Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Vũ Văn An
Bài Viết Của
Vũ Văn An
Antonio Rosmini, người của đức tin, lý trí và trái tim
Chiến dịch đem người Công Giáo trở về
Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II
Vatican và vấn đề tài liệu
Bốn Mươi Năm Sự Sống Con Người
Thờ Phượng Đích Thực Trong Tư Tưởng Thánh Phaolô
Gia Đình và Sự Sống
Khủng Hoảng Hôn Nhân và Gia Đình
Gia Tô Bí Lục Tân Thời
Thần học và thực hành mục vụ trong các thư của Thánh Phaolô
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa
Tính đáng tin cậy của Bộ Thánh Kinh
Kính Mừng Maria
Cầu nguyện theo lối chiêm niệm
Li dị và tái hôn trong các Phúc âm nhất lãm
Các nhà truyền giáo và kỹ nghệ tình dục
Từ Sydney tới Paris
Lộ Đức, sự hiện diện mênh mông của Mẹ
Bản Thể, Bản Tính
Thánh Phaolô, Nhà Truyền Giáo Vĩ Đại
Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
Cùng đi với Thánh Phaolô
Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội
Đức Bênêđíctô XVI: từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới hành trình đức tin trẻ em
VẤN ĐỀ LIÊN TÔN VÀ LIÊN VĂN HÓA TẠI THƯỢNG HỘI ĐỒNG TRUNG ĐÔNG

Ngày 13 tháng 10 vừa qua, được Hãng Tin Zenit phỏng vấn, Thượng Phụ Antonios Naguib của Giáo Hội Công Giáo Coptic tại Alexandria (Ai Cập) và là Tổng Thuyết Trình Viên của Thượng Hội Đồng Trung Đông đã nhận xét như sau về sự hiện diện của một Ayatollah Irăng, một giáo sĩ Hồi Giáo Libăng và một giáo sĩ Do Thái Giáo tại Thượng Hội Đồng: “Sự hiện diện của họ không thể là gì khác ngoài sự tích cực. Vì quả là điều hết sức tốt đẹp khi được lắng nghe những tiếng nói khác, có lẽ có những hoàn cảnh trong đó chính ta không thấy rõ. Ta cũng cần thấy người khác mong đợi ở ta điều gì, chứ không phải chỉ là điều ta mong đợi và mong muốn. Sự hiện diện ấy không thể là gì khác ngoài sự xây dựng và tích cực”.

Tuy nhiên, Thượng Phụ minh xác thêm: các giáo hội Trung Đông nhấn mạnh đến nhu cầu làm việc chung với nhau để xây dựng một xã hội đặt căn bản trên nhân quyền, dân chủ, tôn trọng lẫn nhau, chứ không dựa trên chọn lựa chính trị. Nhân dịp này, ngài cũng cho hay: riêng tại Ai Cập, mặc dù hiến pháp bảo đảm tự do tôn giáo, nhưng trên thực tế, vẫn còn nhiều thủ tục khó khăn đối với Giáo Hội Công Giáo, như trong việc xây cất và trùng tu các thánh đường. Riêng về cuộc tranh chấp Palestine và Do Thái, ngài phản đối mưu toan của Do Thái muốn được mô tả như là quốc gia Do Thái Giáo

Giáo sĩ Do Thái

Cũng ngày trên, Giáo Sĩ Do Thái David Rosen, cố vấn của Tòa Trưởng Giáo Chủ Israel và là giám đốc Ban Liên Tôn Sự Vụ của Ủy Ban Do Thái Giáo Mỹ và Viện Heilbrunn Nhằm Hiểu Biết Quốc Tế và Liên Tôn, đã đọc một bản tham luận tại buổi họp khoáng đại của Thượng Hội Đồng Trung Đông. Ông cho rằng mối liên hệ giữa Do Thái Giáo và Công Giáo là một biến đổi đầy hồng phúc trong thời đại ta, và có lẽ chưa có tiền lệ trong lịch sử.

Tuy nhiên, theo ông, sự biến đổi này vẫn còn phải vật lộn với ảnh hưởng hàng thế kỷ, nếu không muốn nói hàng thiên niên kỷ của giáo huấn miệt thị người Do Thái và Do Thái Giáo xưa nay, một thứ miệt thị khó có thể xóa bỏ một sớm một chiều. Sự biến đổi này diễn ra ít hay nhiều tùy từng bối cảnh. Tại Hoa Kỳ, sự biến đổi ấy khá đáng kể: ở đấy, người Do Thái Giáo và người Kitô Giáo sống một cách thoải mái bên cạnh nhau trong một xã hội cởi mở. Hậu quả là mối liên hệ giữa họ đã đạt tới trình độ độc đáo, thể hiện qua hợp tác và trao đổi giữa các cộng đoàn và định chế giáo dục. Ông cho biết: ngày nay, riêng tại Hoa Kỳ có đến hàng tá định chế cao đẳng dành cho các ngành nghiên cứu về Do Thái Giáo và Kitô Giáo và mối tương quan giữa 2 tôn giáo này, trong khi, cả thế giới chỉ có chừng 3 định chế như thế.

Giáo Sĩ Rosen cũng cho rằng: tại Hoa Kỳ, phần đông các cộng đồng Do Thái coi Giáo Hội Công Giáo như người bạn chân thực có chung nhiều giá trị và quan tâm. Chính ông được hân hạnh đứng đầu một đoàn đại biểu liên tôn quốc tế trong Ủy Ban Do Thái Giáo Mỹ, sẵn sàng góp phần vào sự biến đổi có tính lịch sử kia. Trong khi ấy, hiện vẫn còn nhiều quốc gia chưa có được những nhân tố xã hội và dân số như thế. Theo ông, tại phần lớn các quốc gia nơi Công Giáo là lực lượng xã hội chủ yếu, các cộng đồng Do Thái Giáo khá bé nhỏ, và mối liên hệ giữa Giáo Hội và Do Thái Giáo ít được ai chú ý. Ông cho hay: tại một số quốc gia, đến các linh mục và nhiều khi cả hàng giáo phẩm nữa cũng biết rất ít về Do Thái Giáo, thậm chí còn không biết đến cả tuyên ngôn Nostra Aetate của Công Đồng Vatican II nữa. Ngược lại, trong thế giới Do Thái Giáo, cùng hiện tượng ngu dốt ấy cũng đã xẩy ra đối với việc hiểu biết Kitô Giáo: người Do Thái Giáo ít khi hay chẳng bao giờ tiếp xúc với người Kitô Giáo hiện đại cả.

Trên thế giới, vấn đề trên chỉ trở nên gia trọng tại một nhà nước duy nhất nơi Do Thái Giáo chiếm đa số, đó là nhà nước Israel, do bối cảnh chính trị và xã hội. Tại Trung Đông, cũng như tại hầu hết các nơi trên thế giới, các cộng đồng quen sống trong khung cảnh ngôn ngữ, văn hóa và tín ngưỡng riêng của mình, và Israel cũng không tránh khỏi lối sống ấy. Đàng khác, người Kitô Giáo Ả Rập tại Israel, lại là thiểu số bên trong một số thiểu số: họ chỉ là 120,000 người trong tổng số một triệu rưỡi công dân gốc Ả Rập mà đại đa số theo Hồi Giáo, trong khi dân số Israel hiện khoảng 7 triệu rưỡi người.

Giáo sĩ Rosen cho ta một hình ảnh khá lạc quan (hơi quá chăng?) về các Kitô hữu tại Israel. Theo ông, các Kitô Giáo Ả Rập tại Israel nói trên quả là một thiểu số tôn giáo hết sức thành công về nhiều phương diện. Tiêu chuẩn về kinh tế xã hội và về giáo dục của họ cao hơn mức trung bình: các trường của họ có điểm cao nhất trong các kỳ thi tú tài hàng năm; nhiều người nổi tiếng trong lãnh vực chính trị. Tuy nhiên, nhịp sống hàng ngày của đại đa số người Ả Rập và Do Thái diễn ra trong bối cảnh riêng của họ. Thành thử, phần lớn người Do Thái theo Do Thái Giáo không giao tiếp với người Kitô Giáo cùng thời; và ngay khi du lịch ra ngoại quốc, họ cũng có khuynh hướng gặp gỡ người khác, chứ không gặp gỡ người Kitô Giáo hiện đại. Do đó, cho tới những ngày gần đây, đại đa số xã hội Do Thái không biết gì tới các thay đổi sâu sắc trong mối liên hệ Do Thái và Công Giáo. Nay, thì tình thế ấy đang bắt đầu thay đổi một cách có ý nghĩa kể từ một thập niên qua nhờ nhiều lý do, mà hai lý do sau đây hết sức đáng lưu ý:

Thứ nhất, đó là tác dụng của chuyến viếng thăm năm 2000 của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, sau ngày thiết lập liên hệ song phương đầy đủ giữa Israel và Tòa Thánh 6 năm trước đó. Dù việc thiết lập ấy từng có tác dụng tốt trên cái nhìn của Israel, nhưng chính sức mạnh của hình ảnh thị giác, mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II biết rất rõ tầm quan trọng, đã biểu lộ hết sức minh nhiên cho đại đa số xã hội Do Thái thấy sự biến đổi trong thái độ và giáo huấn của Kitô Giáo đối với dân tộc Do Thái, một dân tộc mà bản thân ngài luôn duy trì và tìm kiếm hơn nữa tình bạn và lòng kính trọng lẫn nhau. Đối với người Do Thái, nhìn thấy Đức Giáo Hoàng tại Bức Tường Phía Tây, bức tường duy nhất còn sót lại của Đền Thờ Thứ Hai, đứng đó với thái độ tôn kính truyền thống Do Thái và đặt vào đó bản văn chính ngài soạn thảo dùng cho phụng vụ xin tha thứ từng diễn ra hai tuần trước đó tại Nhà Thờ Thánh Phêrô, xin Thiên Chúa tha thứ các lỗi lầm từng phạm chống lại người Do Thái qua bao thế hệ đã qua, quả có hiệu quả lạ lùng và tràn ngập cõi lòng. Người Do Thái tại Israel vẫn còn một con đường rất dài mới vượt qua được cái quá khứ tiêu cực của họ, nhưng không còn hoài nghi gì nữa việc các thái độ đã bắt đầu thay đổi từ chuyến viếng thăm lịch sử ấy. Ngoài ra, nó còn dẫn tới một ngả đường mới cho đối thoại, cho hiểu biết và hợp tác dưới hình thức một ủy ban song phương của Tòa Trưởng Giáo Chủ Israel và Ủy Ban Tòa Thánh Đặc Trách Các Liên Hệ Tôn Giáo với Do Thái, được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thiết lập và được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI hết lòng ca ngợi nhân chuyến hành hương Đất Thánh vào năm ngoái cũng như trong cuộc viếng thăm đại hội đường tại Rôma vào đầu năm nay.

Lý do thứ hai chính là làn sóng nhập cư ồ ạt các Kitô hữu khác làm cho dân số Kitô Giáo tại Israel tăng gấp đôi. Trước nhất là khoảng 50,000 Kitô hữu nhiệt thành tới từ Liên Bang Xô Viết cũ trong 2 thập niên qua. Vì liên hệ mật thiết với xã hội Do Thái nhờ các liên hệ gia đình và văn hóa, chắc chắn những người này đại diện cho thiểu số Kitô hữu đầu tiên tự coi mình là thành phần của đa số Do Thái kể từ khi có cộng đoàn Kitô hữu sơ khai.

Cũng như các cộng đồng Kitô hữu Ả Rập, các Kitô hữu trên là công dân Israel, được hưởng đầy đủ mọi quyền bầu cử và bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, còn một nhóm dân Kitô Giáo thứ ba khá đông nhưng tư cách pháp lý của họ hơi có vấn đề. Đó là hàng mấy ngàn Kitô hữu nhiệt thành trong số gần 250,000 công nhân nhập cư, từ Phi Luật Tân, Đông Âu, Châu Mỹ La Tinh và hạ Sahara, Châu Phi. Phần lớn họ là những người nhập cư hợp pháp và tạm thời. Tuy nhiên, gần một nửa nhập cư và ở lại bất hợp pháp, nên tư thế pháp lý của họ thật mong manh. Thế nhưng, lớp người này duy trì một sinh hoạt tôn giáo hết sức sinh động và do đó, quả đã tạo nên chiều kích đáng kể thứ ba cho thực tại Kitô Giáo tại Israel ngày nay.

Các nhân tố trên cùng với nhiều nhân tố khác đã góp phần gia tăng sự quen thuộc của Israel đối với Kitô Giáo hiện nay. Thêm vào đó, song song với sự hiện hữu của khoảng 2 trăm tổ chức tại Israel chuyên lo cổ vũ sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau giữa người Do Thái và người Ả Rập, người ta cũng thấy hàng chục cơ sở dành cho việc cổ vũ các cuộc gặp gỡ, đối thoại và nghiên cứu liên tôn trong đó sự hiện diện của người Kitô Giáo được coi là vượt bực và rất có ý nghĩa. Có được điều đó là nhờ sự hiện hữu của nhiều định chế Kitô Giáo và các giáo sĩ, học giả, các đại diện quốc tế của Giáo Hội này, với những đóng góp đa dạng của họ, nhất là trong phạm vi bác học.

Về cuộc tranh chấp Palestine Do Thái, Giáo Sĩ Rosen tỏ ý tiếc về những hạn chế hiện nay đối với cả người Palestine nói chung lẫn người Kitô Giáo Palestine nói riêng. Theo ông, số phận của họ được người Do Thái giáo ở cả Israel lẫn ở khắp nơi trên thế giới quan tâm sâu sắc. Vì Do Thái Giáo chính là tôn giáo đầu tiên trình bày với thế giới quan điểm coi con người là hình ảnh Thiên Chúa. Chính vì thế, các nhà hiền triết của Talmud coi bất cứ hành động bất kính nào đối với người khác cũng đều là một hành động bất kính đối với chính Đấng Hóa Công. Ông quả quyết: “Chúng tôi có trách nhiệm đặc biệt đối với người hàng xóm đau khổ. Trách nhiệm này càng lớn lao hơn khi đau khổ kia phát sinh từ một cuộc tranh chấp mà chúng tôi là thành phần”. Tuy nhiên, ông cảm thấy an ủi khi thấy nhiều tổ chức trong xã hội Israel đang góp công làm giảm các đau khổ kia, như tổ chức “Rabbis for Human Rights” (Giáo Sĩ Vì Nhân Quyền) mà chính ông là người sáng lập. Ông cho rằng Israel có trách nhiệm phải đảm bảo sao cho các cộng đoàn Kitô Giáo triển nở ngay tại Israel với tâm niệm rằng Đất Thánh là nơi sinh của Kitô Giáo. Phúc lợi của các cộng đoàn này tại Trung Đông chính là phong vũ biểu đo lường sinh khí tinh thần của các quốc gia này. Ông cầu mong sáng kiến liên tôn tại Trung Đông có sự tham dự đồng đều hơn của mọi bên, chứ không bất quân bằng như hiện nay, trong đó, Kitô Giáo hình như có phần tích cực nhiều hơn. Tuy nhiên, ông cũng mừng, vì mấy năm gần đây đã có sự ra đời của Hội Đồng Các Định Chế Tôn Giáo Của Đất Thánh với sự tham dự của Tòa Trưởng Giáo Chủ Israel, Tòa Án Shaaria và Bộ Tôn Giáo Sự Vụ của Nhà Cầm Quyền Palestine và Các Vị Lãnh Đạo Kitô Giáo tại Đất Thánh. Hội Đồng này không những làm dễ việc thông đạt giữa các thẩm quyền tôn giáo khác nhau mà còn dấn thân vào việc đả phá hiểu lầm, kỳ thị và xúi giục để tìm hoà giải, hòa bình ngõ hầu hai dân tộc và ba tôn giáo có thể sinh tồn trong phẩm giá, trong tự do và thanh bình.

Ông nhắc tới việc năm ngoái, Hội Đồng Giáo Hoàng về Các Liên Hệ Liên Tôn và Ủy Ban Giáo Hoàng về Các Liên Hệ Tôn Giáo Với Người Do Thái đã cùng Ủy Ban Do Thái Quốc Tế về Các Tham Khảo Liên Tôn cũng như qũy Ba Văn Hóa tại Seville, Tây Ban Nha, lần đầu tiên cùng tổ chức cuộc đối thoại tam phương lần đầu tiên, một việc phản ảnh lời Đức GH Bênêđíctô XVI được Tài Liệu làm việc trích dẫn. Ông mong có nhiều cuộc đối thoại tam phương như thế để vượt qua mọi ngờ vực, thiên kiến và hiểu lầm ngõ hầu “chúng ta có thể làm nổi bật các giá trị chung của con cháu Ápraham nhằm phục vụ phúc lợi của toàn thể nhân loại”. Ông nhắc lại lời cầu mong của Đức Gioan Phaolô II về một “mùa xuân mới của liên hệ hỗ tương”.

Đóng góp của Hồi Giáo

Thượng Hội Đồng mời cả hai đại diện của phe Hồi Giáo Sunni lẫn phe Hồi Giáo Shias nói truyện. Đại diện cho phe Sunni là Muhammad Al-Sammak, cố vấn chính trị cho Đại Giáo Chủ (Mufti) Libăng. Đại diện Shias là giáo sư luật tại trường Đại Học Shahid Beheshti ở Teheran có cái tên khá dài là Ayatollah Seyed Mostafa Mohaghegh Damad Ahmadabadi.

Al-Sammak và Ayatollah Mohaghegh Damad, vào chiều ngày 13 tháng 10, có nói truyện với các nhà báo tại một khách sạn gần Vatican về một số vấn đề. Cả hai đều muốn phân biệt hai vấn đề: một là các Kitô hữu bị kẹt trong các tranh chấp phe nhóm, hai là vấn đề thiếu tự do tôn giáo hay bách hại Kitô hữu vì niềm tin của họ. Al-Sammak cho hay: Kitô hữu tại Iraq gặp khó dễ vì bị coi là thành phần của cuộc xâm lăng Hoa Kỳ dù không ai trong số họ muốn thế hay dính líu gì vào cuộc xâm lăng này. Nhưng ông nhấn mạnh: Kitô hữu bị xử tệ, không được hưởng các quyền công dân, thì điều đó không do vì Hồi Giáo, tự nó, thù nghịch Kitô Giáo. Ông bảo: “khuôn vàng thước ngọc trong Hồi Giáo là không được ép buộc trong tôn giáo”. Bởi vậy, nếu quyền lợi Kitô hữu không được tôn trọng, thì đó là một điều khiến người Hồi Giáo lo ngại. Còn Ayatollah Mohaghegh Damad thì trích dẫn điển hình Medina thời Muhammad, lúc người Hồi Giáo, người Do Thái Giáo và người Kitô Giáo “sống hòa bình bên cạnh nhau”. Chính Koran dạy người ta phải tôn trọng tôn giáo của người khác.

Tuy nhiên khi bị vặn hỏi, các câu trả lời, nhất là của Ayatollah, cho thấy người Kitô hữu gặp nhiều khó khăn khi biện luận cho một số quyền tự do nội tại. Ayatollah Mohaghegh Damad muốn phân biệt giữa niềm tin tôn giáo, vốn là việc tư riêng, không ai được đụng tới, vì đó là vấn đề của trái tim, và việc trở lại, mà theo ông, có bản chất “chính trị”. Thành thử khi một người Hồi Giáo trở lại Kitô Giáo, anh ta công khai từ bỏ Hồi Giáo và điều đó là một tấn công thẳng vào Hồi Giáo và xã hội Hồi Giáo và do đó, dù không nói ra, anh ta không được đòi quyền bình đẳng.

Ký giả Ivereigh của tạp chí America có yêu cầu hai ông nhận định về lời của Thượng Hội Đồng kêu gọi Giáo Hội Công Giáo cổ vũ một chủ nghĩa thế tục tích cực (positive secularism hay laicité) tại Trung Đông, nghĩa là một mức độ phân biệt nào đó giữa nhà nước và tôn giáo nhằm bảo đảm quyền bình đẳng đối với tự do lương tâm và phát biểu tôn giáo. Cả Al-Sammat và Ayatollah đều cho rằng họ muốn biết người ta hiểu như thế nào về ý niệm trên. Theo Ayatollah Mohaghegh Damad, tại Iran người dân bầu nhà lãnh đạo, chứ không phải Thiên Chúa, rõ ràng đó là chủ nghĩa thế tục. Nhưng ông thêm rằng chưa bao giờ có một quốc gia Hồi Giáo trong đó lại không có luật Hồi Giáo và trong đó, luật quốc gia lại không chịu ảnh hưởng của Hồi Giáo. Tuy nhiên, điều ấy đâu có ngăn cản người Kitô Giáo có quyền như những người khác. Như ở Iran chẳng hạn, “chúng tôi không được phép gây phiền hà cho người Kitô Giáo, trừ khi họ phạm tội ác”.

Vấn đề là: điều gì tạo ra tội ác. Công khai từ bỏ Hồi Giáo được coi như một phản bội. Nghe Ayatollah, người ta có cảm giác như quan điểm của ông na ná giống quan điểm của Giáo Hội Công Giáo trước thời Nostra Aetate Dignitatis Humanae, tức các văn kiện của Công Đồng Vatican II chính thức nhìn nhận ý niệm đa nguyên tôn giáo và tầm quan trọng của việc qui định nguyên tắc ấy trong luật lệ. Tóm lại, Hồi Giáo không làm sao nắm bắt được tính hiện đại và tính đa nguyên.

Thật ra, khó có thể có được một thứ chủ nghĩa thế tục tích cực, khi tâm trí Hồi Giáo luôn bận tâm với điều được Đức Bênêđíctô XVI có lần gọi là “chủ nghĩa thế tục hung hăng” (aggressive secularism) hay ý niệm cho rằng không hề có chân trời đạo đức ở bên ngoài ý muốn của đa số dân chủ hay tầng lớp ưu tú sáng suốt. Người Hồi Giáo nhìn qua thế giới Tây Phương và thấy ở đấy quá nhiều bằng chứng cho thấy đổ vỡ và bế tắc về luân lý và xã hội, và cho rằng nguyên nhân chính là chủ nghĩa thế tục.

Khi Đức Bênêđíctô XV kêu gọi để luật pháp thấm nhuần các giá trị Kitô Giáo, ngài không cổ vũ việc chia rẽ giữa đức tin và lý trí, hay giữa luật pháp và tôn giáo, điều mà theo ngài sẽ dẫn tới chủ nghĩa tương đối độc tài. Nhưng ngày nay, Giáo Hội Công Giáo cho rằng các tự do như tín ngưỡng, thờ phượng, lương tâm và phát biểu, và lẽ dĩ nhiên tự do biểu lộ niềm tin, là những quyền không thể phân chia; không tín ngưỡng nào được ưu đãi hơn tín ngưỡng khác xét về quyền lợi và tự do. Căn cứ vào những câu truyện đau thương của một số Kitô hữu đó đây ở Trung Đông, thì đó là một luận điểm cần được người Hồi Giáo tiếp nhận. Như Al-Sammak từng thành thực thú nhận, khi trả lời một câu hỏi khác, nhiều người Hồi Giáo vẫn còn lẫn lộn việc thay đổi tôn giáo với việc thay đổi giới tuyến hay hỗ trợ kẻ thù; và, trong nhiều trường hợp, hình phạt dành cho tội phản bội chính là cái chết.

Muhammad Al-Sammak

Ta hãy nghe chính lời phát biểu của Al-Sammak tại Thượng Hội Đồng Trung Đông, do Văn Phòng Báo Chí Tòa Thánh công bố. Theo Al-Sammak, ông không nghĩ lý do ông được mời tới Thượng Hội Đồng là để được nghe nói về các khó khăn của Kitô hữu tại một số quốc gia Trung Đông. Vì “các đau khổ của chúng tôi trong tư cách Người Phương Đông chỉ là một. Chúng tôi chia sẻ các đau khổ ấy. Chúng tôi sống các đau khổ ấy trong các lạc hậu về xã hội và chính trị, trong cảnh thoái hóa về kinh tế và phát triển, trong sự căng thẳng về tôn giáo và tuyên tín. Tuy nhiên, sự kiện biến Kitô hữu thành mục tiêu vì tôn giáo của họ, dù điều này có là một hiện tượng mới và tình cờ đối với các xã hội của chúng tôi đi nữa, vẫn là điều rất nguy hiểm; nguy hiểm lớn nhất là nó tạo ra vấn đề hòn đất ném đi hòn chì ném lại (reciprocity). Trên thực tế, điều ấy là một hiện tượng rất xa lạ với Phương Đông và còn hơn thế nữa, nó mâu thuẫn với các nền văn hóa tôn giáo và các hiến pháp quốc gia của chúng tôi. Vì điều ấy cho thấy hai sự kiện hết sức nghiêm trọng sau đây:

“Thứ nhất, đó là mưu toan xé nát cơ cấu các xã hội quốc gia của chúng tôi, phân rẽ chúng thành từng mảnh và lấy đi sợi dây nối kết các tế bào đa phức của chúng, từng được bồi đắp và nhìn nhận bao thế kỷ qua. Thứ hai là mưu toan muốn trình bày Hồi Giáo dưới một ánh sáng khác với ánh sáng thật của nó và đi ngược lại điều nó thực sự tuyên tín cũng như mâu thuẫn với điều nó dùng làm căn bản, tức việc nhận biết các dị biệt giữa con người với nhau là một trong những dấu chỉ của Thiên Chúa trong sáng tạo và như là biểu thức sống động của Thánh Ý Người, cũng như việc chấp nhận luật đa nguyên và tôn trọng các dị biệt và niềm tin vào mọi sứ điệp của Thiên Chúa và những gì Người mạc khải”.

Sau khi giáo đầu một cách trang trọng như thế, Al-Sammak cho rằng có hai điểm tiêu cực cho thấy vấn đề mà người Kitô hữu Trung Đông đang phải đương đầu. Điểm thứ nhất liên quan tới việc thiếu sự tôn trọng đối với các quyền bình đẳng giữa các công dân tại một số quốc gia. Điểm thứ hai liên quan tới việc hiểu lầm tinh thần của giáo huấn Hồi Giáo, nhất là phần liên quan tới các Kitô hữu mà Kinh Koran mô tả là “gần gũi nhất trong tình yêu đối với tín hữu” và biện minh cho tình yêu này bằng cách cho rằng “họ có các linh mục và đan sĩ và không hành xử một cách kiêu căng”.

Theo ông, hai điểm tiêu cực này đều xấu đối với “mọi người chúng ta, cả Kitô hữu lẫn người Hồi Giáo, và đều xúc phạm đến chúng ta trong cuộc sống cũng như trong số phận của mình. Chính vì thế, chúng ta, người Kitô hữu và người Hồi Giáo, được mời gọi làm việc chung để biến cải các yếu tố tiêu cực ấy thành các yếu tố tích cực: trước nhất, qua việc tôn trọng các nền tảng và luật lệ công dân vốn thể hiện sự bình đẳng, trước nhất về quyền lợi và sau đó về nghĩa vụ. Thứ đến, qua việc lên án nền văn hóa cường điệu và chủ nghĩa cực đoan vốn bác bỏ người khác và chỉ muốn độc quyền về chân lý tối hậu, và qua việc cố gắng phát huy và truyền bá nền văn hóa chừng mực, bác ái và tha thứ, biết tôn trọng các dị biệt về tôn giáo và tín ngưỡng, về ngôn ngữ, về văn hóa, về mầu da và về chủng tộc…”.

Ông quả quyết: “Vâng, người Kitô Giáo tại Trung Đông đang bị thử thách, nhưng họ không phải là những người duy nhất. Vâng, người Kitô Giáo ở Trung Đông thực sự đang cần được hỗ trợ và giúp đỡ. Nhưng việc ấy không nên khuyến khích họ rời cư hay tự quay về với chính mình. Mà các đồng bào Hồi Giáo của họ cũng không nên quên các bổn phận quốc gia và luân lý đối với họ. Làm dễ việc rời cư chỉ là một cách cưỡng bức họ ra đi. Quay về với chính mình là từ từ làm mình chết ngạt”…

Al-Sammak nói tiếp: “Việc hiện diện của người Kitô hữu Trung Đông giữa những người Hồi Giáo chính là một nhu cầu đối với cả người Kitô hữu lẫn người Hồi Giáo. Nó cũng không phải chỉ là nhu cầu của Phương Đông, mà còn là nhu cầu của toàn thế giới. Sự nguy hiểm do cảnh mất dần sự hiện diện này trên bình diện phẩm cũng như lượng là mối quan tâm chung của cả người Kitô hữu lẫn người Hồi Giáo, không phải cho người Hồi Giáo Phương Đông mà thôi, mà còn cho mọi người Hồi Giáo trên khắp thế giới. Mặt khác, tôi có thể sống Hồi Giáo của tôi với mọi người Hồi Giáo khác thuộc mọi quốc gia và nhóm sắc tộc, nhưng trong tư cách một người Ả Rập Trung Đông, tôi không thể sống con người Ả Rập của mình mà không có người Ả Rập Kitô Giáo Trung Đông. Việc rời cư của người Kitô hữu làm nghèo đi căn tính Ả Rập, nền văn hóa và tính chân thực của nó.

“Vì lý do đó, tôi xin nhấn mạnh ở đây một lần nữa, trước tòa Vatican, điều tôi từng phát biểu trước tòa Mecca rằng: tôi lo ngại cho tương lai của người Hồi Giáo Phương Đông vì sự rời cư của người Kitô Giáo Phương Đông. Duy trì sự hiện diện của người Kitô Giáo là bổn phận chung của cả người Hồi Giáo lẫn người Kitô Giáo”.

Theo Al-Sammak, “Người Kitô Giáo Phương Đông không phải là thiểu số vì tình cờ. Họ có mặt từ lúc đầu có Phương Đông, trước cả Hồi Giáo. Họ là thành phần cốt yếu cấu tạo ra nền văn minh Hồi Giáo về cả ba phương diện văn hóa, văn chương và khoa học. Họ cũng là những người tiên phong của phong trào phục hưng Ả Rập hiện đại và luôn duy trì ngôn ngữ của nó, ngôn ngữ của Kinh Koran.

“Vì họ từng ở tuyến đầu cuộc giải phóng và lấy lại chủ quyền, ngày nay, họ cũng ở tuyến đầu cuộc chạm trán và kháng chiến chống xâm lược, bảo vệ các quyền lợi đang bị vi phạm của dân tộc, nhất là tại Giêrusalem, và tại Palestine nói chung đang bị chiếm đóng”. Bởi thế, theo ông, bất cứ cố gắng nào nhằm tiếp cận chính nghĩa của người Kitô Giáo, mà không xét tới các sự kiện có thật kia, chỉ đưa tới những kết luận sai lầm, những giải pháp lầm lạc.

Để kết luận, ông cho rằng: “Thượng Hội Đồng này phải là một điều gì đó hơn là tiếng kêu của người Kitô Hữu chịu đau khổ đang vang lên giữa thung lũng đau thương vốn là Đông Phương đau khổ của chúng ta. Hy vọng Thượng Hội Đồng sẽ đưa ra được các nền tảng thực tiễn và có tính khoa học có lợi cho các sáng kiến hợp tác chung giữa Hồi Giáo và Kitô Giáo, để Phương Đông, địa điểm của mạc khải Thiên Chúa, luôn xứng đáng dương cao ngọn cờ đức tin, đức ái và hòa bình cho chính mình và cho toàn thế giới”.

Ayatollah Seyed Mostafa Mohaghegh Ahmadabadi

Phát biểu của Al-Sammak trước Thượng Hội Đồng quả có sắc thái ôn hòa và nhằm đề cao tầm ý nghĩa của sự hiện diện Kitô Giáo tại Trung Đông, khác nhiều so với nội dung ông trình bày lúc gặp báo chí. Giọng điệu của ông, vì thế, quả nặng tính cách ngoại giao.Ta hãy xem Ayatollah Seyed Msotafa nói truyện ra sao với các nghị phụ.

Theo ông, khác với thời tiền Thế Chiến II, “Ngày nay, ta đang mục kích nhiều thay đổi lớn lao từng xẩy ra trong nửa thế kỷ qua và sự biến đổi này vẫn đang tiếp diễn với một đà khó tin. Điều ấy không những có hiệu quả về phẩm đối với mối tương quan giữa các tôn giáo mà còn tác động trên mối liên hệ của nhiều bộ phận khác nhau của tôn giáo và ngay cả các tín hữu riêng của các tôn giáo này. Điều chắc chắn là không một tôn giáo có thể dửng dưng đối với tình thế đang thay đổi mau chóng ấy”.

Ông cho rằng, vào cuối thiên niên kỷ thứ hai, “chủ nghĩa đa văn hóa bên trong các xã hội ít nhiều được nhìn nhận khắp thế giới. Cho tới lúc đó, cái hiểu về một xã hội đa văn hóa khác nhiều so với điều ta cảm nghiệm hôm nay. Nền văn hóa mới du nhập vào một xã hội chỉ được thời ấy chấp nhận như một ‘nền văn hóa mới’, không phải vì ích lợi hay sự ưu việt của nó. Nhưng ngày nay, càng ngày càng ít có xã hội và nhóm nào đi bênh vực một xã hội độc khối về văn hóa nữa. Kinh nghiệm Vùng Balkan chứng minh rằng việc thống trị về văn hóa và sắc tộc của một nhóm trên các nhóm khác là việc không thể bênh đỡ được vì nó loại bỏ các nhóm khác đang hiện diện trong xã hội ấy…”.

Giáo sư Ahmadabadi nhận định thêm: trong các xã hội có sự hiện diện của các nhóm sắc tộc khác nhau, muốn có sự ổn định và lành mạnh, người ta buộc phải tôn trọng sự hiện diện và quyền lợi các nhóm ấy. Sự hòa hợp các quyền lợi và phúc lợi xã hội trên bình diện quốc gia và quốc tế phải làm sao đó để không một nhóm nào hay một quốc gia nào bị bỏ quên. Theo ông, đây chính là thực tại của thời đại ta. Hiện nay, sự hiểu biết giữa các tôn giáo cũng đang phản ảnh thực tại đó, và càng ngày càng được thăng tiến. Mọi người sẽ cùng nhau chia sẻ số phận chung. Cái nhìn này không phải chỉ có nơi các nhà lãnh đạo mà càng ngày càng được quần chúng nắm vững. Nhưng ông cho hay: “Điều tiên quyết đối với lối suy tư này là phải gạt qua một bên các quan điểm chính thức có tính cổ điển và bị điều kiện hóa của quá khứ về các tôn giáo và nền văn hóa khác để có được một cái nhìn khách quan hơn. Ta phải nhìn các nền văn hóa khác với sự hiểu biết, kính trọng và thiện cảm”.

Trên thực tế, không ai chối cãi là hiện nay vẫn còn những quan điểm lệch lạc và “phản động” vốn thoát thai từ lối suy nghĩ chính trị và văn hóa đầy thành kiến, tìm cách bành trướng và thống trị trong lịch sử. Tuy nhiên, ông tin rằng về lâu về dài, lối suy nghĩ đầy kỳ thị và sô-vanh này sẽ càng ngày càng giảm đi và nhất định sẽ tan biến.

Song song với các biến đổi trên, cũng còn nhiều thay đổi về văn hóa và tri thức khác, phần lớn xẩy ra trong thế giới kỹ nghệ Phương Tây. Các thay đổi này khiến người ta tìm hiểu và đặt nghi vấn đối với cả các vấn đề trước đây được coi là tất yếu. Ngày nay, xem ra người ta càng ngày càng muốn, càng khao khát khám phá người khác, các nền văn hóa và các lối sống khác, các nền triết học và tôn giáo khác. Ông cho rằng, “điều này không hẳn là óc tò mò mà quả là một nhu cầu nội tâm và thiêng liêng” nhất là nơi người trẻ và các nhà tư tưởng. Điều này chắc chắn có ảnh hưởng đối với cái hiểu của các tôn giáo về nhau. Có điều, theo ông, khuynh hướng ngày nay hay chú ý tới các tôn giáo Á Châu và các giáo phái mới vốn thoát thai từ các xã hội đã kỹ nghệ hóa.

Trước tình thế đó, Giáo Sư Ahmadabadi tự hỏi: đâu là tình thế lý tưởng đối với các tín hữu và môn đệ? Ông trả lời: “Thế giới lý tưởng xem ra phải là tình thế trong đó tín hữu của bất cứ niềm tin nào được tự do, không lo ngại, sợ hãi hay trói buộc sống theo các nguyên tắc nền tảng và phương thức trong các tập tục và truyền thống của mình. Trên thực tế, quyền này, một quyền vốn được mọi người nhìn nhận, phải được mọi nhà nước và cộng đồng thực thi”.

Ở đây, hình như để trả lời cho các chỉ trích của nhiều trí giả Phương Tây về lối giải thích cực đoan của nhiều người Hồi Giáo ngày nay đối với Kinh Kora, Ahmadabadi cho rằng: “quyền giải thích mỗi tín ngưỡng phải được dành cho các tín hữu của tôn giáo ấy, bao lâu lối giải thích này dựa trên tinh thần khoa học và nền tảng của tôn giáo này. Sự thật là các tín hữu ấy có được sự nhìn nhận và quyền giải thích tín ngưỡng của họ tốt hơn bất cứ người nào khác. Dĩ nhiên, xin nhớ rằng mỗi tôn giáo phải có ngành chú giải hợp thời… Không ai được quyền giải thích thay cho người khác và quyết định thay cho họ. Mỗi tín ngưỡng có luận lý và phương pháp riêng căn cứ trên các đòi hỏi của mình cũng như từng giai đoạn trong thời gian. Bất cứ sự phóng tác hay phỏng theo nào nằm ngoài khuôn khổ trên, vốn không được tín hữu nhìn nhận, đều không hợp lệ và do đó, không có hiệu quả và bền lâu”.

Nói thế rồi, ông nhấn mạnh: “các môn đệ của mỗi tín ngưỡng phải được thi hành các quyền của họ mà không xấu hổ hay sợ sệt và phải được sống theo di sản lịch sử và nền văn hóa riêng. Sự ổn định của thế giới tùy thuộc sự ổn định trong cuộc sống của các nhóm và các xã hội lớn và nhỏ. Sự ổn định này chỉ có thể đạt được khi mọi người được sống không sợ hãi, không bị đe dọa bởi người khác. Đấy là yếu tố quan trọng nhất để đạt được sự ổn định và bình an về đạo đức và xã hội. Bổn phận của chúng ta là tạo ra các điều kiện ấy”.

Ông bảo: dựa vào linh hứng và các đề xướng của Kinh Koran, “kể từ ngày Hồi Giáo được thiết lập tại Saudi Arabia, mối tương quan giữa Hồi Giáo và Kitô Giáo đã được xây dựng trên tình thân ái, lòng kính trọng và sự hiểu biết lẫn nhau’. Kinh Koran vốn gọi Chúa Giêsu là “Lời Thiên Chúa” và tin rằng Người đã được chỉ định làm nền tảng cho các tín hữu, đến độ ai hoài nghi sự chỉ dẫn của Người phải bị tố giác. Kinh Kora cũng coi các Kitô hữu là người cận kề các tín hữu hơn cả (Ma'eede Sura, ch. 82).

“Bất hạnh thay, trong một số thời kỳ của giai đoạn 1,400 năm qua, vì những nguyên cớ chính trị, nên mối tương quan trên gặp nhiều thời khắc đen tối. Nhưng ta không nên qui kết các hành vi bất hợp pháp của một số cá nhân hay nhóm này cho Hồi Giáo hay Kitô Giáo. Theo giáo huấn Kinh Koran cũng như theo luật lệ, tại phần lớn các quốc gia Hồi Giáo, nhất là tại Iran, các Kitô hữu sống bên cạnh anh chị em Hồi Giáo của họ một cách hòa bình. Họ được hưởng mọi quyền lợi hợp pháp như các công dân khác và được quyền tự do thi hành các thực hành tôn giáo của họ”.

Để kết luận, ông tỏ lời cám ơn Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI về các nhận định hợp thời và hết sức cần thiết của ngài trong các diễn văn đọc tại Giêrusalem và Istanbul liên quan tới tầm quan trọng của mối tương quan lành mạnh và thân hữu giữa người Hồi Giáo và Kitô Giáo. “Cách tiếp cận và phong thái ấy hết sức chủ yếu đối với mọi tín hữu và chắc chắn quan trọng đối với hòa bình Thế Giới”.

Tóm lại, các trình bày của Giáo Sư Ahmadabadi cũng nhiều hơi hướm ngoại giao hơn là thực sự góp phần vào việc giải quyết các nan đề mà hiện người Kitô hữu Trung Đông đang phải đối diện. Cuộc đối thoại liên tôn và liên văn hóa quả là một cuộc đối thoại khó khăn, trong đó, hình như ai cũng chỉ lưu tâm trình bày cái nhìn của mình, ít lưu tâm đến cái nhìn của người khác.
Vũ Văn An

Tác giả: Vũ Văn An
   dunglac@gmail.com