Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Vũ Văn An
Bài Viết Của
Vũ Văn An
Antonio Rosmini, người của đức tin, lý trí và trái tim
Chiến dịch đem người Công Giáo trở về
Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II
Vatican và vấn đề tài liệu
Bốn Mươi Năm Sự Sống Con Người
Thờ Phượng Đích Thực Trong Tư Tưởng Thánh Phaolô
Gia Đình và Sự Sống
Khủng Hoảng Hôn Nhân và Gia Đình
Gia Tô Bí Lục Tân Thời
Thần học và thực hành mục vụ trong các thư của Thánh Phaolô
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa
Tính đáng tin cậy của Bộ Thánh Kinh
Kính Mừng Maria
Cầu nguyện theo lối chiêm niệm
Li dị và tái hôn trong các Phúc âm nhất lãm
Các nhà truyền giáo và kỹ nghệ tình dục
Từ Sydney tới Paris
Lộ Đức, sự hiện diện mênh mông của Mẹ
Bản Thể, Bản Tính
Thánh Phaolô, Nhà Truyền Giáo Vĩ Đại
Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
Cùng đi với Thánh Phaolô
Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội
Đức Bênêđíctô XVI: từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới hành trình đức tin trẻ em
THẦN HỌC VÀ SA MẠC CHÍNH TRỊ


Cuộc bầu cử Liên Bang Úc năm 2010 sẽ diễn ra ngày 21 tháng 8 này để bầu lại toàn diện Hạ Viện và một phần Thượng Viện. Và dưới chế độ nghị viện, chính đảng nào thắng đa số phiếu của cử tri ở Hạ Viện sẽ đứng ra thành lập chính phủ với vị lãnh đạo của đảng đó làm thủ tướng. Dù trọng tâm cuộc bầu cử diễn ra tại các đơn vị địa phương, nhưng có lẽ chịu ảnh hưởng bầu khí tranh cử của Mỹ, nên càng ngày cử tri Úc càng chú ý tới vị lãnh đạo của hai chính đảng lớn là Lao Động và Tự Do. Mọi chú ý trong 5 tuần tranh cử đều hướng về hai vị này, hiện nay lần lượt là bà Julia Gillard và ông Tony Abbott. Khỏi nói thì trọng tâm của cuộc tranh cử là vấn đề kinh tế, một vấn đề mà bà Gillard tự hào cho là mình mạnh hơn ông Abbott. Người ta cũng đề cập tới nhiều vấn đề khác, nhưng các vấn đề “nhạy cảm” thì phần lớn được lướt qua, thậm chí cố tình gạt qua một bên. Có lần ông Abbott, một người Công Giáo, trước đây vốn đi tu làm linh mục nhưng “mộng” không thành, đã mạnh dạn nói lên quan điểm cá nhân về vấn đề hôn nhân đồng tính. Nhưng khi tranh cử thực sự, thì ông tránh né tất cả các vấn đề có dây mơ rễ má dính tới tôn giáo.

Đó là điều khiến những thần học gia như Joel Hodge cảm thấy bất an. Hodge vốn là một giảng viên thần học thuộc phân khoa thần học của Đại Học Công Giáo Úc. Ông xuất thân từ Đại Học Queensland với luận án tiến sĩ “Uncovering the Secret Soul of the Sacred: mimesis and the word” (Bật Mí Linh Hồn Bí Ẩn của Thánh Thiêng: sự bắt chước và ngôn từ) dựa trên lý thuyết bắt chước (mimesis theory) của viện sĩ René Girard thuộc Hàn Lâm Viện Pháp, một lý thuyết cho rằng con người bao giờ cũng thèm muốn, ước mong theo thèm muốn, ước mong của người khác, cũng như các truyện tích thu thập từ Đông Timor, một lãnh vực nghiên cứu riêng của Hodge.

Ngày 18 tháng 8 hôm nay, trên “blog” của hãng tin Cathnews, Hodge viết bài “Where the politicians can’t go” (Nơi các chính trị gia không thể tới). Theo Hodge, có một vấn đề quan trọng mà cuộc tranh cử hiện nay sẽ không nói tới, đó là cuộc khủng hoảng văn hóa tại Phương Tây. Việc bỏ qua này hết sức đặc trưng đối với chúng ta, những hữu thể nhân bản, vì chúng ta có khuynh hướng chỉ nói tới những cuộc khủng hoảng giả tạo (pseudo-crises) để tránh khỏi giáp mặt với những cuộc khủng hoảng thật sự. Đó chính là điều thực sự hàm chứa trong chữ “giả hình” (và là điều Chúa Giêsu thường chỉ trích người Biệt Phái vì họ luôn đặt những cuộc khủng hoảng giả tạo trước mặt người Do Thái có niềm tin thay vì những vấn đề thực sự thuộc niềm tin và cuộc sống). Ở Úc, và nói chung ở Phương Tây, chúng ta nói tới ‘khủng hoảng kinh tế’, ‘khủng hoảng môi sinh’, ‘khủng hoảng chính trị’, ‘khủng hoảng an ninh biên giới’ v.v… những khủng hoảng, ở một mức độ nào đó, quả là những cuộc khủng hoảng thật sự. Tuy nhiên, ta nói tới, và đôi khi còn chế ra các cuộc khủng hoảng này để tránh né các khủng khoảng thật sự tức các cuộc khủng hoảng trong đó Phương Tây càng ngày càng mất khả năng nắm bắt các giả thuyết văn hóa chung để có thể thực sự đương đầu với các vấn đề của chúng ta.

Nhiều người đang nhận định về các vấn đề ấy, nào là chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tiêu thụ, chủ nghĩa bóc lột kinh tế, nào là chủ nghĩa tương đối, hiện tượng đổ vỡ hôn nhân và gia đình, hiện tượng lạm dụng ma túy và nghiện ngập, nào là bạo lực, tự tử, chối bỏ xã hội và tôn giáo, khủng hoảng tính dục, phá thai, an tử, nhiều vấn đề tâm lý học v.v… tất cả đều là các triệu chứng của khủng hoảng văn hóa, tức cuộc khủng hoảng trong đó người ta dần dần đánh mất ý thức về chân lý, vốn là thứ đem đến ý nghĩa giúp ta làm người, giúp ta sống với nhau ra sao, giúp ta hiểu thế giới này và cuộc hiện sinh của ta phải nên như thế nào và phải liên hệ với Thiên Chúa làm sao. Từ “việc tự tử đáng kính” tới việc “sinh lầm”, hay quan niệm cho rằng không nên để một người nào đó sống sót, Phương Tây đang tấn công vào chính nền tảng của mình; và vì Phương này thiếu đảm lược, không dám phê phán cuộc tấn công đó, nên thực tế họ đang khuyến khích các công dân của mình tiến vào con đường ấy. Đâu cần tới ngoại thù? Cái tín điều ý thức hệ đang thịnh hành tại Phương Tây rằng không hề có chân lý, một tín điều vốn biện minh cho chủ nghĩa cá nhân của thập niên 1960, được chủ nghĩa tư bản đại chúng ủng hộ, không những không giải phóng con người khỏi các tín điều ý thức hệ hay các chuẩn mức văn hóa, mà còn nô lệ hóa họ vào một thứ tân chuẩn mức vô vị, tức các chuẩn mức duy tương đối và duy cá nhân vốn không có tính xây dựng, mà để mặc con người với những nền tảng lung lay không thể đương đầu được với cuộc sống trong mọi chiều kích của nó: chiều kích liên hệ, chiều kích ơn gọi, chiều kích tính dục, chiều kích sinh hoạt gia đình, và v.v…

Dù đang có những tiến bộ lớn lao về mức sống và về ý thức quyền lợi, cuộc khủng hoảng về ý nghĩa và chân lý tại Phương Tây đang rất nghiêm trọng. Một cách đặc biệt, nó đang gây tác hại nặng nề về nhiều mặt đối với giới trẻ. Các vấn đề sâu sắc ấy không được các chính khách bình luận hay đề cập tới vì phần lớn họ không chịu nhìn nhận chúng; mà dù có nhìn nhận đi chăng nữa, thì họ cũng chỉ giới hạn chúng vào những gì họ có thể lợi dụng được, nhất là trong một “nền dân chủ” chịu để cho mình bị các phương tiện truyền thông đại chúng lèo lái chứ không dám đưa ra các quyết định khó khăn. Tuy nhiên, các chính trị gia lại không ngại nói tới các niềm tin của mình, ít nhất là các niềm tin giúp họ đắc cử. Chỉ có điều, các sứ điệp và sáng kiến tích cực mà đôi lúc ta nhận được từ các chính khách thường không cho thấy từ đâu các giá trị nền tảng của họ đã được rút ra và làm thế nào để các giá trị ấy được thể hiện trong bức tranh bao quát hơn về yếu tính nhân bản.

Đối với cuộc khủng hoảng hiện nay, không hề có giải pháp dễ dãi. Ta nghe các nhà lãnh đạo chính trị hứa sẽ biến cải quốc gia, tạo nên những điều mới mẻ. Nhưng, giáo dục, tiền bạc và việc làm tự nó đâu có tính cứu vớt, như một số chính khách ngụ ý. Chúng chỉ là một phần của diễn trình trong đó ta thực sự được biến cải trong nhân tính chân thực của mình. Kitô hữu là người hiện thực: vì nói cho cùng, con người nhân bản không thể tự mình ra khỏi cuộc khủng hoảng, vì tính vị kỷ và tính tự phụ luôn chống lại Thiên Chúa (dù được hưởng một nền giáo dục tốt nhất!). Ấy thế nhưng, chúng ta, những con người nhân bản, chúng ta vẫn khát mong sự biến cải và gợi hứng, và tìm kiếm chúng nơi các chính khách. Hodge cho rằng rất có thể ta đang trông mong chúng ở những nguồn lầm lạc. Ông bảo: là người của hy vọng, các Kitô hữu nên tin tưởng nơi Thiên Chúa, Đấng “làm mọi sự ra mới” (Kh 21:5). Do đó, không phải bất chấp, nhưng chính vì theo chủ nghĩa hiện thực, ta hy vọng ở Thiên Chúa, Đấng có tình yêu mạnh đủ để đánh động lòng ta và làm ta thuộc về Người. Ta tin tưởng: Thiên Chúa sẽ đem lại sự thay đổi và sự hồi tâm, như “lịch sử cứu rỗi” đã chứng minh. Ta phải “đọc được các dấu chỉ của thời đại”, ý thức được môi trường văn hóa của mình (và các hậu quả của nền văn hóa này đối với chúng ta), ngay lúc ta cùng Chúa gieo vãi hạt giống, và giúp các nhà chính trị của ta cùng làm như thế. Nói tóm lại là làm chứng cho hy vọng giữa nền văn hóa vô vọng, mù mờ. Đối với các nhân chứng của hy vọng, lúc nào cũng có cơ hội mở ra cho họ, nhất là những nhân chứng có khả năng làm cho thế giới có ý nghĩa bằng cách sống một cuộc sống đầy ý nghĩa và trọn vẹn cho người khác, luôn trung thành với lời hứa của Thiên Chúa.

Thế tục cũng thánh thiêng

Trong khi Joel Hodge xem ra muốn đặt một đường ranh giữa những con người phàm tục là các chính khách với những con người của hy vọng là các Kitô hữu, thì một nhà giáo khác, Mark Johnson, hiện dạy tại phân khoa Nghiên cứu Tôn giáo của Đại Học Sydney, lại có cái nhìn hơi khác. Johnson muốn xóa nhòa cái đường ranh kia.

Ông dựa vào lời của Đức Bênêđíctô XVI để trình bày quan điểm của mình. Ông bảo hồi tháng 6 vừa qua, tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô Ngoại Thành ở Rôma, nhân khi công bố ý định thiết lập một hội đồng nhằm tái phúc âm hóa Âu Châu, Đức Bênêđíctô XVI đã “vô tình” cho thấy hai chủ đề quan trọng đối với những người như ông, nghĩa là những người không muốn tự động uốn mình theo các mỹ từ của “chiến tranh văn hóa” hay mỹ từ của “đụng độ văn minh”. Cả hai cách tiếp cận này đều thành thạo trong việc sử dụng những cỗ xe rõ ràng nằm sẵn trong lối phân chia thế giới có tính đơn giản hóa thành “ta” và “họ”. Các chủ đề được vô tình nhắc tới chính là chủ đề “bất lực” và “hoang địa” (poerlessness and desert).

Johnson muốn nhân cơ hội này (Cathblog ngày 16 tháng 8 năm 2010, The Secular is sacred too), thăm dò một số hệ luận của việc ám chỉ trên. Theo ông, Đức Bênêđíctô XVI nhận xét rằng: đứng trước nhiều thay đổi lịch sử, xã hội, chính trị và nhất là tâm linh, những thay đổi làm choáng ngợp khả năng nhân bản của ta, “hình như chúng ta, các mục tử của Giáo Hội, đang sống lại kinh nghiệm của các Tông Đồ, khi hàng ngàn người khốn khổ theo chân Chúa Giêsu, và Người lên tiếng hỏi: ta có thể làm gì cho tất cả những người này? Lúc ấy, các ông cảm thấy sự bất lực của mình”.

Dù Johnson cho hay: ông dựa vào nội dung toàn diện của cả bài diễn văn, nhưng ông bảo ta nên dừng lại ở câu trên để thấy được chất liệu trước nhất đáng làm ta quan tâm, đó là vấn đề quyền lực. Lâu nay, mỹ từ của não trạng pháo đài vốn trổi vượt trong nội dung phúc âm của phe tân chính thống. Các “cuộc chiến tranh văn hóa” của thập niên 1980 vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng lớn trong Giáo Hội. Căn cứ vào các truyện kể được “cuộc chiến tranh văn hóa” tạo ra, các kẻ thù đã được nhận diện, nhiều tiêu chuẩn nghiêm nhặt hơn về tính tinh tuyền cũng như chủ nghĩa duy pháp luật được áp đặt, và Phúc Âm cũng như Thánh Truyền được biến cải thành những vũ khí để người ta hợp pháp hóa sự tàn bạo.

Johnson bảo: trong bầu khí của những nguy cơ và đe dọa tạo hoẹt đó, chúng ta bị hướng dẫn sai lạc đến quên mất rằng đức tin của chúng ta đã được xây dựng trên chính điều mà ngày nay nhiều người rất sợ: sự bất lực. Đức tin của chúng ta không dựa trên người dũng sĩ thiên sai đầy chiến thắng, hay trên sự công chính và đặc quyền thuộc nghi lễ. Đức tin của ta xây dựng trên sự tự đổ mình ra của Thiên Chúa, một sự xúc phạm, một phạm thượng đối với mọi tính đáng kính, mọi tính tự phụ có tính tôn giáo của thế kỷ thứ nhất. Giống hệt thời trước, có lần trí tưởng tượng nhỏ mọn của con người đã tạo ra sự phân rẽ rõ nét giữa vật chất và tinh thần, giữa thời gian và vĩnh cửu, giữa thánh thiêng và phàm tục, và nay giữa “Giáo Hội” và thế gian. Ta sống như thể Chúa Kitô chưa chữa lành vết nứt đó, như thể Nước Trời chưa ở đàng trước chúng ta, tách biệt khỏi chúng ta, không như men hay hạt mù tạt, vượt quá ranh giới Giáo Hội. Nhập Thể chính là lời “nói có” đối với điều ta thường quá hẹp hòi và qúa tự phụ cho là xa lạ với Thiên Chúa, đi ngược lại các cố gắng của ta. Ta không ở vị thế có thể tạo ra các loại “Dân Ngoại” mới để một lần nữa loại bỏ họ. Trong Nhập Thể, không thể có đường phân rẽ giữa Giáo Hội và thế gian.

Johnson cho rằng ta không nên sợ sự bất lực, bởi vì nó chính là lý do hiện hữu của đức tin ta. Quyền lực xóa bỏ đức tin. Thoả mãn và tính ốc đảo (insularity) của quyền lực tạo ra ảo tưởng tự phụ, lúc đó điều ta tôn thờ chỉ còn là những điều chắc chắn lạnh lùng và trắng nhã của quyền lực.

Johnson tiếp tục nhắc lại bài diễn văn của Đức Bênêđíctô XVI: “… trong hoang địa của thế giới thế tục hóa, linh hồn con người khát khao Thiên Chúa, khát khao Thiên Chúa hằng sống”. Johnson cho hay: thực vậy, chính trong thế giới thế tục, con người nhân bản mới cảm thấy nhu cầu cần có Thiên Chúa. Thế gian, thế tục, trong tư cách hoang địa, quả là phương thế có nhiều tiềm năng nhờ đó ta hiểu được kinh nghiệm hiện nay của ta về Thiên Chúa. Hoang địa từ lâu vốn được coi như một không gian ta được dẫn vào hay ta tự ý vào để cởi bỏ mọi ảo giác và mọi tiện nghi của ta. Nó không phải là một nơi mà là một không gian, một não trạng. Ta không vào hoang địa khi còn mang theo mình một tâm trạng đầy những đền đài dành cho các thần minh nhỏ mọn. Ta có suy nghĩ nghiêm chỉnh hay không khi cho rằng chỉ tìm thấy Thiên Chúa ở những nơi mẫu mực tiện nghi? Rõ ràng, hoang địa không phải là nơi của lãng mạn hay xúc cảm. Nó không phải là nơi dành cho những vị thánh trát phấn hồng hay ngây ngất. Những vị thánh này sẽ mau chóng chết ngạt vì sức nóng của nó. Nó cũng không phải là nơi của các đội hình và áo giáp quyền lực; gió và cát sẽ chặn đứng bước tiến của họ. Đúng hơn, hoang địa là không gian của im lặng, và việc làm thinh, và trong không gian ấy, một không gian không do ta chọn lựa, ta sẽ tín thác để Chúa mặc tình hành xử trên ta. Đúng vậy, Đức Bênêđíctô rất đúng khi nói rằng trong một không gian như thế, linh hồn sẽ kêu gào tìm Chúa, nhưng rất có thể đây là lần đầu tiên linh hồn gào lên tìm kiếm Chúa như vậy, thay vì bị ru ngủ bởi một thứ trấn an và lừa gạt dành cho trẻ thơ. Làm sao linh hồn ta có thể gào lên tìm kiếm Chúa, nếu nó chưa bao giờ gặp thử thách, nếu nó cứ mãi mãi được bảo vệ như người ta bảo vệ đoàn vật, trong những bức tường nghiêm ngặt mà người khác dựng lên quanh ta?

Những điều Johnson nhận định nghe ra có vẻ chẳng ăn uống gì tới không khí tranh cử của Úc và xem ra có vẻ đi ngược lại các nhận định của Hodge. Nhưng xét cho cùng, cả hai tác giả này đều muốn nhấn mạnh tới thái độ nhập cuộc của người Kitô hữu, bất chấp “cuộc” này chỉ là sa mạc nóng cháy, nơi mình cảm thấy hoàn toàn bất lực. Vì chính trong sự bất lực ấy, con người mới có dịp ngước lên Thiên Chúa và được Người đáp trả bằng một thế giới tốt hơn.

Tác giả: Vũ Văn An
   dunglac@gmail.com