Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Vũ Văn An
Bài Viết Của
Vũ Văn An
Antonio Rosmini, người của đức tin, lý trí và trái tim
Chiến dịch đem người Công Giáo trở về
Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II
Vatican và vấn đề tài liệu
Bốn Mươi Năm Sự Sống Con Người
Thờ Phượng Đích Thực Trong Tư Tưởng Thánh Phaolô
Gia Đình và Sự Sống
Khủng Hoảng Hôn Nhân và Gia Đình
Gia Tô Bí Lục Tân Thời
Thần học và thực hành mục vụ trong các thư của Thánh Phaolô
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa
Tính đáng tin cậy của Bộ Thánh Kinh
Kính Mừng Maria
Cầu nguyện theo lối chiêm niệm
Li dị và tái hôn trong các Phúc âm nhất lãm
Các nhà truyền giáo và kỹ nghệ tình dục
Từ Sydney tới Paris
Lộ Đức, sự hiện diện mênh mông của Mẹ
Bản Thể, Bản Tính
Thánh Phaolô, Nhà Truyền Giáo Vĩ Đại
Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
Cùng đi với Thánh Phaolô
Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội
Đức Bênêđíctô XVI: từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới hành trình đức tin trẻ em
GIÁO SƯ RATZINGER VÀ NHÓM HỌC TRÒ TIẾN SĨ (2)

  Bài đã đăng

Như đã thấy, kể từ thập niên 1970, nhóm học trò tiến sĩ của Ratzinger đã bắt đầu sinh hoạt đều đặn và rất có bài bản. Và từ nhóm ấy, chúng ta đã được thừa hưởng sự đóng góp của nhiều nhân vật nổi tiếng trong Giáo Hội hiện nay. Nhóm vẫn tiếp tục sinh hoạt khi giáo sư Ratzinger được Đức Phaolô VI cử nhiệm làm tổng giám mục Munich, kế vị Đức Hồng Y Dopfner đột ngột qua đời, và sau đó, được Đức Gioan Phaolô II cử nhiệm vào chức bộ trưởng bộ Giáo Lý Đức Tin. Nhưng đến khi, ngài được Hồng Y Đoàn bầu làm Giáo Hoàng năm 2005, lấy hiệu là Bênêđíctô XVI, thì ai cũng cho rằng những cuộc họp mặt kia khó lòng có thể tiếp tục với sự tham dự trực tiếp của thầy cũ nữa. Không ngờ, chính ngài đã chỉ thị cho các học trò duy trì nguyên hình thức gặp mặt cũ. Thế là từ năm 2005, họ tiếp tục được sinh hoạt với thầy một cách thân tình như xưa. Điều ấy nói lên rất nhiều thiện cảm của ngài dành cho học trò, thủ diễn thật đúng vai trò giáo phụ (Doktorvater) mà ngài từng đảm nhiệm từ những ngày còn dạy tại Tubingen.

Chủ đề Hồi Giáo

Đáp lại, các học trò cũng hết lòng với ngài. Các chủ đề của họ trong những năm từ 2005 đến nay đều tập chú vào việc quảng bá tư tưởng Ratzinger hoặc để chuẩn bị cho những phát biểu quan trọng của Đức Bênêđíctô XVI. Thí dụ, trước bài diễn văn Regensburg ngày 12 tháng 9 năm 2006, họ đã gặp nhau năm 2005 với chủ đề Hồi Giáo, tuy rằng chủ đề này đã được đưa ra sau cuộc họp năm 2004, lúc ngài còn là bộ trưởng bộ Giáo Lý Đức Tin. Nội dung cuộc thảo luận này không được công bố. Người ta biết được phần nào chiều hướng và nội dung thảo luận của nó nhờ tiết lộ gây tranh cãi của một trong các học trò của ngài là cha Joseph Fesio S.J., giám đốc nhà xuất bản Ignatius. Tiết lộ này khiến người ta có cảm tưởng rằng theo Đức Bênêđíctô XVI, Hồi Giáo và dân chủ không đi đôi với nhau.

Theo tường thuật của báo chí, trong cuộc phỏng vấn truyền thanh với Hugh Hewit ngày 5 tháng Giêng năm 2006, Cha Joseph Fesio cho hay: khi vừa nghe Cha Troll, Dòng Tên, thuyết trình viên cuộc họp trình bày rằng: Hồi Giáo có thể đối thoại với thế giới hiện đại, chỉ cần họ tái giải thích Kinh Koran bằng cách nắm lấy các luật lệ đặc thù trong nguyên tắc rồi thích ứng chúng vào thời đại ta, Đức Bênêđíctô XVI lên tiếng ngay, chứ không đợi đến cuối buổi gặp gỡ như ngài vẫn làm. Ngài bảo: có vấn nạn căn bản ở đây, vì trong truyền thống Hồi Giáo, Thiên Chúa ban lời của Người cho Mohammed, và đó là những lời trường cửu, chứ không phải là lời của Mohammed. Lời đó có giá trị trường cửu, không thể thích ứng hay tái giải thích gì được. Trong khi đối với Kitô Giáo và cả Do Thái Giáo, Thiên Chúa hành động qua tạo vật. Do đó, không phải chỉ là lời Thiên Chúa, mà còn là lời của Isaia, lời của Máccô… Thiên Chúa sử dụng các tạo vật, và linh hứng để họ nói lời của Người cho thế giới, và do đó, thiết lập ra Giáo Hội, ban cho Giáo Hội thẩm quyền chuyển giao và giải thích lời này. Cho nên, đối với Thánh Kinh Kitô Giáo, có cả một thứ luận lý nội tại, cho phép nó và đòi hỏi nó được thích ứng và áp dụng vào các tình thế mới.

Bởi thế, Kitô giáo có thể vận dụng được tính hiện đại như nó từng vận dụng văn hóa Hy Lạp vì thấy trong nền văn hóa ấy nhiều điều tốt, có thể thăng hoa bằng Mạc Khải của Chúa Kitô trong Thánh Kinh. Người Do Thái cũng từng vận dụng được Ai Cập. Nhưng Hồi Giáo thì không, họ bị dính cứng vào một bản văn được họ coi là không thể nào thích ứng được. Cha còn cho rằng theo Đức Bênêđíctô XVI, Hồi Giáo không thể thay đổi, không thể làm khác, vì nó chống lại bản chất của Kinh Koran, như người Hồi Giáo vốn nghĩ. Ngay một thực tại như Phong Trào Thệ Phản cũng không thể có trong lòng Hồi Giáo.

Nhưng sự việc không hẳn như thế. Theo cha Samir Khalil Samir, một học giả Dòng Tên chuyên về Hồi Giáo, và là một trong hai thuyết trình viên của cuộc gặp mặt, Đức Bênêđíctô XVI không bi quan như vậy. Theo linh mục này, Đức Bênêđíctô XVI cho rằng việc gặp nhau giữa Hồi Giáo và nền dân chủ là điều có thể có, với điều kiện có sự tái giải thích Kinh Koran và chính quan niệm về mạc khải.

Vào ngày thứ hai của cuộc thảo luận tại Castel Gandolfo, trong tư cách chuyên viên và thuyết trình viên, cha Samir đã khai triển khía cạnh trên. Cha bảo đây không phải chỉ là vấn đề tranh luận lý thuyết. Mỗi cách giải thích đều có những vang dội chính trị quan trọng. Chiến lược toàn diện của Hoa Kỳ tại Iraq và Trung Đông nói chung đã đặt căn bản trên khả năng có thể có sự bừng nở của dân chủ và phát triển tại các nước Hồi Giáo.

Vấn đề này cũng liên hệ tới tương lai di dân Hồi Giáo tại Âu Châu. Một Hồi Giáo hòa giải với dân chủ mới cho phép họ hội nhập. Một Hồi Giáo thiếu khả năng phân biệt giữa Thiên Chúa và Xêda sẽ giam hãm họ mãi trong tình trạng “người lạ”.

Đó cũng là điều đức Hồng Y Ratzinger từng viết cách đây nhiều năm trong một nhận định rất hiếm của ngài về Hồi Giáo, trong cuốn Muối Đất do chính nhà xuất bản Ignatius ấn hành năm 1997. Theo Đức Hồng Y Ratzinger, Hồi Giáo không độc dạng (uniform), không hề có một thẩm quyền duy nhất cho mọi người Hồi Giáo, chính vì thế, đối thoại với Hồi Giáo luôn có nghĩa là đối thoại với nhiều nhóm. Không ai có thể lên tiếng đại biểu cho toàn thể Hồi Giáo. Hồi giáo hiện hữu dưới nhiều hình thức. Có Hồi Giáo mã thượng, tiêu biểu nơi Quốc Vương Marốc mà cũng có Hồi Giáo quá khích, thậm chí khủng bố nữa, những hình thức ta không thể đồng hóa với Hồi Giáo như một toàn thể.

Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý hơn là nơi Hồi Giáo nói chung, tác động qua lại giữa xã hội, chính trị và tôn giáo có một cơ cấu hoàn toàn khác. Cuộc thảo luận hiện nay tại Phương Tây về khả năng Hồi Giáo có thể có các phân khoa thần học hay về ý niệm Hồi Giáo như một thực thể pháp lý chắc chắn dựa vào giả thuyết cho rằng mọi tôn giáo đều có cơ cấu như nhau về căn bản, mọi tôn giáo đều thích ứng với hệ thống dân chủ… Nhưng xét ngay trong nó, điều ấy nhất thiết mâu thuẫn với bản chất của Hồi Giáo, một tôn giáo vốn không chủ trương tách biệt hai lãnh vực chính trị và tôn giáo như Kitô Giáo vốn chủ trương từ đầu. Kinh Koran là một luật tôn giáo toàn diện dùng để điều hướng toàn bộ đời sống chính trị và xã hội. Kinh này cũng nhấn mạnh rằng toàn bộ trật tự cuộc sống phải có tính Hồi Giáo. Luật Sharia lên khuôn xã hội từ đầu đến cuối. Trong chiều hướng ấy, Hồi Giáo có thể khai thác các quyền tự do từng phần như hiến pháp của ta qui định, nhưng đó không phải là mục tiêu sau cùng của họ, họ không thể nói: chúng tôi cũng là một cơ chế của quyền lợi, giống như người Công Giáo hay Thệ Phản. Làm thế là đi ngược lại bản chất nội tại của Hồi Giáo, là một vong thân khỏi chính mình.

Hồi Giáo có lối tổ chức toàn trị cuộc sống, hoàn toàn khác với lối tổ chức của ta; lối tổ chức này bao hàm mọi sự. Phụ nữ phải hoàn toàn lệ thuộc người đàn ông; luật hình sự của họ hết sức nghiêm ngặt, bao trùm mọi lãnh vực của cuộc sống. Người ta cần hiểu rõ điều này: đây không phải là một hệ phái có thể đưa vào một xã hội tự do đa nguyên… Trong hoàn cảnh ấy, vấn đề đối thoại với Hồi Giáo dĩ nhiên phức tạp hơn là cuộc đối thoại nội bộ giữa người Kitô hữu với nhau.

Việc củng cố Hồi Giáo trên khắp thế giới là một hiện tượng nhiều mặt. Một đàng, yếu tố tài chánh có đóng vai trò ở đây. Sức mạnh tài chánh mà các nước Ả Rập đang nắm giữ đã giúp họ xây dựng được nhiều đền thờ lớn ở khắp nơi, bảo đảm cho sự hiện diện của nhiều định chế văn hóa Hồi Giáo… Nhưng không phải chỉ có thế. Yếu tố khác chính là việc gia tăng bản sắc, một ý thức mới về chính mình.

Trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nghĩa là cho tới tận thập niên 1960, ưu thế của các nước theo Kitô Giáo về kỹ nghệ, văn hóa, chính trị và quân sự lớn đến nỗi Hồi Giáo bị đẩy xuống hạng nhì. Dù sao, Kitô Giáo hay đúng hơn các nền văn minh dựa vào Kitô Giáo có thể coi mình như một thế lực quang vinh trong lịch sử thế giới. Nhưng rồi cuộc khủng hoảng tinh thần lớn lao của thế giới Phương Tây, mà nhiều người cho là đồng hóa với thế giới Kitô Giáo, bỗng nhiên nổ ra. Trước các mâu thuẫn tinh thần và sự vô vọng nội tại của Phương Tây, cộng với sức mạnh kinh tế mới mẻ của thế giới Ả Rập, linh hồn Ả Rập đã vùng sống lại. Họ bảo: chúng tôi cũng là một ai đó; chúng tôi biết mình là ai; tôn giáo của chúng tôi giữ vững được đất đứng của nó; không như các anh, chẳng còn một tôn giáo nào ra hồn.

Đây là cảm nhận thực sự của thế giới Hồi Giáo ngày nay: các nước Phương Tây không còn khả năng rao giảng một sứ điệp luân lý nào nữa, mà chỉ còn kỹ thuật để cung hiến cho đời. Kitô Giáo đã thoái vị; nó không cón hiện diện như một tôn giáo nữa; người Kitô hữu không còn một nền luân lý hay một đức tin nào nữa; còn chăng chỉ là những dư vị của một số ý niệm tân thời do phong trào ánh sáng rơi rớt lại; chúng tôi mới có thứ tôn giáo chịu đựng được thử thách.

Như thế, người Hồi Giáo hiện nay ý thức rằng trên thực tế, tôn giáo của họ, cuối cùng, mới là tôn giáo sống mạnh, có một sứ điệp để nói với thế giới, và quả là sức mạnh tôn giáo chủ yếu của tương lai. Một lòng say sưa mới, một ước muốn cuồng nhiệt mới được sống theo Hồi Giáo đã trỗi dậy. Đó là một sức mạnh lớn lao. Họ bảo: chúng tôi có một sứ điệp luân lý tồn tại từ thời các tiên tri và chúng tôi sẽ nói cho thế giới biết phải sống sứ điệp ấy ra sao, trong khi Kitô Giáo không có khả năng làm việc đó. Đức HY Ratzinger kết luận: chúng ta phải giáp mặt với sức mạnh nội tại của Hồi Giáo này, một sức mạnh đến cả các giới học thuật cũng đang hết sức quan tâm.

Các nhận định trên không hiểu có hoàn toàn diễn tả trung thực suy nghĩ của người sau này sẽ lên ngôi giáo hoàng, lấy hiệu là Bênêđíctô XVI hay không, vì nó là sản phẩm của một nhà báo ghi lại cuộc phỏng vấn với vị bộ trưởng thánh bộ Giáo Lý Đức Tin. Đọc lướt qua, người ta thấy chúng có thể dẫn ta tới nhiều suy diễn khác nhau. Một trong các suy diễn đó là: Hồi Giáo không hề có một thẩm quyền lo về chính thống (orthodoxy) và do đó rất có thể dẫn tới nhiều khuynh hướng khác nhau.

Đó chính là hướng mà vị thuyết trình viên thứ hai của cuộc họp mặt tiếp nhận. Thực vậy, một học giả Dòng Tên khác chuyên về Hồi Giáo, Cha Christian W. Troll, người Đức, cũng đã được nhóm học trò tiến sĩ của Đức Bênêđíctô XVI mời tới thuyết trình năm 2005. Theo Cha Troll, quan điểm của Đức Bênêđíctô trong cuộc họp mặt năm 2005 không giống như Cha Fesio thuật lại. Theo Cha, Đức Bênêđíctô XVI coi việc hòa giải giữa Hồi Giáo với thế giới hiện đại là việc rất khó khăn, nhưng không phải là không làm được.

Cha Troll có gửi cho Daniel Pipes của tờ “The New York Sun” một lá thư để giải thích như sau: “Tôi chỉ có thể nói rằng Đức Thánh Cha có nhận xét về điểm dị biệt chủ yếu giữa hai nền thần học chính dòng của Hồi Giáo và Kitô Giáo đối với Lời Chúa và việc mạc khải hay linh hứng. Nhận xét của Đức Thánh Cha cũng gợi ý rằng suy tư thần học của Hồi Giáo phải lưu ý tới xác tín tôn giáo đó cũng như quan điểm thần học đang được Hồi Giáo tiếp tục lên khuôn. Tuy nhiên, tôi không hề nhớ rằng Đức Thánh Cha đã nói những lời như D. Pipes tường trình lại là ‘không thể thích ứng hay giải thích được’.

Đức Thánh Cha rất hiểu biết, ngài hiểu rằng trước nay vẫn có, và có lẽ càng ngày càng có nhiều lối giải thích khác nhau về Kinh Koran liên quan tới nền thần học mạc khải. Những quan điểm và phương thức này xem ra chưa giúp gì nhiều cho lối suy nghĩ và cách tiếp cận của đại bộ phận các phong trào và cơ quan Hồi Giáo, và ta không biết trong tương lai vấn đề sẽ ra sao, nhưng sự kiện trên có thật và được được bàn luận sôi nổi ở nhiều giới, cả trong đại học lẫn ở ngoài đại học. Một cuộc tranh luận công khai về những vấn đề như thế xem ra khó có thể có trong thế giới Ả Rập nhưng các xã hội như Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Dương hiện đang tương đối dành nhiều chỗ để người ta dóng lên và thảo luận các ý tưởng như thế. Các nước Phương Tây cũng đang tạo các cơ may tương tự. Gần đây, tôi có cho đăng tải một bài tựa là ‘Progressives Denken im Zeitgenössischen Islam’ (Khảo Sát có Phê Phán Lối Suy Nghĩ Tiến Bộ trong Hồi Giáo Hiện Nay)” trên tờ Islam und Gesellschaft, Nr. 4”.

Trong bài trên, Cha Troll cho rằng hiện đang có ba khuynh hướng chính trong thế giới Hồi Giáo. Ngoài khuynh hướng Hồi Giáo có tính văn hóa, mà ta có thể gọi là Hồi Giáo truyền thống, còn có khuynh hướng Hồi Giáo “duy hồi giáo” (Islamist Islam), tức khuynh hướng hiểu Kinh Koran theo nghĩa đen. Khuynh hướng cuối cùng là khuynh hướng cởi mở đón nhận các giải thích mới, dựa trên tinh thần của bản văn.

Tuy hiện nay, khuynh hướng Hồi Giáo dựa trên tinh thần bản văn chưa ở hàng đầu, nhưng những người ủng hộ nó đang thực hiện được nhiều cố gắng lớn lao, chứng tỏ về lâu về dài, họ có thể đương đầu một cách mềm dẻo với các thách đố của thời hiện đại mà không phá đổ một số quan điểm cố hữu của Hồi Giáo. Người ta thấy càng ngày càng có nhiều người Hồi Giáo quay về với lối nhìn có phê phán về tôn giáo, một lối nhìn càng ngày càng bớt bị môi trường điều kiện hóa, nhưng dựa nhiều hơn vào việc chấp nhận đức tin một cách bản thân và có trách nhiệm. Đối với lối nhìn này, phải nhìn thế giới hiện đại bằng con mắt phê phán, dựa vào lương tâm và tự do cá nhân. Tự do quan trọng đã đành, nhưng cũng cần một hệ thống xã hội biết để cho tâm trí được tự do chứ không bị bạo lực áp bức. Trong chiều hướng này, phải đặt tôn giáo và ngôn ngữ tôn giáo dưới sự phê phán có tính khoa học, phải sử dụng các ngành như ngữ học, ký hiệu học (semiotics), tôn giáo học so sánh và nhất là xã hội học để nghiên cứu về Hồi Giáo. Đây là điều hiện còn gặp nhiều chống đối trong Hồi Giáo, đến độ những người ủng hộ nó đang bị gán cho nhãn hiệu bỏ đạo. Tuy nhiên, những nhân vật này đang kiên trì nắm vững quan điểm. Cha Troll kể tên ít nhất 17 nhân vật nổi tiếng hiện nay thuộc khuynh hướng này tại Pháp, Iran, Hoà Lan, Marốc, Tunisia, Mỹ, Ấn Độ, Nam Dương, Mã Lai và Thổ Nhĩ Kỳ… Họ chủ trương chỉ có lối đọc các bản văn nền tảng của Hồi Giáo một cách mới mẻ, không thiên kiến mới làm cho các giá trị chủ yếu của Hồi Giáo có tương quan với các nhu cầu muôn mặt của thế giới hiện đại. Vì họ cho rằng tuy Kinh Koran có chuyển giao các chân lý trường cửu, nhưng cách chuyển giao của nó thì có tính văn hóa chuyên biệt, nghĩa là người ta không thể áp dụng phổ quát điều chỉ phản ảnh nền văn hóa thế kỷ thứ 7 hay thứ 8 của người Ả Rập vùng Hejazi (phía tây Saudi Arabia).

Sau các đóng góp của hai linh mục Samir và Troll, Cha Fesio gửi cho tờ “The Washington Times” một lá thư trong đó Cha nhìn nhận đã tường thuật sai điều Đức Thánh Cha thực sự muốn nói và tuyên bố rằng: “ghi nhớ của Khalil Samir là chính xác”. Cha giải thích: “Minh xác quan trọng nhất là: Đức Thánh Cha không nói, mà tôi cũng không nói rằng: ‘Hồi Giáo không có khả năng đổi mới’… Tôi đã mắc sai lầm nghiêm trọng khi nói rằng ‘không thể thích nghi hay áp dụng’ Kinh Koran và ‘không thể thích nghi hay giải thích nó’. Đây chắc chắn không phải là điều Đức Thánh Cha nói. Hiển nhiên là có thể thích ứng và áp dụng nó, và thực tế việc ấy đã từng xẩy ra. Tôi cũng đã đưa ra một tóm lược quá sơ sài về sự khác biệt được Đức Thánh Cha đưa ra giữa động lực nội tại của Kinh Koran trong tư cách bản văn thánh được trao như thế cho Mohammed, và động lực nội tại của Thánh Kinh, vốn được hiểu vừa như Lời Chúa, vừa như lời của con người được Thiên Chúa linh hứng, bên trong một cộng đồng trong đó có những người được Thiên Chúa ban quyền làm người giải thích (tức các giám mục hiệp thông với Đức Giáo Hoàng)”.

Cha Fesio cũng cho rằng ngôn ngữ có dự phần vào sai lầm của Cha: “Cuộc họp mặt này là cuộc họp mặt thân mật giữa Đức Thánh Cha và các học trò cũ của ngài. Các trình bày và thảo luận đều bằng tiếng Đức và Đức Thánh Cha lên tiếng mà không cần bản văn soạn sẵn. Tiếng Đức của tôi chỉ tàm tạm (passable), không hoàn toàn đáng tin. Nhận xét sau đó của tôi trên đài truyền thanh lại không được chuẩn bị, hoàn toàn có tính tùy ứng (estemporaneous)... Không nên dùng việc tôi tùy ứng nhắc lại lời Đức Thánh Cha bằng một ngôn ngữ khác để giải thích tâm tư của Đức Thánh Cha”.

Lương tâm thời đại

Có lẽ vì cuộc tranh cãi do tiết lộ của Cha Fesio gây ra, nên nhóm học trò tiến sĩ của Ratzinger đã phá bỏ lệ họp bí mật mà cho công bố nội dung cuộc thảo luận năm 2006 dưới tựa đề “Sáng Thế và Biến Hóa” (Creation and Evolution) bằng tiếng Đức và tiếng Ý. Năm 2007, chúng tôi không rõ chủ đề của cuộc họp mặt ra sao, nhưng cùng năm, một người trong nhóm học trò này là linh mục Vincent Twomey, giáo sư về hưu môn thần học luân lý tại Đại Học Giáo Hoàng Thánh Patrick ở Maynooth, Ái Nhĩ Lan, có nói truyện với hãng tin Zenit về một cuốn sách của ngài viết về người thầy cũ của mình, tựa là “Pope Benedict XVI: The Conscience of Our Age” (Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI: Lương Tâm Thời Đại Ta) do Nhà Xuất Bản Ignatius ấn hành cùng năm.

Theo cha Twomey, tư duy hiện đại coi lương tâm như một cơ chế bào chữa, không thể sai lầm, nó bảo điều gì đúng thì điều đó đúng. Với cuốn sách trên, Cha muốn nhấn mạnh vai trò của Đức Bênêđíctô XVI trong việc giúp ta trở về với một cái hiểu sâu sắc hơn về lương tâm.

Đối với Cha Twomey, Ratzinger không phải chỉ là một học giả và một nhà học thuật tầm cỡ thế giới, ngài còn là một tư tưởng gia độc đáo. Cha ví ngài như Midas trong thần thoại Hy Lạp, nghĩa là hễ ngài đụng tới cái gì cái đó trở thành vàng. Nói cách khác, bất cứ bàn tới đề tài nào, ngài cũng có một điều mới mẻ và hứng thú để nói về nó, bất luận là tín điều của Giáo Hội, hay một bức tranh ghép tại một nhà thờ ở Rôma, hoặc vấn đề đạo đức sinh học. Và ngài viết về chúng với một văn phong hết sức trong sáng. Đến độ, Đức Hồng Y Joachim Meisner của Cologne ví ngài như Mozart của thần học. Còn về nội dung, chính Đức Hồng Y Ratzinger từng nói “Thiên Chúa là chủ đề trung tâm trong mọi công trình của tôi”. Ngài bàn một cách sâu xa mọi phạm vi của thần học: tín lý, luân lý, sinh hoạt chính trị, đạo đức sinh học, phụng vụ, chú giải thánh kinh, âm nhạc, nghệ thuật… Và bất cứ bàn tới điều gì, ngài cũng bàn dưới nhãn quan của Thiên Chúa. Nói cách khác, ngài cố gắng khám phá xem Thánh Kinh và Thánh Truyền nói gì về vấn đề chuyên biệt ấy.

Nhưng mặt khác, các suy tư thần học của ngài lại luôn bám chắc vào kinh nghiệm đương thời, tức các vấn nạn và vấn đề hiện có do thế giới hiện đại và hậu hiện đại đặt ra qua các nhà tư tưởng hiện nay và các biến cố tạo thời cuộc trong thời đại ta. Nhờ thế, tuy chỉ là những bài lẻ tẻ, vì ngài vốn không có thì giờ viết các chuyên khảo, nhưng các trước tác của ngài có khả năng chuyên chở nhiều sự thật thông sáng đụng đến tâm trí người đọc và thay đổi được nhiều tâm hồn.

Trong tác phẩm của mình, Cha Twomey mô tả Đức Bênêđíctô XVI là người không sợ mắc lỗi lầm; ngài “có cái can đảm làm người bất toàn”. Cha giải thích: điều căn bản trong thái độ của Đức Bênêđíctô XVI đối với cuộc đời và thần học, là chủ trương cho rằng chỉ có Thiên Chúa mới hoàn thiện, mọi cố gắng của con người chỉ là bất toàn. Chủ nghĩa duy hoàn thiện dưới bất cứ hình thức nào cũng đều thù nghịch với con người, nhát là trong lãnh vực chính trị. Hầu hết các ý thức hệ chính trị đều nhằm mục tiêu tạo ra một thế giới hoàn thiện, một xã hội hoàn thiện, nhưng kết quả, chúng thường biến thế giới này thành hỏa ngục.

Đó là chủ đề khá thường xuyên trong các trước tác của ngài về sinh hoạt chính trị. Con người cũng đôi khi hướng các cố gắng ấy vào lãnh vực thần học nữa. Nhưng đối với Đức Bênêđícô XVI, thần học mãi mãi là một công việc không hoàn tất, luôn luôn cần được cải thiện, sửa chữa và đào sâu. Ta không thể biết hết mọi chuyện, càng không biết hết về Thiên Chúa và kế sách của Người dành cho con người. Trên đây, Cha Twomey có nói tới tính cách lẻ tẻ (fragmentary) trong các trước tác của Đức Bênêđíctô XVI. Điều ấy nói lên sự kiện này: phần lớn các trước tác của ngài đều là những công trình chưa hoàn tất, như cuốn “Dẫn Vào Kitô Giáo”, và cuốn gần đây “Chúa Giêsu Nadarét”. Nhưng ngài vẫn có cái can đảm cho công bố chúng. Thái độ này mang lại cho tác giả Joseph Ratzinger một sự thanh thản nội tâm và một tinh thần không dính bén (detachment) mà cả thế giới hiện đang cảm nhận nơi con người Đức Bênêđíctô XVI. Nhưng có lẽ nó còn là bí quyết của tính hài hước và dí dỏm nơi ngài nữa.

Trở lại chủ đề lương tâm, người ta cho rằng hiện đang có sự bóp méo hạn từ lương tâm. Thực ra, theo Cha Twomey, sau Thông Điệp Humanae Vitae của Đức Phaolô VI, người ta bắt đầu giải thích lương tâm một cách sai lạc. Quả thế, đối với nhiều người, làm gì không phải là điều quan trọng, miễn là thành thực tin rằng điều ấy đúng. Như thế, lòng thành thực đã trở thành tiêu chuẩn của luân lý tính. Nếu vậy, ta khó có thể lên án những người như Hitler hay Stalin (hoặc Hồ Chí Minh của Việt Nam), vì người ta có thể cho rằng những người này cũng đã hành động theo “ánh sáng” riêng của họ, theo các xác tín thành thực của họ. Sự nhấn mạnh xưa nay tới tính tối thượng (primacy) của việc phải theo tiếng lương tâm của mình, cho dù nó sai lầm, đã dẫn tới quan điểm sai lầm cho rằng “lương tâm không thể sai lầm, hay vô ngộ (infallible)”, vì điều gì lương tâm bạn cho là đúng thì điều ấy đúng. Nghĩ như thế là giản lược lương tâm chỉ còn là một cơ chế chống chế (excuse mechanism). Ý niệm này được chủ nghĩa duy tương đối của thời hiện đại gợi hứng. Ngày nay, người ta có thói quen cho rằng mỗi người đều có quyền tiếp nhận bất cứ nguyên tắc luân lý nào mình cho là tốt nhất đối với mình. Các nguyên tắc ấy chỉ những chọn lựa của lương tâm, sau khi đã cân nhắc các giải pháp. Lý thuyết này khá hấp dẫn. Nhưng với nó, người ta có thể nghĩ rằng mỗi người có quyền xác định cho mình điều đúng và điều sai, y như cơn cám của Adong và Evà xưa trong vườn Địa Đàng.

Có người gọi lý thuyết ấy là Đạo Công Giáo “theo thực đơn” (a la carte Catholicism), một đạo cho phép ta được quyền chỉ và chọn điều mình thích hay hợp với ý mình. Luân lý tính bị giản lược chỉ còn là sở thích bản thân mà tựu trung là phi lý. Cái ý niệm hết sức thịnh hành này về lương tâm đã và đang gây rất nhiều hậu quả tàn hại đối với Giáo Hội và lối sống Kitô Giáo.

Sở dĩ bảo rằng Đức Bênêđíctô XVI là lương tâm của thời đại ta, vì trước nhất, theo Cha Twomey, trong tư cách một thần học gia và sau này, trong tư cách bộ trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, ngài vốn là tiếng nói của lương tâm Giáo Hội trong việc khẳng định các chân lý khách quan khi chúng bị bác bỏ trong lý thuyết và thực hành. Xem ra, các tư tưởng gia thế tục ở bên ngoài Giáo Hội đã nhìn ra điều đó hơn các tư tưởng gia ở bên trong Giáo Hội. Như Hàn Lâm Viện Pháp, chẳng hạn, đã vinh danh ngài như người kế vị xứng đáng của Andrey Sacharov, nhà vật lý nguyên tử đã ly khai hệ thống độc tài của Liên Bang Xô Viết. Họ thấy nơi ngài một nhà bất đồng vĩ đại đối với “nền độc tài của chủ nghĩa duy tương đối” từng xâm lăng Âu Châu và Mỹ Châu hơn nửa thế kỷ qua.

Thứ đến, lương tâm không những chỉ là một chủ đề chính yếu trong các trước tác của ngài mà ngài còn đóng góp lớn vào việc sửa chữa sự hiểu lầm về lương tâm như đã mô tả trên đây, điều mà Cha Twomey đã dành hẳn một chương trong cuốn sách của ngài để nói về. Kinh nghiệm sống dưới ý thức hệ Quốc Xã đã giúp Đức Bênêđíctô XVI nhạy cảm đối với nhu cầu phải thi hành trách nhiệm luân lý nơi từng người, nhưng nhất là nơi những người giữ chức vụ công trong Giáo Hội cũng như trong nhà nước. Trách nhiệm luân lý chính là tên khác của lương tâm.

Sự nghi ngại của ngài đối với các hội đồng giám mục có gốc gác khá sâu trong kinh nghiệm Đức: cả tập thể các giám mục nước này đã không xứng đáng với chứng tá của một số giám mục cá thể như Đức Giám Mục Clemens von Galen của Muenster and Đức Tổng Giám Mục Michael Faulhaber của Munich. Bởi thế, ngài kêu gọi mọi giám mục phải đích thân làm chứng chứ không nên chờ các hội đồng giám mục “đóng dấu” cho một tài liệu được một ủy ban nặc danh nào đó soạn thảo. Cũng thế, nền thần học của ngài luôn được đánh dấu bằng một công trình đích thân tìm kiếm sự thật, do lương tâm thúc đẩy. Trọn cuộc đời ngài, ngài đã thực thi trách nhiệm luân lý bản thân, dù bị mang tiếng là một “rottweiler” (chó săn) hay “một đại tra tấn viên” (grand inquisitor) hoặc “kẻ thù của nhân loại” như một nhà báo nào đó gọi ngài. Nói sự thật dù nói trong yêu thương vẫn ở thế đối nghịch với thời thượng đương thịnh và tự biến mình thành kẻ không được ai thương. Ngày nay, trong cương vị Giáo Hoàng, ngài tiếp tục thực thi trách nhiệm luân lý qua phong cách tự soạn lấy phần lớn các bài diễn văn của mình; những bài diễn văn này được công chúng lắng nghe vì chúng được nói ra từ chính trái tim ngài chứ không phải từ những sơ đồ có sẵn.

Giải thích Vatican II [1]

Năm 2008, sau khi Đức Bênêđíctô XVI cho công bố tập đầu tiên của ngài về “Chúa Giêsu Nadarét”, nhóm học trò tiến sĩ của ngài đã nhóm họp để thảo luận về sự tương hợp giữa Chúa Giêsu của Phúc Âm và Chúa Giêsu “của lịch sử” với sự chú tâm đặc biệt vào trình thuật Khổ Nạn. Họ được nghe hai nhà chú giải thời danh của Đức là Martin Hengel và Peter Stuhlmacher thuyết trình, cả hai đều là thệ phản và là giáo sư tại Tubingen, những người được Đức Bênêđíctô XVI kính phục. Thành quả cuộc họp mặt kỳ này đã được đúc kết trong cuốn "Conversations About Jesus. Pope Benedict XVI in Dialog with Martin Hengel, Peter Stuhlmacher and his students in Castelgandolfo 2008" (Các Cuộc Đàm Luận về Chúa Giêsu. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI Đối Thoại với Martin Hengel, Peter Stuhlmacher và các sinh viên của ngài tại Castel Gandolfo 2008) do Mohr Siebeck ấn hành và được Peter Kuhn biên tập.Nhân cuộc họp mặt lần này, nhóm đã thành lập Qũy Joseph Ratzinger-Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI để cổ động việc nghiên cứu tư tưởng thần học của ngài.

Năm 2009, chủ đề buổi nhóm họp của họ là cuộc thảo luận đại kết về truyền giáo. Một trong các thuyết trình viên năm nay là linh mục Peter Beyerhaus, trước đây vốn là một mục sư trong Giáo Hội Luthêrô, và hiện là giáo sư hưu trí về truyền giáo học và thần học đại kết tại Đại Học Tubingen. Thuyết trình viên thứ hai là Heinz Burkle, một thần học gia trước đây thuộc Giáo Hội Luthêrô nhưng đã trở lại Công Giáo trong thập niên 1980, hiện là giáo sư hưu trí của Đại Học Ludwig-Maximilians tại Munich. Đề tài ông trình bày là “Giáo Hội và sứ mệnh đối thoại với những con người, những tôn giáo và nền văn hóa khác nhau”.

Chủ đề của cuộc họp mặt vào cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm nay, 2010, khiến nhiều người lưu ý vì nó đề cập tới một trong những cách tiếp cận căn bản của thần học gia Ratzinger đối với Công Đồng Vatican II, một Công Đồng mà ngài vốn tham dự từ đầu tới cuối trong tư cách chuyên viên thượng thặng. Đó là việc giải thích Công Đồng này. Thuyết trình viên năm nay là Đức Tổng Giám Kurt Koch. Ngài sẽ trình bày hai đề tài liên tiếp: sau đề tài “Công Đồng Vatican II giữa Truyền Thống và Canh Tân”, ngài sẽ đề cập tới sự liên kết giữa Hiến Chế Phụng Vụ và Cuộc Canh Tân Phụng Vụ sau Công Đồng.

Chắc chắn bài nói truyện của Đức Bênêđíctô XVI vào tháng 12 năm 2005 trước Giáo Triều cũng sẽ được đem ra thảo luận, nếu không muốn nói là để đào sâu và lấy làm kim chỉ nam cho cuộc tranh luận. Trong bài nói truyện này, ngài cho rằng đã từ lâu, vẫn có hai lối giải thích trái ngược nhau về Công Đồng Vatican II: một bên cho Vatican II là một gián đoạn. Lối giải thích này rất được “thiện cảm của các phương tiện truyền thanh đại chúng cũng như một số khuynh hướng của nền thần học hiện đại”. Bên khác thì cho rằng Vatican II là một canh tân, một đổi mới liên tục. Theo Đức Bênêđíctô XVI, lối giải thích thứ nhất tạo ra mù mờ và “liều mình gây ra sự phân cách giữa Giáo Hội tiền Công Đồng và Giáo Hội hậu Công Đồng”. Lối giải thích thứ hai tuy âm thầm, nhưng mỗi ngày người ta càng thấy rõ ràng hơn việc nó đã đem lại và đang đem lại hiệu quả.

Theo Đức Bênêđíctô XVI, việc thực thi Công Đồng Vatican II tỏ ra khá khó khăn. Tình thế hậu Công Đồng, vì thế, phần nào phản ảnh mô tả của Thánh Basiliô về tình hình Giáo Hội sau Công Đồng Nixêa: giống một trận hải chiến giữa đêm đen bão tố, trong đó đủ tiếng la ó phản đối nhau nổi lên, đến chẳng ai hiểu nổi, một thứ đinh tai nhức óc bất tận tràn ngập toàn thể Giáo Hội. Tại sao lại có sự khó khăn ấy? Đó là vì có những lối giải thích khác nhau như trên đã nói.

Ngài cho rằng đối với lối giải thích coi Vatican II như một gián đoạn, các văn kiện của nó không nói lên được tinh thần chân thực của mình. Họ cho rằng chúng chỉ là kết quả của nhiều thoả hiệp, trong đó, vì muốn đạt được nhất trí, nên mới phải duy trì và tái củng cố một số điều cũ kỹ, nay chẳng còn ăn nhằm gì nữa. Cho nên, tinh thần chân thực của Công Đồng không có trong các thỏa hiệp ấy nhưng là các động lực hướng tới cái mới vốn bao hàm trong các văn kiện kia. Hệ luận là phải can đảm bước quá các văn kiện ấy, không nên theo các văn kiện mà chỉ cần theo tinh thần của Công Đồng mà thôi. Nhưng tinh thần ấy là tinh thần nào, ai có thẩm quyền xác định tinh thần ấy, hay mọi sự còn tùy hứng của một số người, muốn mặc tình sử đổi hiến pháp thế nào thì sửa đổi. Hiến Pháp của ta là hiến pháp do chính Chúa Giêsu ban cho giúp ta đạt được sự sống đời đời, chứ đâu phải để ta mặc tình sửa đổi theo ý mình.

Người ta không rõ nội dung bài trình bày của Đức TGM Koch có theo quan điểm của Đức Bênêđíctô XVI hay không. Nhưng ngài vốn là chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Thụy sĩ và vừa được Đức Giáo Hoàng cử thay thế Đức HY Walter Kasper làm chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Cổ Động Hợp Nhất Kitô Giáo. Cũng cần lưu ý là chính Đức Bênêđíctô XVI đề nghị chọn Đức TGM Koch làm thuyết trình viên cho nhóm vào năm nay.

Có người, nhân dịp này, nhắc đến các nhận định trước đây của Đức TGM Koch về Công Đồng Vatican II. Lúc còn là chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Thụy Sĩ (2007-2010), nhân bàn tới việc “chấp nhận Vatican II một cách vô điều kiện”, ngài phát biểu: “Ngay từ đầu, kiểu nói ‘chấp nhận vô điều kiện’ làm tôi hơi nhức nhối vì tôi không biết có ai, kể cả tôi, chịu áp dụng kiểu nói đó”.

Zenit ngày 2 tháng 9 vừa qua tường thuật rằng, theo Đức TGM Koch, cuộc họp mặt năm nay của nhóm học trò tiến sĩ của Đức Giáo Hoàng đã đạt được một kết luận hết sức rõ ràng: trung thành với truyền thống và cởi mở với tương lai. Đức TGM giải thích rằng: “trung thành với truyền thống, cởi mở với tương lai là lối giải thích đúng nhất về Công Đồng Vatican II, một lối giải thích tiếp tục là đại hiến chương cho Giáo Hội, cả trong nghìn năm thứ ba này”.

Ngài thuật lại: “Trong phiên họp đầu tiên, tôi đưa ra một suy tư về cách đọc và giải thích Công Đồng Vatican II, nhấn mạnh tới tính ưu tiên của lối giải thích canh tân”.

Ngài cho biết thêm: đây là một “vấn đề được tôi lấy lại và khai triển thêm trong bài trình bày thứ hai, trong đó tôi suy tư một cách đặc biệt về hiến chế phụng vụ ‘Sacrosanctum Concilium’ để chứng tỏ một cách cụ thể lối giải thích canh tân đã được thể hiện ra sao”.

[1] Xem Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II, VietcatholicNews 3 Jul 2009

Tác giả: Vũ Văn An
   dunglac@gmail.com