Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Vũ Văn An
Bài Viết Của
Vũ Văn An
Antonio Rosmini, người của đức tin, lý trí và trái tim
Chiến dịch đem người Công Giáo trở về
Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II
Vatican và vấn đề tài liệu
Bốn Mươi Năm Sự Sống Con Người
Thờ Phượng Đích Thực Trong Tư Tưởng Thánh Phaolô
Gia Đình và Sự Sống
Khủng Hoảng Hôn Nhân và Gia Đình
Gia Tô Bí Lục Tân Thời
Thần học và thực hành mục vụ trong các thư của Thánh Phaolô
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa
Tính đáng tin cậy của Bộ Thánh Kinh
Kính Mừng Maria
Cầu nguyện theo lối chiêm niệm
Li dị và tái hôn trong các Phúc âm nhất lãm
Các nhà truyền giáo và kỹ nghệ tình dục
Từ Sydney tới Paris
Lộ Đức, sự hiện diện mênh mông của Mẹ
Bản Thể, Bản Tính
Thánh Phaolô, Nhà Truyền Giáo Vĩ Đại
Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
Cùng đi với Thánh Phaolô
Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội
Đức Bênêđíctô XVI: từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới hành trình đức tin trẻ em
TRUYỀN TIN (HÀNH HƯƠNG THEO BƯỚC CHÂN THẦY)

Từ Cana, chúng tôi trở lại Nadarét, cách đó không xa. Cựu Ước không hề nhắc chi tới Nadarét. Nó vô danh đến độ có người cho rằng nó không hiện hữu, cho mãi tới thế kỷ thứ hai công nguyên. Họ nghĩ như thế, vì mặc dù nhà khảo cổ trứ danh dòng Phanxicô là cha Belarmino Bagatti, trong những cuộc khai quật ở đây trong các năm 1955 đến 1965, từng khám phá ra nhiều đồ gốm có từ Giữa Thời Đại Đồ Đồng (từ năm 2,200 đến năm 1500 trước công nguyên) và các đồ xứ, các vựa lúa và cối xay từ Thời Đại Đồ Sắt (từ năm 1,500 tới năm 586 trước công nguyên), nhưng đối với các thời Assyri, Babilon, Ba Tư, Hy Lạp và đầu thời Rô Ma, cha không khám phá được gì về phương diện khảo cổ. Rất có thể khu vực này hết người định cư từ năm 720 trước công nguyên, lúc người Assyri tàn phá nhiều thị trấn trong khu vực này.
Tuy nhiên, cả bốn Phúc Âm lẫn Tông Đồ Công Vụ đều nêu đích danh Nadarét đến 29 lần như là quê hương của Chúa Giêsu. Chính Philatô, Tổng Trấn Rôma, cũng đã cho viết tấm bảng “Giêsu Nadarét, Vua Dân Do Thái” đóng vào thập giá của Người. Hiển nhiên, Nadarét phải hiện hữu vào thời Chúa Giêsu. Theo ước đoán của cha Bagatti, lúc ấy, cùng lắm, Nadarét chỉ là một khu nông nghiệp nhỏ với chừng 20 gia đình. Hai nhà khảo cổ James Strange và John Dominic Crossan cũng cùng một ước đoán như thế. Các ước đoán này khá ăn khớp với lời nhận định của Na-tha-na-en khi nghe Phi-líp-phê nhắc tới Nadarét lần đầu tiên: “Từ Nadarét, làm sao có được điều gì hay ho?” (Ga 1:46).
Đầu thế kỷ 20, khi đến Nadarét, Morton chỉ thấy đó là một thị trấn có những ngôi nhà mầu trắng như tuyết, những hàng bách nhọn hoắt như mũi đòng, thật nhiều vườn vả và ôliu và cảm giác khó chịu khi bị các em bé chìa tay bên vệ đường xin bố thí (baksheesh) và những người đàn bà níu kéo chào hàng. Tuy có nhắc đến nhiều thánh điểm, nhưng Morton chỉ nói đến Suối Đức Mẹ, cho đó là nơi duy nhất có sức thuyết phục và vẫn còn là nguồn cung cấp nước duy nhất cho Nadarét, và Nhà Thờ Thánh Gabriel. Ngày nay, Nadarét đã thay đổi nhiều, trở thành một thành phố hiện đại, thủ phủ và là thành phố lớn nhất miền Bắc Do Thái với dân số sấp sỉ 70, 000 người mà phần đông là công dân Ả Rập của Do Thái, trong đó, 31.3% là Kitô hữu, 68.7% theo Hồi Giáo. Việc buôn bán đã trở thành qui củ, và cảnh xin ăn ngoài phố không còn như thời Morton đến thăm. Nhà cửa san sát, vẫn còn những hàng bách cao vút và thỉnh thoảng đây đó những vườn ôliu xanh rờn. Người dân Nadarét không hẳn hiếu khách, nhưng có tác phong kinh doanh hơn xưa.
Địa điểm đầu tiên tại Nadarét được chúng tôi tới thăm là Nhà Thờ Thánh Gabriel của anh em Chính Thống Giáo. Danh xưng chính thức của nhà thờ này là Nhà Thờ Chính Thống Giáo Thánh Gabriel hay Nhà Thờ Chính Thống Giáo Truyền Tin. Theo Giáo Hội Chính Thống, chính tại đây, khi đi kín nước giếng, Đức Mẹ đã được thiên thần Gabriel hiện ra báo tin Ngài sẽ thụ thai Chúa Giêsu. Ngôi thánh đường này đã có từ thời Byzantine, nhưng cấu trúc còn đến ngày nay được xây cất năm 1769, trên ngay một con suối mà vào thời ấy vốn là nguồn cung cấp nước duy nhất cho Nadarét đã từ mấy ngàn năm trước. Nước suối vẫn còn chẩy bên trong hậu cung Nhà Thờ hiện nay và cung cấp nước cho chiếc giếng cách đó chừng 140 thước, thường được gọi là Giếng Đức Mẹ. Chúng tôi được dịp viếng cả hai cấu trúc ấy. Giếng Đức Mẹ là một cấu trúc tân thời. Rất tiếc, chúng tôi chỉ đi băng qua nó, nên không thấy tình trạng nước non ra sao. Riêng suối nước nằm cuối một chiếc hang thấp hình vòm được Thập Tự Chinh xây từ thế kỷ 12 thì luôn có nước róc rách nghe rất vui tai. Khách hành hương liệng bạc cắc xuống khá nhiều, chắc là để cầu may mắn, kiểu “giếng ước” (wishing well), khiến suối nước tăng vẻ lóng lánh nhờ ánh sáng phản chiếu từ các đồng bạc cắc ấy. Tường của hang được trang trí bằng gạch của người Armenian và có một đường nhỏ dẫn xuống suối giúp người ta có thể dùng gáo nhỏ bằng kim khí để múc nước. Chúng tôi không được hân hạnh ấy. Nhưng thực ra, các bích họa tỉ mỉ vẽ cùng khắp trên tường và trần Nhà Thờ lôi cuốn chúng tôi nhiều hơn. Và theo truyền thống Chính Thống Giáo, bàn thờ chính được che bằng một tấm màn ảnh thánh gọi là “iconostasis”. Bởi vì Giáo Hội anh em này thường nhấn mạnh tới khía cạnh mầu nhiệm của các Bí Tích. Mọi đồ thánh, đồ trang trí và con người trong một ngôi nhà thờ Chính Thống đều toát ra một nét mầu nhiệm nào đó. Bình hương, vâng bình hương cùng khắp, không những được treo lủng lẳng bằng ba sợi dây tượng trưng cho Ba Ngôi Thiên Chúa như Công Giáo chúng ta, mà còn gồm cả 12 quả chuông nhỏ tượng trưng cho 12 Tông Đồ, rồi ảnh thánh, hình dáng ngôi nhà thờ, các linh mục mặc áo đen, ca những khúc ca lạ, để râu dài, nhà thờ thiếu sưởi ấm, các cây nến và cả âm nhạc nữa … tất cả đều nhắc các tín hữu Chính Thống nhớ tới tính mầu nhiệm của Đạo và nhà thờ bao giờ cũng được xây theo chiều hướng ấy (3).
Giống như phần lớn các nhà thờ Chính Thống khác, Nhà Thờ Thánh Gabriel khá nhỏ về kích thước, mục đích là để dễ đem người ta vào việc thờ phượng chung, mặc dù việc thờ phương chung này không hoàn toàn giống như việc thờ phượng chung trong các giáo hội Phương Tây. Chính Thống Giáo quan niệm rằng việc thờ phượng đó đưa tín hữu vào việc cùng tham dự một công việc thánh để rồi sau đó lại tách rời họ ra và nhắc họ nhớ rằng điều thánh thiện ở bên trong, còn điều không thánh thiện thì ở bên ngoài kia. Nhà thờ thường mờ mờ ảo ảo và thường không có hệ thống sưởi ấm để nhắc tín hữu nhớ rằng ánh sáng và sức nóng duy nhất của Chúa phát xuất từ cây nến và tư tưởng bạn phải tập trung quanh cây nến ấy.
Địa điểm Truyền Tin của anh em Chính Thống được chọn như trên vì dựa vào bản văn Kitô Giáo thuộc thế kỷ thứ hai, tức phúc âm ngoại thư gọi là Phúc Âm Đầu Hết của Giacôbê (Jacobi Protevangelium). Theo phúc âm này, Đức Mẹ là một trong bẩy trinh nữ được chọn từ dòng dõi Đavít để đan một tấm màn mới cho Nơi Cực Thánh trong Đền Thờ Giêrusalem. Một ngày kia, khi đang đi kín nước tại suối nước trong thành Nadarét, ngài nghe có tiếng phát ra: “Kính chào, cô đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng cô, cô có phúc hơn mọi người nữ”. Ngài nhìn qua bên phải và tìm xem tiếng chào đó từ đâu mà tới và bắt đầu run sợ. Rồi ngài trở về nhà, đặt vò nước bên cạnh, ngồi xuống, lấy sợi ra và bắt đầu đan. Lúc ấy, một thiên thần hiện ra với ngài…”. Trình thuật của Luca (1:26-38) chỉ nhắc đến tên thành Nadarét, chứ không nhắc chi tới địa điểm xẩy ra biến cố Truyền Tin, mặc dù các bản văn Tân Ước tiếng Việt đều dịch là “sứ thần vào nhà trinh nữ” hay “vào nơi trinh nữ ở”.
Truyền thống Công Giáo và Tin Lành nói chung vẫn cho là sứ thần Gabriel truyền tin cho Thánh Nữ Đồng Trinh tại nhà ngài như lời dịch của bản văn tiếng Việt. Và địa điểm Vương Cung Thánh Đường Truyền Tin hiện nay đã trở thành thánh điểm hành hương từ thế kỷ thứ 4, như là nơi Đức Mẹ được chính thức mời gọi làm Mẹ hạ sinh Chúa Cứu Thế.
Vương Cung Thánh Đường này là một tòa kiến trúc tân thời do Giáo Hội Công Giáo xây trên các tàn tích cũ của các nhà thờ thời Byzantine và Thập Tự Chinh. Hang Truyền Tin trong các nhà thờ này đã được nhìn nhận là địa điểm truyền tin từ thế kỷ thứ 4. Người ta không rõ nhà thờ đầu tiên được xây ở đấy năm nào, nhưng một bàn thờ đã được nhắc đến vào năm 384 và đến năm 570, người ta có nhắc tới một ngôi nhà thờ tại đó.
Ở bên dưới nhà thờ hiện nay, khảo cổ đã đào được một nhà thờ theo kiểu Byzantine, đã có từ thế kỷ thứ 4 hay thế kỷ thứ 5. Nó có ba cánh, một hậu cung kéo dài và một tiền đình lớn. Một đan viện nhỏ được xây ở phía nam nhà thờ. Năm 680, một người hành hương tên Arculf cho hay đã thấy hai nhà thờ tại Nadarét, một ở tại Suối Đức Mẹ, một tại địa điểm hiện nay. Nhà thờ Byzantien tại địa điểm Vương Cung Thánh Đường Truyền Tin hiện nay tồn tại tới cuối hế kỷ thứ 9, lúc 12 đan sĩ có liên hệ tới nhà thờ này được nhắc tới trong Bản Tưởng Niệm năm 808. Nhà thờ này sau đó có lẽ đã bị hủy hoại trước hoặc trong thời Thập Tự Chinh; Năm 1106-1108, đan viện trưởng Daniel ghi lại rằng nó bị bỏ hoang và đã được Tancred (lãnh tự Thập Tự Chinh đầu tiên) và người Franks tái thiết toàn diện.
Nhà thờ do Thập Tự Chinh xây lớn hơn nhà thờ Byzantine. Nhà thờ này có ba cánh và sáu gian. Một đền thánh nhỏ ở cánh phía bắc chứa Ngôi Nhà Đức Mẹ ở phía dưới. Về phía nam của nhà thờ, người ta thấy nhiều cơ sở của một đan viện, và về phía bắc, là toà giám mục. Sau trận đánh năm 1187, cư dân Kitô Giáo của Nadarét vào trú ẩn trong nhà thờ này nhưng tất cả đều bị sát hại. Nhà thờ do đó bị phạm thánh, nhưng vẫn được để yên. Năm 1192, Salah al-Din cho phép một số giáo sĩ được trở lại và cho phép Kitô hữu lui tới nhà thờ. Vua Thánh Louis đã tới hành hương tại đây năm 1251. Tuy nhiên, vào năm 1263, một tiểu vương Baybars tấn công Nadarét và phá bình địa ngôi nhà thờ này. Kitô hữu vẫn được phép viếng hang truyền tin, mà chính người Hồi Giáo cũng tôn kính, tuy nhiên họ không được phép tái thiết nhà thờ. Qua thế kỷ 14, muốn vào Hang Truyền Tin, khách hành hương phải trả lệ phí vào cửa cho người Hồi Giáo canh hang.
Cũng trong thế kỷ này, các tu sĩ dòng Phanxicô thiết lập một tu viện tại Nadarét và dường như đã kiểm soát được thánh điểm này trong một thời gian vào giữa thế kỷ thứ 16. Họ tái thiết và chiếm giữ tòa giám mục cũ và bắt đầu sửa chữa lại ngôi nhà thờ vào năm 1620. Tuy nhiên, suốt trong các thập niên 1600, họ bị trục xuất nhiều lần. Cuối cùng, vào năm 1730, các tu sĩ này hoàn tất được ngôi thánh đường mới và thánh đường này được nới rộng vào năm 1871.
Nhà thờ trên được phá năm 1955 để xây dựng ngôi thánh đường hiện nay, trên nền các ngôi thánh đường có trước, như trên đã nói. Ngôi thánh đường mới, được thánh hiến năm 1969, là ngôi thánh đường lớn nhất tại cả vùng Trung Đông, là nhà thờ xứ cho 7,000 người Công Giáo tại Nadarét và là thánh điểm hành hương chính của các khách hành hương Công Giáo và Thệ Phản. Đỉnh Vương Cung Thánh Đường là một mái vòm vĩ đại cao 55 thước, có hình dáng Bông Huệ Đức Bà, trùm phủ lên chính hang truyền tin cổ truyền. Từ khắp các ngả Nadarét, người ta có thể nhìn thấy Vương Cung Thánh Đường này. Nó gồm hai nhà thờ, giống như Nhà Thờ Lộ Đức, nhà thờ trên và nhà thờ dưới. Nhà thờ trên được trang trí bằng các tranh ghép Đức Mẹ do các cộng đồng khắp thế giới dâng tặng. Nhà thờ dưới vây quanh Hang hay Động Truyền Tin, nơi thiên thần Gabriel báo tin cho Đức Mẹ và đó chính là cao điểm của Vương Cung Thánh Đường này.
Khi chúng tôi bước vào nhà thờ dưới, thì một bầu khí thờ phượng thực sự đang diễn ra: các sinh viên đại học Paris đang hàng hàng lớp lớp ngồi quanh Hang Truyền Tin, đắm mình vào chiêm niệm. Lặng lẽ bước qua các hàng ngũ sinh viên này, chúng tôi tiến sát gần Hang, lúc ấy được đóng kín bằng một hàng song sắt kiên cố. Nhìn vào trong thấy một bàn thờ có hàng chữ “Verbum caro hic factum est” (Ngôi Lời Đã Thành Nhục Thể Tại Đây). Bản thân tôi cứ mải miết hướng vào hàng chữ ấy mà quay mà chụp, dù bên tai, tiếng người hướng dẫn bảo tôi: chụp phiến đá ở phía dưới bàn thờ mới đúng. Lúc say mê nhìn ngắm các bức tranh ghép tại nhà thờ trên, một bản đồng ca của các sinh viên đại học Paris từ nhà thờ dưới vọng lên qua mái vòm vĩ đại đang tỏa sáng khắp nơi, khách hành hương như sống lại biến cố truyền tin ngày nào, trong đó, một thiếu nữ rất trẻ “dám” trao cả cuộc đời trinh nguyên cho một lời báo tin vô cùng sửng sốt vì đột ngột. Nhờ thế, mà muôn đời ngả mũ kính chào Cô, trong đó có đoàn hành hương bé nhỏ chúng tôi, một đoàn hành hương với thật nhiều tâm tình hỗn tạp.
Đến với Đất Thánh, Morton bảo rằng ông cố gắng loại bỏ tâm thức như lúc còn ở Anh. Vì ở đấy, mỗi lần nghĩ tới Chúa Kitô hay Mẹ Thánh Người, ông chỉ có thể nghĩ đến các Đấng Thiêng Liêng đang ở trên thiên đàng, sẵn sàng nghe lời ông tâm sự, trò truyện, chứ không phải các Đấng Làm Người từng sống, từng ăn, từng ngủ, từng lo âu mệt mỏi, từng lê bước trên những con đường bụi bặm, gập ghềnh. Và bởi thế, có những lúc ông thấy bối rối vì hàng thế kỷ đạo hạnh đã cạnh tranh nhau để xác định cho bằng được chỗ nào là chỗ các Ngài đã bước chân qua, hòn đá nào, ngóc ngách nào các Ngài từng đặt chân tới. Cuối cùng, Morton kết luận: “Nhưng đối với tôi, xem ra không quan trọng bao nhiêu việc có phải thực sự là con đường này, hay nơi kỷ niệm kia. Điều quan trọng là đã có hàng bao nhiêu người đàn ông đàn bà dấn thân trên những nẻo đường này, vào những nơi kỷ niệm kia và đã bắt gặp cái nhìn của Chúa Kitô”. Tâm thức của Morton cũng là tâm thức của tôi khi đứng tại nhà thờ trên của Vương Cung Thánh Đường Truyền Tin, sau khi thăm Nhà Thờ Chính Thống Giáo Thánh Gabriel, và được chứng kiến lòng đạo ở cả hai nơi.
Lòng đạo ấy càng ngày càng tìm được nhiều biểu thức mới lạ hơn, như các bức tranh đại biểu cho mọi dân tộc trên thế giới đang trang hoàng các bờ tường bao quanh Vương Cung Thánh Đường, trong đó có cả bức tranh Đức Mẹ Việt Nam. Điều đáng tiếc là các bức tranh này phần lớn không mô tả biến cố truyền tin mà chỉ vẽ hình Đức Mẹ bồng con. Thiển nghĩ chắc vì biến cố ấy siêu việt quá, khó lòng dùng cây cọ hay bất cứ phương tiện gì để lột tả. Không lạ gì, chính Hang hay Động Truyền Tin cũng chỉ bao gồm một bàn thờ đơn giản với hàng chữ chân phương “Ngôi Lời Đã Thành Nhục Thể Tại Đây” để chỉ người biết chiêm niệm mới nắm bắt được chút gì của biến cố mầu nhiệm này.
Bỏ Nhà Thờ Truyền Tin, chúng tôi đi theo một sân dài, dọc tu viện Phanxicô mà bên dưới ngổn ngang các đồ vật do khảo cổ khai quật từ ngôi làng Nadarét nguyên thủy, tới nhà thờ Thánh Giuse, nằm song song với Vương Cung Thánh Đường Truyền Tin, để cử hành Thánh Lễ trong ngày. Theo truyền thuyết, Nhà Thờ Thánh Giuse được xây trên xưởng mộc của Thánh Gia. Nhưng truyền thống sau đó cho rằng nó được xây trên chính ngôi nhà của Thánh Giuse và Thánh Gia. Cái hang bên dưới nhà thờ được các cư dân thời Đế Quốc La Mã sử dụng làm chỗ chứa nước và lương thực, một lối sắp xếp khá tiêu biểu cho các căn hộ vào thời ấy. Nơi này vào thời Byzantine, đã được biến thành nơi thờ phượng. Thời Thập Tự Chinh, nghĩa là thế kỷ 12, một nhà thờ khác đã được xây trên nhà thờ thời Byzantine. Đó chính là nhà thờ Nuôi Dưỡng hay Nhà Thánh Giuse. Nhà thờ này sau đó bị người Ả Rập phá hủy vào năm 1263 sau khi đánh bại Thập Tự Quân. Năm 1745, tức dưới thời đế quốc Thổ (Ottoman), các tu sĩ Phanxicô mua lại nhà thờ Thập Tự Quân đã đổ nát và xây ở đấy một nhà nguyện vào năm 1754. Ngôi nhà thờ mới hiện nay được các tu sĩ Phanxicô tái thiết năm 1914 bên trên các nhà thờ và hang trước đây.
Trong nhà thờ, có nhiều tranh và kính mầu vẽ các sinh hoạt của Thánh Gia, trong đó có khung kính mầu diễn tả lễ cưới của Thánh Giuse và Đức Mẹ. Nhưng khung kính mầu cảm động nhất là cảnh Thánh Giuse hấp hối trong tay Đức Mẹ và Chúa Giêsu lúc ấy đã trưởng thành. Một tay đỡ lấy tay phải dưỡng phụ, tay kia Chúa đưa lên chúc phúc cho ngài. Đức Mẹ thì một tay đặt lên vai chồng mình, tay kia nắm lấy tay trái của ngài, mắt không rời người chồng thân yêu đang sắp xa lìa hai mẹ con. Không còn cảnh nào nhân bản bằng cảnh chia ly này.
Dĩ nhiên phải có tranh mô tả Chúa Giêsu học nghề thợ mộc với Thánh Giuse. Lúc tới Nadarét vào đầu thế kỷ 20, Morton cho hay ông thấy cả một dẫy phố những tay thợ mộc mà phần đông đều là Kitô hữu gốc Ả Rập, đang bận rộn cùng cưa cùng bào, mà sản phẩm phổ thông nhất là những chiếc nôi bằng gỗ, đu đưa được, thường sơn mầu xanh, một mầu người ta tin có thể xua được ma qủy. Khi đứng trong các cửa tiệm đó, ông tự hỏi: thực ra Chúa Giêsu có làm nghề thợ mộc hay không. Thánh Máccô gọi Người là “thợ mộc” (6:3), nhưng Thánh Mátthêu chỉ gọi Người là “con bác thợ mộc” (13:55). Chỉ dựa vào các ví von của Chúa Giêsu để chứng tỏ Người là một bác thợ mộc chuyên nghiệp quả là việc khó. Thí dụ, Người từng ví con đường cứu rỗi như “chiếc cổng hẹp”, khuyên ta nên “xây nhà trên đá” chứ không xây trên cát, cho rằng “ách” của Người nhẹ nhàng, hay nói về người chủ vườn nho dựng tháp canh cho vườn nho, hoặc ông vua xây tháp mà không chịu ngồi tính toán phí tổn… tất cả cho thấy Người rất quen thuộc với công việc của một người thợ mộc. Nhưng những ví von ấy không đủ để chứng tỏ Người hành nghề thợ mộc, vì Người cũng có những hiểu biết như thế về nhiều ngành nghề khác và từng đem những hiểu biết ấy vào các giáo huấn của Người. Ngày nay, không còn một con phố nào ở Nadarét dành riêng cho các bác thợ mộc. Và những chiếc cưa, chiếc bào, chiếc đục cổ truyền có chăng chỉ còn trong Khách Sạn Thánh Gia gần Đền Thờ Hồi Giáo và khu chợ chính của Nadarét, nơi chúng tôi dùng bữa trưa ngày đầu tiên trên Đất Thánh.
Chú thích
(3) Experiencing the Orthodox Church: Mystify, Mystify Me by Polina Slavcheva, SofiaEcho.com, 4/25/2006.

Tác giả: Vũ Văn An
   dunglac@gmail.com