Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Trần Hữu Thuần
Bài Viết Của
Trần Hữu Thuần
Mời đọc sách: Tiến Đến Cách Xử Lý Mục Vụ về Văn Hóa (do Hội Đồng Giáo Hoàng về Văn Hóa của Tòa Thánh)
Giáo hoàng và báo chí (bài của Fr. Raymond J. de Souza)
Đổi mới trong tiếp diễn: Diễn dịch của Giáo hoàng Benedict về Vatican II
Khoa học, kỹ thuật và tương lai con người - Một hướng dẫn mới về đạo đức sinh học từ Vatican
Ý nguyện tự do, tiền định và chủ thuyết định đoạt - chương 3: Tự Do
Giọng nói tiếng Việt Nam từ Bắc vô Nam
Ý nguyện tự do, tiền định và chủ thuyết định đoạt (Sách): chương 1
Điểm sách (205): Sinh vật cao cấp: Vẻ đẹp, trang nhã, và sự kỳ lạ của xã hội côn trùng (của Bert Hölldobler và Edward O. Wilson)
Điểm sách (204): Chẳng ai nhìn thấy Thiên Chúa (của Michael Novak)
Điểm sách (200): Tiếp nhận quà tặng của tình bạn: Khuyết tật trầm trọng, Nhân chủng thần học, và đạo đức (của Hans S. Reinders)
Chuyện ngắn ngủn
Điểm sách (199): Ayatollah[1] xin không đồng ý: Nghịch lý của Iran hiện đại (của Hooman Majd)
Điểm sách (198): Chết với gián đoạn (của José Saramago, Margaret Jull Costa dịch)
Điểm sách (197): Vatican: Bí mật và kho tàng của thành thánh (của Michael Collins)
Điểm sách (196): Phát súng bạn bè: Song tấu (của A. B. Yehoshua, Stuart Schoffman dich từ tiếng Hebrew)
Điểm sách (195) : Ngoại giao bí mật của Vatican (của Charles R. Gallagher, S.J.)
Điểm sách (193): Lòng thương xót: Một cuốn tiểu thuyết (của Toni Morrison)
Điểm sách (192): Chị Teresa (của Barbara Mujica)
Điểm sách (191): Chân lý được tranh cãi: Hồi ức II (của Hans Küng)
Điểm sách (190): Vùng đất ngọt ngào của tự do: cuộc đấu tranh bị lãng quên cho nhân quyền ở miền Bắc (của Thomas J. Sugrue)
Điểm sách (189): Đức Kitô trong Phúc âm của năm phụng vụ (của Raymond E. Brown)
Điểm sách (188): Ân sủng tổ tiên (của Diarmuid O.Murchu)
Điểm sách (187): Lincoln: Tiểu sử một nhà văn (của Fred Kaplan)
Điểm sách (186): Bỏ lại đàng sau hay để bị mụ mẫm: Nguy hiểm khôn khéo của việc phổ cập thời tận cùng (của Gordon L. Isaac)
Điểm sách (185): Theo dòng đời: Dõi theo niềm tin tôn giáo, thực hành, và thay đổi (của Michelle Dillon và Paul Wink)
GIỌNG NÓI TIẾNG VIỆT NAM TỪ BẮC VÔ NAM

Một nhận xét về biến chuyển của phát âm và giọng đọc tiếng Việt

Trần Hữu Thuần

1.       Về bài Tiếng Quảng trị

Sau bài Tiếng Quảng trị[1], tôi may mắn được mở rộng thêm tầm mắt với hai bài phân tích Thử xem qua một số từ vựng Quảng trị[2] của Nguyên Nguyên  Giọng Huế - Giọng Quảng trị: Phụ âm lỏng/chặt – Nguyên âm thường/ngằn[3] của Trần Văn Mầu. Không biết còn có vinh dự được thức giả nào bàn đến ở nơi nào khác nữa không. Nếu có, trước hết tôi xin tạ lỗi, và sau đó nếu có ai biết đến xin vui lòng cho tôi được biết.

Tôi vốn chỉ là người nêu lên dữ kiện mà không nhận xét vì bản thân thực không một mảy may kiến thức dù sơ đẳng nhất về ngôn ngữ học nhân chủng học. Nếu tôi có đưa ra nhận xét thì chẳng qua cũng chỉ là thiển ý mà thôi. Và vì không kiến thức nên khi đọc bài của Nguyên Nguyên, tôi chỉ nhận ra được một cảm giác chung chung là, “Thì ra các từ mà tôi cho là của tiếng Việt cổ đó cũng chỉ là vay mượn của các dân tộc khác.” Ngay trong phân tích hai từ áo lá đầu tiên, Nguyên Nguyên đã cho thấy “‘Áo’ là một từ mang gốc Mon-Khmer [?aav ]…. ‘Lá’ là một từ mang gốc Thái [laa] ….” Lối phân tích này tôi cho là rất gần với phương pháp của học giả Bình Nguyên Lộc trong Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam[4], ví dụ phân tích từ lá cây ở trang 332. Tuy nhiên, học giả Bình Nguyên Lộc không cho từ “lá” mang gốc nào khác mà chỉ là “một danh từ chung của cả hai bọn cổ Mã Lai di cư thành hai đợt cách nhau 2.500 năm” (sđd. tr. 331).

Khi viết bài Tiếng Quảng trị, tôi không muốn nói rằng bản liệt kê của tôi là đặc thù của Quảng trị. Bối cảnh bài viết tôi đã thu gọn vào chỉ làng An du tây của tôi, và đặt vấn đề tại sao trong chỉ một làng nhỏ mà lại có các cách dùng từ khác nhau. Một số từ trong liệt kê của tôi được dùng ở vùng từ Thanh hóa vào đến Thừa Thiên, số khác được dùng ở các tình khác đôi khi với ý nghĩa khác. Từ cươi chẳng hạn được vùng Bình định dùng nhưng với nghĩa hẹp là sân phơi lúa, và hình như một số vùng ở Miền Nam cũng dùng với nghĩa này. Về các từ ngày trước có ghi trong từ điển thời Alexandre de Rhodes mà Nguyên Nguyên cho là “có vẻ quốc ngữ chưa phân biệt âm [Y] với [Nh]: dè dẹ=nhè nhẹ; dịn=nhịn…,” tôi không nghĩ như vậy. Tôi cho là vì Alexandre de Rhodes và các linh mục thừa sai thời đó phát xuất từ Đàng Trong, vùng Bình Trị Thiên nên đã ký âm tiếng Việt theo phát âm của vùng đó. Người Bình Trị Thiên “chính gốc” không nói nhè nhẹgiè giẹ, không là cái nhà mà là cấy già vv, với [GI] không có âm gió như [D] của giọng Miền Bắc. Nếu de Rhodes ký âm là dè dẹ đi nữa thì cũng không đáng ngạc nhiên vì vùng này không phân biệt [GI] và [D] như vừa nói. Vào thời này, có rất nhiều từ tiếng Pháp chẳng hạn chúng ta chưa dịch được nên phải mượn âm Hán việt để ký ví như từ inspiration (cảm hứng) tiếng Pháp được ký thành [yên sĩ phi lý thuần], từ évêque (giám mục) ký thành đức vít vồ (ký âm từ Latin episcopus), từ croix ký thành câu rút (ký âm từ Latin crux hay Tây ban nha cruz[5]), từ chêne (cây sồi) định nghĩa là một thứ cây kia! Quí vị nào còn giữ được từ điển thời đó thì thấy ngay. Tôi còn cho rằng các từ được ghi trong các từ điển của Alexandre de Rhodes hay của Huỳnh Tịnh Của không xác định nguồn gốc của tiếng Việt ta mà chỉ là các từ được dùng vào thời đó. Có từ không được ghi trong các từ điển đó thì chẳng lẽ không phải là từ Việt. Ví dụ, từ lang (thầy lang, ông lang, lang băm) không được ghi trong Đại Nam Quấc âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của[6] thì chẳng lẽ không phải  là từ tiếng Việt?

Cũng theo thiển ý, một dân tộc thường có một số từ nguyên thủy của ngôn ngữ và một số từ vay mượn. Số từ nguyên thủy nhiều hay ít tùy theo sự phát triển của dân tộc đó trước khi giao lưu với các ngôn ngữ khác. Ví dụ, người Pháp có các từ gốc Gaulois, người Anh Anglo-Saxon. Cũng có thể bây giờ người ta thấy một số dân tộc có cùng chung các từ nguyên thủy vì lúc ban đầu các dân tộc này là một. Việc vay mượn thường có qua có lại, nhưng từ mà dân tộc lớn vay mượn của dân tộc nhỏ thường ít hơn so với việc vay mượn ngược lại. Việc vay mượn này cũng đi qua hai nguồn, bình dân và học giả. Quan sát ngôn ngữ chúng ta vào thời Pháp thuộc, ta thấy chúng ta vay mượn bình dân từ tiếng Pháp một số từ ví như cùi dìa (cái muỗng—cuillière), xúp (canh—soupe), va li (cái rương đựng áo quần—valise) vv. Ngược lại, người Pháp cũng đem vào ngôn ngữ họ các từ của ta như là le nhaque (người nhà quê, thôn quê), le cainha (cái nhà)  vv. Đến thời giao lưu với tiếng Anh, chúng ta cũng thấy hiện tượng đó. Bình dân Việt Nam vay mượn tiếng Anh ví như từ car (xe ca), và ngược lại người Mỹ cũng nhận vào pho (phở), chagio (chả giò). Tuy nhiên, như vừa nói, việc vay mượn này tùy thuộc vào sự chung đụng văn hóa và lịch sử, và dân tộc nhỏ vay mượn từ dân tộc lớn nhiều hơn. Các ngôn ngữ châu Âu vay mượn tiếng Latin vì dân tộc Rôma đã từng là một đế quốc hùng mạnh; người Nga người Anh một thời đã coi trọng tiếng Pháp, nhất là giới thượng lưu.

Nếu điều này là một lệ thường thì tại sao dân tộc Việt lớn hơn các dân tộc chung quanh lại toàn vay mượn của dân tộc khác mà không nói ngược lại là các dân tộc khác đã vay mượn của chúng ta? Đây không phải là tự ái dân tộc mà là một nhận xét theo lệ thường. Giả sử một ai đó nghiên cứu về từ [laa] Thái thì sẽ cho đó là tiếng nguyên thủy Thái hay là một từ mang gốc Việt Nam [lá], một cách nói ngược lại phân tích của Nguyên Nguyên cho rằng từ “là một từ mang gốc Thái [laa]….”? Tiện thể, cũng trong câu này, Nguyên Nguyên nhận xét “Ngày trước, thứ áo lót ‘mai-dô’ cũng được gọi nôm na: ‘áo thun lá’.” Theo tôi, không phải “ngày trước” mà ngày nay người Miền Bắc vẫn gọi là áo thun lá cái áo lót ‘mai-giô’ do tiếng Pháp le maillot (mai-giô chứ không đọc được là mai-) được bình dân vay mượn vào tiếng Việt chúng ta như tôi vừa thảo luận bên trên.

Ngược lại, tôi rất thâm ý với phân tích của Trần Văn Mầu về âm tiếng Việt chúng ta. Đây là lần đầu tiên, thú thực, tôi thấy việc phân tích từ Việt thành âm ngắn âm dài như vậy. Không thể ký âm các từ Bình Trị Thiên như “ôông” thành ôn được vì ôông dài mà ôn  thì ngắn. Tôi cũng tán đồng việc ký âm mà Trần Văn Mầu gọi là phụ âm cuối lỏng còn tôi thì cho là dài, ví như thọg hay thọk để đọc là thoọc. Tuy nhiên, nếu đề nghị loại bỏ hai chữ cái ă â thì ký âm thế nào cho thuận tiện để phân biệt câm cơm, và ký âm từ tăm cách thế nào? Nếu có thay đổi cách ký âm tiếng Việt hiện đại, theo tôi, chúng ta nên nghĩ lại các âm cứng [cờ] mà ta dùng cả [C] và [K]. Thật khổ cho trẻ con ráp vần, C+A=Ca nhưng C+E≠Ce mà phải là K+E=Ke. Tôi nghĩ điều này do các linh mục thừa sai ký âm tiếng ta nhưng chịu ảnh hưởng của các ngôn ngữ châu Âu như Latin, Pháp, Tây ban nha vv. về âm tiết này. Riêng về [Y] và [I], tôi nghĩ có hai trường hợp khác nhau. Khi cả hai được dùng như nguyên âm thì tại sao lại không qui định bỏ [Y] chỉ dùng [I] mà thôi. Có sự khác biết gì trong giọng đọc tiếng Việt chúng ta với cách viết quốc ngữ lý trí lí trí, tỷ số tỉ số? Do đó, nên hay chăng qui định chỉ giữ lại một cách viết mà thôi? Khi [Y] được dùng như nguyên âm kép thì không thể bỏ được, vì [AI] phát âm khác với [AY], ví dụ nai với nay.

2.       Biến chuyển giọng của tiếng Việt:

(21) Giọng Miền Bắc:

Bây giờ, xin cho tôi được chuyển qua một nhận xét về giọng tiếng Việt. Từ Bắc vô Nam ta lại nắm tay. Nắm tay thì tốt rồi nhưng e có chút trở ngại là đôi khi không hiểu nhau dù tất cả đều nói một thứ tiếng—tiếng Việt. Nếu lấy Huế làm trung điểm của cán cân, ta thấy có một sự thay đổi trong giọng nói của tiếng Việt chúng ta từ Bắc vô Nam. Sự biến chuyển này ở các vùng liền nhau  tiệm tiến một cách có thể khó nhận ra. Tuy vậy, giọng nói của chúng ta có thể được phân chia thành ba miền rõ rệt: giọng Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam mà tôi gọi là giọng bắc, giọng trung, và giọng nam. Miền Bắc nói chung từ cực bắc đến tiếp giáp Miền Trung có một giọng nói thanh tao. Một tài liệu cổ (rất tiếc tôi không nhớ được nha đề, xuất xứ và không thể truy cứu vào lúc không thuận tiện này) của một quan lại Trung quốc báo cáo về cho triều đình Trung quốc đã mô tả rằng tiếng Việt nghe ríu rít như chim. Ông quan này đã ký âm một số từ Việt bằng chữ Trung hoa mà khi ta đọc lại theo âm Hán Việt thì không còn biết được âm thật của tiếng ta vào thời đó như thế nào nữa. Ví dụ, trong văn kiện này có từ Hán Việt đọc là đà bị[7] mà tôi còn nhớ để chỉ người vợ. Giọng nói nghe ríu rít như chim này nhất định là giọng Miền Bắc nước ta vì vào thời đó, Miền Trung và Miền Nam chưa thuộc về nước Việt.

Thế nhưng, ngay trong phạm vi Miền Bắc, giọng nói cũng thay đổi từ vùng này sang vùng khác. Khởi đầu từ cực bắc với Sơn tây, Lạng sơn, Cao bằng vv., giọng miền bắc có một chút “ngọng ngịu” và phát âm [L] và [N] đều  thành [N], vì dụ lẫn lộn thành nẫn nộn. Giọng Hải phòng và Hà nội vẫn có một chút khác biệt, vì nghe như giọng Hải phòng nặng hơn, tuy có người cho rằng giọng Hà nội nghe có phần điệu hơn. Vòng qua Bùi chu, Phát diệm, Nam định, giọng Bắc đã nghe có âm hưởng nặng thêm chút nữa.

Ưu điểm của giọng bắc là phân biệt rõ ràng các phụ âm cuối [C] và [T], [N] và [NG] và đầu [D] và [GI]. Xin cho tôi ngưng lại để tạ ơn những người đã chế ra chữ quốc ngữ.  Thật khó mà diễn tả điều tôi muốn nói nếu tiếng ta được ký âm bằng chữ Nôm hay lối chữ tượng hình nào khác. Người Bắc không bao giờ lẫn lộn giữa cắc (bạc cắc) và cắt (cắt thịt), khăn (cái khăn) và khăng (khăng khăng), giây (giây phút) và dây (dây dưa). Có lẽ tôi phải quay lại để không đồng ý với Nguyên Nguyên về nhận xét trong bài Thử xem qua khi đề cập đến từ thọoc. Nguyên Nguyên cho rằng “thời chưa có quốc ngữ, phân biệt âm cuối [T] và [C] không được nhấn mạnh, tại phần lớn nước Việt.” Phân biệt hay không phân biệt theo tôi là tại tiếng chứ không tại chữ, như Trần Văn Mầu viết “học tiếng, chứ không học chữ.” Tôi nghĩ là giọng Miền Bắc đã từ lâu phân biệt rõ rệt các âm như vừa trình bày, còn các miền khác cho đến nay đã có chữ quốc ngữ vẫn không được “nhấn mạnh.” Do đó, nếu nói các miền còn lại giọng nói không phân biệt các âm cuối [C] và [T] theo ký âm chữ quốc ngữ hiện thời thì phát biểu này không sai. Có hay không có cách ký âm gọi là quốc ngữ thì giọng nói của ba miền đất nước chúng ta vẫn như vậy. Một điều chắc chắn nữa, các từ với phụ âm cuối là [C] hay [T] theo quốc ngữ hiện thời, dù cách đọc khác biệt của các miền đất nước vẫn được ký âm chỉ bằng một cách viết chữ Nôm mà thôi, không phải một cho giọng bắc và một cho giọng nam. Nghĩa là, một âm được ký bằng chữ Nôm vẫn được đọc các cách khác nhau nếu có giữa các miền khác nhau. Nguyễn Du chỉ ký âm một cách duy nhất câu thơ được ký âm lại bằng chữ quốc ngữ là Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen đề được giọng bắc đọc là Chời (Giời) xanh quen thói mà hồng đánh ghen trong khi giọng Huế đọc là Trời xanh queng thoái má hồng đánh gheng.

Về âm sắc, giọng Bắc phân biệt các dấu hỏi, ngã. Điều lạ là, Alexandre de Rhodes và các giáo sĩ thừa sai hồi đó đến trước hết ở Đàng Trong tại sao lại biết được sự phân biệt hỏi, ngã của giọng Miền Bắc. Cũng nên ghi nhận là biểu tượng dấu ngã bây giờ lúc ban đầu không phải chỉ để biểu hiện cách phát âm từ thấp vút lên cao của dấu ngã mà còn để thay thế âm cuối [NG]. Trong cuốn Phép giảng tám ngày[8] tôi còn nhớ đã viết, “Tôi càu cũ Đức Chúa Blời….” (Tôi cầu cùng Đức Chúa Trời). Phải chăng điều này cho thấy đã có sự cộng tác của những người nói giọng bắc trong việc hình thành chữ quốc ngữ bây giờ.

Nhược điểm của giọng bắc là không phân biệt [CH] và [TR] nói thành [CH], [S] và [X] nói thành [X], ví dụ Châu (châu phê) và trâu (con trâu) nói giống nhau thành châu; sanh (sanh sản) và xanh (màu xanh) đều nói thành xanh.

(22) Giọng Miền Trung:

Bước vào Thanh Nghệ Tĩnh, giọng bắc gần như đột nhiên chỉ còn âm hưởng. Người vủng này nói nghe mai mái vẫn còn âm điệu của giọng bắc, nhưng giọng nói nặng hơn nhiều và đã xuất hiện một âm điệu khắc hẵn âm điệu Miền Bắc, và nhiều từ Miền Bắc không có. Cách riêng hai tỉnh Nghệ an và Hà tĩnh, giọng nặng cho đến nổi nhiều người không quen nghe, không thể hiểu được, kể cả người thuộc vùng Bình Trị Thiên với giọng mà người khác cho là nặng. Đến Quảng bình, âm hưởng giọng bắc hoàn toàn biến mất. Giọng nói nhẹ lên nhiều so với giọng Nghệ Tĩnh, nhưng vẫn còn nặng nếu chỉ so sánh giữa ba tỉnh Bình Trị Thiên. Giọng Bình Trị Thiên nhẹ hẵn đi khi đến Thừa thiên, cao bỗng và dịu dàng theo một cách riêng.

Đặc điểm của giọng Thanh Nghệ Tĩnh Bình Trị là vẫn còn phân biệt phụ âm cuối [C] và [T], [N] và [NG], nhưng thêm vào đó còn phân biệt được [CH] và [TR], [S] và [X] mà giọng bắc lẫn lộn. Ngược lại, người vùng này hoàn toàn không phân biệt phụ âm đầu [D], [GI] và [NH]; họ chỉ nói toàn phụ âm [GI] mà thôi. Họ nói dà, già, nhà đều thành một âm già. Vùng Thừa thiên phân biệt được [CH] và [TR], [S] và [X], nhưng phụ âm cuối [C] và [T] đều nói thành [C], [N] và [NG] đều thành [NG], ví dụ cắc cắt  đều nói cắc, man (di) và mang (vác) đều thành mang. Phụ âm đầu [D], [GI] và [NH] đều nói là [GI]. Người Thừa Thiên còn phát âm [OI] thành [OAI], ví dụ nói (năng) thành noái (năng).

Bước qua Đèo Hải vân, giọng tiếng Việt chúng ta đột nhiên khác hẵn bắt đầu từ Quảng nam. Nếu giọng từ Thanh hóa đến Thừa thiên có vẻ bình bình thì giọng từ Quảng nam trở vào cho đến Miền Nam lại bắt đầu lên xuống như giọng bắc. Bắt đầu từ Quảng nam, giọng nói giữ lại việc phân biệt và không phân biệt các phụ âm như giọng Thừa thiên, ngoại trừ [OI] thành [OAI]. [D] và [GI]  đều như là [GI], ví như dây giây đều phát âm là giây, nhưng vùng  này đã phân biệt phụ âm đầu [GI] và [NH] như giànhà.

Vùng Nam Ngãi Bình Phú lại có các cách phát âm khác nhau. Nam Ngãi không nói là kéo (dây) mà nói rị, không nói hộc (bàn, tủ) mà nói thọa, không nói (ghế) đẩu mà nói là (ghế) giuông. Nam Ngãi phát âm [AM] nghe như [OAM], ví dụ, làm nghe như loàm; [Ă] nghe như [E], ví dụ năng nghe như neng, cắc hay cắt đều nghe như kéc; [AO] nghe như [ÔU], ví dụ gạo nghe như gộu vv. 

Bình Phú không nói người ta (nói rằng) mà nói nẩu (nói rềng). Âm [ĂN] hay [EN] nghe như [ÊNG] với một chút giọng mũi, ví dụ ăn nghe như êng; đèn hay đằng đều nghe như đềng với chút âm giọng mũi.

Một đặc điểm chung của khu vực Nam Ngãi Bình Phú này là sự xuất hiện của việc ghép một đại từ + ấy thành chính đại từ đó với dấu hỏi bất luận nguyên thủy với dấu gì, ví dụ anh ấy thành ảnh, cậu ấy thành cẩu, mợ ấy thành mở vv, ngoại trừ hai từ bác ấy, chú ấy có lẽ vì không thuận miệng. Đặc điểm khác là cách phát âm phụ âm đầu [V] thành [GI], ví dụ vuông thành giuông, đi thành đi giô, mà từ Miền Bắc vào đến Thừa thiên không có.

Giọng Miền Trung  không còn phân biệt dấu hỏi dấu ngã nữa. Cả hai dấu này đều được phát âm nửa vời, không hỏi không ngã, có lúc trầm xuống gần với dấu nặng.

(23) Giọng Miền Nam:

Miền Nam kéo dài chất giọng của giọng từ Quảng nam đổ vào nhưng không giữ lại cách cách phát âm địa phương. Giọng nam mềm mại hơn giọng của phần đất phía nam Miền Trung này. Người Miền Nam không phân biệt phụ âm cuối [C] và [T] nói thành [C], [N] và [NG] nói thành [NG]. Phụ âm đầu [D] và [GI] đều nói là [GI]. Giọng Miền Nam lại giống giọng Miền Bắc trong việc không phân biệt [CH] và [TR] nói thành [CH], [S] và [X] nói thành [X]. Đặc điểm là miền này nói các phụ âm cuối dài như [ICH], [INH] thay cho phụ âm ngằn [IT] và [IN], ví dụ, con vịch thay vì con vịt, dây nịch thay vì dây nịt, niềm tinh thay vì niềm tin. Âm đầu [R] thường phát âm là [GI], ví dụ, đi ra nói là đi gia; có vùng thành [G], ví dụ cá thành cá . Nhiều vùng không nói được âm đầu [H] mà biến thành gần như [GU], ví dụ Huế thành Guế.

Có một số từ Miền Nam dùng với nghĩa khác của hai miền kia. Ví dụ, mần ở Miền Trung có nghĩa là làm, nhưng chỉ có nghĩa là làm việc ở Miền Nam. Ví dụ, khi chúng ta nghe nói, “Sao còn chưa đi mần?” thì có nghĩa là “Sao vẫn còn chưa đi làm công việc của mình.  “Ổng mần ăn lớn lắm” có mhĩa là “Ông ấy làm ăn lớn lắm.” Giọng nam cũng kết hợp đại từ + ấy thành chính đại từ ấy với dấu hỏi cùng một qui luật như vùng Nam Ngãi Bình Phú. Giọng Miền Nam không phân biệt hỏi ngã cũng như giọng Miền Trung.

3.       Đặt vấn đề:

Tôi xin đặt mấy vấn đề sau phần trình bày nhàm chán bên trên:

Thứ nhất, vẫn có tin tưởng rằng người Miền Trung và Miền Nam nói chung đều là con cháu của tổ tiên di cư từ Miền Bắc vào, khởi đầu từ biến cố Nguyễn Hoàng (Mậu Ngọ—1558 đời vua Lê Anh Tông) và các đợt di cư vì các biến cố khác sau đó. Theo Việt Nam Sử Lược[9] của Trần Trọng Kim, đất nước ta thời nhà Trần chỉ mới đến hết Nghệ an, tiếp giáp với Chiêm thành về hướng nam (sđd. bản đồ tr. 127). Chúa Nguyễn Hoàng khi vào Ái tử chỉ cai quản phần đất Thuận hóa, cho đến năm Canh Ngọ 1570 mới được Chúa Trịnh giao thêm đất Quảng nam tiếp giáp Chiêm Thành. Năm Tân Hợi 1611, Nguyễn Hoàng đánh chiếm Chiêm Thành lập Phú yên. Các Chúa Nguyễn kế tiếp đánh chiếm hết đất Chiêm Thành vào năm Đinh Sửu 1697. Quan niệm người Bình Trị Thiên là con cháu mà tổ tiên đã di cư theo Nguyễn Hoàng được nhiều người mặc nhiên công nhận, như Trần Văn Mầu trong bài Giọng Huế—Giọng Quảng trị viết, “tổ tiên chúng tôi cùng Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam lên bờ cũng tại vùng Ái tử Quảng trị hiện nay!”

Đi theo Nguyễn Hoàng chắc chắn là người Miền Bắc và nói giọng bắc. Nếu cả một vùng bao la, mọi người đều đã từ Miền Bắc di cư vào thì điều gì đã làm cho họ biến đổi giọng nói cách khác thường như vậy khi vượt qua Hoành sơn nhất đái tức là Đèo Ngang thuộc Quảng bình? Vùng đất thuộc Chúa Nguyễn lúc bấy giờ chưa có người Việt ở hay chỉ có một số ít?

Tôi cho rằng không; vùng này đã có người Việt ở từ trước mà còn là đông hơn số người từ Miền Bắc di cư vào. Quan sát hiện tượng người Miền Bắc di cư vào Nam năm 1954, chúng ta có thế nhận xét: (1) Nơi nào số đông người Miền Bắc qui tụ vào một nơi như Hố nai, Gia kiệm, họ vẫn nói giọng bắc rõ rệt đến mấy đời sau vẫn còn; (2) Nếu chỉ một số rất ít, ví dụ một gia đình, vây quanh bởi số đông người nói giọng nam thì có thay đổi trong giọng nói, ngay từ đời thứ nhất đã lai giọng. Một hai đời sau, con cháu họ hoàn toàn không nói giọng bắc nữa. Một làng chài lưới ở đảo Tri thủy, Phan rang, phía bắc quê hương cố Thổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vốn từ Quảng bình “chạy giặc Văn thân” vào, vẫn nói giọng Quảng bình của họ mà không lai giọng Phan rang vì toàn làng đều nói một giọng. Thế nhưng, lớp trẻ khi tôi được may mắn tiếp xúc vào những năm 1960 đã bắt đầu lai giọng Phan rang vì họ đã bắt đầu tiếp xúc ra ngoài (đi học, đi làm vv).

Từ nhận xét thô thiển đó, ta có thể suy ra vùng từ Thanh hóa đổ vào cho hết phần đất thuộc Chúa Nguyễn, nước ta đã có người Việt ở đó, mà là đa số. Đa số này có giọng nói riêng biệt và từ vựng riêng biệt ngoài số tiếng Việt chung (Trong số từ vựng riêng biệt đó, có các từ mà tôi tạm gọi là tiếng Quảng trị chứ không phải vay mượn từ ai khác nếu không nói là đã cho người khác vay mượn). Và do đó không phải tất cả con cháu Bình Trị Thiên đều có tổ tiên đã theo Chúa Nguyễn Hoàng di cư vào. Vậy, những người Việt nguyên thủy ở vùng này, họ là ai? Và họ liên hệ thế nào với người nói giọng bắc để cùng có chung một tiếng Việt nhưng với giọng nói khác?

Thứ hai, điều gì đã làm cho người Việt nguyên thủy từ Thanh hóa đổ vào nói tiếng Việt với giọng khác với giọng bắc, và khác nhau rõ rệt giữa các khu vực thuộc vùng này với nhau? Như nhận xét thô thiển về giọng bắc ở mục (21) bên trên cho thấy: Miền Bắc với giọng bắc dù có khác biệt đôi chút vẫn giữ âm hưởng giọng bắc. Miền Trung trái lại, sự khác biệt giữa các khu vực quá rõ rệt đến nổi có thể chia thành các nhóm khác nhau gần như bước nhảy vọt không có chuyển tiếp.

Thứ ba, giọng Miền Nam có phải là pha trộn giữa giọng bắc và giọng trung từ Quảng nam đổ vào không? Người Miền Nam hiện nay cho tất cả những ai không nói giọng nam đều là người “Guế” (người Huế). Cách phát âm của giọng nam cơ bản giống giọng Quảng nam đổ vào. Điều gì đã hình thành giọng nói đó?

4.       Kết:

Các câu hỏi mà tôi nêu ra trên được ông cha chúng ta đi trước trả lời cách đơn giản là giọng nói khác đi là do thổ nhưỡng. Nói cách khác, cha ông chúng ta trả lời người Miền Bắc khi đến Thanh hóa sở dĩ nói giọng Thanh hóa là vì họ uống nước tại đất Thanh hóa; người nơi khác đến Quảng nam nói giọng Quảng nam vì đã uống nước đất Quảng nam! Đến bây giờ thì câu trả lời như vậy không thể nào trả lời được nữa. Người Việt di cư đến California đâu có nói giọng California mà vẫn nói giọng của gia đình và nhất là giọng của đa số người Việt sinh sống tại vùng họ đang cư ngụ.

Tôi cho rằng biến chuyển giọng nói của tiếng Việt chúng ta còn có thể được dùng cách sâu xa để giải thích nguồn gốc của dân tộc Việt Nam. Chúng ta từ đâu mà đến hay vốn đã có ở đó. Như ngay từ đầu tôi đã thú nhận sự dốt nát của tôi về khoa học này, tôi xin thú nhận lại sự dốt nát của tôi ở đây. Bài này chẳng qua cũng chỉ là lời quê góp nhặt dông dài. Có điều tôi không biết liệu có mua vui được cho ai giây phút nào hay không, chứ không dám nói như thi hào Tiên Điền cũng được một vài trống canh vì phận tôi không dám tham lam như thế.



[1] Xin xem www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=2032 hay www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10168&rb=06

[2] Xin xem www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=3157

[3] Xin xem www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=5743

[4] Bình Nguyên Lộc, NXB Xuân Thu, Los Alamitos: California, không thấy năm in, tr. 332, từ Lá cây.

[5] Xin xem thêm bài Đặc ngữ Công giáo của Nguyễn Long Thao trên dunglac.org. Tôi thiên về từ Crux Latin vì cách ký âm các từ như episcopus  thành vít vồ và vì tiếng Latin thời đó là ngôn ngữ chính thức của Giáo hội Công giáo. (www.dunglac.org/index.php?m=module&v=detailarticle&id=5532)

[6] ĐNQATV, Imprimerie Ray, Curiol & Cie: Saigon, 1895 (Vol. I); Nhà in Văn Hữu, Gia Định, 1974 (bộ II).

[7] Đà bị: Rất tiếc tôi không nhớ cách viết, và lúc còn trẻ tôi chưa biết cách đọc theo giọng Quan thoại nên không biết được âm có thể có của từ này.

[8] Cuốn này và các tự điển ngày trước ví như Phép giảng tám ngày của Alexandre de Rhodes, tôi đã thất lạc qua thời ly loạn. Nếu quí vị nào có, và vui lòng, tôi xin được một bản photocopy để đánh máy lại post lên dunglac.org chẳng hạn để lưu giữ. Hoặc nếu có nguồn nào đã post, xin vui lòng mách bảo. Xin đa tạ.

[9] VNSL: NXB Đà nẵng, 2003, tr. 317-323

Mời đọc:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tác giả: Trần Hữu Thuần
   dunglac@gmail.com