Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Vũ Văn An
Bài Viết Của
Vũ Văn An
Antonio Rosmini, người của đức tin, lý trí và trái tim
Chiến dịch đem người Công Giáo trở về
Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II
Vatican và vấn đề tài liệu
Bốn Mươi Năm Sự Sống Con Người
Thờ Phượng Đích Thực Trong Tư Tưởng Thánh Phaolô
Gia Đình và Sự Sống
Khủng Hoảng Hôn Nhân và Gia Đình
Gia Tô Bí Lục Tân Thời
Thần học và thực hành mục vụ trong các thư của Thánh Phaolô
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa
Tính đáng tin cậy của Bộ Thánh Kinh
Kính Mừng Maria
Cầu nguyện theo lối chiêm niệm
Li dị và tái hôn trong các Phúc âm nhất lãm
Các nhà truyền giáo và kỹ nghệ tình dục
Từ Sydney tới Paris
Lộ Đức, sự hiện diện mênh mông của Mẹ
Bản Thể, Bản Tính
Thánh Phaolô, Nhà Truyền Giáo Vĩ Đại
Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
Cùng đi với Thánh Phaolô
Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội
Đức Bênêđíctô XVI: từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới hành trình đức tin trẻ em
GIÁO SƯ RATZINGER VÀ NHÓM HỌC TRÒ TIẾN SĨ


Nhịp sống giữa cảnh trò yêu đồng nghiệp kính của vị giáo sư thần học tín lý người Bavaria tưởng chừng cứ thế êm đềm trôi qua dưới bầu trời thơ mộng của Ratisbon, không ngờ đã bị Đức Phaolô VI khuấy động.

Thực vậy, Ratisbon quả là nơi đáng sống. Dòng Danube thơ mộng chẩy ngoài kia. Những đường hẻm trải đá của cổ thành dẫn tới những đền đài vua chúa, giọng hát phụng vụ của ca đoàn chim sẻ luôn vang vọng từ Nhà Thờ Chính Tòa Thánh Phêrô xây theo lối Gôtích vào mỗi Thánh Lễ trọng. Rastibon có đủ mọi nét của một thành phố sống động nhưng yên tĩnh, di sản của nhiều thời đại, một bộ mặt thư dãn và dịu dàng dễ mến của điều được mệnh danh là nền Văn Minh Tây Âu. Nhưng thêm vào cái nét thường ngày ấy, số phận đã hơn một lần đẩy đưa biến thành phố này thành một thứ vọng đồn, một thứ tháp canh cạnh biên thùy nhiều thế giới khác. Khi người Rôma thiết lập ra nó, cái thành cổ kính có tên Castrates Regina này từng được nghe những ngôn từ khó hiểu của người Celtics, trước khi các dân tộc khác từ Phương Đông tới tràn ngập khắp Đế Quốc. Thế rồi tới hậu bán thế kỷ 20, non 80 cây số cách thành phố Bavaria này là đường ranh giới với Czechoslovakia, nghĩa là cửa ngõ phân cách Phương Tây với thế giới “khác” có tên Chủ Nghĩa Xã Hội.

Đại học Ratisbon

Năm 1968, ở lân thị Prague, Mùa Xuân Dubcek bị xe tăng Xô Viết càn quét, trong khi đó, ở các đại học Phương Tây, cuộc nổi loạn của con cháu giai cấp trưởng giả, mặc chiếc áo Mácxít, nổi lên đập phá trật tự xã hội. Một năm trước đó, nhà nước tự do của Bavaria mở tại Ratisbon trường đại học thứ tư của mình, và theo ý kiến một số người, Phân Khoa Thần Học mới mở nên có sứ mệnh đặc biệt là thách thức thế giới Cộng Sản: phải làm một điều gì đó, phải dùng cái óc thần học tinh tế Đức mà phân tích cho bằng được các biến thái của lịch sử đang được nhiều người, ngay trong Giáo Hội, bắt đầu giải thích như dấu hiệu của ngày Chung Cuộc, những nứt rạn đang làm cho thế giới sắp sửa tiêu tan. Cũng có nhiều người ở buổi đầu ấy muốn trao ghế giáo sư Thần Học Tín Lý tại tân phân khoa cho Giáo Sư Joseph Ratzinger. Năm 1966, nhà thần học sáng chói và nổi tiếng của Công Đồng này đã rời Phân Khoa Thần Học Munster và đã nhận lời mời của Phân Khoa Tubingen chỉ để gần Heimat, mảnh đất quê hương thuộc Bavaria của mình, mảnh đất đối với ông, và nhất là đối với người chị vốn chăm sóc ông như mẹ, lúc nào cũng là nguồn cội cho những hoài nhớ khôn nguôi. Heinrich Schlier, nhà chú giải thánh kinh Công Giáo lừng danh, từ phái Luthêrô trở lại, một người bạn của Ratzinger từ những ngày còn dạy với nhau tại Bonn, vốn cảnh giác ông: “Giáo sư phải thận trọng nghe: Tubingen không thuộc Bavaria đâu nhé”. Joseph và Maria, chị ông, mau chóng hiểu ra điều đó. Nhưng vào năm 1967, lúc đại học tân lập mới mở, viễn tượng di chuyển về Ratisbon là một cám dỗ được Ratzinger chống lại ngay từ đầu: ông chỉ mới phát động một cuộc di chuyển đầy nhiệt tình tới thành trì thần học nổi tiếng của vùng Swabian này, nhưng trên hết, ông không thích thú gì đối với ý niệm phải dính cứng vào những vấn đề phức tạp về kỹ thuật và hậu cần trong giai đoạn đầu của việc quản trị các định chế tân khoa bảng. Thành thử ghế giáo sư thần học tín lý tại Regensburg được trao cho Johann Auer, đồng nghiệp lúc còn ở Bonn của ông. Nhưng 2 năm sau, tức đầu năm 1969, mọi sự đều thay đổi. Tại Tubingen, cuộc bạo loạn đã phá hoại cả nếp sinh hoạt bình thường của phân khoa thần học: các buổi thuyết giảng, các buổi thi cử, các buổi tụ họp có tính học thuật, thẩy đều trở thành bãi chiến trường. Sau này, trong cuốn “Muối Đất”, ngài đã viết như sau về thời kỳ này: “Bản thân tôi không có vấn đề gì với các sinh viên. Nhưng quả tôi có thấy sự bạo ngược đã lộng hành ra sao, hết sức tàn bạo”. Peter Kuhn, lúc đó là phụ tá của Ratzinger, viết: “Đầu năm 1969, tôi gặp Schlier. Ông hỏi tôi: xếp bọn mình ở Tubingen hồi này ra sao. Tôi bảo: sự việc không được xuôi chiều mát mái mấy. Ông bảo tôi: ‘họ vừa quyết định lập một ghế thần học tín lý thứ hai tại Ratisbon. Ở đấy, tôi biết rõ Giáo Sư Franz Mussner, hiện đang dạy môn Chú Giải Tân Ước. Tôi có thể nói với ông ta việc Ratzinger nay đã thay đổi ý kiến và rất có thể lưu ý nếu được họ mời’. Tôi bảo: ‘thưa giáo sư, ông hãy làm điều ông có thể làm ngay đi thôi’”. Thế là sau mùa hè 1969, Giáo Sư Ratzinger đã đạt được điều ông vẫn nghĩ là đỉnh cao nghề nghiệp của mình. “Tôi muốn được tiếp tục nghề thần học của tôi trong một ngữ cảnh bớt khuấy động và không muốn pha mình vào cuộc tranh luận bất tận”, ông đã viết như thế trong cuốn tự thuật của mình để biện minh cho việc “trốn chạy” khỏi Tubingen. Theo Martin Bialas, người học trò cũ của ông và hiện là viện trưởng tu viện Passionist tại Ratisbon, thì lý do có khác: “anh trai Georg của ngài lúc đó là người điều khiển Ca Đoàn Domspatzen. Di chuyển về Ratisbon có nghĩa là ba người con của gia đình Ratzinger cuối cùng đã có thể sống chung với nhau. Tôi chắc chắn đó là lý do quyết định cho việc ngài về đây, chứ không hẳn cuộc tranh cãi thần học”. Tại thị trấn Pentling, nơi ông sống với người chị và năm 1972 khởi sự xây một căn nhà nhỏ có vườn, Cha Joseph Ratzinger cử hành Thánh Lễ hàng ngày, kể cả Chúa Nhật. Chị ông luôn luôn bên cạnh ông. Đến nỗi, mỗi lần thấy hai người xuất hiện trên đường dẫn tới nhà thờ, giáo dân trong xứ lại nói đùa: “Này, Giuse và Maria đang tới kìa”.

Nhà đại kết

Bất kể lý do nào khiến ông dọn về Ratisbon, một cuộc mạo hiểm mới đang chờ ông ở đó. Phân Khoa Thần Học thay thế Trường Cao Đẳng Triết và Thần Học của giáo phận và ở những ngày ban đầu này, nó được thừa hưởng các cơ sở mà trường này vốn sở hữu từ năm 1803 thuộc tu viện Đa Minh, vốn là tu viện nơi Thánh Albert Cả từng làm việc. Chẳng bao lâu sau, mọi sinh hoạt học thuật đều được di chuyển tới các cơ sở mới tại ngoại ô thành phố. Ratzinger thường dùng phương tiện chuyên chở công cộng để tới đại học. Đôi khi ông được các học trò và đồng nghiệp cho quá giang xe: Kuhn với chiếc Citroen hai ngựa, Wolfgang Beinert với chiếc Opel Kadett lịch lãm hơn.

Phân Khoa Thần Học mới là phiến đá tinh khôi. Nó không có một lịch sử vĩ đại như Tubingen, nhưng nó cũng có lợi điểm riêng: người ta được làm việc hoàn toàn tự do ở đó, không bị dính cứng vào một quá khứ kềnh càng. So với sự hỗn độn năm 1968 tại Tubingen, nó quả là hòn đảo của yên tĩnh. Nhưng người ta không thể mô tả nó như pháo đài của phe phản động chống lại sự vật vờ của nền thần học hậu Vatican II. Nơi sinh viên, những khẩu hiệu đấu tranh chính trị thì cũng giống như nhiều nơi khác: “Vì sự chiến thắng của nhân dân Việt Nam” đó là nội dung một khẩu hiệu viết bằng chữ đỏ trên tường khu ăn uống của đại học. Mọi nhân viên giảng huấn của Phân Khoa đều mới được tuyển dụng. Các giáo sư thì thuộc đủ thứ xu hướng và nhạy cảm, có khi trực diện chống chọi nhau. Hai vị cực đoan phải kể là ông già Auer, theo xu hướng Kinh Viện, và Norbert Schiffers, dạy môn Thần Học Căn Bản, thiên về Thần Học Giải Phóng. Martin Bialas tâm sự: “Nói cho ngay, người ta cho rằng đức cha giáo phận Ratisbon, Rudolf Graber, vẫn coi Giáo Sư Ratzinger thiên về phe duy hiện đại (modernist) nên rất e ngại khi thấy ngài tới Phân Khoa. Nhưng đức cha không ngăn cấm ngài, như vẫn thường làm”. Quả thế, tất cả các chọn lựa và sáng kiến được vị giáo sư người Bavaria này đưa ra trong những năm sau đó, như chủ đề và phương pháp giảng dạy, việc tham dự vào sinh hoạt của Phân Khoa, các quan điểm công cộng, chẳng phù hợp chi với nhãn hiệu của một người bảo thủ tị nạn hay một thần học gia hối lỗi của Công Đồng.

Chỉ cần lục lại các tựa đề giảng khóa hay hội thảo cũng đủ thấy các vấn đề như tình thế của Giáo Hội cũng như của nền thần học và cuộc đối thoại với các giáo hội Kitô khác luôn hiện diện trong số các quan tâm của vị giáo sư này. Năm 1973, cuộc hội thảo chính tập chú vào văn kiện đúc kết phiên họp toàn thể của Hội Đồng Đại Kết Các Giáo Hội tựa là “Đức Tin và Hiến Chế” (Faith and Constitution), trong đó có sự tham dự của Ratzinger và nhà thần học Đức khác là Walter Kasper. Trong lục cá nguyệt mùa đông niên học 1973-1974, giảng khóa chính về Kitô học bao gồm một buổi hội thảo để duyệt lại mọi điều “mới lạ” về thần học do các tác giả hiện đại đưa ra, từ Rahner tới Moltmann, từ Schoonenberg tới Pannenberg. Năm 1974, giảng khóa về Giáo Hội Học cũng bao gồm một buổi hội thảo về Lumen Gentium, tức hiến chế về Giáo Hội của Công Đồng Vatican II. Năm 1976, buổi hội thảo chính đề cập tới khả năng Giáo Hội Công Giáo có thể nhìn nhận Confessio Augustana, tức công thức đức tin do Phillip Melancthon của giáo hội Luthêrô soạn thảo. Buổi hội thảo này làm nổi bật các lý chứng ủng hộ việc nhìn nhận trên, do một sinh viên của Ratzinger, tức Vincenz Pfnur, trình bày, và được sự ủng hộ của thầy. Phương pháp được dùng cũng là một phương pháp sẵn sàng trực diện với những vấn đề gai góc, bất chấp các cấm kị. Như Vincent Twomey, thuộc Dòng Ngôi Lời (Verbite) và là một sinh viên của Ratzinger tại Ratisbon, từng nói trong cuốn Benedict XVI: The Conscience of Our Age. A Theological Portrait (Đức Bênêđíctô XVI: Lương Tâm Thời Đại Ta. Một chân dung thần học): “Đầu mỗi lục cá nguyệt, các sinh viên thuộc tất cả các năm và thuộc các môn khác nhau đều tụ tập tại những giảng đường lớn hơn để chăm chú nghe các buổi nói truyện khai mạc của Joseph Ratzinger. Bất cứ khảo luận nào được ngài đề cập tới trong lục cá nguyệt ấy, bất kể là sáng thế, là Kitô học hay Giáo hội học, ngài đều, trước nhất, đặt vấn đề trong bối cảnh văn hóa đương thời, rồi trong bối cảnh các khai triển mới xẩy ra về thần học, sau đó mới trình bày nhận định độc đáo, bác học và có hệ thống của mình”. Điều tiên quyết đòi hỏi nơi sinh viên là duy trì khả năng phê phán của họ luôn tỉnh táo đối với những tương hợp mới mẻ. Một cựu sinh viên của ngài là Joseph Zöhrer, hiện dạy thần học tại viện cao đẳng sư phạm tại Freiburg, cho hay: “Ngài phản ứng một cách dí dỏm tinh tế khi thấy xuất hiện trong cuộc hội thảo những luận điểm chưa đủ tìm tòi nghiên cứu. Có một lần, một sinh viên kia ủng hộ một luận đề bằng cách dựa vào một trích dẫn duy nhất của nhà thần học Karl Rahner. Ratzinger làm cho anh ta xì hơi bằng cách bảo: “Điều rất lạ là sau khi tuyên bố một cách chính đáng rằng mình hoài nghi công thức ‘Rôma đã lên tiếng, vấn đề coi như kết thúc’, thế mà giờ đây, người ta lại chẳng thèm chớp mắt mà đi nhìn nhận công thức ‘Rahner đã lên tiếng, vấn đề coi như kết thúc’…”.

Trong số các đồng nghiệp, sự quen thân của Ratzinger có tính chọn lựa. Ông cảm thấy rất hợp ý với các nhà chú giải như Mussner và Gross. Nhưng lúc nào cũng dè dặt, ít khi nhập nhóm hay khoác vào mình các cảm xúc trái ngược nhau. Bialas giải thích như sau: “Tự bản chất, ngài không phải loại người ưa tranh cãi, loại người ưa đấu tranh. Bởi thế, tôi luôn có ý nghĩ: ngài hẳn phải đau khổ khi gánh vác gần 25 năm trời sứ mệnh do Đức Giáo Hoàng Wojtyla trao phó đứng đầu Văn Phòng Thánh trước đây”. Tại Ratisbon, các giáo sư khác rất thích bản chất dễ dãi của ông, một bản chất rất có lợi khi phải tìm thỏa hiệp cho những tranh cãi tại đại học. Chính vì thế, các giáo sư này đã bầu ông làm khoa trưởng Phân Khoa và sau đó làm phó viện trưởng của đại học. Trong vai trò đó, ông cũng đã thành công giải quyết được đòi hỏi lập các giảng khóa về chủ nghĩa Mác do các sinh viên và nhân viên hành chánh đề nghị.

Trường phái tư tưởng tự do

Các buổi thuyết giảng của Ratzinger được các sinh viên của Phân Khoa tham dự nhiều hơn cả. Con số thường là từ 150 tới 200 người. Nhưng điều gây ấn tượng hơn cả, và làm nhiều người ganh tị, là càng ngày càng có các sinh viên từ khắp nước Đức và thế giới tới xin dọn tiến sĩ hay dọn bằng cấp dạy đại học dưới sự hướng dẫn của ông. Do sáng kiến của Peter Kuhn, Wolfgang Beinert và Michael Marmann thuộc tu hội Schönstatt, một hình thức qui tụ các sinh viên này đã được thành lập tại Tubingen với đủ qui luật tổ chức, nhưng tổ chức này chỉ đạt được hoàng kim thời đại của nó vào thập niên 1970.

Ratzinger thủ diễn vai trò của mình như một Doktorvater, tức “giáo phụ” (professor-father), một vai trò vốn được truyền thống đại học Đức qui định một cách không chính thức. Ông không giám sát các sinh viên tiến sĩ từng người một, đơn giản chỉ vì không có thì giờ: Schülerkreis (nhóm sinh viên) này quá đông, gần như lúc nào cũng vào khoảng 25 người. Bởi thế, cứ hai tuần một lần, thường là vào sáng Thứ Bẩy, ông cho họp các sinh viên này lại với nhau tại chủng viện giáo phận Ratisbon. Buổi sống chung nửa ngày này, mà có người gọi là extra moenia universitatis (bên ngoài bức tường đại học), bao giờ cũng bắt đầu bằng một Thánh Lễ. Sau đó, mỗi sinh viên sẽ thay phiên nhau trình bày bản phúc trình về diễn tiễn việc nghiên cứu của mình và xin mọi người góp ý phê phán. Phạm vi các chủ đề trình bày, dựa vào các luận án đã chỉ định, từ Thánh Irênê tới Nietzsche, từ nền thần học trung cổ tới Camus, từ Công Đồng Trent tới các triết gia nhân vị, nói lên một tinh thần hết sức cởi mở. Linh mục Bialas cho hay: “Một số anh em sinh viên chúng tôi đôi lúc đùa dỡn với ý niệm sẽ lập một trường phái gọi là trường phái thần học Ratzinger. Nhưng người đầu tiên gạt phăng cái ý mơ tưởng ấy chính là giáo sư của chúng tôi. Ngài luôn nói rằng ngài không hề có nền thần học riêng của mình”. Còn Twomey thì nhớ rõ ràng rằng: “Việc thảo luận là cốt yếu. Trước mỗi luận điểm cá biệt, giáo sư của chúng tôi đều xem sét tỉ mỉ mọi luận bác, cả luận bác có tính lịch sử lẫn các luận bác của các nhà thần học đương thời, và hết sức nghiêm túc cân nhắc mọi ý kiến và lý thuyết, kể cả những ý kiến và lý thuyết mới xuất hiện gần đây”. Phương pháp “đỡ đẻ” (maieutic) kiểu Socrates được ngài dùng để điều khiển cuộc tranh luận đã giúp ngài hạn chế tối đa việc can thiệp của mình. Ngài có được thái độ hết sức vô tư, super partes, đứng trên phe phái cả khi phải đương đầu với những cuộc tranh cãi tại những cuộc hội thoại của các sinh viên tiến sĩ (Doktoranden-Colloquium), những cuộc hội thoại vốn hoàn toàn tôn trọng tinh thần tự trị đại học. Twomey cho rằng: “căng thẳng là chuyện khó tránh khi có quá nhiều loại ý kiến thần học trong nhóm”. Quả thế, nhóm sinh viên tiến sĩ của Ratzinger không hề giống như một nhóm chuyên gia cố vấn (think-tank) một chiều về tư tưởng thần học, cũng không phải là một nhà máy sản xuất ra những người giống thầy như đúc (clones), càng không phải là một quầy những người mưu cầu nghề nghiệp đại học. Từ nhóm này sẽ xuất thân các đức ông tương lai cho Giáo Triều, mà cũng có thể chỉ là những cô gái Đại Hàn yêu kiều nhưng nhút nhát; những nhà đại kết chả bao giờ biết hối hận cũng như các tu sĩ khắc khổ nhưng đại độ chỉ biết dấn thân cho sứ vụ. Trong những năm sắp tới, khá nhiều các thần học gia này, như Hansjürgen Verweyen và Beinert, rất có thể có những quan điểm rất khác với các quan điểm của vị thầy khả kính, về nhiều vấn đề thần học đang được bàn cãi sôi nổi như việc phong chức cho nữ giới và việc chọn cách lên công thức cho cuốn giáo lý duy nhất của cả Giáo Hội Công Giáo. Zohrer nhận định: “Bây giờ nghĩ lại, tôi rất ngạc nhiên trước sự tự do chúng tôi được hưởng. Nhất là vì ngày nay, tôi thấy nhiều vị giáo phụ (doktorvater) khác, tuy có tiếng rất tự do, nhưng đã nhét các sinh viên của mình vào một chiếc phong bì quá chật, và sẵn sàng trừng phạt họ ngay khi vừa thấy ló dạng đôi chút bất đồng về nội dung…”.

Từ thời còn ở Tubingen, nhóm đã có thói quen tổ chức gặp mặt vào mỗi cuối lục cá nguyệt với các giáo sư và các thần học gia nổi tiếng ở ngoài Phân Khoa. Nhờ thế, qua nhiều năm tháng, vị Giáo Phụ nay đã tóc hoa râm cùng với các học trò của mình đã có dịp gặp gỡ và tranh luận với những nhân vật vĩ đại trong lãnh vực thần học hậu Công Đồng: từ Yves Congar tới Karl Rahner, từ Hans Urs von Balthasar tới Schlier, từ Walter Kasper tới Wolfhart Pannenberg, cho tới nhà chú giải Thánh Kinh Thệ Phản, Martin Hengel. Tất cả đều là những dịp may độc đáo để ký ức tập thể sống lại những hoài niệm tươi vui và nhiều biểu tượng. Như dịp cả nhóm du hành từ Tubingen tới Basle để gặp nhà thần học Thệ Phản trứ danh là Karl Barth. Kuhn nhớ rõ: “Nhờ một trùng hợp đầy may mắn, khi chúng tôi tới đó, thì Karl Barth, lúc ấy đã là một giáo sư hưu trí, đang tổ chức một buổi hội thảo cho các sinh viên của ông về Dei Verbum (Lời Chúa), tức Hiến Chế của Công Đồng Vatican II về các nguồn của Mạc Khải. Chúng tôi tham gia với họ và rất ngạc nhiên khi thấy Barth và nhóm học giả Thệ Phản ấy hết sức nghiêm túc đào sâu vấn đề mà trong các giới Công Giáo đôi lúc bàn tới một cách hết sức hời hợt, hời hợt đến mắc cỡ. Barth có óc rất tò mò. Chính ông đã đặt nhiều câu hỏi với vị giáo sư trẻ tuổi hơn nhiều của chúng tôi, với một thái độ hết sức kính trọng”. Trái lại, trong cuộc gặp gỡ với Balthasar, nhiều sinh viên trong nhóm đã thách thức lý thuyết của nhà thần học vĩ đại người Thụy Sĩ này, một lý thuyết cho rằng: ở hỏa ngục không có ai cả, làm ông khá nhột.

Các nhà thần học của cánh giữa

Sự tự do và sự sẵn sàng gặp gỡ một cách cởi mở các bén nhạy và các não trạng khác với các bén nhạy và não trạng của mình chắc chắn không thể bị coi là một thứ chủ nghĩa tương đối về thần học. Trong những va chạm từng lay động Giáo Hội trong các năm đó, Ratzinger không ẩn mình trong cái ốc đảo Ratisbon đầy êm ấm của mình. Dù vẫn trung thành với văn phong khá xa lạ với tinh thần kết án (anathema), ngài đã minh nhiên chọn đúng phía trong cuộc tranh chấp từng chia rẽ thế giới thần học gia trước đây có tham dự Công Đồng Vatican II. Sự chia rẽ kia cũng xẩy ra tại Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, một Ủy Ban được Đức Phaolô VI thiết lập năm 1969, theo đề nghị của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới. Ratzinger là một thành viên của Ủy Ban này ngay từ lúc đầu. Tại Ủy Ban này, ông đứng về phía những người như Balthasar, Henri De Lubac, Marie-Jean Le Guillou, Louis Bouyer, Jorge Medina Estévez của Chile. Những người này cho rằng não trạng “cách mạng thường xuyên”, một não trạng đang lây lan trong nhiều giới thần học khoa bảng Công Giáo, thực ra chỉ là một phá hoại, một biếm họa đối với việc canh tân do Công Đồng Vatican II đem lại. Ngay trong Ủy Ban, tranh luận cũng đã biến thành chia rẽ. Chính Ratzinger đã ghi chú như sau trong cuốn tự thuật của mình: “Rahner và Feiner, nhà đại kết người Thụy Sĩ, cuối cùng đã rời Ủy Ban bởi theo họ, nó chẳng đi đến đâu vì đa số không sẵn sàng ủng hộ các chủ đề cấp tiến”. Việc kết liễu “mặt trận thống nhất” của các thần học gia hậu Công Đồng xẩy ra cả trong lãnh vực xuất bản với việc thành lập tạp chí Communio vào năm 1972. Tạp chí này được chính von Balthasar bảo trợ và có mục đích lôi cuốn các thần học gia chống đối chủ nghĩa cấp tiến của tờ Concilium, một tạp chí quốc tế xuất hiện năm 1965. Ratzinger rời bỏ Concilium để cộng tác với Communio. Ngay từ đầu, ông đã tham gia dự án thiết lập một mạng lưới ủng hộ khắp thế giới. Trong số những người sốt sắng tham gia mặt trận mới này có một số nhân vật trẻ tuổi rất nổi tiếng của phong trào “Hiệp Thông và Giải Phóng” (Communion and Liberation), trong đó có thượng phụ Venice hiện nay là Angelo Scola. Ban biên tập ấn bản tiếng Đức có sự tham gia của Hans Maier, Bộ Truởng Giáo Dục của Bavaria. Từ năm 1974, nhiều ấn bản ở ngoại quốc ra đời: tại Mỹ, Pháp, Chile, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Ba Tây… Trong các thập niên 1980 và 1990, hầu như mọi thành viên của các nhóm thần học gia được Đức Gioan Phaolô nâng lên hàng giám mục, và sau đó lên hồng y, đều xuất thân từ lò Communio: các vị người Đức như Karl Lehmann và Kasper, người Thụy Sĩ có Eugene Corecco, qua đời năm 1995, người Ba Tây có Karl Romer Medina Estévez, người Ga Nã Đại có Marc Ouellet, người Áo có Christoph Schönborn, Dòng Đa Minh và cũng là một học trò tiến sĩ của Ratzinger tại Ratisbon. Năm 1992, đánh dấu 20 năm tạp chí Communio, Ratzinger có làm một bảng tổng kết kinh nghiệm tập thể này, trong đó, ta thấy không có cảnh tự khen mình: “Chúng ta đã có đủ thứ can đảm này chưa? Hay thay vào đó, chúng ta đã ẩn mình phía sau sự uyên bác thần học để chứng tỏ hơi chút quá đáng rằng cả chúng ta nữa, chúng ta cũng bị khóa cứng vào thời gian? Chúng ta đã thực sự gửi cho thế giới đang đói khát này lời của đức tin dưới hình thức dễ hiểu, một thứ ngôn từ đi thẳng vào trái tim chưa? Hay có lẽ phần lớn chúng ta đã chẳng thu mình vào cái vòng luẩn quẩn của những con người chỉ biết vui đùa với những thành ngữ chuyên môn để rồi tung banh cho nhau bắt?”

Lời mời được xác nhận

Trong cuốn tự thuật của mình, Ratzinger từng viết rằng: “Cảm giác càng ngày càng thu thập được rõ ràng hơn quan điểm thần học riêng của mình chính là cảm nghiệm đẹp đẽ nhất trong thời gian tôi ở Ratisbon”. Giữa thập niên 1970, dù phiền muộn vì cuộc chia rẽ xâu xé trong Giáo Hội, nhà thần học gần 50 tuổi lúc đó vẫn nếm được nhiều niềm vui thông thường trước viễn ảnh của điều được ông coi là đỉnh cao của sự nghiệp đại học: được sống tại quê hương Bavaria, được vui hưởng tình âu yếm của anh chị ruột, được thường xuyên đặt hoa trên phần mộ cha mẹ tại nghĩa trang gần nhà. Và được làm những công việc mình ưa thích hơn cả. Suốt đời, ông không mơ ước gì hơn là được nghiên cứu và giảng dạy thần học, được các cộng sự viên thoải mái và vô tư quây quần, hy vọng trao lại cho các môn sinh khắp thế giới niềm sảng khoái của việc rút tỉa được những kho báu luôn luôn mới mẻ từ các Giáo Phụ, từ nền phụng vụ thánh và từ Thánh Truyền nói chung. Chính vì thế, vào mùa hè 1976, khi Đức Hồng Y Tổng Giám Mục của Munich, Julius Dopfner, đột ngột qua đời, Ratzinger hết sức lo lắng trước lời đồn rằng ông là một trong số những người có thể kế vị. Ông viết trong cuốn tự thuật như sau: “Ai cũng biết rõ các giới hạn về sức khỏe của tôi, cũng như việc tôi thiếu kinh nghiệm quản trị và hành chánh”. Thế nhưng Đức Phaolô VI lại nghĩ khác, và thánh giá vẫn cứ rơi xuống vai ông.

Reinhard Richardi, người lúc đó là giáo sư tại Phân Khoa Luật Học và là bạn thâm giao của Ratzinger cho đến tận nay, có lần nói với “Ba Mươi Ngày” (30Days) rằng: “Sự ngạc nhiên kể là rất lớn. Rõ ràng Đức Phaolô qúy trọng ngài, thấy nơi ngài một nhà thần học lớn theo đường hướng canh tân của Công Đồng, và muốn ngài cùng mình hướng dẫn Giáo Hội. Người ta cũng thấy điều ấy ở cung cách Đức Giáo Hoàng mau lẹ nâng ngài lên hồng y, chỉ ít tháng sau khi cử nhiệm ngài làm tổng giám mục. Giờ đây, nếu thấy ngài kế vị mình trên ngai tòa Phêrô, hẳn Đức Phaolô VI phải nói: lúc ấy, tôi chắc mẩm là Chúa đã nhìn chăm vào ngài”.

Viết theo Gianni Valente, 30 Giorni August 2006

Tác giả: Vũ Văn An
   dunglac@gmail.com