Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Vũ Văn An
Bài Viết Của
Vũ Văn An
Antonio Rosmini, người của đức tin, lý trí và trái tim
Chiến dịch đem người Công Giáo trở về
Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II
Vatican và vấn đề tài liệu
Bốn Mươi Năm Sự Sống Con Người
Thờ Phượng Đích Thực Trong Tư Tưởng Thánh Phaolô
Gia Đình và Sự Sống
Khủng Hoảng Hôn Nhân và Gia Đình
Gia Tô Bí Lục Tân Thời
Thần học và thực hành mục vụ trong các thư của Thánh Phaolô
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa
Tính đáng tin cậy của Bộ Thánh Kinh
Kính Mừng Maria
Cầu nguyện theo lối chiêm niệm
Li dị và tái hôn trong các Phúc âm nhất lãm
Các nhà truyền giáo và kỹ nghệ tình dục
Từ Sydney tới Paris
Lộ Đức, sự hiện diện mênh mông của Mẹ
Bản Thể, Bản Tính
Thánh Phaolô, Nhà Truyền Giáo Vĩ Đại
Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
Cùng đi với Thánh Phaolô
Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội
Đức Bênêđíctô XVI: từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới hành trình đức tin trẻ em
KHẢO LUẬN “VỀ TÌNH YÊU CHÚA” CỦA THÁNH BERNARD THÀNH CLAIRVAUX

Sự đóng góp của Thánh Bernard thành Clairvaux (1090-1153) cho Giáo Hội vốn được mọi người nhìn nhận là đa dạng và hết sức ý nghĩa. Nghĩ đến ngài, người ta nghĩ tới Dòng Xi Tô và việc cải tổ sinh hoạt đan viện đầu thời Trung Cổ. Nghĩ đến ngài, người ta cũng nghĩ tới các Hiệp Sĩ Đền Thờ (Templars) và các cuộc thập tự chinh vì chính ngài đã viết ra hiến pháp cho họ, mở màn cho lý tưởng quí tộc Pháp. Nghĩ đến ngài, người ta cũng nghĩ tới những tranh chấp trong việc bầu cử giáo hoàng và các cố gắng của ngài nhằm đạt hòa giải hòa hợp. Nghĩ đến ngài, người ta cũng nghĩ tới ca khúc bất hủ “Jesu, dulcis memoria” (Ôi Giêsu, nghĩ đến Ngài quả là dịu ngọt) hay lời cầu tha thiết “Memorare” (Xin hãy nhớ). Nghĩ đến ngài, người ta nghĩ tới nền cứu thế học và những cuộc tranh luận với Peter Abelard. Nghĩ tới ngài, người ta nhớ đến rất nhiều trước tác vừa sâu sắc vừa bóng bẩy của một thần học gia hàng đầu mà nhiều loại suy và ẩn dụ đã trở thành cổ điển. Ngài ví Thánh Giá như liber charitatis, cuốn sách tình yêu mở ra trước mặt để ta đọc được tình yêu trong khe trái tim Chúa. Ngài còn ví nó với chiếc cửa sổ. “Những chiếc đinh và đầu đòng như chìa khóa đưa ta vào” để ta nhìn gần hơn lòng bàn tay Người, nơi, như Isaia từng nói, Người khắc tên ta để Người không bao giờ quên ta”…

Nhưng loại suy thời danh nhất của ngài là so sánh dựa trên giáo huấn cứu thế học của Thánh Anselm khi giải thích Thánh Vịnh 85 câu 11. “Công Lý gặp Xót Thương, và Chính Trực cùng Hòa Bình hôn nhau” (1). Ngài mô tả cuộc tranh luận trên thiên đàng giữa Công Lý và Xót Thương sau khi Adong sa ngã. Xót Thương nước mắt dàn dụa sụp lạy dưới chân Thiên Chúa để khẩn cầu cho con người khốn khổ. Nàng thú nhận rằng con người “không đáng được xót thương; nhưng há lòng xót thương của Chúa lại không đáng được tôn vinh hay sao? Hắn quên nghĩa vụ, vì hắn là con người, nhưng Ngài, có thể nào Ngài quên được Ngài là Đấng nhân từ, Ngài là Thiên Chúa chăng?” Cứ thế mà Xót Thương cầu xin, cứ thế mà nàng tiếp tục.

Công Lý tức giận bước vào ngắt lời nàng. “Thưa Quan Án Tối Cao, bây giờ đến phiên con, Ngài đừng để mình bị thuyết phục bởi con em mè nheo Xót Thương thủ vai bào chữa này; nó biết lòng từ nhân của Ngài, nên nó hy vọng dùng nước mắt khiến Ngài phải xót thương. Nhưng há Ngài đã chẳng ghi khắc trong hắn hình ảnh uy nghi tốt lành của Ngài đó sao, và đặt hắn làm phụ tá uy nghiêm và đáng phục của Ngài trên mọi thụ tạo trần gian? Há Ngài đã không ban cho hắn một luật lệ quá dễ để thử đức vâng lời của hắn trong khi cho hắn đủ khả năng để thi hành luật ấy đó sao? Và há Ngài đã không cho hắn hay: chết chóc và trả thù sẽ theo sau sự bất tuân của hắn đó sao? Và há đó chẳng đã là các hành vi xót thương đó hay sao? Vậy thì, lạy Chúa, xin Ngài nghe con, Công Lý của Ngài; và hãy so sánh sự khinh mạn của hắn với mọi từ nhân kia của Ngài. Đáp lại hồng ân của Ngài, hắn đã phạm tội, và hắn đã phạm tội ra sao? Trong một lúc, con không thể kể hết sự xấu xa của hắn; không phải chỉ có kiêu căng, hay hợm hĩnh, vô ơn, xa hoa, tàn bạo với con cái, hay bất trung, bất phục, mà là mọi tội. Há nào Quan Án toàn thế giới lại không xử công bình? Xót Thương không bao giờ dung thứ Ngài trừng phạt kẻ vô tội, thì làm sao Công Lý cho phép Ngài nương tay với kẻ phạm tội?”.

Lời kết tội đanh thép trên làm Xót Thương đau nhói, và trong nước mắt, nàng lại van vỉ: “Lạy Chúa, chị Công Lý nói đúng, vì nếu con người vô tội, hắn đâu có cần Chúa xót thương. Nhưng giả xử hắn tệ hơn thế đi nữa, thử hỏi sự xấu xa của hắn có bao giờ cân bằng được hay trổi vượt được hơn lòng xót thương của Chúa hay không? Liệu hắn có thể làm điều mà Chúa không thể nào tha thứ được không? Nghĩa là sự ma giáo của hắn liệu có thể vô lượng hơn lòng từ nhân của Chúa được chăng? Hắn đã được nếm thỏa sự tốt lành của Chúa lúc Chúa tạo nên hắn; nhưng hắn sẽ không bao giờ còn cảm nhận được lòng xót thương của Chúa, nếu Chúa không sai con đi yên ủi hắn trong cơn khốn cùng. Và phải chăng Chúa chẳng còn quan tâm tới Xót Thương dịu dàng của Chúa, Chúa chẳng còn xử dụng con bao giờ nữa chăng? Phải chăng chị Công Lý cứ thế thắng thế và loại trừ Xót Thương này của Chúa hay sao? Phải chăng một lần nữa, vì một con người yếu đuối cứng đầu, chị ấy lại có thể hủy hoại cả một giòng giống tội nghiệp của hắn sao? Lẽ nào Satan, kẻ thù Chúa, lại chiến thắng vẻ vang trong chiến lợi phẩm phong phú này và loại trừ Chúa ngay lập tức khỏi dòng dõi cao thượng nhất trong mọi thụ tạo trần gian hay sao? Đó chính là hoài bão và mục tiêu của nó khi nó quyến rũ hắn. Nhưng thế thì còn ai trên mặt đất để phụng sự Chúa? Ai sẽ tôn vinh sự uy nghi của Chúa, khi ma quỉ qui phục toàn thể nhân loại phải vâng lời nó? Chính chị Công Lý cũng đã thừa nhận rằng Chúa không vui thú gì trước nỗi khốn cùng của con người, vậy lạy Chúa nhân từ, xin tha thứ và xót thương hắn và cứu chuộc con sâu đất, đầy tớ Ngài, khỏi ách tàn bạo của hỏa ngục. Vì con nhất định không chịu từ bỏ việc khẩn cầu của con, cho tới khi Chúa nhân từ đáp lại lời con”.

Nghe thế, Công Lý lên tiếng: “Nhưng lạy Chúa, liệu Ngài có thể quên được Công Lý của Ngài, vốn cũng là chính Ngài hay không? Liệu Ngài có thể quên được lời Ngài mà không thi hành lời đe ‘ngày nào ngươi ăn nó, ngươi chắc chắn phải chết’? Công Lý của Ngài là kẻ bị con người xúc phạm, lẽ nào Ngài lại chịu đựng sự xỉ nhục này và để con không được trả đũa?

Đấng Toàn Năng kiên nhẫn lắng nghe hai bên và chăm chú nhìn cả hai bên đồng đều, lúc bên này, lúc bên kia. Dù Người có vẻ thiên về Xót Thương, nhưng lúc nhìn Công Lý, Người lại không muốn làm nó phật lòng. Cuối cùng Tình Yêu vào yết kiến, yêu cầu Người cho vời Khôn Ngoan tới làm môi giới cho một nền Hòa Bình giữa Xót Thương và Công Lý để giải quyết cuộc tranh chấp. Quả đây là việc làm thích đáng của sự Khôn Ngoan vô lượng của Chúa. Khôn Ngoan sẵn sàng đảm nhận nhiệm vụ và đề nghị một giải pháp cho cả đôi bên: “Nếu ta tìm ra một Trung Gian vô tội nào đó, bằng lòng chịu hình phạt mà con người đáng phải chịu, và sẵn sàng chịu chết để con người sống, thì sao?” “Nhưng tìm đâu ra người như thế trên trần gian? Con người vốn đã phạm tội rồi. Trên thiên đàng chăng? Nhưng thiên thần nào có được quyền năng đó hay có được tình yêu đó, để có thể chuộc được hình phạt cho con người bằng hình phạt của chính mình? Không, vị này phải có một phẩm giá không thua gì vô lượng; và phải vừa là người để có thể chịu chết vừa là Thiên Chúa để chinh phục sự chết ấy; và như thế, cả Công Lý được thỏa mãn, mà Xót Thương cũng được tôn vinh vẻ vang”.

Lúc ấy, Khôn Ngoan mới hướng mắt về phía Con Thiên Chúa Vĩnh Cửu. Con Thiên Chúa nghe theo lời Khôn Ngoan, hướng mắt lên Chúa Cha mà thưa: “Này Con đây, Con sẵn sàng làm như thế, xin Cha ban cho con một thân xác; vì Con nhất quyết trở thành xác phàm để thực thi mọi điều vừa nói”. Nghe thế, Xót Thương và Công Lý tiến tới ôm nhau và hôn nhau tha thiết. Đấng Toàn Năng rất đỗi hài lòng. Tình Yêu, Tốt Lành, Xót Thương, Công Lý, Sự Thật, Quyền Năng, Khôn Ngoan của Người hết thẩy đều được tôn vinh, còn con người khốn khổ thì được hòa giải, mọi tội lỗi được rửa sạch.

Nói về lòng Chúa thương xót, thiển nghĩ các trước tác của Thánh Nữ Faustina, 9 thế kỷ sau, có thể chi tiết hơn, nhưng khó có thể bóng bẩy bằng loại suy trên đây. Không lạ gì, Thánh Bernard được xưng tụng là Tiến Sĩ Ngọt Như Mật (Doctor Mellifluus). Đây cũng là tựa đề một thông điệp của Đức GH Piô XII ban hành ngày 24 tháng 5 năm 1953 nói về thánh nhân. Đức GH Piô XII gọi ngài là “giáo phụ cuối cùng” tuy không thua kém bất cứ vị tiền nhiệm nào. Theo Đức Piô XII, Thánh Bernard coi nhẹ nền thần học suy lý. “Giáo huấn của ngài hầu như chỉ rút tỉa từ Sách Thánh và các Giáo Phụ… chứ không phải từ việc suy luận tinh tế của các nhà biện chứng và triết học… Cần lưu ý rằng ngài không bác bỏ thứ triết học nhân bản… biết dẫn ta tới Thiên Chúa, tới lẽ sống chính trực, tới sự khôn ngoan Kitô Giáo. Ngài chỉ bác bỏ thứ triết học, chuyên nặng về lời lẽ trống rỗng và lý sự cùn khéo léo, quá tự tin là đủ khả năng vươn tới các đỉnh cao thần thánh để thấy được các mầu nhiệm của Thiên Chúa, mà kết quả thực sự thường là gây hại tới toàn diện tính của đức tin, và đáng buồn thay, rơi vào lạc giáo” (số 3).

Và trong rất nhiều trước tác của Thánh Bernard, cuốn “Về Tình Yêu Chúa” (De Amore Dei) được coi là hấp dẫn và đơn giản nhất. Nó cũng phản ảnh được các nhận định của Đức GH Piô XII trên đây, cung cấp cho ta những cái nhìn thông sáng, các hiểu biết trí thức thâm hậu và một văn phong trong sáng và tinh tường.

Nguyên lai

“Về Tình Yêu Chúa” là một trong các công trình nổi tiếng nhất và gây ảnh hưởng nhất của nền huyền nhiệm Trung Cổ, đề cập tới bốn bình diện yêu Chúa và đặt lòng sùng mộ Kitô Giáo vào ngữ cảnh Thiên Chúa yêu thương nhân loại. Nó được viết theo lời yêu cầu của một vị Hồng Y người Ý. Đó là Đức Hồng Y Haimeric.

Ngữ cảnh lời yêu cầu này không được rõ ràng. Chỉ biết năm 1128, Thánh Bernard tham dự Công Đồng Troyes do Đức GH Honoriô II triệu tập, đặt dưới sự chủ tọa của Đức HY Matthew, giáo phận Albano. Mục đích của Công Đồng này là để giải quyết một số tranh cãi của các giám mục Paris và để qui định một số vấn đề khác của Giáo Hội Pháp. Các giám mục đề cử Thánh Bernard làm thư ký cho Công Đồng và trao cho ngài nhiệm vụ soạn thảo các sắc lệnh của Công Đồng. Sau Công Đồng, giám mục Verdun bị giải nhiệm. Cũng chính tại Công Đồng này, Thánh Bernard phác hoạ các nét chính cho Bộ Luật của Hiệp Sĩ Đền Thờ, những người chẳng bao lâu sau đó, trở thành lý tưởng cho giới quí tộc Kitô Giáo. Sau này, ngài ca tụng họ trong cuốn De Laude Novae Militiae.

Có lẽ vì những hoạt động nổi cộm đó mà ngài bị nhiều người chống đối, trong đó, có cả chống đối của Rôma nữa. Ngài bị tố cáo là pha mình vào các vấn đề không liên quan tới mình. Nhân danh Đức Giáo Hoàng, Hồng Y Haimeric viết cho ngài một thư khiển trách, cho rằng “Quả không thích đáng chút nào khi những con cóc ầm ĩ và gây rối ra khỏi đầm lầy của chúng để làm phiền Tòa Thánh và các hồng y”. Trong thư hồi đáp, Thánh Bernard cho rằng sở dĩ ngài tham dự Công Đồng là do bị ép phải tham dự mà thôi. Ngài viết: “Thưa ngài Haimeric trọng kính, nếu ngài muốn, thì còn ai là người có khả năng giải thoát con khỏi việc bắt buộc phải tham dự Công Đồng hơn là ngài? Ngăn cấm những con cóc ầm ĩ và gây rối ra khỏi hang hóc, đầm lầy của chúng… để bạn hữu ngài khỏi bị vạch mặt về kiêu căng và hợm hĩnh”. Lá thư đó đã gây ấn tượng tốt nơi HY Haimeric và Vatican nói chung. Có lẽ vì thế mà giữa hai người có mối thâm tình từ đó trở đi chăng, khiến vị hồng y này thỉnh ý kiến ngài về một vấn đề vốn là sở trường của ngài: Tại sao ta phải yêu Chúa và phải yêu Người đến mức nào. Ngài vốn là người chú giải 3 chương đầu Sách Diễm Ca. Cuốn “Về Tình Yêu Chúa” chính là thư trả lời cho hai câu hỏi đó.

Để làm giầu cho kho linh đạo tiếng Việt, chúng tôi xin cố gắng chuyển ngữ cuốn sách trên.
_____________________________________________________________________  (1) “Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hòa bình công lý đã giao duyên” Bản Dịch của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Kinh Thánh Trọn Bộ, Sài Gòn 1998, tr.1101

 

Lời Đề Tặng

Gửi Ngài trọng kính Haimeric, Hồng Y Phó Tế của Giáo Hội Công Giáo, Chưởng Ấn: Bernard, danh hiệu Viện Phụ Clairvaux, xin cầu chúc ngài trường thọ trong Chúa và được an nghỉ trong Chúa.

Cho đến nay, ngài vốn xin con cầu nguyện, chứ không giải quyết vấn đề; dù con coi mình thiếu thốn cả hai thứ này. Nghề nghiệp của con chứng tỏ điều ấy, chứ không phải chỉ là lời nói; và nói cho ngay, con thiếu cả sự chuyên cần lẫn tài năng, cả hai đều chủ yếu cả. Ấy thế nhưng con vẫn vui khi thấy ngài hướng về việc tìm kiếm lời khuyên linh đạo, thay vì bận bịu với các vấn đề xác thịt: có điều, con chỉ mong ngài đến với người được trang bị tốt hơn con thôi. Tuy nhiên, người học thức lẫn kẻ ngu hèn đều có cùng một lối thoái thác và ta khó nói được là do khiêm tốn hay do ngu muội, ngoại trừ việc vâng theo nhiệm vụ được chỉ định sẽ cho biết thế nào mà thôi. Do đó, xin ngài hãy nhận từ sự nghèo nàn của con điều con có thể dâng kính ngài, kẻo người ta lại bảo con đóng vai triết gia, do thái độ im lặng gây ra. Chỉ có điều, con không dám hứa sẽ trả lời các câu hỏi khác mà ngài có thể nêu ra. Với câu hỏi này về việc yêu Chúa, con sẽ trình bầy như Người dạy con vậy; vì tình yêu này dịu ngọt nhất, nên nó có thể được xử lý một cách an tâm, cũng như nó sẽ mang lại nhiều lợi ích nhất. Còn các câu hỏi khác, xin ngài dành cho những người khôn ngoan hơn con.

Chương I: Tại sao ta phải yêu Chúa và yêu Chúa tới mức nào

Ngài muốn con cho ngài hay tại sao ta phải yêu Chúa và yêu Người đến mức nào. Con xin thưa: lý do phải yêu Chúa là chính Chúa; và mức độ tình yêu Người đáng được hưởng là vô lường. Điều ấy có hiển nhiên không? Chắc chắn hiển nhiên đối với người biết suy nghĩ; nhưng con cũng mang nợ đối với người không hiểu biết nữa. Đối với hiền nhân, một lời đã đủ; nhưng con phải cân nhắc cả những người chất phác nữa. Nên con rất hân hoan được giải thích cặn kẽ hơn điều con vừa viết.

Ta phải yêu Chúa vì chính Người, vì hai lý do: thứ nhất, không còn gì hợp lý bằng; thứ hai, không còn gì ích lợi hơn. Khi một ai đó hỏi: tại sao tôi nên yêu Chúa? chắc hẳn anh ta muốn nói: nơi Chúa, có điều gì đáng yêu? hay: tôi sẽ được lợi gì khi yêu Chúa? Cả hai trường hợp này đều có cùng một nguyên cớ đầy đủ, đó là, chính Thiên Chúa.

Trước hết, nói về việc Chúa có quyền đòi ta phải yêu Chúa. Liệu còn có quyền nào lớn hơn quyền này, khi Người hiến mình cho ta, những kẻ xấu xa không xứng đáng? Và trong tư cách Thiên Chúa, Người còn có hồng ân nào tốt hơn để ban cho ta cho bằng chính Người? Bởi đó, nếu có ai tìm hỏi về quyền Chúa đòi ta phải yêu mến Người thì đây là lý do chính yếu nhất: Vì Người đã yêu ta trước (1Ga 4:19).

Há Người lại không đáng được ta yêu mến trở lại khi ta biết ai yêu, Người yêu ai và Người yêu đến mức nào? Vậy ai là người yêu? Chính cũng là Đấng mà mọi thần trí đều làm chứng: “Ngài là Thiên Chúa của con: ngoài Ngài ra, chẳng còn chi tốt lành đối với con” (Tv 16:2 theo bản Phổ Thông). Và há tình yêu của Người không phải là thứ tình tuyệt diệu ‘không tìm tư lợi’ đó sao (1Cor 13:5)? Nhưng tình yêu khôn tả ấy được tỏ bầy cùng ai? Thánh Tông Đồ bảo ta: ‘Khi còn là thù nghịch, ta đã được hòa giải với Thiên Chúa nhờ cái chết của Con Người’ (Rm 5:10). Bởi thế, chính Thiên Chúa là Đấng đã yêu ta, yêu ta một cách tự ý, và yêu ta ngay lúc ta còn là thù nghịch của Người. Và tình yêu ấy của Người vĩ đại ra sao? Thánh Gioan trả lời: ‘Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một của Người, để bất cứ ai tin vào Người sẽ không phải chết, nhưng được sống muôn đời’ (Ga 3:16). Thánh Phaolô viết thêm: ‘Người không tha Con Một của Người, nhưng đã trao nộp Người Con đó vì mọi người chúng ta’ (Rm 8:32); còn Người Con đó thì nói về mình như thế này: ‘Không tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình vì bằng hữu’ (Ga 15:13).

Đó chính là quyền của Thiên Chúa chí thánh, Thiên Chúa tối cao, Thiên Chúa toàn năng trên chúng ta, những kẻ ô uế, thấp hèn và yếu đuối. Một số người nhấn mạnh rằng điều đó chỉ đúng cho con người thôi, chứ không đúng cho thiên thần. Đúng thế, vì thiên thần có cần (biện giải) như thế đâu. Nhưng cũng chính Đấng cứu giúp con người trong lúc khốn cùng của họ đã gìn giữ để các thiên thần không cần điều ấy; và ngay lúc tình yêu của Người đối với con người tội lỗi thực hiện nhiều điều kỳ diệu nơi họ để họ hết còn là tội lỗi, thì cũng chính tình yêu ấy với cùng một mức độ đã được Người tuôn đổ trên các thiên thần để gìn giữ các vị khỏi phạm tội.

Chương II: Chúa đáng được con người yêu mến đến đâu để đền đáp các hồng ân của Người, cả vật chất lẫn tinh thần: và con người phải trân quí các hồng ân này ra sao mà vẫn không quên Đấng ban tặng.

Con chắc chắn rằng ai thừa nhận sự thật trong các điều con vừa nói trên đây hẳn biết rõ tại sao ta buộc phải yêu mến Chúa. Nhưng nếu những người không tin (infidel) bác bỏ điều ấy, thì sự vô ơn của họ sẽ lập tức bị đánh bại bởi vô vàn ơn phúc được Người hậu hĩnh ban cho loài người chúng ta, mà mọi giác quan đều có thể nhận ra một cách rõ ràng. Ai là người đã ban thực phẩm cho mọi xác phàm, ban ánh sáng cho mọi con mắt, ban không khí cho mọi loài biết thở? Liệt kê các ơn phúc này là điều điên khùng vì con vừa thưa là chúng vô vàn, không thể đếm xuể. Nhưng con cũng xin kể một số, vì đây là những ơn phúc đáng kể, thực phẩm, ánh sáng mặt trời và không khí; không phải vì đây là những hồng phúc vĩ đại nhất của Chúa, nhưng vì chúng là những hồng phúc chủ yếu đối với sự sống thân xác của con người. Đối với bản tính cao xa hơn của mình, con người phải đi tìm những hồng phúc cao cả nhất. Đó là: phẩm giá, khôn ngoan và nhân đức. Con hiểu phẩm giá đây chỉ ý chí tự do, nhờ đó, con người không những vượt trên mọi thụ tạo trần gian khác, mà họ còn thống trị chúng nữa. Khôn ngoan là khả năng nhờ đó con người nhận ra phẩm giá kia, đồng thời cũng nhận ra rằng phẩm giá đó không phải là thành tựu riêng của họ. Nhân đức thì thúc đẩy con người thiết tha đi tìm Đấng là nguồn cội của mình và bám riết lấy Người khi tìm ra.

Bây giờ, con xin thưa: cả ba hồng phúc trên, hồng phúc nào cũng có hai đặc điểm. Phẩm giá không những chỉ là một đặc quyền của loài người, nó còn là nguyên nhân khiến mọi thú vật trên trái đất phải kiêng nể, kính sợ con người. Khôn ngoan nhận thức rõ sự phân biệt này, nhưng thú nhận rằng giống mọi đức tính khác, dù ở trong ta, nó không phải là của ta. Và sau cùng, nhân đức thúc đẩy ta tha thiết đi tìm Tác Giả, và khi tìm thấy Người rồi, thì dạy ta biết cách bám chặt lấy Người một cách tha thiết hơn nữa. Xin ngài cũng xem sét việc này: phẩm giá mà không có khôn ngoan thì vô giá trị; và khôn ngoan mà không có nhân đức chỉ gây hại, như luận điểm sau đây đã chứng tỏ: có tài năng thiên phú (ơn phúc) mà không biết thì đâu có gì vẻ vang. Nhưng chỉ biết mình có tài năng thiên phú mà không biết rằng nó không phải là của mình, người có nó, thì chỉ là tự vênh vang, đâu phải là vẻ vang thực sự trong Chúa. Thánh Tông Đồ từng nói về những con người ở hoàn cảnh này như sau: ‘Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao bạn lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?’ (1Cor 4:7). Câu Thánh Tông Đồ hỏi ‘tại sao bạn lại vênh vang’ và thêm ‘như thể đã không nhận lãnh’ cho thấy lỗi lầm không phải ở chỗ vênh vang vì điều sở hữu, mà là vênh vang như thể đã không nhận lãnh. Quả thật cái vênh vang này phải được gọi là hư danh, vì nó không có nền tảng vững chãi trong sự thật. Các Tông Đồ chỉ cho ta cách biện phân giữa vẻ vang thực sự với vẻ vang giả tạo, khi các ngài bảo ta: ‘ai muốn vẻ vang hãy vẻ vang trong Chúa, nghĩa là, trong Sự Thật, vì Chúa ta là Sự Thật’ (1Cor 1: 31; Ga 14:6).

Như thế, ta cần biết ta là gì, và không phải do ta mà ta là điều ta đang là. Nếu không biết tường tận điều này, một là ta không nên vẻ vang gì cả, hai là vẻ vang của ta sẽ hư không. Sau cùng đã có lời chép rằng ‘nếu nàng không biết, thì hãy đi theo vết chân đàn cừu’ (Diễm Ca 1:8). Lời này rất đúng. Vì nếu người đang vẻ vang không biết gì về sự vẻ vang của mình, thì vì sự không biết này quả anh ta giống với thú vật hay chết. Không biết mình là loại thụ tạo khác với những loài vật không có lý trí vì mình có lý trí là bắt đầu đồng hóa với chúng vì, do không biết gì tới vẻ vang chân thực vốn có trong mình, con người bị tính tò mò xui khiến thành ra chỉ biết quan tâm tới những điều ở bên ngoài, thuộc cảm giới. Do đó, họ trở nên giống như các thụ tạo thấp hèn mà không biết rằng mình được phú ban cho những điều cao hơn chúng nhiều.

Ta cần cảnh giác trước sự ngu dốt trên. Ta không nên tự hạ quá thấp; đồng thời phải thận trọng hơn để đừng tự coi mình cao hơn điều mình nên nghĩ về mình, như từng xẩy ra khi ta dại dột tự gán cho mình bất cứ điều tốt nào có thể có trong ta. Nhưng trên cả hai điều ngu dốt này, ta cần ghét bỏ và xa lánh sự hợm hĩnh từng dẫn ta tới việc vênh vang về các điều tốt vốn không phải của ta, vì biết rằng chúng không phải của ta mà là của Chúa, và ta phải kính sợ, đừng cướp của Chúa vinh dự Người đáng được. Vì, trong trường hợp thứ nhất, ngu dốt không hề vẻ vang chút nào; trong trường hợp thứ hai, một mình khôn ngoan, tuy có vẻ vang đấy, nhưng không vẻ vang trong Chúa. Còn trường hợp thứ ba, con người phạm tội không phải vì ngu dốt mà là có ý, anh ta tước đoạt vẻ vang vốn thuộc về Chúa. Sự ngạo mạn này là một lỗi lầm nặng nề hơn và trầm trọng hơn là sự ngu dốt thứ hai, vì nó khinh mạn chính Thiên Chúa, trong khi sự ngu dốt kia không biết Người. Ngu dốt thuộc thú vật, ngạo mạn thuộc ma quỉ. Chỉ có ngạo mạn, vốn đứng đầu mọi tội lỗi, mới khiến ta coi các hồng ơn như thể là thuộc tính chính đáng trong bản nhiên ta, và dù nhận lãnh các ơn ích ấy, lại tước đoạt khỏi Đấng Ban Ơn sự vẻ vang của Người.

Vì thế, ngoài phẩm giá và khôn ngoan, ta cần thêm nhân đức, vốn là hoa trái của hai hồng phúc này. Nhân đức tìm kiếm và tìm ra Đấng vốn là Tác Giả, là Người Ban Phát mọi thiện ích và là Đấng cần được tôn vinh trong mọi sự; nếu không, kẻ biết điều đúng mà không làm sẽ bị đánh đòn (Lc 12:47). Ngài sẽ hỏi ‘tại sao?’ Tại vì người này đã không đem hiểu biết của mình ra làm điều tốt, trái lại chỉ biết bày chước độc mưu thâm trên giường (Tv 36:4); giống tên đầy tớ bất lương, người này chỉ xoay sở tìm cách tước đoạt vinh quang mà anh ta biết chắc chỉ thuộc về Chúa và là Chủ anh ta mà thôi. Cho nên, rõ ràng phẩm giá mà không có khôn ngoan là vô dụng còn khôn ngoan mà không có nhân đức là đáng nguyền rủa. Nhưng khi ta có nhân đức, thì khôn ngoan và phẩm giá không còn nguy hiểm nữa mà là điều phúc đức. Người như thế sẽ kêu danh Chúa và ca tụng Người, hết lòng xưng tụng rằng ‘Lạy Chúa, xin đừng vinh danh chúng con, xin đừng, nhưng hãy vinh danh Chúa’ (Tv 115:1). Nghĩa là: ‘Lạy Chúa, chúng con không đòi hiểu biết, không đòi trổi vượt cho chúng con; tất cả là của Chúa, vì mọi sự đều từ Chúa mà có’.

Nhưng ta đã lạc đề hơi xa chỉ vì muốn chứng minh rằng ngay những người không biết Chúa Kitô cũng đã được luật tự nhiên khuyên dạy đầy đủ, và nhờ các khả năng riêng của linh hồn và thân xác, mà yêu mến Thiên Chúa vì chính Người. Tóm lại, kẻ ngoại đạo nào lại không biết rằng mình nhận lãnh ánh sáng, không khí, thực phẩm, những điều thiết yếu cho sự sống thân xác anh ta, từ Đấng chỉ có Người mới ban thực phẩm cho mọi phàm nhân (Tv 136:25), chỉ có Người mới làm cho mặt trời mọc lên trên kẻ dữ và người lành, và ban mưa móc xuống người công chính lẫn kẻ bất lương (Mt 5:45). Còn ai vô đạo đến độ gán sự ưu việt đặc biệt của nhân loại cho mọi người khác chứ không cho Đấng từng phán trong Sách Sáng Thế ‘Ta hãy làm nên con người giống hình ảnh ta, như họa ảnh ta’ (St 1:26). Còn ai khác có thể ban phát nhân đức ngoại trừ Chúa của nhân đức?

Do đó, ngay những người ngoại đạo không biết Chúa Kitô nhưng ít nhất biết mình cũng buộc phải yêu mến Thiên Chúa vì chính Thiên Chúa. Không thể nào tha thứ cho họ được nếu họ không yêu mến Chúa là Thiên Chúa của họ hết tâm hồn, hết linh hồn và hết trí khôn; vì sự công chính bẩm sinh và lương tri của riêng họ nói to ở bên trong họ,cho họ thấy họ hoàn toàn bó buộc phải yêu mến Thiên Chúa, mà từ Người, họ đã lãnh nhận mọi sự. Tuy nhiên, đối với người chỉ cậy nhờ vào sức mạnh riêng hay sức mạnh của ý chí tự do mà thôi, thì quả là khó, đúng hơn, quả là không thể nào trả lại cho Chúa mọi sự vốn phát xuất từ Người, nếu không giúp họ đừng chỉ nghĩ về mình, vì đã có lời chép rằng ‘ai nấy đều tìm lợi ích cho mình’ (Pl 2:21’ và ‘lòng con người toan tính điều xấu từ khi còn trẻ’ (St 8:21).

Chương III: Để yên mến Chúa, Kitô hữu có những động lực nào lớn hơn người ngoại giáo

Tín hữu biết họ cần Chúa Giêsu và Đấng chịu đóng đinh biết bao nhiêu; nhưng dù họ chiêm ngưỡng và hân hoan trước tình yêu khôn tả được biểu lộ nơi Chúa Kitô, họ không nản lòng khi chỉ có một linh hồn nghèo nàn để đáp trả tình yêu cao cả và đầy hạ cố ấy. Họ càng yêu nhiều hơn, vì họ biết họ được yêu một cách quá đáng; còn kẻ nhận ít thì sẽ yêu ít (Lc 7:47). Cả người Do Thái lẫn dân ngoại đều không cảm thấy cái đau nhói của tình yêu bằng Giáo Hội, là người từng thưa ‘cho tôi mứt nho để tôi tìm lại sức, cho tôi táo để tôi được bồi dưỡng, vì tôi ốm liệt vì yêu’ (Dc 2:5). Giáo Hội nhìn ngắm Vua Salômôn của mình với vương miện mà mẹ Người đã đội cho Người vào ngày đính ước; Giáo Hội thấy Con Một Chúa Cha vác nặng Thánh Giá của Người; Giáo Hội thấy Chúa Tể mọi quyền lực và sức mạnh bị bầm dập và khạc nhổ, Đấng tạo ra sự sống và vinh quang bị đinh đâm thấu, bị đòng đâm thủng, bị nhạo cười quá sức, và sau cùng hy sinh mạng sống quí giá vì bằng hữu.

Chiêm ngắm cảnh tượng ấy, lưỡi gươm tình yêu cũng đâm thâu qua trái tim Giáo Hội và Giáo Hội la lên: “cho tôi mứt nho để tôi tìm lại sức, cho tôi táo để tôi được bồi dưỡng, vì tôi ốm liệt vì yêu”. Trái cây Hiền Thê hái từ Cây Sự Sống trong vườn Người Yêu chính là thạch lựu (Dc 4:13), mượn mùi vị từ Bánh trên trời và mượn mầu sắc từ Máu thánh Chúa Kitô. Giáo Hội thấy chết chóc đang hấp hối và tác giả của nó đang bị lật nhào: Giáo Hội thấy tù đầy đang dẫn tù nhân từ âm phủ lên trái đất và từ trái đất lên thiên đàng, để ‘khi nghe tên Giêsu, mọi đầu gối đều bái quì, dù là trên trời, dưới đất hay trong âm phủ’ (Pl 2:10). Trái đất dưới nguyền rủa xưa chỉ đâm gai cùng cỏ dại; nhưng giờ đây, Giáo Hội thấy nó đang cười dòn giữa hoa lá vì được tái sinh nhờ ơn thánh của chúc lành mới. Vừa ngâm ngợi ‘Trái tim tôi nhẩy mừng hân hoan, tôi sẽ ca ngợi Người bằng lời ca của tôi’, Giáo Hội vừa giải khát bằng trái cây Khổ Nạn của Người, mà Giáo Hội hái lượm được từ Cây Thánh Giá, và bằng những bông hoa Phục Sinh của Người, những bông hoa thơm phức khiến Phu Quân năng lui tới viếng thăm.

Đến độ Người phải reo vui ‘Người yêu anh hỡi, em đẹp dường bao, đúng, em đẹp dường nào: giường chúng ta là cánh đồng xanh ngát’ (Dc 1:16). Giáo Hội mong chờ Người tới và biết hy vọng vào đâu để được Người viếng thăm; không phải vì công phúc riêng của mình mà vì các bông hoa của thửa vườn được Thiên Chúa chúc phúc. Chúa Kitô, Đấng bằng lòng được dựng thai và được dưỡng dục tại Nadarét, thị trấn của lá cành, rất hân hoan trong cảnh đua nở ấy. Hài lòng với mùi thơm thiên giới trên, chàng rể vui mừng được viếng thăm nội thất tâm hồn khi Người thấy nó được trang trí nhiều hoa trái, nghĩa là nhiều suy niệm về mầu nhiệm Khổ Nạn hay về vinh quang Phục Sinh của Người.

Các biểu tượng Khổ Nạn được ta nhận dạng như hoa trái của thời đại đã qua, mọc vào thời viên mãn của ách tội lỗi và chết chóc (Gl 4:4). Nhưng chính trong vinh quang Phục Sinh, trong mùa xuân mới của ơn thánh tái sinh, các bông hoa mới của thời đại sau đã xuất hiện, đem lại cây trái vô vàn vào ngày phục sinh chung, lúc thời gian không còn nữa. Do đó, đã có lời chép rằng ‘mùa Đông đã qua, mưa đã ngưng, đã tạnh, hoa lá lại nở rộ khắp địa cầu’ (Dc 2:11-12); nghĩa là: mùa hè đã trở về cùng với Đấng biến chết chóc băng giá thành mùa xuân của sự sống mới, như lời Người từng nói: ‘Này đây, ta làm mọi sự ra mới’ (Kh 21:5). Thân xác được gieo trong mồ của Người đã bừng nở trong Phục Sinh (1Cor 15:42); và cũng thế, thung lũng và đồng nội của ta, trước đây vốn khô cằn hay băng giá như đã chết rồi, nay rạng rỡ với sức sống và sự ấm áp hồi sinh.

Cha của Chúa Kitô, Đấng làm mọi sự ra mới, rất đỗi hài lòng trước sự tươi mới của những hoa trái này và vẻ đẹp của đồng nội đang toả mùi hương thơm ngát như thiên đàng kia; và Người chúc lành mà phán ‘Xem này, mùi Con Trai Ta giống như mùi cánh đồng được Thiên Chúa chúc phúc’ (St 27:27). Quả là chúc phúc đến đầy tràn, vì ta được lãnh nhận mọi sự từ sự viên mãn của Người (Ga 1:16). Cô dâu được phép lui tới tùy thích để tha hồ hái trái lượm hoa đem về trang hoàng nơi sâu kín nhất của trái tim mình; để khi Chàng Rể tới, chàng được thấy nội thẳm trái tim Cô nức mùi thơm phức.

Cho nên, đối với ta, điều cần thiết là có được Chúa Kitô làm thượng khách thường xuyên để Người đổ đầy trái tim ta các suy niệm trung trinh về lòng xót thương được Người tỏ bày khi chết cho ta, và về quyền lực toàn năng khi Người sống lại từ cõi chết. Về điểm này, Đavít từng đề cập tới khi hát rằng ‘Chúa có nói một lần hay hai lần, tôi đều nghe như nhau, rằng quyền lực thuộc về Chúa và lạy Chúa, Chúa quả đầy xót thương’ (Tv 62:12). Chứng cớ thì ta có đủ và còn dư thừa nữa vì Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi ta và đã sống lại để công chính hóa ta, đã lên trời để có thể che chở ta từ trên cao, và sai Chúa Thánh Thần xuống để khích lệ ta. Sau đó, Người sẽ tái lâm để hoàn thành hạnh phúc của ta. Trong Cái Chết, Người tỏ bày Xót Thương, trong Phục Sinh, Người tò bày quyền lực; cả hai cộng lại để tò bày vinh quang của Người.

Cô dâu ước mong có mứt nho để tìm lại sức, có táo để được bồi dưỡng, vì Cô biết rằng sự ấm áp của tình yêu rất dễ tàn lụi, trở thành nguội lạnh; nhưng sự trợ giúp kia chỉ cần thiết cho tới lúc Cô đã bước vào phòng hoa chúc. Ở đó, Cô sẽ nhận được những vuốt ve bao lâu mong chờ của Chàng đến độ kêu lên ‘tay trái Chàng luồn dưới đầu tôi còn tay phải Chàng ôm ghì lấy tôi’ (Dc 2:6). Sau đó, Cô sẽ thấy cái ôm của tay phải kia vượt trên mọi dịu ngọt như thế nào, và cánh tay trái Chàng dùng vuốt ve lúc ban đầu không thể nào so sánh với nó được. Cô sẽ hiểu ra điều từng được nghe rằng ‘thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì’ (Ga 6:63). Cô sẽ chứng minh được điều từng đọc rằng ‘nhớ đến Ta thì ngọt ngào hơn mật, và được ta làm gia sản thì ngọt hơn tảng mật ong’ (Hc 24:20). Còn câu viết ở một nơi khác, ‘nhắc nhở luôn: Ngài nhân ái vô cùng’ (Tv 145:7), chắc chắn nói tới những người mà Thánh Vịnh Gia đã vừa nhắc đến: ‘đời nọ tới đời kia, thiên hạ đề cao sự nghiệp Chúa và truyền tụng những chiến công của Ngài’ (Tv 145:4). Khi còn ở dưới thế, ta tưởng nhớ Người; nhưng trên Nước Trời, ta được hưởng Nhan Thánh Người. Nhan Thánh ấy là niềm vui của những ai đã đạt hạnh phúc; tưởng nhớ để an ủi ta lúc còn lữ thứ, trên hành trình về quê Cha.

 

Chương IV: Những người tìm an ủi ở việc nghĩ tưởng tới Chúa, hay thích hợp nhất để yêu Người

Nhưng điều đáng lưu ý là loại người nào tìm được an ủi trong việc nghĩ tưởng tới Chúa. Chắc chắn đó không phải là thế hệ suy đồi và gian ác mà Sách Thánh vốn cho là ‘Khốn cho các ngươi, những kẻ giầu có; vì các ngươi đã được an ủi rồi’ (Lc 6:24). Mà là những kẻ từng thú thật rằng ‘Hồn tôi khước từ an ủi’ (Tv 77:3). Vì quả là hợp lý khi những ai không thỏa mãn với hiện tại sẽ được ý nghĩ tương lai nâng đỡ và việc chiêm ngắm hạnh phúc trường cửu sẽ an ủi những ai không muốn uống từ dòng sông vui thú tạm bợ. Chính thế hệ những người này tìm kiếm Thiên Chúa, cả những người tìm kiếm khuôn mặt của Chúa Giacóp, chứ không phải khuôn mặt mình. Với những ai mong mỏi được thấy thánh nhan Thiên Chúa hằng sống, thì chỉ cần nghĩ tưởng đến Người cũng là điều tự nó dịu ngọt nhất rồi: nhưng họ không hề no chán, mà mỗi lúc một thèm khát hơn, vì đã có lời Thánh Kinh rằng ‘ai ăn Ta sẽ còn đói’ (Hc 24:21); và như người đói khát kia từng nói ‘khi thức giấc được thấy hình ảnh Người, con sẽ thoả mãn’. Vâng, ngay lúc này đây, phúc cho ai đói khát sự công chính vì họ, và chỉ có họ mà thôi, sẽ được no thoả. Khốn cho các ngươi, hỡi thế hệ suy đồi và gian ác; khốn cho các ngươi, hỡi dân tộc khờ dại bị bỏ rơi, những người thù ghét việc tưởng nghĩ tới Chúa Kitô, và gớm ghiếc việc Người tái lâm! Hỡi những người hiện không biết tìm kiếm sự giải thoát khỏi cạm bẫy thợ săn, các bạn hãy kinh sợ; bởi vì ‘những kẻ muốn làm giầu, thì sa chước cám dỗ, sa vào cạm bẫy và nhiều ước muốn ngu xuẩn độc hại’ (1Tm 6:9). Vào ngày đó, ta sẽ không tránh khỏi lời kết án khủng khiếp này ‘Hãy xéo khỏi mặt Ta, hỡi những kẻ bị nguyền rủa, mà vào lửa đời đời’ (Mt 25:41). Ôi, quả là bản án khủng khiếp, quả là lời cứng rắn! Cứng rắn hơn biết bao so với lời khác mà ta lặp đi lặp lại hàng ngày trong nhà thờ, khi tưởng niệm Cuộc Khổ Nạn: “Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta sẽ được sống đời đời’ (Ga 6:54). Điều này muốn nói: ai tôn kính cái chết của Ta và theo gương Ta mà giết chết những gì thuộc về hạ giới (Cl 3:5) thì sẽ được sống đời đời, như chính Thánh Tông Đồ đã viết ‘Nếu ta chịu đau khổ, ta cũng sẽ được hiển trị với Người’ (2Tm 2:12). Ấy thế nhưng nhiều người ngày nay lại chùn bước trước lời lẽ ấy và quay gót, dùng hành động chứ không hẳn miệng lưỡi mà nói rằng ‘điều này chướng tai quá; ai mà nghe nổi?’(Ga 6:60). Quả là ‘Một thế hệ tâm địa thất thường, lòng dạ bất trung cùng Chúa’ (Tv 78:8), chỉ biết tín thác vào những của cải không chắc chắn. Thế hệ này bối rối khi nghe tên Thánh Giá, và coi việc kỷ niệm Khổ Nạn là điều không thể chịu đựng được. Thử hỏi nó làm sao chịu đựng được sức nặng của bản án đáng sợ sau ‘Hãy xéo khỏi ta, hỡi những kẻ bị nguyền rủa, mà vào lửa đời đời, đã dọn sẵn cho ma quỉ và các thần của chúng’? ‘Đá này rơi trúng ai, sẽ làm người ấy nát thịt’ (Lc 22:18); nhưng ‘thế hệ tín trung sẽ được chúc phúc’ (Tv 112:2), vì giống Thánh Tông Đồ, họ lặp đi lặp lại điều này: dù có mặt hay vắng mặt, họ đều được Chúa chấp nhận (2Cor 5:9). Vào ngày sau hết, họ cũng sẽ được nghe Quan Án công bố phần thưởng của họ ‘Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc đã được chuẩn bị cho các con từ thuở tạo thiên lập địa’ (Mt 25:34).

Vào ngày đó, những ai tâm địa thất thường sẽ thấy, dù quá trễ, ách của Chúa Kitô dễ dàng xiết bao, đến độ chẳng cần phải còng lưng, và gánh của Người nhẹ biết chừng nào, so với cái đau đớn họ đang phải chịu. Ôi những kẻ tôi đòi tội nghiệp của Ma Tiền, các người không biết tìm vinh quang nơi Thánh Giá Chúa Kitô mà chỉ biết tín thác vào kho lẫm thu tích ở đời này: các người không biết nếm, không nhìn thấy Chúa nhân hậu dường bao, mà chỉ biết khát khao bạc vàng. Không biết hân hoan khi nghĩ tới ngày Người xuất hiện, thì ngày đó quả sẽ là ngày giận dữ đối với các người.

Nhưng linh hồn tín hữu luôn khát mong và ngất đi vì Chúa; linh hồn này nghỉ ngơi dịu dàng khi chiêm ngưỡng Người. Nó tìm vinh quang trong cái trách móc của Thánh Giá, cho tới ngày vinh quang nhan thánh Người được tỏ hiện. Giống Cô Dâu, bồ câu của Chúa Kitô sẽ được mang đôi cánh bạc (Tv 68:13), trắng một mầu ngây thơ tinh tuyền, linh hồn này thảnh thơi khi nghĩ tới lòng nhân hậu dư thừa của Chúa, lạy Chúa Giêsu; và trên hết, nó mong tới ngày, trong ánh chói lọi hân hoan của các thánh Chúa, rạng rỡ vì được Sự Hưởng Phước Chúa rọi sáng, lông cánh họ sẽ như vàng, óng ánh niềm vui nhan Chúa.

Lúc đó, quả đúng thay nếu linh hồn này ca vang ‘Tay trái Chàng luồn dưới đầu tôi, còn tay phải thì Chàng ôm ghì lấy tôi’. Tay trái chỉ ký ức về tình yêu khôn sánh, từng khiến Người hy sinh mạng sống vì bằng hữu; còn tay phải chỉ Sự Hưởng Phước Chúa mà Người vốn hứa hẹn cho những kẻ thuộc về Người, và niềm vui khoái họ được hưởng trước nhan Người. Thánh vịnh gia say sưa ca hát ‘Bên tay hữu Ngài, mãi mãi có vui khoái’ (Tv 16:11): do đó, ta hoàn toàn có lý khi giải thích tay phải như niềm vui thần thánh và thần hóa của thánh nhan Người.

Và quả cũng đúng khi ta coi tình yêu diệu kỳ và đời đời đáng ghi nhớ như biểu tượng của tay trái Người, mà trên đó, cô dâu đặt đầu mình lên cho tới khi mọi tội lệ đều tiêu tan: vì Người nâng đỡ các mục tiêu của tâm trí Cô, kẻo chúng quay về với những thèm khát trần gian, xác thịt. Vì xác thịt luôn gây chiến với tinh thần: ‘Thân xác dễ hư nát này khiến linh hồn ra nặng, cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống’ (Kn 9:15). Hậu quả từ việc chiêm ngắm một tình xót thương diệu kỳ và bất tương xứng như thế, một hồng ân nhưng không và được chứng thực đến thế, một lòng tốt bất ngờ như thế, một lượng khoan hồng không ai sánh nổi như thế, một ơn thánh đáng ca ngợi như thế còn có thể nào khác hơn là linh hồn phải xa lánh mọi quyến luyến tội lỗi, khước từ mọi điều không nhất quán với tình yêu Chúa, và hoàn toàn dấn thân cho mọi sự trên thiên đàng? Không lạ gì Cô Dâu, vì ngửi được mùi thơm của hương hoa này, đã vội vàng chạy tới, lòng rực lửa yêu thương, nhưng vẫn cho là mình chưa yêu đủ, để đáp trả tình yêu Chàng Rể. Và quả thật như thế, vì không còn gì vĩ đại hơn khi hạt bụi nhỏ được thiêu đốt bằng tình yêu của Đấng Uy Nghi, Đấng đã yêu nó trước và đã tự tỏ mình ra như Đấng hoàn toàn hạ mình xuống để cứu vớt nó. Vì ‘Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của mình, để bất cứ ai tin vào Người sẽ không phải chết nhưng sẽ sống đời đời’ (Ga 3:16). Điều ấy cho thấy rõ tình yêu của Chúa Cha. Còn về Chúa Con thì có lời chép rằng ‘Người đã hiến thân chịu chết’ (Is 53:12). Về Chúa Thánh Thần, Sách Thánh nói rằng ‘Đấng An Ủi, vốn là Thánh Thần, Đấng mà Chúa Cha sẽ sai đến vì danh Ta, Người sẽ dạy các con mọi sự, và giúp các con nhớ lại mọi điều Thầy đã dạy các con’ (Ga 14:26). Do đó, rõ ràng Thiên Chúa yêu ta, và Người yêu ta với hết tâm hồn của Người; vì cả Ba Ngôi đều yêu thương ta, nếu ta dám nói như thế về Đấng Thiên Chúa vô cùng và khôn hiểu, Đấng Thiên Chúa duy nhất từ trong bản tính.

Chương V: Người Kitô hữu mắc nợ yêu thương, nợ này lớn xiết bao

Suy niệm những điều trên đây, ta thấy rõ Thiên Chúa phải được yêu mến và Người chính đáng được quyền đòi ta phải yêu mến Người. Nhưng người không tin không nhìn nhận Con Thiên Chúa, và do đó, không biết cả Chúa Cha lẫn Chúa Thánh Thần; vì không tôn kính Chúa Con, nên họ không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai Người, cũng không tôn kính Chúa Thánh Thần mà chính Người đã sai tới (Ga 5:23). Họ biết Thiên Chúa ít hơn ta; không lạ gì họ yêu mền Chúa ít hơn. Tuy nhiên điều này thì chí ít họ cũng phải hiểu: mọi sự họ có, họ đều nợ của Đấng Dựng Nên họ. Thế còn tôi thì sao? Tôi, thì tôi biết rằng Thiên Chúa của tôi không phải chỉ là Đấng ban phát hậu hĩnh sự sống tôi, Đấng rộng lòng chu cấp mọi nhu cầu của tôi, Đấng an ủi mọi buồn phiền của tôi, Đấng khôn ngoan dẫn dắt đường tôi đi: mà Người còn nhiều hơn thế nữa. Người cứu vớt tôi bằng một cứu thoát dư đầy: Người là Đấng gìn giữ tôi đời đời, là phần gia nghiệp của tôi, là vinh quang của tôi. Dù sao, đã có lời chép rằng ‘Ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa’ (Tv 130:7); và ‘Người vào cung thánh một lần thôi, mà đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta’ (Dt 9:12). Về ơn cứu chuộc của Người, đã có lời chép rằng ‘Người chẳng bỏ rơi kẻ chính trực, họ sẽ được gìn giữ muôn đời’ (Tv 37:28); còn về tính hào phóng của Người ‘Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em’ (Lc 6:38); và ở một chỗ khác, ‘Điều mắt chưa hề thấy tai chưa hề nghe, lòng người chưa hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người’ (1Cor 2:9). Người sẽ vinh danh ta, cả Thánh Tông Đồ cũng đã làm chứng điều ấy khi viết rằng ‘Ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô, Cứu Chúa của ta, Đấng sẽ dùng quyền năng mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người’ (Pl 3:20-21); và ở nơi khác, ‘Tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta’(Rm 8:18); còn câu này nữa, ‘Một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời. Vì thế, chúng ta mới không chú tâm đến những sự vật hữu hình, nhưng đến những sự vật vô hình’ (2Cor 4:17-18).

‘Tôi biết lấy gì đền đáp Chúa vì mọi ơn phúc Người dành cho tôi?’ (Tv 116:12). Lý trí và cả lẽ công bình tự nhiên thúc đẩy tôi tự hiến hoàn toàn để yêu mến Đấng tôi mang nợ mọi sự, cả những điều tôi có lẫn những điều tôi là. Nhưng đức tin cho tôi hay: tôi phải yêu mến Người hơn tôi yêu mình nhiều lắm, vì tôi đã hiểu ra rằng Người đã cho tôi không chỉ sự sống của tôi, mà còn là chính Người nữa. Ấy thế nhưng, trước thời mạc khải viên mãn, trước khi Ngôi Lời nhập thể, chết trên Thánh Giá, trỗi dậy từ trong mồ, và trở về với Chúa Cha; trước khi Thiên Chúa cho ta hay Người yêu thương ta biết bao bằng dư đầy ơn thánh, lệnh truyền này đã được ban ra, ‘Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết tâm hồn ngươi, hết linh hồn ngươi, và hết sức ngươi’ (Đnl 6:5), nghĩa là hết con người ngươi, hết nhận thức ngươi, hết sức lực ngươi. Và chả có chi là bất công khi Chúa đòi hỏi như thế từ công trình và quà phúc của Người. Làm thế nào tạo vật lại không yêu mến Đấng tạo ra mình, Đấng đã cho mình khả năng yêu mến? Làm thế nào nó lại không yêu Người với hết con người của nó, vì chỉ nhờ quà phúc của Người, nó mới làm được bất cứ điều tốt nào? Chính ơn thánh sáng tạo đã từ không nâng ta lên hàng nhân tính; và từ đó phát khởi bổn phận ta phải yêu mến Người, và lẽ công bình Người có quyền đòi ta yêu mến Người. Nhưng ơn phúc của Người gia tăng vô hạn biết dường nào khi ta nghĩ tới việc Người hoàn tất các lời hứa, ‘Lạy Chúa, Chúa cứu vớt cả con người lẫn thú vật, tình thương Ngài cao ngất trời xanh’ (Tv 36:6). Trong khi chúng ta, những kẻ ‘đổi Chúa vinh quang lấy hình bò ăn cỏ’ (Tv 106:20), bằng các hành động xấu xa, đã hạ giá mình xuống hàng thú vật hư nát. Tôi mang nợ Người, Đấng đã dựng nên tôi: nhưng làm sao trả được nợ Người, Đấng đã cứu chuộc tôi một cách tuyệt diệu như thế? Sáng thế không phải là công trình bao la như cứu thế; vì, về con người và các tạo vật được dựng nên, Sách Thánh chỉ nói ‘Người phán một lời, chúng liền được tạo nên’ (Tv 148:5). Nhưng để cứu chuộc tạo dựng vốn phát sinh từ lời nói của Người ấy, Người đã nói nhiều hơn biết bao, đã làm những điều kỳ diệu như thế nào, đã phải chịu bao nhiêu gian khổ, đã phải kinh qua bao nhiêu nhục nhã! Bởi thế, tôi phải đền trả Chúa thế nào vì mọi ơn phúc Người đã làm cho tôi? Trong sáng thế đầu, Người ban cho tôi chính tôi; trong sáng thế mới, Người ban cho tôi chính Người, và qua quà phúc ấy, Người tái tạo cho tôi chính cái tôi đã bị tôi làm hư mất. Được tạo dựng rồi được tái tạo, để đền trả, tôi mang nợ Người đến hai lần. Nhưng tôi biết lấy gì dâng cho Người vì quà phúc Người ban chính Người cho tôi? Nhân thừa tôi lên ngàn lần để dâng lên Người có thể nào so sánh được với ơn của Người hay không?

Chương VI: Tóm tắt

Ngài phải công nhận rằng Thiên Chúa đáng được ta yêu mến rất nhiều, vô hạn thì đúng hơn, vì Người là Đấng đã yêu thương ta trước; Người, Đấng vô hạn, còn ta hư không, đã yêu thương ta, những kẻ khốn cùng tội lỗi, yêu ta với một tình yêu vĩ đại và không giới hạn biết dường nào. Chính vì thế con đã thưa ngay từ đầu rằng mức độ ta yêu Chúa không thể cân đo đong đếm được. Vì tình yêu của ta hướng về Chúa, là Đấng vô hạn vô lượng, thì làm sao ta giới hạn được tình yêu ấy? Đàng khác, tình yêu của ta không phải là một món quà mà là một món nợ. Và vì chính Thiên Chúa yêu thương ta, Người vốn là tình yêu vô hạn, trường cửu và tối cao, sự vĩ đại của Người không cùng, đúng thế, và sự khôn ngoan của Người vô hạn, bình an của Người không ai hiểu thấu; thử hỏi, vì Người là Đấng yêu ta, liệu ta có dám nghĩ đến việc trả ơn Người một cách miễn cưỡng được chăng? ‘Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con; lạy Chúa, là núi đá, thành lũy, là Đấng giải thoát con, là sức mạnh cho con tín thác’ (Tv 18, 1 và tiếp theo). Người là tất cả những gì con cần tới, con mong đợi. Lạy Thiên Chúa và là Đấng phù trợ con, con yêu mến Ngài vì Ngài hết sức tốt lành; chắc chắn không hết sức con, nhưng con yêu Chúa bao nhiêu có thể. Con không thể yêu Chúa như Chúa đáng được, vì con không thể yêu Chúa nhiều hơn mức độ được sự yếu đuối của con cho phép. Con sẽ yêu Chúa nhiều hơn khi Chúa thấy con xứng đáng lãnh nhận khả năng yêu thương lớn hơn; tuy nhiên con vẫn không bao giờ yêu Chúa cách hoàn toàn như Chúa đáng được. ‘Mắt Ngài đã thấy xương tủy con, lúc nó chưa hoàn tất; và trong sổ sách Ngài, mọi chi thể của con đều đã được ghi chép’ (Tv 139: 16). Ấy thế nhưng trong sách ấy, Chúa chỉ ghi mọi người làm điều họ có thể làm, dù họ không thể làm điều họ phải làm. Chắc chắn con đã nói đủ để chứng tỏ rằng ta phải yêu Chúa thế nào và tại sao phải yêu Người. Nhưng ai là người cảm nhận được, biết được và nói lên được ta phải yêu Chúa bao nhiêu?

Chương VII: Yêu Chúa không phải là không có phần thưởng: và những sự trần thế không thể thoả mãn được sự đói khát trong tâm hồn con người

Bây giờ ta hãy xét xem ta được ích lợi gì khi yêu mến Chúa. Dù sự hiểu biết của ta về việc này rất bất toàn, nhưng biết vẫn hơn là không biết. Khi nói tới vấn đề do đâu phải yêu Chúa và phải yêu Chúa thế nào, con đã thưa rằng có hai lý do buộc ta: đó là quyền của Người và ích lợi của ta. Sau khi dùng hết khả năng, dù là khả năng hết sức bất toàn, để viết về quyền được yêu của Chúa, con có bổn phận đề cập tới phần thưởng do tình yêu ấy đem lại. Dù phải yêu Chúa mà không cần phần thưởng, nhưng Người vẫn không chịu để tình yêu kia không đem lại tưởng thưởng nào. Thật vậy, tình yêu không thể chịu bần cùng, dù tình yêu vốn vị tha và không bao giờ tìm tư lợi (1Cor 13:5). Tình yêu là sự âu yếm của linh hồn, chứ không phải một khế ước: nó không phát xuất từ một thỏa hiệp đơn thuần, cũng không là điều người ta giành giật được. Nó tự phát từ cội rễ và là một thúc đẩy từ bên trong; và tình yêu thật thoả mãn chính nó. Nó có phần thưởng của nó; và phần thưởng đó chính là người yêu đối tượng. Vì bất cứ ngài yêu gì, nếu là vì một điều gì khác, thì điều ngài thực sự yêu chính là điều gì khác đó, chứ không hẳn đối tượng bề ngoài. Thánh Phaolô không rao giảng Tin Mừng để kiếm cơm áo; ngài ăn uống để đủ sức thi hành thừa tác vụ. Điều ngài yêu không phải là cơm áo, mà là Tin Mừng. Tình yêu thật không đòi phần thưởng, nhưng đáng được thưởng. Chắc chắn không ai trả tiền để được tình yêu; ấy thế nhưng một tưởng thưởng nào đó vẫn có đó cho người yêu, và nếu tình yêu của họ bền vững, chắc chắn họ sẽ nhận được phần thưởng đó.


Trên một bình diện hành động thấp hơn, chính những người miễn cưỡng, chứ không hẳn những người sốt sắng, là người ta muốn được khuyến khích bằng lời hứa ban thưởng. Chứ có ai lại tính đến việc trả công cho người tha thiết muốn làm một điều gì đó? Thí dụ, không ai lại đi thuê một người đói để họ ăn, hay một người khát để họ uống, hay một bà mẹ để bà nuôi dưỡng con ruột bà. Đâu có ai nghĩ tới việc đút tiền hối lộ để một nông dân vun sới vườn nho của ông ta, hay đào rãnh quanh vườn trái cây của ông ta, hay tái thiết chính căn nhà của ông ta? Thành thử, người yêu mến Chúa thực sự càng không đòi hỏi bất cứ phần thưởng nào khác ngoài chính Thiên Chúa; vì nếu họ đòi bất cứ điều gì khác thế thì họ yêu điều đó chứ đâu có yêu Thiên Chúa.

Đối với một con người, điều tự nhiên là ước muốn điều họ cho là tốt hơn điều họ đã có, và không thỏa mãn với bất cứ điều gì thiếu cái điểm đặc biệt mà họ đang mong muốn. Do đó, nếu anh ta chỉ yêu vợ vì sắc đẹp của nàng, thì chắc chắn anh ta sẽ dõi đôi mắt thèm thuồng của anh ta vào những người đàn bà đẹp hơn. Nếu anh ta ăn vận bảnh bao, anh ta hẳn phải thèm thuồng những quần là áo lượt mắc tiền hơn; và bất kể anh ta giầu có đến đâu, chắc chắn anh ta ghen tị bất cứ ai giầu có hơn anh. Hàng ngày, há ta không thấy nhiều người dù đã nứt đố đổ vách, vẫn cứ tiếp tục thu mua hết cánh đồng này đến cánh đồng khác, mong sao cho đất đai của mình trải ra vô tận đó sao? Người sống trong cung điện mỗi ngày mỗi tậu thêm nhà, hết xây lại phá, đổi kiểu, thay mẫu. Người có địa vị cao lúc nào cũng tham vọng vô đáy giành giật cho được những địa vị béo bở hơn. Và chẳng nơi nào có thỏa mãn sau cùng, vì chẳng có điều gì ở đó được tuyệt đối coi là tốt nhất hay cao nhất. Nhưng theo lẽ tự nhiên, không điều gì thỏa mãn được trái tim con người nếu đó không phải là điều tốt nhất, theo nhận định của anh ta. Như thế, há chẳng luôn luôn điên rồ hay sao khi thèm muốn những điều không bao giờ làm yên được các mong muốn của ta, nói chi đến việc thoả mãn chúng? Bất kẻ người ta có bao nhiêu điều vừa kể, họ vẫn luôn thèm khát chạy theo những điều họ chưa có; không bao giờ được thanh thản, họ thèm thuồng chạy theo những của cải mới. Vì không hài lòng, họ lao mình vào những khó nhọc vô ích, và chỉ tìm được mệt mỏi chán chường trong các thú vui mau qua và không thực của thế gian. Vì quá tham lam, họ coi những gì đã thu tích được như không so với những gì hiện còn vượt quá tầm tay của họ, và mất hết vui thích đối với của cải hiện có vì quá thèm thuồng những điều mình chưa có, nhưng vẫn ham muốn. Từ trước đến nay, không một ai có hy vọng sở hữu được mọi sự. Ngay những điều ít ỏi đang có, người ta cũng đã phải cực nhọc lắm mới có được, và có được rồi thì lo canh giữ; vì ai cũng biết chắc mình sẽ mất mọi điều mình có khi ngày của Chúa xuất hiện là ngày đã được định rồi nhưng chưa được tiết lộ. Nhưng kẻ hư đốn thì vẫn đấu tranh giành cho được điều tốt tột cùng bằng các thủ đoạn xấu xa, vì mong được thỏa mãn, nhưng thực ra bị phù vân lôi kéo và ác tính lừa đảo. Ôi, nếu muốn thỏa mãn mọi thèm muốn, đến nỗi không chừa một điều nào, thì sao bạn lại bận bịu đến mệt lả vì những cố gắng vô ích, chạy đôn chạy đáo, chỉ để phải chết trước khi đạt được mục tiêu ấy?

Do đó, những người vô đạo nói trên quả đang luẩn quẩn trong một vòng tròn, ước ao điều gì đó có thể thỏa mãn các thèm khát của mình, nhưng lại bác bỏ chính điều mà chỉ có nó mới đem họ tới cùng đích mong muốn, không phải nhờ mệt mỏi mà nhờ thành quả. Họ làm họ mệt nhoài vì các cố gắng vô ích, mà không đạt được hạnh phúc mong muốn sau cùng, vì họ tìm kiếm hạnh phúc nơi tạo vật, chứ không tìm kiếm nó nơi Thiên Chúa. Họ muốn rảo qua khắp tạo dựng, lần lượt nếm thử hết điều này tới điều nọ, hơn là nghĩ đến việc tới với Đấng vốn là Chúa Tể mọi sự. Và cho dù thèm khát tối hậu của họ có được thể hiện đi chăng nữa, nhưng nếu không có được Đấng mà chỉ có Người mới tạo ra mọi hữu thể, thì họ vẫn nằm trong qui luật cũ là các thèm muốn của họ sẽ khiến họ khinh miệt những gì họ đã có và sẽ khôn nguôi đi tìm Đấng mà họ vẫn còn thiếu, tức chính Thiên Chúa. An nghỉ chỉ có ở trong Người. Con người không tìm được bình an ở đâu khác trên thế gian; nhưng sẽ thấy mình an ổn khi ở với Thiên Chúa. Bởi thế linh hồn vốn tự nhủ một cách vững tin ‘Trên thiên đàng, con còn có ai ngoài Chúa; còn trên dương thế, không còn ai con mong muốn cho bằng Chúa. Thiên Chúa là sức mạnh của lòng con, là phần gia nghiệp đời đời của con. Thật tốt cho con được gần Thiên Chúa, được tín thác nơi Người’ (Tv 73: 25 và tiếp theo). Như thế, nhờ cả cách này, người ta có thể vươn tới Thiên Chúa, chỉ có điều là họ cần có đủ thì giờ để nếm thử mọi điều tốt ít có giá trị hơn.

Nhưng đời sống lại quá ngắn ngủi, sức ta dễ cùng kiệt và ta có quá nhiều kẻ mưu tranh, nên đường hướng trên khó có thể thực tiễn. Người ta không thể đạt cùng đích, dù họ mệt nhoài với những cố gắng lâu dài và những khổ nhọc vô ích để thử nghiệm bất cứ điều gì tỏ ra đáng ước ao. Có lẽ, tưởng tượng đến cố gắng ấy dễ dàng và tươi đẹp hơn là thử nghiệm nó. Vì tâm trí bao giờ cũng làm việc lanh lẹ và phân biệt được sự vật sắc bén hơn các giác quan thân xác, nên trong lãnh vực này, nó có thể đi trước các cảm xúc của giác quan đến nỗi các giác quan có thể không thấy bất cứ những gì tâm trí thấy là vô giá trị. Chính Sách Thánh cũng từng viết: ‘hãy thử nghiệm mọi sự: nhưng hãy chỉ giữ lại những điều tốt’ (1Tx 5:21). Điều này có nghĩa: sự phán đoán đúng phải dọn đường cho tâm hồn. Nếu không, ta khó có thể lên được núi Chúa cũng như lên được nơi thánh của Người (Tv 24:3). Ta sẽ không được bất cứ lợi ích nào khi sở hữu một tâm trí thuận lý nhưng lại tuân theo các xung động của giác quan như loài thú vật thô bạo, không đếm xỉa gì tới lý trí. Những ai không được lý trí hướng dẫn đường đi nước bước của mình, tuy có chạy thật đấy nhưng chạy ở đường đua không đúng chỉ định, quên khuấy lời dạy của Thánh Tông Đồ ‘chạy sao cho thắng cuộc’. Vì làm sao thắng được cuộc khi người ta đặt nó ở cuối cùng các cố gắng của mình và chạy theo những điều khác.

Đối với người công chính, sự việc không như thế. Họ nhớ rất kỹ lời kết án được ngỏ cho những người chạy theo phù vân: chúng như người đi đường thênh thang nhưng là đường dẫn đến diệt vong (Mt 7:13); còn người công chính thì chọn đường Đức Vua, không quay trái không quay phải (Ds 20:17), như đấng tiên tri từng nói ‘đường của người công chính là sự chính trực’ (Is 26:7). Được lời dạy dỗ khôn ngoan, họ tránh con đường hiểm họa, và để ý tới hướng có thể cắt ngắn hành trình, dẹp bỏ mọi ham muốn và tuân theo lệnh bán hết những gì mình có mà cho người nghèo (Mt 19:21). Quả thực, phúc thay người nghèo khó vì Nước Trời là của họ (Mt 5:3). Mọi người chạy trong cuộc đua đều chạy cả, nhưng nổi bật chỉ dành cho những người chịu đua. ‘Chúa che chở đường đi của người chính trực: còn đường đi của kẻ bất lương sẽ diệt vong’ (Tv 1:6). ‘Cái ít ỏi của người công chính vẫn tốt hơn kho lẫm vĩ đại của kẻ bất lương’ (Tv 37:16). Như Giảng Viên đã nói và chính kẻ dại khờ cũng đã khám phá ra, ‘kẻ yêu bạc chả bao giờ được bạc làm cho thỏa mãn’ (Gv 5:10). Còn Chúa Giêsu thì nói ‘Phúc thay người đói khát sự công chính, vì họ sẽ được no thoả’ (Mt 5:6). Sự chính trực là lương thực tự nhiên và chủ yếu của linh hồn. Nó không thỏa mãn với của cải trần gian như thân xác được thỏa mãn với không khí. Nếu bạn gặp một người đói lả đứng đó miệng há hốc đón gió, mải mê hít những làn không khí với hy vọng làm nguôi được cơn đói, hẳn bạn cho anh ta là thằng khùng. Nhưng nếu tưởng tượng rằng linh hồn có thể được thỏa mãn với những sự vật trần gian là những thứ chỉ thổi phồng ta chứ đâu có nuôi sống ta, thì cũng đâu có khôn gì hơn. Các hồng phúc thiêng liêng có liên quan gì tới các thèm muốn xác thịt, hay những điều xác thịt có liên quan gì tới các điều thiêng liêng? Hãy ca ngợi Chúa, hỡi hồn ta ơi: còn ai có thể thoả mãn miệng ta với những điều tốt lành? (Tv 103: 1 tt). Người ban thưởng ta một cách vô lượng; Người thúc đẩy ta làm việc lành, Người gìn giữ ta trong lòng tốt; Người ngăn ngừa, nâng đỡ, ban đầy ơn cho ta. Người thúc đẩy ta thèm khát và thèm khát chính Người.

Con vừa thưa rằng động lực yêu Chúa là chính Chúa. Và đúng như thế, vì Người vừa là nguyên nhân hữu hiệu vừa là đối tượng cuối cùng của tình yêu ta. Người ban cho ta cơ hội yêu thương, Người tạo ra âu yếm gắn bó, Người làm cho ước muốn có hiệu lực tốt đẹp. Người là Đấng khiến lòng yêu mến Người trở thành một nhiệm vụ tự nhiên; và do đó, lòng hy vọng nơi Người cũng trở nên tự nhiên vì tình yêu hiện nay của ta sẽ vô ích nếu ta không hy vọng một ngày nào đó sẽ yêu Người cách trọn vẹn. Tình yêu của ta được tình yêu của Người chuẩn bị và tưởng thưởng. Người yêu ta trước, chỉ vì quá âu yếm ta mà thôi; nên ta buộc phải đền trả Người bằng tình yêu; và ta được phép trân quí các niềm hy vọng vào Người do tình yêu ấy. ‘Người quảng đại đối với tất cả những ai kêu cầu Người’ (Rm 10:12), nhưng Người không có quà phúc nào tốt hơn để dành cho họ ngoại trừ chính Người. Người tự ban Người làm phần thưởng và tưởng thưởng: Người giải khát linh hồn thánh thiện, chuộc tự do cho những ai bị cầm tù. ‘Chúa xử tốt với những ai tin cậy Người’ (Ai Ca 3:25). Thế, Người đối xử ra sao với những người đã được hưởng thánh nhan Người? Ở đây, ta thấy có sự nghịch lý: không ai tìm kiếm Chúa mà lại đã không tìm ra Người rồi. Vâng lạy Chúa, chúng con phải thấy ý Chúa để đi tìm Chúa, phải đi tìm Chúa để được thực sự thấy Người hơn. Nhưng dù chúng con có thể tìm và thấy Chúa, nhưng chúng con đâu có thể ngăn chặn được Chúa (hành động). Vì dù chúng con có nói ‘sớm mai lời cầu của con đã bay lên Chúa’ (Tv 88:13), nhưng mọi lời cầu chắc chắn sẽ lạnh nhạt trừ khi được Chúa linh hứng đánh động.


Thế là ta đã đề cập tới việc hoàn hợp tình yêu đối với Chúa: giờ đây ta nên xét xem tình yêu khởi đầu từ đâu.

Chương VIII: Mức độ thứ nhất của tình yêu: con người yêu mến Thiên Chúa là vì chính mình

Tình yêu là một trong bốn tình âu yếm tự nhiên mà ta không cần phải nêu tên vì mọi người đều biết các tên đó rồi. Và bởi vì tình yêu là tình tự nhiên, nên chỉ có thể đúng khi ta yêu Tác Giả của bản nhiên trước nhất. Chính vì thế mà có giới răn đầu tiên và là giới răn vĩ đại ‘Ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi’. Nhưng bản nhiên vốn mảnh khảnh yếu đuối đến nỗi lẽ tất yếu buộc nó yêu nó đầu tiên; và tình yêu này là tình yêu xác thịt, qua đó, con người yêu mình trước nhất và yêu một cách vị kỷ, như có lời chép, ‘Loài xuất hiện trước không phải là loài có thần khí, nhưng là loài có sinh khí; loài thần khí xuất hiện sau đó’ (1Cor 15:46). Đây không hẳn là lời truyền của điều răn mà là lời điều hướng của bản nhiên ‘Chưa bao giờ có người lại ghét thân xác mình’ (Eph 5:29). Nhưng nếu tình yêu thân xác mình này trở thành quá trớn, một điều rất có thể xẩy ra, và không chịu tự giới hạn ở bờ cừ tất yếu, mà tràn qua lãnh vực khêu gợi nhục thân, thì phải có giới răn sau để cản cơn lũ, như thể một bờ đê: ‘Ngươi phải yêu người lân cận như chính ngươi’. Điều này quả rất đúng: vì người có cùng một bản nhiên với ta phải có chung một tình yêu với ta, tình yêu này vốn là kết quả của bản nhiên. Bởi thế, nếu có ai coi điều này như một gánh nặng, con không chỉ nói tới các nhu cầu của họ mà cả các vui thú của họ nữa, thì họ nên hãm dẹp các tình cảm kia ngay trong họ kẻo sẽ trở thành kẻ phạm tội. Họ có thể tự trân quí mình cách âu yếm tùy ý, chỉ cần họ nhớ phải biểu lộ cùng một thái độ ấy đối với người lân cận. Hỡi con người, đó là sợi dây cương điều độ do luật sống và luật lương tâm áp đặt lên ngươi, kẻo ngươi thả mình theo khoái cảm riêng mà bị diệt vong hay trở thành nô lệ cho các đam mê ấy vốn là kẻ thù đối với hạnh phúc đích thực của ngươi. Chia sẻ các hân hoan vui hưởng với người lân cận ngươi vì thế tốt hơn là chia sẻ với kẻ thù ngươi nhiều. Còn nếu căn cứ vào lời khuyên của người con Sirach, ngươi không chạy theo các ham muốn riêng mà hãm xác khỏi các thèm muốn ấy (Huấn Ca 18:30); nếu dựa vào lời dạy của Thánh Tông Đồ mà người bằng lòng với thực phẩm và áo quần hiện có (1Tm 6:8), thì ngươi sẽ thấy việc từ bỏ các thèm khát xác thịt là việc dễ, chúng là kẻ thù chống lại linh hồn, và việc chia sẻ với người lân cận những gì ngươi đã từ chối đối với lòng thèm muốn của ngươi cũng sẽ dễ dàng. Đó chính là tình yêu điều độ và chính trực, nó sẽ giúp ta thực hành việc từ bỏ mình để phục vụ nhu cầu của anh em. Nhờ thế, tình yêu vị kỷ của ta sẽ có tính xã hội thực sự, nhờ bao hàm người lân cận vào thế giới của nó.

Và nếu ngươi có được lòng từ tâm ấy, thì sao? Còn sao nữa, nếu không phải là hết lòng tin tưởng cầu xin Đấng vốn ban phát cho mọi người một cách rộng rãi, không quở trách chút nào (Gc 1:5), Đấng luôn mở rộng bày tay và muôn sinh vật được tràn đầy thỏa thuê (Tv 145:16). Vì, Đấng từng ban cho mọi người nhiều hơn họ cần, chắc chắn sẽ không để ngươi phải thiếu những điều cần thiết cho sự sống của ngươi, chính Người đã phán ‘Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa, mọi sự khác sẽ được ban cho ngươi’ (Lc 12:31). Thiên Chúa tự ý hứa sẽ ban mọi sự cần thiết cho những ai biết quên mình vì tình yêu đối với người khác; biết mang ách nết na và điều độ, hơn là để tội lỗi thống trị trong thân xác hay chết của mình (Rm 6:12), nghĩa là chịu đi tìm Nước Thiên Chúa và khẩn khoản xin Người nâng đỡ chống lại ách bạo tàn của tội lỗi. Chia sẻ các hồng phúc tự nhiên của ta với những người có chung một bản nhiên với ta quả hợp lẽ công bằng.

Nhưng nếu ta có nhiệm vụ phải yêu người lân cận, thì ta cũng phải lưu tâm tới Chúa nữa: vì chỉ trong Chúa, ta mới trả được món nợ yêu thương một cách đích thực mà thôi. Nhưng người ta không thể yêu người lân cận trong Chúa, nếu họ không yêu chính Chúa; thành thử, ta phải yêu Chúa trước, mới có thể yêu người lân cận trong Người được. Giống mọi sự thiện khác, việc ta yêu Chúa cũng là việc Chúa làm, vì chính Người phú bẩm nơi ta khả thể yêu thương. Đấng dựng nên bản nhiên ta, cũng gìn giữ bản nhiên ấy; bản nhiên đã được thiết dựng theo phương án luôn cần đến Đấng tạo không nên vênh vang tự gán cho ta lòng từ tâm của chính Đấng dựng nên ta. Trong sự khôn ngoan tuyệt vời của Người, Thiên Chúa muốn ta phải chịu gian nan thử thách. Nên, lúc sức mạnh của con người suy yếu và Thiên Chúa tới trợ giúp họ, thì điều chính đáng và phải lẽ là vì được bàn tay Chúa cứu giúp nhứ thế, họ phải vinh danh Người, như lời Sách Thánh dạy ‘Hãy kêu cầu Ta trong ngày cùng khốn, Ta sẽ giải thoát, và ngươi sẽ làm hiển vinh danh Ta’ (Tv 50:15). Cứ thế, người khôn ngoan, tự bản chất vốn là thú vật và xác thịt và chỉ yêu chính mình, nay đã bắt đầu yêu mến Chúa nhờ cái lòng yêu mình kia; vì họ hiểu ra rằng chỉ trong Chúa họ mới làm được bất cứ điều tốt nào; còn nếu không có Chúa, họ không làm được gì cả.

Chương IX: Mức độ thứ hai và thứ ba của tình yêu

Tóm lại, thoạt đầu, con người yêu mến Chúa không phải vì Chúa mà là vì chính họ. Điều con người cần biết là: tự họ, họ làm được ít ỏi như thế nào và họ cần Chúa giúp đỡ xiết bao, và nhờ biết như thế, họ sẽ hướng về Chúa một cách đúng đắn, vì Người là sự nâng đỡ của họ. Nhưng lúc khốn cùng xẩy ra liên tiếp, buộc họ phải chạy tới xin Người trợ giúp một cách chắc chắn, liệu một tâm hồn cứng như sắt, lạnh như đá đi chăng nữa há lại không mềm nhũn trước lòng tốt của Đấng Cứu Vớt, đến độ phải yêu mến Người một cách không vị kỷ nhưng hoàn toàn vì Người mà thôi hay sao? Hãy để các khốn khó thường xuyên thúc đẩy ta năng lui tới khẩn cầu tha thiết; và nhờ nếm mùi (tốt lành của Chúa), chắc chắn ta sẽ thấy Chúa nhân từ dường nào (Tv 34:8). Bởi thế, một khi được hiểu rõ, lòng nhân hậu của Người sẽ thúc đẩy ta yêu mến Người cách vô vị kỷ, chứ riêng các nhu cầu của ta chỉ buộc ta yêu Người cách vị kỷ mà thôi. Như dân làng Samaria từng nói với người phụ nữ về báo cho họ hay Đấng Kitô hiện đang ở ngoài giếng ‘Bây giờ chúng tôi tin, không phải vì lời chị nói, bởi chúng tôi đã được nghe chính lời Người và biết rõ Người quả là Đấng Kitô, Đấng Cứu Thế’ (Ga 4:42). Chúng ta cũng thế, chúng ta cũng làm chứng cho bản nhiên nhục thân của ta rằng ‘Ta không còn yêu mến Chúa vì các nhu cầu của ta nữa, mà vì đã nếm và đã thấy Chúa nhân hậu xiết bao’. Các nhu cầu tạm bợ của ta cũng có ngôn từ riêng của chúng, biết tuyên xưng các ơn phúc chúng nhận được từ lòng tốt của Chúa. Một khi nhận ra như thế, thì việc thực thi tình yêu đối với người lân cận không còn khó khắn nữa; vì bất cứ ai khi đã yêu Chúa một cách đúng đắn cũng đều yêu mọi tạo vật của Người. Tình yêu ấy trong trắng và không còn thấy chi nặng nề trong giới răn phải tẩy rửa tâm hồn, phải nhờ Chúa Thánh Thần mà vâng theo sự thật là yêu anh em cách thành thật (1Pr 1:22). Nhờ yêu mến thích đáng, họ coi giới răn ấy hoàn toàn chính đáng. Tình yêu như thế đáng được biết ơn, vì nó tự phát; trong trắng, vì nó không được biểu lộ bằng lời nói hay miệng lưỡi mà bằng việc làm và bằng sự thật (1 Ga 3:18); công chính, vì nó trả lại những gì đã nhận lãnh. Ai yêu mến cách đó, tức yêu như mình được yêu, và không còn tìm kiếm bản thân mình mà là những sự việc của Chúa Kitô, là giống như Chúa Giêsu. Người không tìm kiếm lợi ích của riêng Người mà là lợi ích của ta, hay chính chúng ta. Tình yêu như thế là tình yêu của Thánh Vịnh Gia khi ngài hát ‘Ôi, hãy tạ ơn Chúa vì Người nhân lành’ (Tv 118:1). Bất cứ ai ca tụng Thiên Chúa vì lòng từ nhân từ trong bản tính của Người, chứ không phải chỉ vì các ơn phúc Người ban cho, đều đã thực sự yêu mến Thiên Chúa vì chính Người, chứ không yêu Người cách vị kỷ. Thánh Vịnh Gia không nói tới thứ tình yêu ấy khi viết ‘Mình tự làm nên, thiên hạ tán dương mình’ (Tv 49:19). Như ta đã thấy, mức độ thứ ba của tình yêu là yêu mến Chúa vì chính Người, chỉ vì Người là Chúa.

Chương X: Mức độ thứ tư của tình yêu: vì Chúa, con người quên cả mình

Hạnh phúc thay ai đạt tới mức độ thứ tư của tình yêu, trong đó, họ chỉ yêu họ trong Thiên Chúa! Sự chính trực của Chúa, lạy Chúa, cao như thái sơn. Tình yêu như thế là đồi cao của Chúa, nơi Người thích đến ngụ cư. ‘Ai sẽ lên đồi của Chúa?’. ‘Ôi, ước chi tôi có cánh như bồ câu; vì lúc ấy tôi sẽ bay đến chỗ thảnh thơi’. ‘Lều của Người đặt tại Salem; nơi cư trú của Người đặt tại Sion’. ‘Khốn cho tôi, tôi buộc phải cư ngụ với bọn rợ Me-séc!’ (Tv 24:3; 55:6; 76:2; 120:5). Đến khi nào, cái nhục thân máu huyết này, cái bình bằng đất vốn là căn lều của linh hồn tôi này, tới được bến bờ kia? Đến khi nào, linh hồn tôi vì say mê tình yêu Chúa đến quên mình này, vâng gần như một chiếc bình vỡ, hoàn toàn khát mong Chúa, được kết hợp với Người và trở thành một thần trí với Người? Đến khi nào nó biết la lên ‘Xác thịt và tâm hồn tôi suy tàn; nhưng Chúa vẫn là sức mạnh của tâm hồn tôi và là gia nghiệp của tôi’ (Tv 73:26). Tôi kể Người là Đấng phúc đức và thánh thiện, Đấng đã ban cho tôi lòng say mê đối với Người kia trong cõi hồng trần này, vì tấm tình khiến tôi một lúc thấy mình như không còn, như hoàn toàn trống rỗng và được cuốn hút hoàn toàn vào Chúa ấy không thể là tấm tình nhân giới; nó phải là tấm tình thiên giới. Nhưng đôi khi, con người khốn khổ chỉ cảm thấy niềm say mê thiên giới trong một khoảnh khắc rồi bị đời tục lụy ganh ghét hạnh phúc, cái xấu xa của những lo toan vụn vặt hàng ngày làm họ sao lãng, thân xác hay chết đè nặng trên họ, nhu cầu xác thịt trở thành mệnh lệnh, sự yếu đuối của sa đọa làm họ lùi bước, và trên hết, tình yêu huynh đệ bị xâm phạm. Những lúc như thế, họ nghe như có tiếng nói thúc giục họ co cụm trở lại với chính con người của họ; hẳn lúc ấy, họ sẽ phải kêu lên ‘Lạy Chúa, sức con nay đã kiệt, xin Ngài thương cứu giúp’ (Is 38:14); và câu này nữa ‘Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?’ (Rm 7:24).

Hiểu được lời Sách Thánh rằng ‘Chúa làm nên mọi sự vì vinh quang của Người’ (Is 43:7), chắc chắn các thụ tạo của Người phải suy phục thánh ý Người, bao nhiêu có thể. Ta phải qui hướng mọi tình âu yếm của ta vào Người, để trong mọi sự, ta chỉ tìm cách thực thi thánh ý Người mà thôi, chứ không tìm cách làm vừa lòng ta. Lúc ấy, tình yêu chân thực sẽ xuất hiện, không phải để thỏa mãn các thèm muốn của ta hay nhận được các khoái cảm nhất thời, mà là để hoàn tất thánh ý Chúa đối với ta: như ta cầu nguyện hàng ngày ‘Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời’ (Mt 6:10). Ôi tình yêu khiết tịnh và thánh thiện! Ôi tình âu yếm dịu dàng và nhân hậu! Ôi mục tiêu tinh trong và thanh sạch, hoàn toàn được tắm gội và rửa sạch mọi pha tạp của vị kỷ, được trở nên dịu ngọt nhờ được tiếp xúc với thiên ý! Đạt được trạng thái này là trở nên như Thiên Chúa. Như giọt nước pha vào rượu sẽ mất đi để nhận lấy mầu và vị của nho; hay như thỏi sắt, được nung đỏ, đã trở nên như chính lửa, quên hết bản chất của chính mình; hay như không khí, được tia sáng mặt trời soi thấu, không còn là vật được soi sáng mà đã trở nên chính ánh sáng; cũng thế, nơi các thánh, mọi tình âu yếm nhân bản đều tan chẩy bởi một chuyển hóa khôn tả thành chính thánh ý Chúa. Vì làm sao Chúa có thể là tất cả trong tất cả, nếu có bất cứ điều gì hoàn toàn nhân bản còn sót lại trong con người? Bản chất vẫn sẽ tồn tại, nhưng tồn tại trong một cái đẹp khác, trong một quyền năng cao hơn, trong một vinh quang lớn hơn. Khi nào việc ấy xẩy ra? Ai sẽ được thấy, ai sẽ chiếm hữu được nó? ‘Khi nào tôi được xuất hiện trước nhan Thiên Chúa?’ (Tv 42:2). ‘Nghĩ về Ngài, lòng con tự nhủ: hãy tìm kiếm Thánh Nhan. Lạy Chúa, con tìm Thánh Nhan Ngài’ (Tv 27:8). Lạy Chúa, Ngài có nghĩ rằng con, cả con nữa, cũng sẽ được thấy đền thánh của Ngài chăng?

Ở đời này, con nghĩ, ta không thể vâng theo một cách trọn vẹn và hoàn toàn giới răn này ‘Ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết trái tim, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi’ (Lc 10:27). Vì ở chốn này, trái tim vẫn phải nghĩ tới thân xác; linh hồn vẫn phải lên sinh lực cho thân xác; còn sức lực thì phải canh chừng để đừng bị tàn tật. Và nhờ ơn Chúa, nó phải tìm cách phát triển. Thành thử, người ta không thể dâng hết cả con người của họ cho Thiên Chúa, để khát khao mong hưởng Nhan Thánh Người, bao lâu ta còn phải thích ứng các mục tiêu và khát vọng của mình theo thân xác yếu ớt, bệnh hoạn này của ta. Tóm lại, linh hồn chỉ hy vọng chiếm được mức độ yêu Chúa thứ tư, hay đúng hơn, để mức độ này chiếm hữu, khi nó mặc được một thân xác thiêng liêng và bất tử, một thân xác sẽ hoàn hảo, bình an, đáng yêu, và qui phục hoàn toàn thần trí trong mọi sự. Nhưng không cố gắng phàm nhân nào tự mình đạt tới mức thứ tư này: tất cả là tùy quyền năng Chúa muốn ban cho ai thì ban. Lúc ấy, linh hồn sẽ dễ dàng vươn tới giai đoạn cao nhất ấy, vì không còn thèm khát nào của xác thịt làm chùn bước chân của nó tiến vào niềm vui của Chúa, và không một xáo trộn nào náo động được bình an của nó. Há ta không nghĩ được rằng các thánh tử đạo ít nhất cũng được hưởng ơn này trước khi các vị hy sinh thân xác vinh hiển hay sao? Cái sức mạnh khôn lường của tình yêu đang làm họ say sưa kia chắc chắn giúp họ mỉm cười trước nhục hình thân xác và phó mạng sống mình trong hân hoan. Nhưng dù không thể tiêu diệt được bình an trong tâm trí họ, cái đau khủng khiếp chắc chắn có làm hư hại phần nào sự hoàn hảo của nó.

Chương XI: Chỉ đạt được tình yêu hoàn hảo ấy lúc phục sinh

Chuyện gì xẩy ra khi linh hồn rời khỏi thân xác? Ta tin rằng nó được chìm ngập trong một đại dương ánh sáng trường cửu và cõi vĩnh hằng sáng láng. Nhưng không ai chối bỏ được điều này là nó vẫn còn hy vọng và mong nhận lại được thân xác: do đó, hiển nhiên nó chưa được biến đổi hoàn toàn, một điều gì đó thuộc cái tôi vẫn còn tồn tại, chưa chịu hoàn toàn dâng nộp. Chưa, nó chưa chịu, cho tới khi cái chết hoàn toàn chiến thắng bằng cách nuốt chửng lấy nó. Lúc ấy, ánh sáng vĩnh cửu mới tràn ngập mọi ngóc ngách tối tăm. Chưa, nó chưa chịu, cho tới khi vinh quang thiên quốc tràn phủ lên thân xác, chỉ lúc đó, linh hồn ta mới được hoàn toàn giải phóng khỏi cái tôi và hoàn toàn phú dâng cho Thiên Chúa. Vì cho tới lúc đó, linh hồn vẫn còn dính kết với thân xác, không hẳn bằng liên hệ sinh tử với giác quan mà là bằng tình lưu luyến tự nhiên; đến độ không có thân xác, linh hồn không đạt tới sự thành tựu hoàn toàn, hoặc nếu có thể đạt được thì nó cũng không chịu thực hiện. Lúc này, linh hồn không còn khiếm khuyết nào nữa trước khi thân xác của nó được phục hồi, vì nó đã đạt tới tình trạng cao nhất theo khả năng của nó, thì chắc chắn nó sẽ không cần phải mong được tái hợp với thân xác nếu nó có thể thành tựu mà không cần tới thân xác ấy.

Sau cùng, ‘đối với Chúa, cái chết của những ai trung hiếu với Người quả thật đắt giá’ (Tv 116:15). Nhưng nếu cái chết của họ quí giá, thì sự sống của họ càng phải quí giá như thế nào! Không lạ gì thân xác có thể đem thêm vinh quang mới mẻ cho tinh thần; vì dù yếu đuối và mau chết, thân xác vẫn đóng góp không nhỏ vào việc giúp đỡ tinh thần. Câu nói sau đây đúng xiết bao ‘mọi sự đều cùng góp phần sinh ích cho những ai yêu mến Thiên Chúa’ (Rm 8:28). Thân xác trợ giúp linh hồn nào biết yêu mến Thiên Chúa, ngay cả lúc nó bệnh tật, ngay cả lúc nó chết, và càng trợ giúp nhiều hơn khi nó được trỗi dậy từ cõi chết: quả thế, bệnh tật giúp linh hồn thống hối; chết là cửa ngõ đưa vào nghỉ ngơi; còn phục sinh sẽ đem lại thành tựu. Do đó, quả thực, linh hồn sẽ không được hoàn thiện nếu không có thân xác, vì linh hồn nhìn nhận rằng trong mọi tình huống, thân xác cần cho thiện ích của mình.

 Như thế, thân xác là bạn tốt và trung thành đối với thiện ích của linh hồn. Ở đây, ta thấy có ba tình trạng: dù đang là gánh nặng, thân xác vẫn trợ giúp; khi gánh nặng chấm dứt, trợ giúp cũng chấm dứt; gánh nặng sẽ không còn nữa, khi có nhiều trợ giúp hơn. Tình trạng thứ nhất tuy vất vả, nhưng sinh ích; tình trạng thứ hai tuy lười lĩnh nhưng không độc điệu: chỉ có tình trạng thứ ba mới vinh quang. Hãy nghe Cô Dâu trong Diễm Ca khuyên ta thực hiện 3 diễn tiến ấy: ‘Hãy ăn đi, hỡi các bằng hữu; hãy uống cho say, hỡi những người yêu dấu’ (Dc 5:1). Người ban thực phẩm cho những ai vất vả phần xác; rồi Người mời gọi các linh hồn yên nghỉ mà thân xác đang nằm bên cạnh hãy uống; và cuối cùng, Người giục những ai đã tiếp nhận lại thân xác hãy uống cho say. Chắc chắn những ai được Người gọi là ‘người yêu dấu’ hẳn phải tràn trề tình yêu; và đó chính là điểm khác nhau giữa họ và các người khác, những người không được Người gọi là ‘người yêu dấu’ mà chỉ là ‘bằng hữu’. Những ai còn rên rỉ trong thân xác đều thân thiết (đắt giá) đối với Người, vì tình yêu nơi họ; những ai được giải thoát khỏi các trói buộc của thân xác thì thân thiết hơn vì họ sẵn sàng và có khả năng yêu thương hơn trước. Nhưng hơn cả hai loại người này là những ai được Người gọi là ‘người yêu dấu’: vì họ đã nhận được tấm áo thứ hai, tức thân xác vinh hiển của họ, để từ nay, không còn chút gì của cái tôi để cản trở hay phiền hà họ nữa, và do đó, họ hoàn toàn và mau mắn hiến trọn mình để yêu mến Thiên Chúa. Những loại người khác kia không thể được như thế; vì loại thứ nhất vẫn còn phải mang gánh nặng thân xác, còn loại thứ hai thì mong muốn nhận lại thân xác với một hoài mong vị kỷ nào đó.

Như thế, đầu tiên, linh hồn tín hữu ăn bánh, nhưng bằng mồ hôi trán của mình. Vì còn ở trong thân xác, nên linh hồn chỉ có thể tiến bước nhờ đức tin, một đức tin phải làm việc bằng đức mến. Vì đức tin mà không có việc làm là đức tin chết, cho nên việc làm là thực phẩm của đức tin; chính Chúa đã từng nói rằng ‘lương thực của Ta là làm theo ý Đấng đã sai Ta’ (Ga 4:34). Rồi khi thân xác đã được để qua một bên, linh hồn không còn phải ăn bánh lao khổ nữa, nhưng được uống no nê rượu tình, như trong một đại yến. Nhưng rượu này chưa hoàn toàn tinh tuyền; như chính Chàng Rễ đã nói ở một câu khác ‘Anh uống rượu với sữa dành cho anh’ (Dc 5:1). Vì linh hồn trộn chung vào rượu tình của Thiên Chúa cả sữa của tình lưu luyến tự nhiên, tức sự thèm khát thân xác mình và vinh quang của nó. Linh hồn đỏ rực với rượu tình thánh vừa uống; nhưng nó vẫn chưa hoàn toàn bốc lửa, bởi do chất sữa kia, nó đã làm mất đi phần nào sức hiệu nghiệm của rượu này. Chỉ có rượu tinh tuyền mới làm linh hồn túy lúy, hoàn toàn quên mình; nhưng lúc này, chưa có được sự túy lúy ấy, bởi linh hồn vẫn còn khao khát thân xác. Khi lòng khao khát này dịu êm đi, khi người ta không cần đến nó nữa, thì còn gì ngăn trở được linh hồn trong việc hoàn toàn hiến thân cho Thiên Chúa, hoàn toàn từ bỏ hình ảnh mình để nên giống như Người? Lúc ấy, linh hồn sẽ nắm lấy chén khôn ngoan thiên giới, chén từng được mô tả là ‘đầy tràn tới miệng’. Thực vậy, từ nay trở đi, linh hồn sẽ được uống thoả thuê trong căn nhà giầu có của Thiên Chúa, nơi mọi lắng lo vị kỷ xao xuyến đều biến tan; nơi linh hồn được an tâm uống thỏa rượu nho, rượu mới và tinh tuyền, với Chúa Kitô trong Vương Quốc của Cha Người (Mt 26:29).

Chính Khôn Ngoan đã dọn ba bữa ăn trên trong đó yến tiệc chính là tình yêu; chính Khôn Ngoan nuôi sống kẻ lao nhọc, cho người nghỉ ngơi thức uống, làm những kẻ cai trị với Chúa Kitô say sưa túy lúy. Ngay trong phong tục tiệc tùng trần thế và tự nhiên, người ta cũng dọn thịt lên trước sau đó tới rượu, thì ở đây cũng thế. Trước khi chết, lúc ta vẫn còn trong thân xác mau chết, ta ăn bằng sức lao động của đôi tay, ta cố gắng nuốt thực phẩm do sức lao động kia cung cấp; nhưng sau khi chết, ta được hân hoan uống trong cảnh sống thiêng liêng và cuối cùng khi đã tái hợp cùng thân xác và được vui hưởng hạnh phúc đầy đủ, ta sẽ được giải khát bằng sự sống đời đời. Đó chính là ý nghĩa của điều Chàng Rể muốn nói ‘Hãy ăn đi, hỡi các bằng hữu; hãy uống cho say, hỡi những người yêu dấu’. Trước khi chết, hãy ăn; sau khi chết, hãy uống; sau khi sống lại, hãy uống cho say sưa. Quả thế, những ai được gọi là yêu dấu sẽ uống tình yêu cách say sưa; những ai uống say sưa đều là những người đáng được đem tới tham dự tiệc cưới của Con Chiên, được ăn và được uống tại Bàn trong Vương Quốc của Người (Kh 19:9; Lc 22:30). Trong bữa tiệc này, Người sẽ trình diện với Người một Giáo Hội vinh quang, không tì vết, không nếp nhăn, hoặc bất cứ khuyết điểm nào giống như thế (Eph 5:27). Sau đó, Người mới thực sự chiêu đãi những kẻ yêu dấu của Người; Người sẽ cho họ uống thoả thuê sự vui khoái của Người, bao la như một dòng sông (Tv 36:8). Khi Chàng Rể ôm hôn Cô Dâu của mình bằng một cái ôm dịu dàng, tinh khiết, thì các dòng sông đầy tràn sẽ làm Kinh Thành Thiên Chúa hân hoan (Tv 46:4). Chàng Rể ấy chính là Con Thiên Chúa, Đấng sẽ đến để phục vụ những kẻ yêu dấu, như chính Người đã hứa; nhờ thế, vào ngày đó, người công chính sẽ hân hoan nhẩy mừng trước nhan Thiên Chúa: họ sẽ mừng vui hân hoan (Tv 68:3). Đây quả là sự dịu êm mà không chán chường; quả là cơn khát nhận thức không bao giờ nguôi, mà không buồn khổ; quả là sự thèm khát trường cửu và vô hạn, không biết gì tới bất cứ nhu cầu nào khác; sau cùng đây quả là sự say sưa tỉnh táo phát xuất không phải từ việc uống rượu mới mà từ việc được vui hưởng chính Thiên Chúa (Cv 2:13). Ta sẽ mãi mãi đạt được mức độ yêu mến thứ tư khi ta chỉ còn yêu mến một mình Thiên Chúa và yêu Người một cách tối cao, khi ta không còn yêu mình nữa ngoại trừ là vì Chúa; lúc ấy, Người chính là phần thưởng cho những kẻ yêu mến Người, phần thưởng đời đời của một tình yêu đời đời.

Chương XII: Trích thư gửi các tu sĩ Carthusians

Con nhớ có gửi một bức thư cho các tu sĩ Carthusians thánh thiện, trong đó, con đề cập tới 4 mức độ yêu mến này, và nói về đức mến bằng một ngôn từ khác với ngôn từ ở đây, dù ý nghĩa không khác gì bao nhiêu. Thiển nghĩ tốt hơn nên nhắc lại một phần của bức thư đó, vì sao chép bao giờ cũng dễ hơn là đọc cho thư ký chép lại từ đầu.

Yêu mến người lân cận như yêu chính mình: điều này quả là đức mến chân thực và thành thật của một tâm hồn trong trắng, của một lương tâm tốt lành, và của một đức tin ngay thực (1Tm 1:5). Người ta đã chứng tỏ rằng bất cứ ai chỉ biết yêu sự thịnh vượng của mình thì thực ra họ không yêu của cải ấy vì chính chúng cho bằng họ yêu chúng vì chính họ. Và do đó, họ không thể cùng Thánh Vịnh Gia mà hát rằng ‘Hãy cảm tạ Chúa vì Người nhân hậu’ (Tv 118:1). Vì những người như họ sẽ ca tụng Thiên Chúa không phải vì Người chính là sự tốt lành, mà là vì Người tốt lành với họ. Những người như họ nên nghe lời trách móc của cùng soạn giả ‘Hắn sẽ chỉ nói tốt về Chúa bao lâu Chúa còn tốt với hắn’ (Tv 49:18, theo Bản Phổ Thông). Có người ca tụng Thiên Chúa vì Người quyền năng, có ngưởi ca tụng Thiên Chúa vì Người nhân hậu, lại có người yêu mến Thiên Chúa nguyên tuyền chỉ vì Người là chính sự tốt lành. Loại người thứ nhất là nô lệ, chỉ biết sợ cho mình; loại người thứ hai là tham lam, chỉ thèm khát được thêm lợi lộc; chỉ có loại người thứ ba mới là người con biết tôn kính Cha mình. Người sợ sệt, người chỉ biết lo lắng tới lợi lộc đều chỉ quan tâm tới lợi ích bản thân. Chỉ ở nơi người con, mới có tấm tình yêu không biết tìm lợi lộc cho riêng mình (1Cor 13:5). Bởi thế con coi lời sau đây ‘Lề luật Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn’ chỉ về đức mến; vì chỉ có đức mến mới có khả năng khiến linh hồn rời bỏ lòng yêu mình và yêu thế gian để tinh tuyền yêu Chúa. Sợ sệt cũng như tư lợi không cải hóa được linh hồn. Chúng có thể thay đổi dáng vẻ bề ngoài, có thể cả tác phong nữa, nhưng không bao giờ thay đổi được đối tượng của thèm khát tối hậu. Đôi khi, nô lệ cũng có thể thi hành công việc của Chúa; nhưng vì không tự nguyện làm việc đó, họ vẫn ở trong vòng nô lệ. Cũng vậy, người làm thuê có thể phụng sự Thiên Chúa, nhưng vì họ đặt giá cho việc phụng sự của mình, nên họ vẫn bị lòng tham của mình trói ghì. Vì nơi nào có tư lợi, nơi ấy có cô lập; sự cô lập này giống như góc một căn phòng tối, nơi tích lũy của bụi bặm và han rỉ. Sợ sệt là động lực thúc ép nô lệ; tham lam trói buộc người vị kỷ; họ bị cám dỗ do dục vọng của họ lôi cuốn và dùng mồi mà bắt (Gc 1:14). Nhưng cả sợ sệt lẫn tư lợi đều không hoàn hảo, cũng như không thể cải hoán được tâm hồn. Chỉ có đức mến mới cải hoán được tâm hồn, giải thoát nó khỏi mọi động lực bất xứng.

Thứ đến, con coi đức mến hoàn hảo trong sạch vì nó không bao giờ giữ lại cho riêng mình bất cứ điều gì thuộc về mình. Khi một ai đó không huênh hoang nhận bất cứ điều gì là của mình, thì hiển nhiên người này sẽ coi mọi sự mình có đều là của Chúa; mà điều gì đã thuộc về Chúa thì không thể bẩn thỉu được. Luật hoàn hảo của Chúa chính là tình yêu thúc bách con người không đi tìm sự giầu có riêng của mình mà là sự giầu có của mọi người khác. Luật này được gọi là luật Chúa vừa phần vì chính Chúa sống theo nó vừa phần vì không con người nào có được nó nếu không do Chúa ban cho. Quả là thích đáng khi ta bảo cả Chúa cũng sống bằng luật, nếu đó là luật yêu thương. Vì điều gì có thể duy trì được sự hợp nhất vinh hiển và khôn dò của Thiên Chúa Ba Ngôi, nếu không phải là tình yêu? Chính tình yêu, luật của Chúa, đã nối kết Ba Ngôi trong đơn nhất tính của Thiên Tính và hợp nhất Chúa Ba Ngôi bằng sợi dây hòa bình. Xin ngài đừng cho là con có ý nói rằng tình yêu hiện hữu như một phẩm tính tùy thể nơi Thiên Tính; vì bất cứ điều gì bị coi như thiếu sót trong bản tính Thiên Chúa đều không phải là của Thiên Chúa. Không, nó chính là bản thể của Thiên Tính; xác quyết của con đây chẳng có gì mới lạ hay phi thường, vì Thánh Gioan từng nói rằng ‘Thiên Chúa là tình yêu’ (1 Ga 4:8). Bởi vậy ta có thể nói đúng sự thật rằng tình yêu vừa là chính Chúa vừa là ơn phúc của Chúa, yếu tính yêu thương ban bố phẩm tính yêu thương. Khi từ ngữ này chỉ Đấng Thông Ban, thì đó chính là tên của yếu tính Người; khi nó chỉ ơn phúc, thì đó chính là tên của phẩm tính. Tình yêu là luật trường cửu nhờ đó vũ trụ đã được tạo dựng và được cai trị. Vì mọi sự được xếp đặt theo kích thước, con số và trọng lượng, và không điều gì nằm bên ngoài phạm vi luật, nên luật phổ quát kia không thể có nếu không có luật, vốn là chính luật. Bởi thế, dù không tự tạo chính mình, tình yêu chắc chắn tự cai trị mình bằng chính sắc lệnh của mình.

Chương XIII: Luật tự ý, tự muốn, luật nô lệ, làm thuê

Hơn nữa, nô lệ và kẻ làm thuê cũng có luật của họ, không phải là luật của Chúa mà là của riêng họ. Nô lệ không yêu mến Chúa; kẻ làm thuê thì yêu mến điều gì đó hơn là yêu Chúa. Con xin nhấn mạnh: họ đều có luật riêng, không phải của Chúa; tuy nhiên, luật này vẫn lệ thuộc luật Chúa. Vì dù có khả năng lập ra luật riêng cho mình, những người này vẫn không thể phá bỏ được trật tự bất di bất dịch của luật trường cửu. Mỗi người là một luật cho chính mình, khi họ đặt ý mình chống lại luật phổ quát, cố tình ngạo ngược tìm cách ngang hàng với Đấng Tạo Hóa, hoàn toàn độc lập, tự biến ý mình thành luật cho chính mình. Quả là cái ách nặng nề và cồng kềnh đè lên mọi con cái Adong, phải oằn cổ mà gánh, đến độ như sắp rơi xuống hỏa ngục. ‘Tôi thật là con người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?’ (Rm 7:24). Tôi bị nặng đè, tôi gần như kiệt lực, đến nỗi ‘Nếu Chúa không đỡ nâng, thì hồn tôi đã vào chốn thinh lặng ngàn thu’ (Tv 94:17). Job rên rỉ dưới sức nặng ấy khi than thở rằng ‘Sao Ngài cứ đặt con làm bia để bắn? Phải chăng con đã nên gánh nặng cho cho chính con?’ (G 7:20). Ông là gánh nặng cho chính ông do luật tự ông đặt ra cho mình: ấy thế nhưng ông không thể thoát khỏi luật Chúa, vì ông đã bị đặt làm tấm bia chống lại Chúa. Luật công chính đời đời buộc rằng bất cứ ai không tuân theo luật dịu ngọt của Thiên Chúa đều phải chịu cái đắng đót bạo tàn của chính mình. Còn ai chịu mang gánh dễ chịu và nhẹ nhàng của tình yêu (Mt 11:30), sẽ tránh được sức nặng không chịu nổi của ý chí mình. Điều kỳ diệu và công chính là luật đời đời luôn khuất phục kẻ phản loạn, để nó không thể chạy thoát. Nó lệ thuộc quyền năng Thiên Chúa, nhưng không được hưởng hạnh phúc với Người, không được ở với Thiên Chúa trong ánh sáng, thảnh thơi và vinh quang mãi mãi. Ôi lạy Chúa là Thiên Chúa của con, ‘Chẳng lẽ Ngài không xóa được tội ác của con, không bỏ qua được lỗi lầm con phạm?’ (G 7:21). Do đó, nhờ được giải thoát khỏi gánh nặng ý riêng, con được thở ngon lành dưới ách nhẹ nhàng của tình yêu. Con không còn bị sợ sệt cưỡng chế, cũng không còn bị những ước muốn làm thuê lôi cuốn nữa; vì con đã được Thần Trí Thiên Chúa hướng dẫn, Thần Trí tự do vốn hướng dẫn con cái của Ngài, Thần Trí, cùng với tâm trí con, làm chứng rằng con là con cái Thiên Chúa (Rm 8:16). Bởi vậy, xin cho con sống dưới luật vốn là chính Ngài ấy; và cũng như Ngài, xin cho con sống giữa thế gian. Bất cứ ai thực hành điều Thánh Tông Đồ từng khuyên ‘Đừng mang nợ ai điều chi, ngoài việc yêu thương nhau’ (Rm 13:8) đều đã nên đồng hình đồng dạng với Thiên Chúa, ngay ở đời này: họ không còn là nô lệ hay kẻ làm thuê nữa mà là con cái.

Chương XIV: Luật yêu thương của con cái

Con cái đương nhiên cũng có luật của họ, cho dù có lời chép ‘luật không lập ra cho người chính trực’ (1Tm 1:9). Vì cần phải nhớ rằng có luật cho tinh thần nô lệ, ban hành trong sợ sệt, thì cũng có luật cho tinh thần tự do, ban hành trong âu yếm. Con cái không bị buộc bởi loại luật thứ nhất, nhưng họ không thể hiện hữu nếu không có loại luật thứ hai: chính Thánh Phaolô từng viết ‘Anh em đã không nhận lãnh Thần Khí khiến anh em thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: Áp-ba! Cha ơi!’ (Rm 8:15). Và một lần nữa, để chứng tỏ người chính trực không phải sống dưới lề luật, ngài viết ‘với những người sống dưới lề luật, tôi trở nên như thể sống dưới lề luật, để chinh phục những người sống dưới lề luật; với những người không sống dưới lề luật, tôi cũng sống như không có lề luật, dù tôi không sống ngoài luật Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Chúa Kitô, để chinh phục những người không sống dưới lề luật’ (1Cor 9: 20). Bởi thế đúng ra phải nói ở đây rằng không phải người chính trực không có luật, mà là ‘luật không được lập ra cho người chính trực’, tức là, luật không áp đặt trên kẻ phản loạn, mà là do Đấng tốt lành tạo ra và tự do ban cho những người sẵn sàng vâng phục nó. Chính vì thế, Chúa đã dịu dàng phán rằng ‘Hãy mang lấy ách của Ta’, lời phán mà ta có thể dẫn giải như sau: ‘Ta không cưỡng đặt lên các con, nếu các con không muốn; nhưng nếu các con muốn, các con nên mang lấy nó. Bằng không, các con chỉ thấy chán chường mệt mỏi chứ không thanh thản chút nào cho tâm hồn các con’.

Tình yêu là luật tốt lành và khoan khoái; không những chỉ dễ mang, nó còn làm cho các luật của nô lệ và kẻ làm thuê ra dễ chịu; không tiêu diệt các luật này mà là bổ túc chúng; như chính Chúa từng phán ‘Ta đến không phải để hủy tiêu luật mà để kiện toàn nó’ (Mt 5:17). Nó làm dịu nỗi sợ của nô lệ, điều hòa các ước muốn của kẻ làm thuê, nó giảm nhẹ tính dữ dằn của cả hai. Tình yêu luôn mang trong mình sự sợ sệt, nhưng là sợ sệt Thiên Chúa, là kính sợ Người. Tình yêu lúc nào cũng đem theo ước muốn, nhưng là ước muốn hợp pháp. Bởi thế, tình yêu làm hoàn hảo luật phục vụ bằng cách ban cho ta lòng tận tụy; tình yêu hoàn thiện luật lương bổng bằng cách hạn chế lòng tham. Lòng tận tụy khi hòa lẫn với sợ sệt, không hề tiêu diệt nó, nhưng thanh tẩy nó. Nhờ thế, gánh nặng của sợ sệt, vốn không thể chịu đựng được lúc chỉ là nô dịch, nay trở thành chịu đựng được; nỗi sợ ấy trở thành tinh trong và hiếu thảo. Dù có lời chép ‘tình yêu hoàn hảo xua đuổi sợ sệt’ (1 Ga 4:18), nhưng ta hiểu điều ấy muốn nói về hình khổ luôn luôn hiện diện trong bất cứ nỗi sợ sệt nào có tính nô dịch, theo luật nhân quả thông thường. Cũng vậy, tư lợi sẽ được kìm hãm trong giới hạn thích đáng của nó khi tình yêu can dự vào; vì lúc ấy, nó sẽ từ bỏ hết các điều xấu xa, thích những điều tốt hơn bình thường và chỉ quan tâm tới những sự thiện vì chúng tốt hơn thôi. Nhờ ơn thánh Chúa, con người sẽ yêu thân xác mình và mọi sự thuộc thân xác này vì linh hồn. Họ sẽ yêu linh hồn mình vì Chúa; và sau cùng họ sẽ yêu Chúa vì chính Người mà thôi.

Chương XV: Bốn mức độ của tình yêu và tình trạng hạnh phúc trên quê trời

Tuy nhiên, vì ta có xác thịt và sinh ra từ thèm khát xác thịt, nên hiển nhiên ước muốn và tình yêu của ta phải khởi đầu trong xác thịt. Nhưng nhờ ơn thánh Chúa hướng dẫn một cách thích đáng qua các mức độ trên, nó sẽ được viên mãn trong tinh thần: vì, điều có trước nhất không thuộc thần khí nhưng thuộc tự nhiên; sau đó mới thuộc thần khí (1Cor 15:46). Và ta phải mang hình ảnh trần thế trước mới có thể mang hình ảnh thiên giới sau. Bởi thế, trước hết, con người yêu họ vì chính họ trước. Nghĩa là xác thịt không thể đánh giá điều gì vượt quá chính nó. Sau đó, nó mới nhận thức ra rằng nó không thể tự mình hiện hữu, và qua đó, mới nhờ đức tin mà bắt đầu đi tìm Thiên Chúa, và yêu mến Người như một điều cần thiết cho chính phúc lợi của mình. Đó là mức độ thứ hai: yêu Chúa không phải vì Chúa mà vì bản thân mình. Nhưng một khi đã học biết cách thờ phượng Thiên Chúa và tìm kiếm Người một cách đích thực, bằng cách suy niệm về Người, đọc Lời của Người, cầu nguyện và vâng theo các giới răn của Người, dần dần nó mới biết Chúa như thế nào, mới thấy Người đáng yêu. Bởi thế, sau khi đã nếm và thấy Chúa nhân hậu ra sao (Tv 34:8), con người sẽ tiến qua mức độ thứ ba khi biết yêu Chúa, không chỉ như Đấng Ban Ơn của mình mà còn là Thiên Chúa nữa. Chắc chắn họ sẽ ở lâu trong tình trạng này; và con không biết rõ liệu ở đời này, họ có thể tiến xa hơn nữa tới mức độ thứ tư và tình trạng hoàn hảo hay không, nơi con người yêu mình chỉ vì Chúa. Ai đã đạt đến mức ấy xin để lại bút tích; con thú thật: điều ấy vượt quá khả năng của con. Nhưng con chắc một điều: tình trạng như thế sẽ đạt được khi tôi trung tốt lành vào hưởng niềm vui của Chúa (Mt 25:21), và được thỏa thuê trong cảnh dư thừa của nhà Chúa (Tv 36:8). Vì lúc ấy, họ sẽ quên bản thân mình một cách lạ lùng, và như người đã được giải thoát khỏi chính mình, họ sẽ hoàn toàn thuộc về Chúa. Được kết hợp với Chúa, họ sẽ nên một thần trí với Người (1Cor 6:17). Con nghĩ đó chính là điều tiên tri muốn hiểu khi nói rằng ‘Con thuật lại bao chiến công của Chúa, nhắc nhở rằng: chỉ mình Ngài chính trực công minh’ (Tv 71:16). Chắc chắn họ biết rằng họ chỉ có thể thuật lại chiến công của Chúa, khi được giải thoát khỏi các yếu hèn của xác thịt, không còn chi là xác thịt để nghĩ tưởng, nhưng tinh thần hoàn toàn được tràn đầy sự chính trực của Chúa.

Vào ngày đó, các chi thể của Chúa Kitô có thể tự nói về mình điều Thánh Phaolô đã phát biểu về Đầu của họ: ‘dù đã được biết Chúa Kitô theo quan điểm loài người, giờ đây, chúng tôi không còn biết Người như vậy nữa (2 Cor 5:16). Không ai còn biết mình theo xác thịt nữa; vì ‘xác thịt và máu huyết không thể thừa hưởng Nước Thiên Chúa’ (1 Cor 15:50). Không hẳn vì nay không còn bản thể xác thịt nữa cho bằng từ nay, mọi nhu cầu xác thịt đã được cất bỏ, tình yêu xác thịt sẽ bị tình yêu tinh thần nuốt trửng, đến độ các lưu luyến nhân bản yếu đuối của ta sẽ trở thành mạnh mẽ trong Chúa. Lúc ấy, chiếc lưới đức ái trải rộng khắp mặt đại dương để không ngừng thu lượm đủ loại cá sẽ được kéo lên bờ; cá nào xấu sẽ bị quăng đi, chỉ những con tốt mới được giữ lại (Mt 13:48). Ở đời này, chiếc lưới tình yêu rộng lớn đủ để thu lượm mọi loại cá vào lòng nó, trở thành mọi sự cho mọi người, chia sẻ gian nan hoặc thịnh vượng, hân hoan với người hân hoan, khóc lóc với người khóc lóc (Rm 12:15). Nhưng khi lưới đã được kéo lên bờ, bất cứ điều gì gây đau khổ sẽ bị loại trừ, như cá xấu, trong khi những gì ưa nhìn và vui vẻ sẽ được giữ lại. Há ngài lại không nhớ lời Thánh Phaolô nói ‘Ai yếu đuối mà tôi lại không yếu đuối? Ai vi phạm mà tôi lại không vi phạm?’ Ấy thế nhưng, yếu đuối và vi phạm đâu có ở nơi ngài! Cũng thế, ngài thương tiếc nhiều người phạm tội mà không hối hận, dù ngài đâu phải là người tội lỗi cũng như hối nhân. Nhưng có cả một kinh thành trở nên hân hoan nhờ dòng sông tràn đầy ơn thánh (Tv 46:4), và các cổng thành của nó được Thiên Chúa yêu thích hơn mọi nhà cửa của Giacóp (Tv 87:2). Trong kinh thành đó, không có chỗ dành cho việc than vãn những kẻ bị trầm luân trong lửa đời đời, đã dọn sẵn cho ma quỉ và các thần của nó (Mt 25:41). Trên dương gian này, dù con người có thể hân hoan, nhưng họ vẫn phải đánh nhiều trận đánh khác, vẫn phải chịu các nguy cơ chết chóc khác. Còn trên quê Cha trên trời, không đau đớn sầu buồn nào có thể bước vào như có lời chép ‘nhà của mọi người hân hoan là ở nơi Ngài’ (Tv 87:7 theo bản Phổ Thông); và câu này nữa, ‘Niềm vui vĩnh cửu dành cho họ [những người phụng sự Thiên Chúa]’ (Tv 61:7). Những người này sẽ không nhớ gì tới những điều thảm thương, vì lúc này họ chỉ nhắc tới sự công chính của Thiên Chúa. Thành thử, sẽ không cần phải thi hành lòng xót thương, vì ở đó không còn khốn khổ để xót thương nữa.
 

Tác giả: Vũ Văn An
   dunglac@gmail.com