Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Vũ Văn An
Bài Viết Của
Vũ Văn An
Antonio Rosmini, người của đức tin, lý trí và trái tim
Chiến dịch đem người Công Giáo trở về
Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II
Vatican và vấn đề tài liệu
Bốn Mươi Năm Sự Sống Con Người
Thờ Phượng Đích Thực Trong Tư Tưởng Thánh Phaolô
Gia Đình và Sự Sống
Khủng Hoảng Hôn Nhân và Gia Đình
Gia Tô Bí Lục Tân Thời
Thần học và thực hành mục vụ trong các thư của Thánh Phaolô
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa
Tính đáng tin cậy của Bộ Thánh Kinh
Kính Mừng Maria
Cầu nguyện theo lối chiêm niệm
Li dị và tái hôn trong các Phúc âm nhất lãm
Các nhà truyền giáo và kỹ nghệ tình dục
Từ Sydney tới Paris
Lộ Đức, sự hiện diện mênh mông của Mẹ
Bản Thể, Bản Tính
Thánh Phaolô, Nhà Truyền Giáo Vĩ Đại
Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
Cùng đi với Thánh Phaolô
Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội
Đức Bênêđíctô XVI: từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới hành trình đức tin trẻ em
THÁNH THỂ, HIỆP THÔNG VÀ LIÊN ĐỚI

 

Tại Hội nghị các giám mục miền Campania tại Benevento (Ý) ngày 2 tháng Sáu năm 2002, để chuẩn bị cho Đại Hội Thánh Thể với chủ đề “Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới”, Đức Hồng Y J. Ratzinger (Đức đương kim Giáo Hoàng) đã được mời nói truyện. Ngài đã dựa vào chủ đề trên để trình bầy bài nói truyện hết sức sâu sắc của mình.

“Đức ái, Bình an”, Chính lý, Chính hành

Thời Giáo Hội sơ khai, đôi khi người ta gọi Phép Thánh Thể đơn giản chỉ là “đức ái” (agape) hay đơn giản hơn nữa là “bình an” (pax). Như thế, các Kitô hữu thời đó đã nói lên cách cảm kích mối dây liên kết hết sức chặt chẽ giữa mầu nhiệm Thiên Chúa hiện diện cách bí nhiệm và tập tục (praxis) phục vụ chính nghĩa hòa bình, tập tục Kitô hữu hòa bình. Đối với các Kitô hữu tiên khởi, không hề có sự khác biệt giữa điều ngày nay ta hay phân biệt thành chính lý và chính hành (orthodoxy & orthopraxis), thường được hiểu là lý thuyết đúng và hành động đúng. Thực thế, khi đưa ra một phân biệt như thế, phần lớn vẫn cho rằng cái chữ chính lý kia cần phải bị khinh miệt: những người chủ trương duy trì lý thuyết đúng bị người ta coi chỉ là những con người hẹp hòi, cứng ngắc và bất khoan dung. Tuy nhiên, phân tích đến cùng, đối với những người có cái nhìn phê phán hơn về chữ chính lý, thì mọi sự đều tùy thuộc ở “hành động đúng” và lý thuyết được coi như một điều gì có đó để được thảo luận thêm. Đối với những ai có cái nhìn như thế, thì việc chủ yếu chính là hoa trái do lý thuyết đem lại, còn đường dẫn tới hành động đúng  là điều dửng dưng. Những phân biệt như thế đều là những điều Giáo Hội sơ khai không thể hiểu cũng như chấp nhận được, vì Giáo Hội ấy hiểu đúng đắn rằng “chính lý” không có nghĩa là “lý thuyết đúng” nhưng có nghĩa là thờ phượng và tôn vinh Thiên Chúa cách chân thực. Giáo Hội ấy xác tín rằng mọi sự tùy thuộc vào việc phải nằm trong mối liên hệ đúng đắn với Thiên Chúa, vào việc phải nhận biết điều gì làm Người hài lòng và điều gì người ta có thể làm để đáp trả lại Người một cách đúng đắn. Chính vì thế, mà Israel đã yêu lề luật: nhờ lề luật, họ biết được ý Thiên Chúa, họ biết phải sống công chính ra sao và phải tôn vinh Thiên Chúa cách đúng đắn thế nào: bằng hành động theo ý Người, đem trật tự lại cho trần gian, mở cửa trần gian đón nhận thể siêu việt.

Chúa Kitô dạy cách tôn vinh Thiên Chúa, làm thế giới nên công chính

Niềm vui mới được các Kitô hữu khám phá ra là đây: là từ nay, khởi từ Chúa Kitô, họ hiểu Thiên Chúa cần được tôn vinh ra sao và chính nhờ lối tôn vinh ấy mà thế giới được trở nên công chính như thế nào. Điều khiến cho hai việc trên cần đi đôi với nhau, nghĩa là việc tôn vinh Thiên Chúa và việc thế giới nên công chính, đã được các thiên thần công bố vào đêm cực thánh: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, và bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2:14). Vinh quang Thiên Chúa và bình an dưới thế là hai điều không thể tách biệt nhau. Nơi đâu Thiên Chúa bị loại bỏ, nơi ấy có gẫy đổ hoà bình trên thế giới; không có Thiên Chúa, không chính hành nào có thể cứu được chúng ta. Thực thế, không có chính hành nào có thể công chính mà lại tách rời khỏi nhận thức về điều đúng. Ý chí mà thiếu nhận thức chỉ là mù quáng và do đó hành động, chính hành chăng nữa, mà thiếu nhận thức cũng chỉ là mù quáng và sẽ dẫn tới hố thẳm. Sự xảo trá vĩ đại của chủ nghĩa Mácxít chính là đã nói với ta rằng ta đã suy tư về thế giới quá lâu rồi, nay đến lúc cần phải thay đổi nó. Nhưng nếu không biết hướng nào để thay đồi nó, nếu không hiểu ý nghĩa và mục đích nội tại của nó, thì thay đổi không thôi sẽ chỉ là hủy diệt, như ta đã thấy và còn tiếp tục được thấy. Tuy nhiên, chiều ngược lại cũng thế thôi: lý thuyết không thôi, không trở thành sức sống và hành động, chỉ là cái thứ tán gẫu lười lĩnh và do đó trống rỗng không hơn không kém. Chân lý hết sức cụ thể. Nhận thức và hành động kết hợp với nhau chặt chẽ, đức tin và sự sống cũng thế.

Đức Hồng Y cho hay chủ đề “Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới” sẽ là ba từ ngữ chủ yếu để Ngài khai triển thêm về những điểm vừa nêu.

1. Thánh Thể

Ngày nay, “Lễ Tạ Ơn” (the Eucharist) là tên thông thường nhất để chỉ Bí Tích Mình và Máu Chúa Kitô, một Bí Tích được Chúa Giêsu thiết lập vào đêm trước khi Người chịu khổ nạn, và nên gọi như thế. Thời Giáo Hội sơ khai, có nhiều tên để gọi Bí Tích này:

agape (đức ái) và  pax (bình an) ta vừa nhắc trên đây. Song song với hai tên ấy, còn các tên khác như synaxis (tụ họp, hội ngộ). Người Thệ Phản thường gọi nó là “Bữa Tối” vì họ muốn hoàn toàn quay về với nguồn gốc Thánh Kinh, theo gương Luther, người chỉ coi Sách Thánh là duy nhất có giá trị. Họ đúng một phần, vì nơi Thánh Phaolô, bí tích này được gọi là “Bữa Ăn Tối của Chúa”. Có điều đáng chú ý là tên gọi ấy đã mau chóng biến mất, và từ thế kỷ thứ hai trở đi, nó không còn được dùng nữa. Tại sao? Có lẽ tại vì người ta muốn tách khỏi Tân Ước, như Luther vốn nghĩ, hay vì một lý do khác?

Chắc chắn Chúa Giêsu thiết lập Bí Tích này trong bối cảnh một bữa ăn, nói đúng hơn trong bữa ăn tối mừng Lễ Vượt Qua của người Do Thái, và bởi thế, ngay từ đầu, nó cũng đã được liên kết với việc tụ họp nhau để dùng bữa. Nhưng Chúa Giêsu không ra lệnh phải lặp lại bữa tối Vượt Qua, vốn được dùng làm cái khung cho Bí Tích. Vì đó không phải là bí tích của Người, không phải là quà phúc của Người. Dù sao, bữa tối Vượt Qua cũng chỉ được cử hành mỗi năm có một lần mà thôi. Do đó, việc cử hành Lễ Tạ Ơn đã tách biệt khỏi việc tụ họp nhau để dùng bữa, cùng nhịp với việc tách biệt khỏi Lề Luật, một việc lúc ấy cũng đang ló dạng, song song với việc quá độ bước vào một Giáo Hội gồm cả người gốc Do Thái lẫn Dân Ngoại, và nhất là Giáo Hội của Dân Ngoại. Như thế, mối liên kết với bữa ăn tối được coi như chỉ là ngoại thuộc, có khi còn là dịp gây hiểu lầm và lạm dụng nữa, như chính Thánh Phaolô đã mô tả đầy đủ trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô.

Phụng Vụ Lời Chúa, Kinh Tạ Ơn, Lời Truyền Phép

Như thế, khi mặc lấy khuôn hình đặc thù riêng của mình, Giáo Hội đã từ từ giải phóng quà phúc đặc thù của Chúa Kitô, một quà phúc mới mẻ và trường cửu, thoát khỏi bối cảnh cũ và cho nó một hình thức riêng biệt. Việc ấy xẩy ra được là nhờ việc nối kết với phụng vụ Lời Chúa, một phụng vụ vốn dựa theo mẫu mực hội đường; và cũng nhờ sự kiện này nữa là Lời Truyền Phép đã tạo nên cao điểm cho lời kinh tạ ơn vĩ đại, mà việc tạ ơn này vốn cũng đã được dẫn khởi từ các truyền thống hội đường và do đó tối hậu vẫn là từ chính Chúa, Đấng đã rõ ràng dâng lời tạ ơn và ca ngợi lên Thiên Chúa theo truyền thống Do Thái. Nhưng Người đã làm phong phú lời kinh tạ ơn kia một cách sâu xa hơn nhiều nhờ chính hiến lễ bằng thân xác và máu huyết mình.

Qua hành vi ấy, các Kitô hữu tiên khởi hiểu được rằng yếu tính trong biến cố Bữa Tiệc Ly không phải là việc ăn thịt chiên và các món ăn truyền thống khác mà chính là lời kinh ca ngợi vĩ đại mà lúc này đây tại tâm điểm của nó, đang chứa những lời của chính Chúa Giêsu. Với những lời ấy, Người đã biến cái chết của Người thành hiến lễ chính mình, đến nỗi ngày nay ta có thể dâng lời tạ ơn vì cái chết ấy. Vâng, chỉ lúc này ta mới có thể dâng lời tạ ơn lên Thiên Chúa mà không phải e dè chi, vì điều khủng khiếp nhất tức cái chết của Đấng Cứu Chuộc và cái chết của chính chúng ta, đã được hành vi yêu thương kia biến thành của lễ hiến sinh.

Lễ Tạ Ơn, Kinh Nguyện Thánh Thể

Bởi lẽ trên, Lễ Tạ Ơn đã được nhìn nhận là thực tại yếu tính của Bữa Tiệc Ly, điều mà nay ta gọi là Kinh Nguyện Thánh Thể, một kinh nguyện dẫn khởi trực tiếp từ lời kinh chính Chúa Giêsu đã cầu nguyện vào đêm vọng cuộc khổ nạn của Người và là tâm điểm lễ hy sinh thiêng liêng mới, là động lực do đó nhiều Giáo Phụ đã gọi Lễ Tạ Ơn này là oratio (lời nguyện), là “hy lễ bằng lời”, là hiến lễ thiêng liêng, nhưng cũng đã trở thành vật thể và chất thể biến hình: bánh và rượu trở nên mình và máu Chúa Kitô, của ăn mới, nuôi sống chúng ta chờ ngày phục sinh, chờ cuộc sống trường sinh. Như thế, trọn bộ cơ cấu lời nói và yếu tố vật chất đã trở thành một dự ứng cho bữa tiệc cưới đời đời. Cuối cùng, ta cũng đã lại trở về với sự liên kết này. Ở đây, chỉ quan trọng một điều là hiểu được tại sao các Kitô hữu Công Giáo không gọi bí tích này là “Bữa Ăn Tối” mà là “Lễ Tạ Ơn” (the Eucharist). Giáo Hội sơ khai dần dần đem lại cho bí tích này hình thức đặc thù của nó và chính qua cách đó, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội nhận diện rõ ràng và qua biểu hiệu đã mô tả được yếu tính chân thực của bí tích, một bí tích chính Chúa Giêsu đã thực sự thiết lập vào đêm hôm đó.

Chính nhờ khảo sát diễn trình qua đó bí tích Thánh Thể dần dần lấy được hình thức đặc thù của mình, nên ta hiểu được một cách tốt đẹp mối liên kết sâu xa giữa Thánh Kinh và Thánh Truyền. Thánh Kinh, xét thuần túy theo bối cảnh lịch sử, đã không thông truyền đầy đủ cho ta cái nhìn về yếu tính. Cái nhìn ấy chỉ có được nhờ thực hành sống động của Giáo Hội biết sống Thánh Kinh, biết nắm được ý định sâu xa của nó và làm ta tới gần được nó.

2. "Hiệp Thông” (Communio)

Ngày nay, từ ngữ thứ hai trong chủ đề, tức Hiệp Thông, đã trở thành thời thượng. Thực thế, nó là một trong các từ ngữ sâu sắc nhất và có đặc điểm hơn hết trong truyền thống Kitô giáo. Chính vì lý do này, điều rất quan trọng là phải hiểu nó cách rộng dài hết sức. Ở đây, Đức Hồng Y kể lại một kinh nghiệm bản thân. Hồi cùng một số bạn hữu, nhất là Henri de Lubac, Hans Urs von Balthasar, Louis Bouyer, Jorge Medina, có ý định ra một tạp chí để đào sâu và khai triển gia tài Công Đồng để lại, các ngài loay hoay đi tìm tên thích hợp để đặt cho tờ tạp chí, mà phải là một chữ đơn mà thôi nhưng có thể chuyên chở được mục đích của tờ báo. Năm 1965, năm cuối cùng của Công Đồng, đã có một tập san dùng làm tiếng nói thường trực cho Công Đồng và tinh thần của nó rồi, đó là tập san Concilium. Hans Kung nghĩ: ông đã khám phá ra sự đồng nghĩa giữa hai hạn từ ekklesia (Giáo Hội) và concilium (công đồng). Vì gốc Hy Lạp của hai từ ngữ này đều là kalein (triệu tập). Từ ngữ đầu, tức ekklesia, có nghĩa là triệu tập, mà từ ngữ thứ hai, tức concilium, cũng có nghĩa là cùng triệu tập. Cho nên, xét trong yếu tính, hai từ ngữ ấy chỉ về cùng một sự vật. Căn cứ vào mối liên hệ nguyên ngữ này, ta có thể nói hai hạn từ Giáo Hội và Công Đồng đồng nghĩa với nhau và trong bản chất của mình, Giáo Hội được coi như một Công Đồng liên tục của Thiên Chúa trong trần gian. Cho nên, phải quan niệm Giáo Hội theo nghĩa “công đồng” này và được “thực tại hóa” dưới hình thức một Công Đồng; và ngược lại, Công Đồng cũng phải được quan niệm như một thể hiện sâu sắc nhất của “Giáo Hội”, nghĩa là Giáo Hội trong hình thức cao cả nhất của mình.

Đức Hồng Y cho hay trong những năm tiếp sau Công Đồng, Ngài cũng suy nghĩ theo quan điểm ấy trong một thời gian, nghĩa là coi Giáo Hội như một công đồng thường trực của Thiên Chúa trong trần gian, một quan điểm thoạt mới nhìn hết sức thông sáng. Ngài cho rằng không nên bỏ qua các hậu quả thực tiễn của lối quan niệm này và tính lôi cuốn khá tức khắc của nó. Tuy thế, dù Ngài cho cái nhìn của Hans Kung chắc chắn có đúng và nghiêm chỉnh, nhưng đồng thời Ngài cũng thấy cần phải chỉnh đốn quan điểm ấy một cách đáng kể. Và Ngài trình bầy vắn tắt một số điểm Ngài đã nghiên cứu thấy vào dịp đó. Các tìm tòi triết học và thần học của Ngài về ý nghĩa của hai hạn từ “giáo hội” và “công đồng” thời xưa cho Ngài thấy: công đồng chắc chắn là một thể hiện quan trọng và sinh tử của Giáo Hội, nhưng trên thực tế, Giáo Hội là một cái gì khác, yếu tính Giáo Hội sâu sắc hơn thế nhiều.

“Hiệp Thông” (Koinonia) sống Lời sự sống

Công đồng là điều Giáo Hội chủ trương, nhưng Giáo Hội không phải là một công đồng. Giáo Hội không hiện hữu chủ yếu để mà bàn luận, nhưng để sống Lời từng được ban cho ta. Nên Ngài nghĩ hạn từ diễn tả được quan niệm căn bản ấy, một quan niệm chuyên chở được yếu tính của chính Giáo Hội, chính là koinonia - hiệp thông. Cho nên, không nên miêu tả cơ cấu của Giáo Hội bằng hạn từ “công đồng” mà đúng hơn phải bằng hạn từ “hiệp thông”. Khi Ngài công khai đề nghị các ý niệm ấy trong tác phẩm xuất bản năm 1969, tựa là The New People of God (Dân Mới Của Chúa), thì ý niệm hiệp thông chưa được phổ biến lắm trong các cuộc thảo luận công công về thần học và giáo hội học. Thành thử, các ý niệm của Ngài về chủ đề ấy chỉ được ít người xem sét. Tuy nhiên, đó là những ý niệm quyết định hướng dẫn Ngài trong việc tìm cho ra cái tên thích hợp cho tờ tạp chí mới, và quả chúng đã dẫn Ngài tới việc đặt tên cho tờ tạp chí ấy là Tập San Communio (Hiệp Thông).

Chính ý niệm này thì mãi tới năm 1985 mới được nhìn nhận rộng rãi tại Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới. Cho tới lúc đó, thuật ngữ “Dân Chúa” thịnh hành hơn trong tư cách là quan niệm mới chính yếu dùng để mô tả Giáo Hội, và được mọi người tin là có năng lực tổng hợp được các ý định của chính Công Đồng Vatican II. Niềm tin này có thể đúng nếu thuật ngữ này được sử dụng theo nghĩa Thánh Kinh đầy đủ nhất của nó và theo bối cảnh rộng lớn và chính xác trong đó Công Đồng đã dùng nó. Tuy nhiên, khi một từ ngữ chính đã trở thành một khẩu hiệu (slogan), ý nghĩa của nó chắc chắn sẽ giảm đi; và quả thực, nó đã bị tầm phào hóa (trivialized).

Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1985

Do đó, Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1985 đã đi tìm một khởi đầu mới bằng cách tập chú vào từ ngữ “hiệp thông”, một từ ngữ trước nhất đã được dùng để chỉ tâm điểm Thánh Thể của Giáo Hội, và đồng thời cũng đã trở lại với cái hiểu về Giáo Hội như là địa điểm thân mật nhất cho cuộc gặp gỡ giữa Chúa Kitô và nhân loại, trong hành vi tự hiến thân Người cho ta.

Không thể tránh được việc từ ngữ có tính nền tảng vĩ đại này của Tân Ước, một khi bị cô lập và được sử dụng làm khẩu hiệu, cũng sẽ mất đi phần nào ý nghĩa và có khi còn bị tầm phào hóa. Quả thế, ngày nay, ta thấy có những người nói tới “một giáo hội học về hiệp thông” (ecclesiology of communion) mà họ thường hiểu như hai điều sau: (1) họ ủng hộ một giáo hội học “đa nguyên”, gần như theo nghĩa liên hiệp “liên bang” đối nghịch với điều họ cho là quan niệm tập quyền về Giáo Hội; (2) trong các trao đổi hỗ tương giữa các giáo hội địa phương, họ muốn nhấn mạnh tới các hình thức thờ phượng đa văn hóa trong phụng vụ, trong kỷ luật và trong tín lý.

Ngay ở những nơi các khuynh hướng chưa được khai triển trong chi tiết, một cách tổng quát, người ta vẫn hiểu “hiệp thông” theo nghĩa bề ngang (horizontal): theo lối này, nó phát sinh từ một hệ thống nhiều cộng đoàn hợp lại. Quan niệm Giáo Hội như một cơ cấu có tính cộng đoàn như thế không khác bao nhiêu so với quan niệm coi Giáo Hội như công đồng đã nói ở trên. Ý niệm hàng ngang là ý niệm trổi vượt. Nó nhấn mạnh tới sự tự quyết của các giáo hội đặc thù trong lòng cộng đồng rộng lớn gồm nhiều giáo hội khác nhau.

Lẽ dĩ nhiên, quan điểm ấy có điểm đúng. Tuy nhiên, xét trong nền tảng, nó không đúng và nếu đi theo quan điểm này, thì các điều sâu sắc thực sự của Tân Ước cũng như Vatican II và cả Thượng Hội Đồng năm 1985 sẽ tiêu tan hết. Để làm sáng tỏ ý nghĩa trung tâm của ý niệm “hiệp thông”, Đức Hồng Y Ratzinger muốn dùng hai đoạn văn lớn nói về hiệp thông trong Tân Ước. Đoạn đầu trích từ Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô chương 10, câu 16-17, trong đó Thánh Phaolô nói với ta: “Khi ta nâng chén tạ ơn mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần (bản tiếng Ý dùng chữ Communion) vào Máu Ðức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể”.

Chiều thẳng của Phép Thánh Thể

Quan niệm hiệp thông trước hết bắt nguồn rất vững chắc trong Bí Tích Thánh Thể. Đó là lý do tại sao ngày nay ta vẫn sử dụng ngôn ngữ của Giáo Hội để gọi rất đúng hành vi tiếp nhận bí tích này là “hiệp lễ” (to communicate). Nhờ thế, cái ý nghĩa thực tiễn xã hội của biến cố bí tích này cũng trở nên tức khắc hiển nhiên và điều ấy, xét một cách triệt để, không tài nào thực hiện được với cái nhìn hoàn toàn chiều ngang. Ở đây, chúng ta được dạy rằng nhờ bí tích này, một cách nào đó, chúng ta bước vào hiệp thông với máu Chúa Giêsu Kitô. Nhưng theo quan niệm Hi-bá-lai, máu tượng trưng cho “sự sống”. Như thế, điều được khẳng định ở đây là sự hoà nhập sự sống của ta vào sựống của Chúa Kitô.

Trong bối cảnh Thánh Thể, “Máu” rõ ràng cũng tượng trưng cho “quà phúc” (gift), cho một hiện hữu tự đổ mình ra, tự hiến mình vì ta và cho ta. Như thế, hiệp thông máu cũng là đi vào sự năng động của sự sống ấy, vào “máu đang đổ ra” kia. Hiện hữu ta “được năng động hóa” đến độ mỗi người chúng ta đều trở nên một hữu thể vì người khác, như đã thấy nơi Trái Tim rộng mở của Chúa Kitô.

Xét theo một khía cạnh, những lời đọc trên bánh lại còn đáng làm ta ngạc nhiên hơn nữa. Những lời này nói tới một “hiệp thông” với xác Chúa Kitô mà Thánh Phaolô vốn ví với sự kếp hợp giữa người đàn ông và người đàn bà (xem 1Cor 6:17ff; Eph 5:26-32). Thánh Phaolô cũng phát biểu điều này từ một cách nhìn khác khi Ngài viết: tất cả chúng ta đều lãnh nhận một tấm bánh và cùng một tấm bánh. Điều ấy đúng một cách lạ lùng: “Bánh”, manna mới mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, quả là một và cùng là một Chúa Kitô, được dành cho mọi người.

Chúa kết hợp ta với chính Người

Quả thật, chúng ta tiếp nhận chỉ một và cùng một Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể, hay đúng hơn, chính Chúa Giêsu tiếp nhận ta và làm ta hoà nhập vào trong chính Người. Thánh Augustinô diễn tả điều đó bằng một đoạn văn được Ngài coi như một thị kiến: “hãy ăn bánh người của người mạnh khỏe; con không biến Ta thành ra con, nhưng Ta sẽ biến con thành ra Ta”. Nói cách khác, khi ta tiêu thụ của nuôi thân xác, thì của nuôi ấy được thân xác hấp thụ, trở nên một phần thân xác ta. Nhưng bánh này khác hẳn. Nó lớn lao và cao cả hơn ta. Không phải ta hấp thụ nó mà là nó hấp thụ ta, đến nỗi, một cách nào đó, ta trở nên “đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô”, như lời Thánh Phaolô nói, nghĩa là thành chi thể trong thân xác Người, nên một với Người.

Tất cả chúng ta đều “ăn” cùng một đấng, chứ không phải chỉ là cùng một sự; nhờ thế, tất cả chúng ta đều được bứng ra khỏi những con người cá thể khép kín để được đặt vào trong một người khác, lớn lao hơn. Tất cả chúng ta đều được hấp thụ trong Chúa Kitô và do đó, nhờ hiệp thông với Chúa Kitô, được kết hợp với nhau, trở nên như nhau, một sự vật duy nhất ở trong Người, chi thể lẫn của nhau.

Hiệp thông với Chúa Kitô cũng là hiệp thông với nhau. Chúng ta không còn lẻ loi đối với nhau, không còn người này tách biệt khỏi người kia nữa; mà nay mỗi chúng ta đã trở nên thành phần của người khác; mỗi người tiếp nhận hiệp thông đều là “xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi” (St 2:23).

Sự kết hợp xã hội có tính phổ quát

Cho nên, nền linh đạo thực sự về hiệp thông, nhìn trong chiều sâu Kitô học của nó, nhất thiết phải có đặc tính xã hội, như Henri de Lubac đã mô tả một cách tuyệt diệu hơn nửa thế kỷ trước đây, trong tác phẩm Catholicism (Đạo Công Giáo) của mình.

Vì lý do này, khi tôi đọc kinh hiệp lễ, tôi phải hoàn toàn hướng về Chúa Kitô, để tôi được Người biến cải, được ngọn lửa ‘hỏa hào’ của Người thiêu đốt tôi. Nhưng cũng chính vì lý do này, tôi phải luôn luôn ý thức rõ ràng rằng qua cách đó, Người kết hợp tôi cách hữu cơ với mọi người khác cũng đang tiếp nhận Người, với người qùy cạnh tôi đây, người mà tôi có thể chắng thích chút nào; mà còn cả với những người ở tận cuối chân trời, mãi tận Á Châu, Phi Châu, Mỹ Châu hay ở chốn xa xăm nào khác.

Trở nên một với họ, tôi phải học để biết cách mở rộng con người mình hướng về họ và để mình tham dự vào các hoàn cảnh của chính họ. Đó là bằng chứng chứng minh tính chân thực của tình yêu tôi dành cho Chúa Kitô. Nếu tôi kết hợp nên một với Chúa Kitô, tôi cũng nên một với người lân cận của tôi, và sự nên một này không chỉ giới hạn vào thời điểm hiệp lễ mà thôi, mà chỉ là bắt đầu ở đấy. Nó trở thành sự sống, trở thành thịt và máu, trong mọi kinh nghiệm hàng ngày của chia sẻ cuộc đời với người lân cận của tôi. Như thế, các thực tại cá biệt trong sự hiệp thông và trong tư cách là thành phần trong đời sống Giáo Hội của tôi đã được liên kết với nhau một cách không thể nào tháo gỡ ra được nữa.

Giáo Hội không được hạ sinh từ việc liên hiệp các cộng đồng. Việc hạ sinh ra Giáo Hội khởi đầu từ một tấm bánh, với một Đức Chúa và từ Người, từ khởi thủy và khắp mọi nơi, một thân xác đã được dẫn khởi từ một tấm bánh. Giáo Hội trở nên một không nhờ một việc cai trị tập quyền mà nhờ một tâm điểm chung mở toang cho mọi người, vì tâm điểm ấy không ngừng rút tỉa nguồn gốc từ một Đức Chúa duy nhất, Đấng nhờ một tấm bánh, đã tượng hình Giáo Hội thành một cơ thể duy nhất. Chính nhờ vậy, sự hợp nhất của Giáo Hội có một chiều sâu lớn lao hơn bất cứ sự hợp nhất nào của con người mọi thời. Chính khi hiểu nó như tình thân mật kết hợp mỗi người với Chúa, mà Phép Thánh Thể cũng trở thành một bí tích có tính xã hội rất cao độ.

Thánh Martin de Porres, á thánh Têrêxa thành Calcutta

Các vị thánh xã hội vĩ đại, trên thực tế, vẫn luôn là những vị thánh vĩ đại của Phép Thánh Thể. Đức Hồng Y Ratzinger muốn nhắc tới hai điển hình được chọn một cách tình cờ.

Trước nhất là Thánh Martin de Porres, sinh tại Lima, Peru, năm 1569, con trai một người mẹ Phi Mỹ (Afro-American) và một nhà qúy tộc Tây Ban Nha. Thánh Martin sống nhờ việc thờ lạy Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể, sống trọn nhiều đêm cầu nguyện trước Chúa Giêsu chịu đóng đinh trong Nhà Tạm, trong khi cả ngày chăm sóc không biết mệt mỏi các người bệnh và trợ giúp những người bị xã hội ruồng bỏ, khinh ghét, những người được Ngài tự đồng hóa với do chính gốc gác thấp hèn của mình. Cuộc gặp gỡ Chúa Kitô, Đấng hiến mình cho ta trên thánh giá, làm chúng ta trở thành chi thể của cùng một thân thể nhờ cùng một tấm bánh, một biến đổi mà nếu biết đáp ứng đầy đủ, sẽ thúc đẩy ta đến chỗ phục vụ người đau khổ, chăm sóc người yếu ớt và bị lãng quên. Thời ta, có á thánh Têrêxa thành Calcutta. Bất cứ nơi đâu Ngài muốn mở nhà để các nữ tu của mình chăm sóc người sắp chết và người bị bỏ rơi, điều đầu tiên Ngài đòi phải có là chỗ đặt Nhà Tạm, vì Ngài biết rõ chỉ bắt đầu từ đó, ta mới có sức mạnh để phục vụ mà thôi.

Bất cứ ai nhận ra Chúa trong Nhà tạm, đều nhận ra Người trong người đau khổ và thiếu thốn; họ ở trong số những người mà quan tòa trần gian sẽ phán: “Ta đói, các con cho Ta ăn; Ta khát, các con cho Ta uống; Ta trần truồng, các con cho Ta mặc, Ta bệnh, các con đến thăm Ta, Ta ngồi tù, các con đến với Ta” (Mt 25:35).

Đoạn Tân Ước quan trọng thứ hai liên quan tới hạn từ “hiệp thông” là trích từ đầu Thư thứ nhất của Thánh Gioan (1:3-7). Trong đoạn này, Thánh Gioan nói đến cuộc gặp gỡ với Ngôi Lời Nhập Thể, cuộc gặp gỡ mà Thiên Chúa đã ban cho Ngài. Ngài nói rằng Ngài thông truyền điều chính mắt Ngài đã được chứng kiến và chính tay Ngài đã được đụng tới. Cuộc gặp gỡ ấy ban cho Ngài ơn koinonia (hiệp thông) với Chúa Cha và Con của Người là Chúa Giêsu Kitô. Ơn hiệp thông ấy đã trở thành ơn hiệp thông thực sự với Thiên Chúa hằng sống. Theo Thánh GIoan, ơn hiệp thông này đã mở mắt cho Ngài và nhờ thế, Ngài được sống trong ánh sáng, nghĩa là, trong chân lý của Thiên Chúa, một chân lý được phát biểu qua giới răn độc đáo và mới mẻ, một giới răn vượt trên mọi giới răn khác, đó là giới răn yêu thương. Cho nên, hiệp thông với “Lời sự sống” là trở thành sự sống công chính, là trở thành tình yêu. Nhờ thế, nó cũng trở thành hiệp thông qua lại: “Nếu ta đi trong ánh sáng… ta cũng sẽ hiệp thông với nhau” (1Ga 1:7).

Đoạn văn trên cũng cho thấy cùng một luận lý về hiệp thông mà ta đã thấy nơi Thánh Phaolô: hiệp thông với Chúa Giêsu trở thành hiệp thông với chính Thiên Chúa, hiệp thông với ánh sáng và với tình yêu; nhờ cách đó, nó cũng trở thành sự sống công chính, và những điều ấy kết hợp ta với nhau trong chân lý. Chỉ khi nào chịu nhìn hiệp thông dưới khía cạnh sâu rộng này, ta mới nói truyện được với thế gian.

3. Liên đới

Hạn từ thứ ba là “liên đới”. Trong khi hai hạn từ trên do Thánh Kinh và Thánh Truyền mà có, thì hạn từ thứ ba này do bên ngoài mà có. Như đức Tổng Giám Mục Paul Cordes từng phát biểu, quan niệm “liên đới” khởi đầu được những nhà xã hội chủ nghĩa đầu tiên như P. Lerou (chết năm 1871) khai triển như một giải đáp mới, hữu lý và hữu hiệu đối với các vấn đề xã hội, ngược lại ý niệm yêu thương của Kitô giáo.

Không có Chúa Kitô, sẽ không có giải pháp nào cả

Karl Marx chủ trương rằng Kitô giáo có đến một thiên niên kỷ rưỡi để chứng tỏ khả năng giải quyết các vấn đề nghèo đói, bất bình đẳng và bất công của mình, nhưng chỉ thành công trong việc chứng tỏ mình không có khả năng làm việc đó.

Bởi thế, Marx cho rằng cần phải dùng các đường lối mới. Trong nhiều thập niên qua, nhiều người vẫn xác tín rằng  hệ thống xã hội chủ nghĩa Mácxít, dựa trên ý niệm “liên đới”, phải là con đường cuối cùng để thực hiện bình đẳng nhân bản, loại trừ nghèo đói và đem hòa bình lại cho thế giới. Ngày nay, ta thấy rõ cái lý thuyết và chính sách xã hội bất cần tới Thiên Chúa ấy đã để lại sau lưng biết bao khủng khiếp và tàn sát.

Không ai chối cãi rằng mô thức tự do của nền kinh tế thị trường, nhất là nền kinh tế thị trường được các ý niệm xã hội của Kitô Giáo điều hoà và chỉnh đốn, đã có những thành công lớn lao tại một số miền trên thế giới. Nhưng điều buồn là người ta cũng thấy các hiệu quả tai hại của nó, nhất là ở những miền như Phi Châu, nơi có đang có sự tranh chấp giữa các thế lực và quyền lợi kinh tế. Đàng sau những mô thức phát triển mà bề ngoài có vẻ mang lại lợi ích ấy, người ta thấy đôi khi chỉ là những tham vọng dấu mặt nhằm khuếch trương các quyền lực hay ý thức hệ đặc thù hòng thống trị thị trường. Trong hoàn cảnh ấy, các cơ cấu xã hội cũng như các lực lượng tâm linh và luân lý xưa đã và đang bị hủy hoại nặng nề, đem lại không biết bao nhiêu các hậu quả đang vang vọng bên tai ta như những tiếng kêu thống khổ.

Thực ra, không có Thiên Chúa, không có sự việc nào tiến triển được. Và vì Thiên Chúa chỉ mạc khải khuôn mặt cũng như Danh Thánh của Người cho ta và bước vào hiệp thông với ta, trong một mình Chúa Kitô mà thôi, nên nếu không có Chúa Kitô, sẽ không bao giờ có niềm hy vọng tối hậu.

Kitô hữu nêu gương giải pháp, bất chấp các thất bại khủng khiếp

Rõ ràng là trong các thế kỷ qua, người Kitô hữu mắc nhiều tội lỗi nghiêm trọng. Nạn nô lệ và buôn bán nô lệ vẫn còn là một chương đen tối chứng tỏ người Kitô hữu  ít là Kitô hữu thực sự xiết bao và nhiều Kitô hữu đã xa rời đức tin và sứ điệp Phúc Âm, xa rời sự hiệp thông chân thực với Chúa Giêsu Kitô biết chừng nào.

Tuy thế, nhìn từ góc độ khác, ta lại thấy thật nhiều gương sáng đầy đức tin và yêu thương, nơi nhiều linh mục và nữ tu, tận tụy sống hy sinh và khiêm nhường. Những cuộc đời ấy đã mang lại những cán cân quân bằng tích cực và để lại một gia sản yêu thương. Gia sản ấy nếu không loại bỏ được cảnh bóc lột khủng khiếp, thì ít nhất cũng đã làm nó giảm bớt khá nhiều. Ta có thể tiếp tục xây dựng trên các chứng tá ấy; ta có thể tiến xa hơn trên nẻo đường của họ.

Trong mấy thập niên qua, nhờ các gương sáng ấy, và nhất là nhờ các nghiên cứu đạo đức học của Đức Gioan Phaolô II, cái hiểu về liên đới dần dần đã được biến đổi và được Kitô hóa, đến độ ngày nay ta có quyền đặt nó cạnh hai hạn từ chủ yếu của Kitô giáo tức hạn từ Thánh Thể và Hiệp Thông. Liên đới, trong bối cảnh mới này, có nghĩa là cảm thấy có trách nhiệm đối với nhau, người khỏe mạnh có trách nhiệm với người đau yếu, người giầu có trách nhiệm với người nghèo, các nước Bắc Bán Cầu có trách nhiệm với các nước Nam Bán Cầu. Liên đới là ý thức cá nhân về trách nhiệm hỗ tương; nó có ý nhắc nhở ta nên ý thức rằng lúc cho đi chính là lúc nhận lãnh. Liên đới có nghĩa: ta chỉ cho đi điều mình đã nhận lãnh và điều cho đi không bao giờ là của riêng một mình mình.

Linh đạo phải đi đôi với đào luyện khoa học và kỹ thuật

Ngày nay ta thấy rõ: chuyển giao kỹ năng, kiến thức, lý thuyếr khoa học và kỹ thuật mà thôi không đủ, cả tập tục trong một số cơ cấu chính trị nữa cũng thế, không đủ. Những điều ấy không những không giúp được chi mà kết cục còn phá hoại nữa, nếu không phục hồi các sức mạnh tâm linh, vốn là những sức mạnh mang lại ý nghĩa cho các kỹ thuật và cơ cấu ấy, làm cho việc sử dụng chúng trở thành có trách nhiệm. Tiêu diệt các tôn giáo truyền thống bằng tính thuần lý là điều dễ dàng. Những tôn giáo này nay bị coi như những nền văn hóa phụ thuộc (subcultures), những tàn dư của mê tín, bị tước hết các yếu tố tốt đẹp và hiện bị coi như những thực hành chỉ làm hại tâm trí và thân xác con người. Tốt hơn, đáng lẽ người ta nên phơi bầy cái cốt lõi lành mạnh của các tôn giáo này ra dưới ánh sáng Chúa Kitô để nhờ đó, cái cốt lõi này thể hiện được đầy đủ các hoài mong nội tại của chúng. Qua diễn trình thanh lọc và khai triển như thế, liên tục tính và sự tiến bộ sẽ được kết hợp một cách có hiệu quả. Việc truyền giáo chỉ thành công tại những nơi người ta biết đi theo con đường như trên trên và nhờ thế, khai triển được các sức mạnh của đức tin, là điều ngày nay hết sức cần.

Trong cuộc khủng hoảng của hai thập niên 1960 và 1970, nhiều nhà truyền giáo bi quan đi đến kết luận này là công việc truyền giáo hay công bố Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô ngày nay không còn thích hợp nữa.

Họ nghĩ điều duy nhất có ý nghĩa là giúp phát triển xã hội. Nhưng làm thế nào tiến hành được việc phát triển tích cực về xã hội, nếu ta dốt nát không hiểu gì về Thiên Chúa?

Phúc âm và tiến bộ xã hội đi đôi với nhau

Ý niệm căn bản được nhiều người lẳng lặng nhất trí hiện là ý niệm cho rằng: nên để các dân tộc hay bộ lạc duy trì tôn giáo riêng của họ, không nên bắt họ phải quan tâm tới tôn giáo của ta,. Ý niệm ấy chỉ chứng tỏ một điều: đức tin trong tâm hồn những người chủ trương như thế đã ra nguội lạnh, dù thiện ý của họ vẫn cao; nó chứng tỏ rằng hiệp thông với Chúa Giêsu không còn là điều sinh tử nữa. Nếu không, tại sao họ lại cho rằng loại bỏ người khác khỏi sự hiệp thông ấy là một điều tốt?

Về căn bản, đây quả là một cách suy nghĩ nghèo nàn về các tôn giáo nói chung và không biết qúy trọng các tôn giáo ấy. Ở đây, xem ra người ta coi  tôn giáo của người khác như một thứ tàn dư cổ lỗ cần phải để yên đấy, vì tôn giáo ấy chẳng có gì can hệ tới tiến bộ cả. Những điều các tôn giáo ấy nói và làm xem ra chẳng ăn nhằm gì tới ta; các tôn giáo này vốn không thuộc thế giới hữu lý; xét tới cùng, nội dung của chúng xét chỉ là con số không, không đáng kể.

Đã tới lúc ta phải loại bỏ lối suy nghĩ lầm lẫn ấy. Sở dĩ ta cần lòng tin vào Chúa Giêsu Kitô chính là vì lòng tin ấy đem lại cho ta cả lý trí lẫn tôn giáo. Nhờ thế, ta nhận ra trách nhiệm chia sẻ của mình. Chia sẻ trên mọi bình diện, tâm linh, đạo đức và tôn giáo, là một phần trong tình liên đới giữa các dân tộc và quốc gia.

Hoàn cầu hóa là phải tìm phúc lợi cho mọi lục địa

Rõ ràng ta phải phát triển kinh tế, không phải chỉ để mang lợi lại cho một quốc gia hay một nhóm quốc gia nào đó, mà là vì phúc lợi của mọi lục địa. Điều ấy là điều khó và chưa bao giờ được thể hiện hoàn toàn. Nó đòi ta phải hy sinh. Nhưng nếu có tinh thần liên đới được đức tin nuôi dưỡng, thì điều đó có thể thực hiện được, dù chỉ là bất toàn.

Chủ đề hoàn cầu hóa xuất hiện trong bối cảnh này. Ngày nay, điều rõ ràng là tất cả chúng ta đều lệ thuộc lẫn nhau. Nhưng hiện đang có thứ hoàn cầu hóa một chiều, nhằm phục vụ quyền lợi bản thân. Cần phải có thứ hoàn cầu hóa đòi buộc các quốc gia phải chịu trách nhiệm đối với nhau và cùng nhau chia sẻ gánh nặng của nhau. Tất cả những điều ấy không thể thực hiện được theo phương cách trung lập, tức là chỉ quan tâm tới các then máy của thị trường. Các quyết định về giá trị thị trường cần được ấn định bởi nhiều yếu tố, trong đó, chân trời tôn giáo và luân lý của ta luôn có tính quyết định. Nếu việc hoàn cầu hóa về kỹ thuật và kinh tế không đi đôi với việc mở lương tâm mình ra cho Thiên Chúa, là Đấng tất cả chúng ta sẽ phải tính sổ trách nhiệm, thì chắc chắn thảm họa sẽ xẩy ra. Đây là một trách nhiệm lớn lao đang đè nặng lên Kitô hữu ngày nay.

Kitô giáo, một tôn giáo vốn từ một Chúa, một tấm bánh mà ra, một tôn giáo tìm cách biến chúng ta thành một cơ thể, ngay từ lúc đầu, đã nhằm mục đích thống nhất nhân loại. Ngay trong lúc này, lúc mà việc thống nhất bề ngoài toàn thể nhân loại đang trở thành một khả thể, một khả thể mà trước đây không ai dám nghĩ tới, nếu ta, trong tư cách Kitô hữu, lại rút chân ra, vì tin rằng mình không thể hay không nên cho đi bất cứ điều gì nữa, thì chắc ta sẽ đặt nặng lên mình một thứ tội trọng khác. Đúng thế, sự thống nhất mà không có Thiên Chúa hay chống lại Thiên Chúa kết cục sẽ giống như cuộc thí nghiệm của Babylon: hoàn toàn hỗn loạn và hủy diệt tan tành, trong hận thù và hỗn mang, mọi người chống chọi lẫn nhau.

Kết luận

Thánh Thể như Bí tích biến đổi

Ta hãy trở lại với Bí Tích Thánh Thể. Điều gì thực sự đã xẩy ra trong đêm Chúa Giêsu bị phản bội? Ta hãy nghe Lễ Quy Rôma, vốn được coi là tâm điểm “Phép Thánh Thể” của Giáo Hội Rôma: “Hôm trước ngày chịu khổ hình, Người cầm bánh trong tay thánh thiện khả kính, ngước mắt lên trời, hướng về Chúa là Cha toàn năng của Người, tạ ơn Chúa, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà nói: ‘Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn: vì này là mình Thầy sẽ bị nộp vì các con’. Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm chén qúy trọng này trong tay thánh thiện khả kính, cũng tạ ơn Chúa, dâng lời chúc tụng, và trao cho các môn đệ mà nói: ‘Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống: vì này là chén máu Thầy, máu Giao Ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy’”.

Biến thể

Với những lời trên, điều gì sẽ xẩy ra?

Trước nhất, ta gặp hạn từ “biến thể” (transubstantiation). Bánh trở nên thân thể, thân thể của chính Người. Bánh trần gian trở nên bánh Thiên Chúa, “manna” trên trời, được Thiên Chúa dùng nuôi sống con người, không những ở đời này mà còn trong viễn ảnh phục sinh nữa, nghĩa là của nuôi chuẩn bị cho phục sinh hay đúng hơn, của nuôi làm cho phục sinh khởi đầu rồi. Chúa chúng ta, Đấng có thể biến đá thành cơm bánh, Đấng có thể khiến con cái Abraham chỗi dậy từ đất đá, muốn biến đổi bánh thành thân thể,  thân thể của chính Người. Điều này có thể thực hiện được chăng? Thực hiện cách nào?

Mình cho đi, Máu đổ ra

Ta không thể không đặt câu hỏi như dân chúng tại hội đường Capernaum. Người ở đó trước mặt các môn đệ, với đầy đủ thân xác; thế thì làm thế nào Người lại đọc trên bánh rằng: này là mình Thầy? Điều quan trọng cần chú ý kỹ ở đây là lời nói thực sự của Chúa Giêsu. Người không nói ngắn ngủi: “Này là mình Thầy”, nhưng nói đầy đủ: “Này là mình Thầy sẽ bị nộp vì các con”. Thân xác ấy trở thành một tặng phẩm, vì nó được cho đi. Qua hành vi cho đi, thân xác ấy trở nên “có khả năng hiệp thông”, đã tự biến mình thành quà phúc. Ta cũng nên lưu ý đến cùng một điều ấy trong các lời Người nói trên chén thánh. Chúa Kitô không  nói: “Này là máu Thầy” nhưng Người nói: “này là máu Thầy, sẽ đổ ra cho các con”. Vì chẩy ra, đến mức nó chẩy ra, nên nó có thể được cho đi.

Biến đổi bạo lực thành hành vi yêu thương

Nhưng giờ đây, một câu hỏi khác được đặt ra: “bị nộp” và “chẩy ra” có nghĩa gì? Thật sự ra, Chúa Giêsu bị giết; Người bị đóng đinh vào thánh giá và chết vì cực hình. Máu Người đổ ra thật, trước nhất trong Vườn Cây Dầu vì nỗi thống khổ nội tâm đối với sứ mệnh của mình, rồi lúc chịu đánh đòn, chịu đội mão gai, chịu đóng đinh vào thánh giá và sau khi qua đời còn bị đâm thấu Trái Tim. Việc xẩy ra đầu hết là một hành vi bạo lực, hận thù, tra tấn và hủy hoại.

Ở điểm này, ta thấy bình diện biến đổi thứ hai, sâu sắc hơn nhiều: biến đổi từ bên trong,  Người biến đổi  hành vi của những người bạo hành chống lại Người thành hành vi hiến mình vì chính những người ấy, nghĩa là thành hành vi yêu thương. Điều ấy có thể nhận ra rõ ràng trong hoạt cảnh ở Vườn Cây Dầu. Điều Người dạy trong Bài Giảng Trên Núi, nay Người đem ra thực hành: Người không đề nghị lấy bạo lực chống lại bạo lực, mà đáng lý ra Người có thể làm, nhưng kết liễu bạo lực bằng cách biến đổi nó thành yêu thương. Hành vi giết chóc, chết chóc, được biến đổi thành hành vi yêu thương; bạo lực bị tình yêu đánh bại. Đây là sự biến đổi nền tảng trên đó mọi biến đổi khác phải dựa vào. Đó là sự biến đổi thực sự mà thế giới cần đến, sự biến đổi chỉ một mình nó đủ để cứu chuộc thế gian. Vì qua một hành vi yêu thương, Chúa Kitô đã biến đổi và đánh bại bạo lực từ bên trong, chính cái chết cũng đã được biến đổi: yêu thương mạnh hơn sự chết. Nó tồn tại mãi mãi.

Biến đổi cái chết thành sự sống

Và thế là trong sự biến đổi này, ta thấy có sự biến đổi rộng lớn hơn, tức sự biến đổi từ cái chết đến phục sinh, từ thân xác chết bằm đến thân xác sống lại. Nếu người đầu hết là một hữu thể sống, thì như Thánh Phaolô từng nói, Ađam mới, tức Chúa Kitô, qua biến cố thiêng liêng kia, đã trở thành người ban sự sống (1Cor 15:45). Đấng sống lại quà phúc cho đi, là thần khí ban chính sự sống mình, đấng “hiệp thông” mà chính lại là chính sự  hiệp thông. Điều ấy có nghĩa: ở đây, không có chuyện từ biệt hiện hữu vật chất; đúng hơn, bằng cách ấy, hiện hữu vật chất đã hoàn thành mục tiêu của nó: không có biến cố chết thực sự (với tính siêu việt nội tại của nó) thì trọn bộ việc biến đổi vật chất đầy phức tạp này sẽ không thể có được. Và do đó, trong việc biến đổi phục sinh, trọn sự viên mãn của Chúa Kitô tiếp tục hiện tồn, nhưng giờ đây hiện tồn dưới hình thức biển đổi; giờ đây, việc vừa là thân xác vừa là quà phúc cho đi không còn loại trừ nhau nữa, nhưng mặc nhiên hiện diện trong nhau.

Trước khi tiếp tục, ta hãy tóm tắt một lần nữa để hiểu toàn bộ thực tại phức tạp này. Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã dự ứng trước biến cố Canvariô. Người chấp nhận cái chết trên thánh giá và qua việc chấp nhận ấy, Người đã biến đổi hành vi bạo lực thành hành vi cho đi, hành vi hiến đổ mình ra. Thánh Phaolô dựa vào điều trên và trước viễn tượng chính Ngài sắp chịu tử đạo, đã viết như sau trong Thư gửi tín hữu Philíphê (2:17): “Nếu tôi phải đổ máu ra hợp làm một với hy lễ mà anh em lấy đức tin dâng lên Chúa, thì tôi vui mừng và cùng chia sẻ niềm vui với tất cả anh em”. Trong Bữa Tiệc Ly, thánh giá đã có mặt rồi, đã được Chúa Giêsu chấp nhận và biến đổi rồi. Sự biến đổi đầu hết và nền tảng này kéo theo nó mọi biến đổi khác: thân xác hay chết được biến đổi thành thân xác phục sinh: đó là “thần khí ban sự sống”.

Biến đổi bánh và rượu

Dựa trên sự biến đổi ấy, sự biến đổi thứ ba có thể thực hiện được: của lễ bánh và rượu, vốn là của lễ trong thiên nhiên và đồng thời là kết quả lao động của con người và là một “biến đổi” thiên nhiên, đã được biến đổi để trong chúng chính Chúa Kitô, Đấng hiến mình đi, trở nên hiện diện, trong chính việc hiến mình ấy. Việc hiến mình của Người, hay chính Người, vì Người vốn là quà phúc cho đi, nên hành vi hiến mình không phải là cái gì của Người, nhưng là chính mình Người.

Và trên căn bản ấy, ta thấy có triển vọng xem sét tới hai biến đổi xa hơn, hai biến đổi rất chủ yếu đối với Phép Thánh Thể, từ giây phúc nó được thiết lập: bánh và rượu được biến đổi.

Qua chúng, chính Chúa Kitô hiến mình như thần khí ban sự sống để biến đổi con người chúng ta trở nên một tấm bánh với Người và sau đó một thân thể với Người. Việc biến đổi của lễ này, vốn chỉ là việc tiếp diễn cuộc biến đổi nền tảng trên thánh giá và cuộc biến đổi phục sinh, không phải là điểm tận cùng mà đến lượt nó chỉ là một bắt đầu.

Biến đổi người hiệp lễ thành một cơ thể

Mục đích của Phép Thánh Thể là biến đổi những ai tiếp nhận nó thành một hiệp thông đúng nghĩa. Và như thế, mục đích là hợp nhất, là thứ bình an mà chúng ta, trong tư cách các cá thể tách biệt sống cạnh nhau hay sống kình chống nhau, trở nên một cơ thể biết cùng Chúa Kitô và trong Chúa Kitô tự cho đi, biết sống chờ ngày phục sinh và chờ một tân thế giới.

Biến đổi tạo dựng thành nơi Thiên Chúa cư ngụ

Biến đổi thứ năm và là biến đổi sau cùng, một biến đổi vốn là đặc điểm của bí tích này, nhờ thế đã trở nên rõ rệt: nhờ chúng ta, những con người đã được biến đổi, đã trở thành một cơ thể, một tinh thần ban sự sống, toàn bộ tạo dựng cũng sẽ phải được biến đổi. Nó phải được biến đổi thành “đô thị mới”, vườn địa đàng mới, nơi cư ngụ sống động của Thiên Chúa: “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cor 15:28), như lời Thánh Phaolô mô tả ngày chung cục của tạo dựng, một miêu tả phải phù hợp với Phép Thánh Thể.

Như thế, Phép Thánh Thể là một diễn trình biến đổi, rút tỉa quyền lực từ Thiên Chúa để biến cải hận thù và bạo lực, dựa vào quyền lực của Người mà biến đổi thế giới. Cho nên ta phải cầu nguyện để Chúa Kitô giúp ta cử hành và sống Phép Thánh Thể cách ấy. Ta cầu xin Người biến cải ta và cùng với ta biến cải thế giới thành một Giêrusalem mới.

 

 

Tác giả: Vũ Văn An
   dunglac@gmail.com