để thay đổi quá khứ. Một ai đó viết một tiểu thuyết dựng vào các năm ba mươi có thể viết rằng một người mua một chiếc xe vào năm 1930 và sau đó, khi đến năm 1939, quay trở lại những gì ông ta đã viết trước đây và thay đổi nó. Cũng vậy, giả sử một đạo diễn, tác giả và một số diễn viên đang tập dượt một vở kịch về một người đàn ông chống lại việc con gái ông ta thành hôn với một người châu Á trong hai màn và rồi, trong Màn III, chấp thuận. Diễn viên đang đóng vai ông ta có thể nói, khi họ tập dượt Màn II, rằng sẽ giúp được ông ấy nếu trong Màn I ông ấy đã bị một tai nạn và đã được một bác sĩ người châu Á giúp đỡ. Gợi ý này có thể được tác giả chấp nhận, trong trường hợp đó gợi ý được viết vào kịch bản và, khi tai nạn xẩy ra ở Màn I, có thể xem ra không dính dáng gì đối với khán giả nhưng nó sẽ giúp họ hiểu việc thay đổi tâm hồn của người đàn ông về sau, trong Màn III. Tuy nhiên, nếu một tác giả viết về các biến cố thực, ông ta có thể đề cập đến chúng nhưng không thể thay đổi sự kiện đã xẩy ra.

            Hơn nữa, mỗi một sự chọn lựa phải khả dĩ cho người liên quan, thế nào để nhiều khả dĩ không có nghĩa là khả dĩ không giới hạn. Hiển nhiên, những gì là khả dĩ cho một người vào một lúc nào đó bị giới hạn bởi các yếu tố ngoại tại: người ta không thể bay từ Melbourne đến London trong một giờ, một người có năm mươi ngàn đôla không thể mua một ngôi nhà trị giá một triệu, và một số người ở tù hay viện thần kinh bị hạn chế bởi các vách tường. Cũng vậy, những gì chúng ta có thể làm bị hạn chế bởi các yếu tố bên trong chúng ta: một số người không thể hát, một số người không thể làm toán quá các phép tính đơn giản, và người ta có thể nói: “Dù cố gắng thế nào, tôi đơn giản không thể thích người anh của vị hôn thê tôi—tôi không kềm được, anh ta làm tôi điên tiết.” Tất cả những gì việc thực hiện ý nguyện tự do giả định là rằng trong một trường hợp rõ rệt nào đó, các chọn lựa không bị giới hạn đến còn lại một điều[6].

            Cũng vậy, nhiều khả dĩ không có nghĩa là tốt đẹp, hợp lý hoặc hấp dẫn như nhau của mọi khả dĩ:

·        Thứ nhất, chúng ta không luôn luôn, và không nhất thiết, là các người tốt về luân lý. Một người có thể thấy rõ một thái độ hay hành động có thể là không luân lý, nhưng tuy thế chọn lựa nó.

·        Thứ hai, chúng ta không nhất thiết chọn lựa những gì xem ra đối với chúng ta, từ quan điểm hữu lý, là điều tốt nhất (định nghĩa về con người như là “một con vật có lý trí” không có nghĩa rằng chúng ta luôn luôn hành động cách hữu lý[7]). Người đàn ông trong viện bài lao có thể phán đoán rằng có thể thực tế nhất đối với ông là ở lại đó—ông ta có thể tự nhủ, “Nếu ai khác ở vào hoàn cảnh này, tôi có thể bảo người đó, ‘Dây là sự chọn lựa của anh, nhưng có thể tốt hơn cho anh để ở lại’”—và vẫn có thể bỏ đi. Thường nói rằng đối thể của ý nguyện là “điều tốt”; thậm chínếu điều đó là đúng, nó không phải là “điều tốt nhất.”

·        Thứ ba, chúng ta không nhất thiết chọn lựa những gì chúng ta ưa thích theo tảm tính. Nếu người đàn bà góa trong câu chuyện thứ hai của tôi cảm thấy theo cảm tính thu hút đến việc ở lại nơi bà đang ở, bà vẫn có thể bỏ đi, và có ;úc người ta bảo nhau: “Bạn không thể luôn luôn làm những gì bạn cảm thấy thích làm, bạn phải thực tế.” Những gì tôi gọi là “nhiều khả dĩ” thường được gọi là “dửng dưng” (indifference): từ ngữ này thường có ý nghĩa l2 sự thiếu vắng bất cứ ưa thích hoặc nghiêng về theo cảm tính cách này cách khác và tôi không sử dụng nó vì ý nguyện tự do thương được thực hiện ở những nơi sự ưa thích hiện hữu cách thế nào để một người không là gì ngoại trừ lãnh đạm, theo nghĩa thông thường của từ ngữ này. Như tôi hy vọng các ví dụ của tôi đã làm rõ, nhiều quyết định không phải được xử lý theo một phương cách lạnh lùng, hữu lý nhưng đúng ra chúng được quyết định bởi cảm xúc này cảm xúc khác.

·        Thứ tư, khi các xem xét thực tế dẫn chúng ta đến chọn lựa một điều và sự ưa thích cảm tính của chúng ta lại chọn điều khác, hoặc khi có đối nghịch giữa các xem xét thực khác nhau hoặc các xem xét khác, hoặc các cảm tính, những gì chúng ta chọn lựa không được quyết định bằng bất cứ điều nào trong các điều đó là điều mạnh mẽ nhất. Nó cho dẫu không phải là chúng ta có khả năng chọn lựa cách này cách khác chỉ khi các ảnh hưởng khác nhau trên chúng ta đã được cân đối quân bình.

·        Thứ năm, một người không nhất thiết chọn lựa theo thể loại tâm lý của người đó. Theo sự phân loại của Myers-Briggs, có tới mười sáu thể loại cơ bản, một thể loại người có xu hướng lẫn tránh các sự không thuận ý. Nếu một người như thế thích âm nhạc của Bartok và nghe ai đó nói âm nhạc thế kỷ thứ hai mươi chẳng có gì hay ho, thay vì nói, “Nhưng chắc chắn Bartok là một nhà soạn nhạc tài ba,” như bất cứ ai khác đánh giá cao Bartok có thể làm, người này có xu hướng để chuyện đó qua đi. Nhưng bảo chữa cho Bartok có thể là không thể được. Tương tự--và ở đây tôi chuyển từ thể loại tâm lý qua đặc tính luân lý—nếu một người thuộc tính khí rộng lượng, người đó không nhất thiết giúp bạn khi bạn cần, nhưng một người khó tính có thể làm mọi người kinh ngạc, kể cả chính người đó, bằng cách tỏ ra rộng lượng một lần. Một người không thành thực không có quyền nói: “Đừng trông mong tôi nói ra sự thực. Tôi không thể. Tôi không thành thực.”

·        Thứ sáu, các yếu tố không ý thức không quyết định các chọn lựa của chúng ta, cho dẫu chúng có thể ảnh hưởng trên các quyết định đó. Nếu tôi phải đưa ra một quyết định, các yếu tố không ý thức có thể làm cho tôi cảm thấy nghiêng về việc chọn lựa theo một phương cách riêng biệt nào đó mà không biết tại sao, hoặc chúng có thể gây cho tôi tìm kiếm các lý do để đưa ra quyết định đó; nhưng, ngoại trừ trong trường hợp của hành vi hấp dẫn thoát từ “rối loạn tâm thần hay cảm xúc trầm trọng,” chúng không làm cho điều gì khác thành không có thể.

·        Thứ bảy, cả tự nhiên hay nuôi dưỡng hay cả hai đều có thể giới hạn các khả dĩ của chúng ta và làm cho chúng ta có các xu hướng nào đó, nhưng chẳng có điều nào quyết định các chọn lựa của chúng ta: bất cứ genes nào tôi đã thừa hưởng, và bất cứ môi trường nào tôi đã sống, tôi thường ở trong các hoàn cảnh trong đó tôi vừa có khả năng chọn lựa điều này và có khả năng chọn lựa điều kia.

Tóm lại, một người ở ngã tư đường có thể cảm thấy bị một điều gì đó lôi kéo theo một trong các con đường, hoặc người đó có thể cảm thấy một điều gì ở bên trong đang đầy người đó theo một phương hướng nào đó, nhưng người đó vẫn có thể đi theo bất cứ phương hướng nào. Tôi kết luận bằng cách nói rằng nhiều khả dĩ không phải là thực chất của ý nguyện tự do, như nó cũng được tìm thấy trong các biến cố tùy tiện. Vì lý do đó, khi các nhà khoa học khẵng định Nguyên lý không quyết định (the Principle of Indeterminacy), họ không ngấm ngầm khẳng định ý nguyện tự do.

KHẢ DĨ CỦA Ý NGUYỆN VỀ ĐIỀU ÁC

(The Possibility of a Will to Evil)

Các tác giả học giả xác định rằng những gì họ gọi là “đối thể chính thức” (the formal object) của ý nguyện là “sự thiện” (the good), thế nào để một sự vật có thể được ước nguyện chi trong chừng mực nó được phán đoán là tốt. Điều này có nghĩa nếu một điều gì đó xem ra là tốt cho chúng ta mà không có dè dặt hoặc giới hạn, chúng ta không có thể không ước nguyện nó, có nghĩa là chúng ta nhất thiết ước nguyện được hạnh phúc. Điều này có nghĩa là chúng ta chỉ có ý nguyện tự do liên quan đến những gì họ gọi là “điều tốt cách riêng,” mà họ định nghĩa như là các điều chỉ tốt theo các khía cạnh nào đó. Tuy nhiên, tôi tin rằng một người có thể từ khước sự thiện và hạnh phúc—ví dụ, nếu một người tin rằng người đó có thể giàu có, quyền lực và không hạnh phúc hoặc nghèo, yếu đuối và hạnh phúc, người đó có thể chọn giàu có và quyền lực, không hạnh phúc—và một người có thể ước nguyện sự hủy diệt và khốn khổ của mình.

CÁC GIAI ĐOẠN CỦA MỘT QUYẾT ĐỊNH

(The Phases of a Decision)

Đưa ra một quyết định liên quan đến hai giai đoạn, và nếu một hành động tự do liên quan đến một hành động thể chất, có một giai đoạn thứ ba, hành động. Ở đây tôi sẽ nói ngắn gọn đến các giai đoạn đó, và sẽ bàn chi tiết hơn trong các chương 18-21.

GIAI ĐOẠN THỨ NHẤT: ĐƯA RA PHÁN ĐOÁN HAY CÁC PHÁN ĐOÁN

(The first phase: Making the judgement or judgements)

Với phán đoán, tôi muốn nói một hành động trí tuệ trong đó một người nói, trong tâm trí của người đó và có lẽ cũng nói lớn, một điều gì đó người đó tin là đúng. Ví dụ, vài phút trước tôi nghe tiếng động trên cửa sổ của tôi và tự nhủ, “Trời đang mưa,” tin rằng nước mưa đang rơi xuống ở bên ngoài: đó là một phán đoán. Các phán đoán khác mà tôi đã đưa ra là: “Shakespeare là một nhà soạn kịch vĩ đại hơn Molière,” “Hiện thân con người đã tiến hóa từ thú vật” và “Cuộc sống không phi lý”—tất cả các điều hiện thực mà tôi tin là đúng. Phán đoán được diễn đạt bằng ý kiến, nhưng, như chúng ta sẽ thấy, không phải tất cả các ý kiến đều là phán đoán.

            Không một ai có thể quyết định làm một điều gì mà người đó tin là không thể làm được. Ví dụ, vì tất cả chúng ta đều biết chúng ta không thể nhảy ba mét cao lên trên không, không ai trong chúng ta quyết định làm điều đó. Chúng ta có thể quyết định thử làm điều đó, nhưng việc thử làm điều đó, phân biệt rõ ràng với việc làm điều đó, thì có thể; chúng ta có thể tự nhủ các lời sau, “Bây giờ tôi sẽ nhảy ba mét cao lên trên không,” nhưng khi chúng ta nói như thế chúng ta biết rằng chúng ta không nhằm nói như thế (thử đi rồi biết); nếu chúng ta suy nghĩ sai lầm rằng chúng ta có thể nhảy cao ba mét, chúng ta có thể quyết định làm thế: nhưng hoàn toàn không có thể biết rằng một điều gì không có thể làm được và quyết định làm điều đó. Do đó, để thực hiện ý nguyện tự do, một người phải—trừ phi hiển nhiên—đưa ra các phán đoán về sự khả dĩ. Trong bốn câu chuyện tôi đã kể, người bị bệnh ung thư có khả năng chấp nhận cái chết, nhưng cũng có khả năng ngang ngạnh từ chối việc chấp nhận nó, và người trong viện bài lao rõ ràng xác minh người đó có thể ở lại và cũng có thể bỏ đi: đó là các điều thay thế của họ.

            Trong giai đoạn thứ nhất, người đó xem xét các điều thay thế và đưa ra các phán đoán về chúng. Người đó có thể thấy, hoặc nghĩ mình nhìn thấy, rằng một trong các tiến trình hành động là bó buộc về luân lý, trong trường hợp đó phán đoán cuối cùng có thể là, ví dụ: “Tôi bị bó buộc về luân lý phải trả.” Người đó có thể phán đoán rằng một tiến trình (điều không nghịch luân lý) là điều hợp lý duy nhất hay là điều duy nhất “đúng” theo cảm xúc. Thay vào đó, người đó có thể đưa ra các phán đoán tích cực khác nhau về nhiều điều trong các điều thay thế, nói ví dụ, rằng nhận một công việc nào đó có thể có các điều lợi này và điều bất lợi kia, trong khi nhận một công việc khác thay vào đó có thể có các điều lợi và bất lợi khác. Các phán đoán của người trong viện bài lao đưa ra là thuộc thể loại này.

GIAI ĐOẠN THỨ NHÌ: CHỌN LỰA, HAY ĐƯA RA QUYẾT ĐỊNH

(The second phase: Choosing, or making the decision)

Trong giai đoạn thứ nhì, người đó đưa ra quyết định hay chọn lựa. Trong các câu chuyện mà tôi đã kể, người cha quyết định chấp thuận cuộc hôn nhân của con gái, người đàn bà quyết định nhận công việc, người đàn bà quyết dịnh lập gia đình và có con cái, người đàn ông bệnh ung thư sẽ quyết định chấp nhận cái chết và vào ngày trước Giáng sinh người đàn ông bệnh lao sẽ quyết định sẽ ở lại hay không trong viện. Như tôi đã nói, thậm chí khi giai đoạn một chấm dứt với một phán đoán rõ ràng và chắc chắn về hiệu lực rằng một điều thay thế là điều duy nhất không nghịch luân lý, hoặc điều đó là tốt nhất về lãnh vực hoặc hữu lý hoặc tình cảm, người đó không nhất thiết chọn lựa nó. Do đó, xem như thể là khi người ta đưa ra phán đoán, quyết định không tự động theo phán đoán đó. Quyết định là một hành động có ý nghĩa cao trong chính tự quyền lực của nó.

            Một người đưa ra một quyết định bằng cách nói trong tâm trí người đó lời lẽ ví như “Tôi chấp nhận hoàn cảnh,” “Tôi nhận công việc,” “Tôi chấp nhận cái chết,” “Tôi sẽ lập gia đình với anh ấy” hoặc “Tôi sẽ rời bỏ viện bài lao.” Đó là các ý kiến, nhưng chúng không diễn đạt các phán đoán bởi vì khi thốt ra chúng người đó không nói lên điều gì mà người đó tin là đúng: chúng là những gì được gọi là các lời thốt ra có tính thực hiện (performative utterances) như “Tôi hứa sẽ đến” hoặc từ ngữ “Đồng ý” nói ra khi bỏ phiếu. Giả sử một người đàn bà đang mua một máy truyền hình và hỏi người bán xem liệu máy có một kênh nào đó không, và người bán trả lời, “Vâng, nó sẽ (có)” (Yes, it will); và giả sử sau đó người bán hỏi bà, “Bà có mua máy không?” và, đưa ra quyết định tại đó và lúc đó, bà trả lời, “Vâng, tôi sẽ (mua)” (Yes, I will). “Nó sẽ” (It will) của người bán diễn đạt một phán đoán, trong khi “Tôi sẽ” (I will) của người đàn bà diễn đạt vừa một quyết định vừa việc bà đi vào một thỏa thuận với người bán. (Các lời lẽ đó không có nghĩa: “Tôi tin nó sẽ là đúng rằng tôi sẽ mua máy này”). Tương tự, khi người đàn bà góa trong câu chuyện tôi kể trước đây tự nhủ, “Tôi sẽ nhận công việc đó,” bà không đưa ra một lời tiên đoán, là một thể loại của phán đoán: bà đang kết thúc việc cân nhắc bằng cách đưa ra một quyết định. Việc thổ lộ các lời lẽ đó trong tâm trí bà là có tính thực hiện.

GIAI ĐOẠN THỨ BA: HÀNH ĐỘNG

(The third phase: The action)

Khi có vấn đề trong việc quyết định liệu phải hay không phải thực hiện một số hành động, có một giai đoạn ba: chính là hành động, hoặc không hành động.

CON NGƯỜI

(The Person)

Trong suốt thời gian qua, tôi đã nói về “một người” đưa ra một quyết định và câu hỏi có thể đặt ra: “một người” nghĩa là gì? Đây là một trong các từ ngữ cơ bản như “thời gian” mà mọi người dùng và hiểu, nhưng khó mà định nghĩa. Như một số tác giả ngày xưa đã nói, một người là một ai đó (a who) hay một người nào đó (a someone); cũng vậy, một người là một hiện thân thông tuệ hiện hữu cách cá nhân (an individual existing intellectual being), xem xét như là một toàn diện. Một người cũng còn là một bản thể (a self).

            Từ ngữ cuối cùng này quan trọng. Vì tôi không có sự kiểm soát trên việc đập của quả tim tôi, tôi có thể nói về nó như thể nó là tách biệt khỏi bản thân tôi và nói, ví dụ, con tim tôi đang đập nhanh. Tuy nhiên, tôi không thể gán một quyết định cho một bộ phận trong bản thân tôi tách biệt khỏi tôi và nói, ví dụ, bộ não tôi quyết định tôi sẽ đi Sydney. Một vài tác giả xác định rằng bộ não con người là một máy vi tính, với một chương trình một phần được xếp đặt sẵn bên trong và một phần là kết quả của thông tin đưa vào (inputs) là những gì nó đã nhận được trong tiến trình của cuộc sống của người làm chủ nó. Theo các tác giả đó, nếu một ai đó mời tôi đi ăn cơm vào thứ năm tới, lời yêu cầu đi vào trong bộ não tôi, trong đó có các ưa thích của tôi và cũng có thông tin và cam kết của tôi; hoặc tức khắc hoặc sau một lúc trì hoãn, trong khi bộ não làm công việc của nó, bật ra câu trả lời, “Vâng,” hoặc “Không,” hoặc “Hay để một lúc khác đi?” Những gì thiếu trong bức tranh này là con người, không phải là bộ não hoặc bất cứ bộ phận nào của nó, hoặc một thực thể nhỏ nhoi ở đâu đó trong nó, thực thể kiểm soát việc đưa ra quyết định của người đó.

SỰ TỰ ĐẦY ĐỦ NHÂN QUẢ CỦA QUYẾT ĐỊNH

(The Causal Self-Sufficiency of the Decision)

Có những gì tôi có thể gọi là chuỗi nhân quả trong đó, ví dụ, một ông dẫn rò rỉ gây cho nước tích tụ lại dưới sàn nhà, nước làm cho vật liệu ngăn cách bị mục rã, dây điện chạm, có một tia lửa gây ra đám cháy và ngọn lửa phá hủy một bức tranh quí giá. Ở đây mỗi biến cố cần theo sau những gì đã xẩy ra trước nó, như các quân bài dominos đang ngã xuống. Nếu về sau, một ai đó bắt đầu tìm hiểu cách giải thích những gì đã xẩy ra cho bức tranh, người đó làm việc ngược trở lại chuỗi các sự kiện và khi tìm ra ông dẫn nước rò rỉ, người đó có thể nói, “Cái gì làm cho ống nước này rò rỉ?” và như thế theo đuổi dòng thứ hai các nhân quả. Nếu có hành động tự do trong một loạt các biến cố, lúc đó nhiều hơn một sự việc có thể xẩy ra, một ai đó đưa ra một chọn lựa, định phương hướng cho loạt đó và đến một chừng mực nào đó là điểm khởi đầu, không phải là một mắt xích trong chuỗi các nhân quả cần thiết. Lúc đó, nếu chúng ta tìm lời giải thích cho một điều gì, chúng ta làm việc ngược trở lại theo chuỗi nhân quả và đến một hành động tự do, chúng ta không đơn giản tiếp tục qua nó: chúng ta đã tìm thấy nguyên ủy của những gì đã xẩy ra. Như A. Seth Pringle-Pattison đã nói, trong trường hợp một hành động tự do của một người là “nguồn gốc của hành động: chúng ta không thể đi đàng sau người đó và đối xử với người đó như một con đường qua đó các lực nào đó hoạt động và xoay xở để sản sinh ra một kết quả nào đó[8].”

SAU QUYẾT ĐỊNH

(After the Decision)

Sau khi một người đã đưa ra một quyết định, người đó có một thái độ nào đó, ví như chấp nhận cái chết đang tới, hoặc ý hướng thực hiện một hành động hay nhiều hành động. Nếu quyết định là về các hành động, chúng sẽ tiếp theo, đôi khi ngay lập tức—khi chúng ta đang trò chuyện, ví dụ, chúng ta không còn quyết định nói điều gì hơn là chúng tự thấy đang nói ra điều đó—và đôi khi về sau. Đôi khi chỉ một hành động tiếp theo; những lúc khác, từ một quyết định sinh ra nhiều hành động; quả thực, từ một quyết định đơn lẻ của một người có thể xẩy ra hàng ngàn hành động của hàng trăm con người.

            Trước khi một quyết định được đưa ra, nhiều điều khả dĩ và không có điều nào là thực sự; sau quyết định, một điều là thực sự và các điều khác không còn khả dĩ nữa, theo ý nghĩa rằng nó không còn khả dĩ để có thể được chọn lựa theo quyết định cách riêng đó.

            Một số hành động không thể đảo ngược lại: ví dụ, nếu một ai đó nói ra một điều bí mật, không cách nào có thể làm cho thông tin đó lại trở thành bí mật nữa. Các hành động khác có thể đảo ngược lại không theo ý nghĩa là người ta có thể gây cho chúng đã không xẩy ra nhưng nhưng theo ý nghĩa là người ta có thể hủy bỏ các tác động của chúng: ví dụ, người ta có thể treo một bức tranh lên vách, rồi đổi ý, lấy nó xuống và đặt bức tranh khác thay vào. Nếu người ta đưa ra một quyết định, không điều gì có thể thay đổi sự kiện rằng quyết định ấy đã đưa ra, nhưng vào một thời điểm tương lai, người ta có thể thay đổi thái độ: ví dụ, nếu người đàn ông trong ví dụ thứ nhất của tôi quyết định không chấp nhận cuộc hôn nhân của con gái, người đó về sau có thể thay đổi thái độ và chấp nhận nó; nếu người ta đã quyết định làm một điều gì và chưa làm nó, người ta có thể đổi ý và không làm nó; có ý nghĩa hơn, sau khi người ta đã làm một điều gì mà không thể tháo gỡ ra được, người ta có thể thay đổi thái độ và ước muốn người ta đã không làm nó.

Ý NGUYỆN TỰ DO VÀ LUÂN LÝ

(Free Will and Morality)

Chắc chắn rõ ràng rằng không ai có thể bị ràng buộc về luân lý để làm một điều gì hoàn toàn không khả dĩ với người đó. Từ đó nếu chúng ta nói rằng một điều gì đó bị ràng buộc theo luân lý để làm một điều gì, chúng ta giả định rằng người đó có thể làm điều đó: nghĩa là, “phải” (ought to) giả định trước “có thể” (able to). Có phần ít hiển nhiên rằng nếu một ai đó không thể kiềm hãm được việc làm một điều gì, không có nghĩa lý để nói rằng người đó bị ràng buộc về luân lý phải làm điều đó: ví dụ, không có nghĩa lý gì để nói chúng ta bị ràng buộc luân lý phải lớn lên. Nghĩa là, “phải” giả định trước “không thể.” Do đó, khi chúng ta khẳng định hay giả định sự hiện hữu của luân lý, chúng ta giả định trước rằng hiện thân con người có ý nguyện tự do. Tôi sẽ quay lại vấn đề này về sau và thảo luận các nỗ lực đã được đưa ra để gán ý nghĩa cho các tuyên bố “phải” (“ought” statements), và thậm chí khẳng định sự hiện hữu của các ràng buộc luân lý, khi ý nguyện tự do bị chối bỏ[9].

            Mặt khác, ý nguyện tự do và luân lý không liên kết gần gũi cho đến nổi mọi thực hiện ý nguyện tự do là sự chọn lựa giữa một điều gì tốt về luân lý và một điều gì xấu về luân lý, như thể hình như hàm ý khi nói rằng “ý nguyện tự do là quyền lực để làm như chúng ta phải làm” hoặc khi nó được định nghĩa như là quyền lực để chọn lựa giữa điều thiện và điều ác. Sự chọn lựa giữa điều tốt về luân lý và điều ác về luân lý là một thể loại rất quan trọng về chọn lựa tự do, nhưng nhiều quyết định quan trọng được đưa ra giữa các điều thay thế mà tất cả đều tốt về luân lý[10].

TẠI SAO TÔI CHỌN CÁC VÍ DỤ TRÊN

(Why I Choose the Examples Above)

Nguyên tắc chung của phương pháp khoa học là: Khởi đầu với các trường hợp đơn giản. Tôi đã thấy một diễn giả về ý nguyện tự do tuân theo nguyên tắc này bằng cách nói: “Ví dụ, khi tôi đưa cánh tay tôi ra như thế này”—đến đây ông đưa cánh tay mặt của ông lên ngang vai—“Tôi có thể đưa nó lên hay hạ nó xuống,” và tôi đã nghe các nghiên cứu thực nghiệm về ý nguyện tự do trong đó nhiều người được đưa vào trong một căn phòng và mỗi người được trao cho một tấm phiếu có ba hình vuông trên đó và bảo chọn lựa một hình, bất cứ hình nào, và đánh dấu chữ thập lên hình đó. Để hiểu ý nguyện tự do, tuy nhiên, thiết yếu phải nghiên cứu các quyết định có tầm quan trọng vì các khác biệt đáng kể giữa các điều thay thế. Các ví dụ của tôi là thuộc thể loại này.

MỘT NHẬN XÉT CUỐI CÙNG

(A Final Observation)

Tôi đã nói về giáo điều ý nguyện tự do (free will doctrine) vì muốn một từ ngữ hay hơn. Tôi có thể gọi nó là lý thuyết (theory) nếu nó không gợi lên, với người không quen thuộc với phương cách từ ngữ đó được sử dụng trong khoa học, rằng nó là không chắc chắn. Đôi khi nó được gọi là “chủ thuyết ý nguyện tự do” (libertarianism) đối lại với chủ thuyết quyết định (determinism), nhưng từ ngữ này được sử dụng cách chung để đề cao sự tự do và thậm chí sự buông tuồng (licence) hay vô chính phủ (anarchy). Bằng cách sử dụng từ ngữ “giáo điều” (doctrine), tôi có thể gọi ý cho một số người rằng đó là một niềm tin tôn giáo, nhưng tôi chấp nhận nguy cơ đó. Tôi không muốn hàm ý rằng nó không thể chứng minh được.

           




[1] Trong bản dịch này, tôi dịch là người đó (chú thích của người dịch). Các chú thích trong bản dịch là của tác giả, trừ phi ghi chú khác đi.

[2] Các ghi chú cuối trang là của tác giả ngoại trừ khi có ghi rõ là của người dịch. Cần cẩn thận khi hình thành ý niệm diễn đạt ở đây, rằng ngay trước khi người đó đưa ra một quyết định, người đó có thể đưa ra một quyết định nào đó và cũng có thể cho người đó không làm như vậy. Nếu nói rằng người đó có thể đưa ra hoặc không đưa ra, điều này có thể hiểu rằng hoặc người đó có khả năng đưa ra hoặc có khả năng không đưa ra, nghĩa là, rằng người đó có thể làm điều này hoặc điều kia một trong hai điều đó và chúng ta không biết điều nào: đó không phải là một tuyên bố về niềm tin vào ý nguyện tự do. Nếu nói rằng người đó có thể đưa ra quyết định và không đưa ra, điều này có thể hiểu rằng người đó có thể làm không phải một trong hai điều mà cả hai điều đó, là chuyện phi lý. Nếu nói rằng người đó có thể đua ra quyết định và không thể làm thế, điều này có thể hiểu là người đó có thể hiểu rằng người đó vừa có thể vừa không có thể làm điều đó, là chuyện phi lý. Việc hình thành trong đón văn trên, tôi tin tưởng, không mơ hồ.

[3] Từ Latin alter nghĩa là “cái khác, của hai cái,” và một số người thuần khiết (purists) sử dụng “điều thay thế” chỉ với phương cách này: họ không nói đến hai điều thay thế nhau mà nói đến một điều gìa và điều thay thế của điều đó, như là một phương thuốc và phương thuốc thay thế. Người khác nói đến hai điều thay thế, nhưng không bao giờ nhiều hơn. Tôi nói đến một người có các điều thay thế, và có thể có nhiều hơn hai. Như Từ điển tiếng Anh Oxford (Oxford English Dictionary) viết, điều nay để biện minh cách sử dụng.

[4] Kane, The Significance of Free Will, tr. 147.

[5] Ellis, The Rack, tr. 55.

[6] Nếu một điều gì không thê thay đổi hay phòng ngừa, người ta vẫn có thể chọn lựa thái độ đối với điều đó. Đó là trường hợp của người bị ung thư trong câu chuyện bên trên.

[7] Wojtyla nói rằng đôi khi xác định rằng một người thiết yếu chọn lựa bất cứ điều gì xem ra với người đó là điều tốt nhất; theo lý thuyết đó, một người có thể chọn lựa điều ít tốt hơn, nhưng chỉ nếu nó xem ra là điều lớn hơn. Ông noí, điều này là sai. (The Actin Person, tr. 133-134).

[8] Seth Pringle-Pattison, The idea of God in the Light of Recent Philosophy, tr. 292

[9] Xem bên dưới, tr. .

[10] Bonhoeffer nói rằng chính là một trong các chuyện điên rồ nhất của các nhà luân lý học nào đó khi họ xác định hư cấu rằng vào một lúc nào đó trong đời một người, người đó phải đưa ra một chọn lựa cuối cùng và vô tận, một quyết định ý thức giữa điều thiện và điều ác. Ông nói, chắc chắn có những lúc người ta đưa ra các chọn lựa như vậy, nhưng quan trọng để hiểu rằng đó là các thời điểm đặc biệt, không phải mọi lúc của cuộc sống; mặt khác, ông nói, có “sự tiếm quyền không lành mạnh của cuộc sống bởi tính đạo đức, việc nhiệt tình bất thường đó, việc luân lý hóa hoàn toàn đó của cuộc sống, điều dẫn đến một một chuỗi liên tục các bình phẩm phán đoán hay cổ vũ, đến việc can thiệp, và đến sự can thiệp không yêu cầu vào các hoạt động của cuộc sống cụ thể không bị chi phối bởi các nguyên lý nền tảng” (Ethics, tr. 366).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tác giả: Trần Hữu Thuần
   dunglac@gmail.com