Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Vũ Văn An
Bài Viết Của
Vũ Văn An
Antonio Rosmini, người của đức tin, lý trí và trái tim
Chiến dịch đem người Công Giáo trở về
Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II
Vatican và vấn đề tài liệu
Bốn Mươi Năm Sự Sống Con Người
Thờ Phượng Đích Thực Trong Tư Tưởng Thánh Phaolô
Gia Đình và Sự Sống
Khủng Hoảng Hôn Nhân và Gia Đình
Gia Tô Bí Lục Tân Thời
Thần học và thực hành mục vụ trong các thư của Thánh Phaolô
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa
Tính đáng tin cậy của Bộ Thánh Kinh
Kính Mừng Maria
Cầu nguyện theo lối chiêm niệm
Li dị và tái hôn trong các Phúc âm nhất lãm
Các nhà truyền giáo và kỹ nghệ tình dục
Từ Sydney tới Paris
Lộ Đức, sự hiện diện mênh mông của Mẹ
Bản Thể, Bản Tính
Thánh Phaolô, Nhà Truyền Giáo Vĩ Đại
Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
Cùng đi với Thánh Phaolô
Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội
Đức Bênêđíctô XVI: từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới hành trình đức tin trẻ em
THÁNH PHAOLÔ, NHÀ TRUYỀN GIÁO VĨ ĐẠI

(Hồ sơ của Hãng tin Fides, ngày 28 tháng Sáu năm 2008 do Cha Jean Baptiste Edart thu thập, và Luca de Malta biên tập )

Dẫn Nhập

Thánh Phaolô “tỏa sáng như vì sao rực rỡ nhất trong lịch sử Giáo Hội” (Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Buổi Triều Yết ngày 25 tháng Mười năm 2006). Vị Tông Đồ Dân Ngoại, một khuôn mặt rất phong phú và phức tạp này, không những là tác giả của nhiều Lá Thư hiện đang được chúng ta thưởng ngoạn ngày nay, mà trước nhất và đầu hết Ngài còn là một nhà truyền giáo vĩ đại. Cuộc gặp gỡ của Ngài với Chúa Kitô trên đường tới Đamát là nguồn suối mọi lời giảng thuyết và trọn bộ nền thần học của Ngài. Trên đường du hành khắp miền Địa Trung Hải, kinh qua cấm cách, nguy hiểm đường dài, lúc nào Ngài cũng tận tụy làm việc không biết mệt mỏi. Niềm hãnh diện của Ngài là được công bố Phúc Âm ở những nơi chưa ai nghe về nó.

Chiêm ngắm khuôn mặt đầy biểu tượng và tiên phong này trong Năm Thánh mừng kính Ngài chắc chắn sẽ là nguồn suối thúc đẩy ta lên đường truyền giáo. Nó hệ ở việc nhìn lại con người Thánh Phaolô. Nhận thức gốc gác địa dư và tôn giáo của Ngài ngõ hầu nắm vững hơn bản chất cuộc gặp gỡ hết sức sâu sắc của Ngài với Chúa Kitô và hiểu rõ con người Ngài đã được biến đổi và chuẩn bị ra sao để phục vụ công việc truyền giáo. Thứ đến, ta sẽ xét xem Thánh Phaolô hiểu thế nào và tiến hành ra sao nhiệm vụ truyền giáo của mình. Tông đồ là người thế nào? Làm sao nhận diện được một tông đồ? Quả là thích thú khi tìm hiểu một cách cụ thể Thánh Phaolô đã nói với những ai và tại những nơi nào, Ngài đã công bố Phúc Âm như thế nào, các lời giảng, các phép lạ và các đặc sủng đã xuất hiện trong thừa tác vụ của Ngài ở chỗ nào. Tất cả những khía cạnh đó sẽ giúp ta hiểu rõ hơn những công việc nền tảng của mọi sinh hoạt truyền giáo.

Thánh Phaolô là ai?

Nguồn gốc không gian và thời gian của Ngài

Thánh Luca cho hay có lẽ Thánh Phaolô sinh tại Tarsus (Cv 22:3). Cha mẹ của Ngài di cư tới Tarsus và có lẽ bị người La Mã dãn dân tới đó. Khi đã ổn định, họ được ban cấp quyền công dân La Mã, một quyền họ có thể truyền lại cho Saolô (Cv 25:11-12). Ta biết Ngài có một người chị và một người cháu trai (Cv 23:16). Thánh Phaolô lớn lên tại Tarsus (Cv 9: 11, 25; 21:39; 22:3), thủ đô vùng Cilicia, hiện nay là Thổ Nhĩ Kỳ.

Tarsus, một thành phố lớn, giầu có, tọa lạc trên một trong những con lộ nhiều người qua lại nhất trên thế giới hồi đó, là cửa ngõ dẫn vào Tiểu Á, rất nổi tiếng về phẩm chất hàng vải. Điều ấy giải thích tại sao nghề được Thánh Phaolô học lại là nghề làm lều. Tarsus có nền hành chánh riêng, có thẩm phán do dân bầu và tiền tệ riêng. Người ta thấy rõ ở đấy đã có mặt một Cộng đồng Do Thái trong thế kỷ thứ nhất CN. Năm 66 trước CN, thành phố này chống lại Cassius, kẻ ám sát Julius Caesar, và để tưởng thưởng, Mark Antonio đã ban cho thành phố quy chế tự do và không buộc phải nạp thuế nữa.

Tarsus cũng nổi tiếng là một trung tâm giáo dục và triết học. Strabone, trong tác phẩm Geografia (14.5.14), quả quyết rằng Tarsus nổi hơn cả Athens, Alexandria và bất cứ nơi nào khác về giáo dục. Ông ta nói tới sự trổi vượt trong các trường dạy hùng biện (rhetoric) của nó. Các triết gia thuộc phái khắc kỷ thích cư ngụ tại đây và việc họ giảng dạy ngay bên đường là điều khá thông thường. Thánh Phaolô tiếp nhận được nét văn hóa ấy ngay trong nền học vấn của mình. Trong nhiều lá thư của mình, Ngài có nhắc đến các thuật ngữ địa phương, các luận chứng rút từ nền văn hóa triết học và kịch nghệ của thời Ngài sống.

Các yếu tố chắc chắn nhất trong tiểu sử của Thánh Phaolô chính là cuộc gặp gỡ của Ngài với Chúa Giêsu Kitô vào khoảng năm 32 và việc Ngài bị cầm tù tại Rôma trong các năm 60-62. Ngài chịu tử đạo tại Rôma giữa khoảng các năm 63 và 67. Các điểm khác thì khó có thể nói chắc, như con số chính xác các lần Ngài đi truyền giáo chẳng hạn. Có nhiều ý kiến khác nhau nhưng con số 3 lần thì xem ra có phần đúng hơn cả. Các giai đoạn và biến cố chính trong cuộc đời Ngài bao gồm việc Ngài được huấn luyện tại học đường của Gamaliel ở Giêrusalem (Cv 22:3) (*), việc Ngài bách hại Kitô hữu trong các năm sau đó, rồi cuộc gặp gỡ của Ngài với Chúa Kitô trên đường tới Đamát đầu thập niên 30, gặp các tông đồ tại Giêrusalem, sứ mệnh giảng đạo cho Dân Ngoại, phúc tử đạo tại Rôma.

Người Do Thái tên Saolô

Thánh Phaolô nhiều dịp nói về mình và điều ấy giúp ta hiểu Ngài là ai. Ngài cung cấp cho ta nhiều tín liệu quan trọng trong thư gửi tín hữu Philíphê 3:5-6: “tôi chịu cắt bì ngày thứ tám, thuộc dòng dõi Ítraen, họ Bengiamin, là người Hípri, con của người Híppri; giữ luật thì đúng như một người Pharisêu; nhiệt thành đến mức ngược đãi Hội Thánh; còn sống công chính theo Lề Luật, thì chẳng ai trách được tôi”. Ngài chịu cắt bì tám ngày sau khi sinh. Điều ấy cho thấy sự trổi vượt về nguồn gốc của Ngài: Ngài chịu cắt bì đúng theo đòi hỏi của Luật Môsen trong sách Lêvi 12:3. “Dòng dõi Ítraen” vốn là một thuật ngữ dùng để chỉ bản sắc tôn giáo. “Họ Bengiamin”: do nhiều lý do, thuộc họ này là một vinh dự lớn trong Do Thái Giáo. Bengiamin vốn là con trai Rakhen, người vợ yêu qúy của Giacóp, lại là người duy nhất sinh tại Đất Hứa (St 35:16-18). Họ này đem lại cho Ítraen ông vua đầu tiên (1Sm 9:1-2) và mãi mãi trung thành với dòng dõi Đavít (1V 12:21). Cùng với họ Giuđa, họ Bengiaminlà nhóm đầu tiên tái thiết Đền Thờ sau thời lưu đầy (Xh 4:1). Không lạ gì được thuộc họ này là một vinh dự lớn. “Là người Hípri con của người Hípri” nói cách khác ‘thuộc gia đình sống đạo’, luôn giữ luật Môsen và nói tiếng Aram. Những câu ấy mô tả cho ta một người Do Thái hoàn hảo.

Thánh Phaolô cũng mô tả mình là người Pharisêu, vốn nổi tiếng là yêu luật Môsen và luật truyền khẩu. Luật truyền khẩu này được viết thành văn bản từ thế kỷ thứ hai trước CN trở đi và trở thành bộ Talmud. Flavius Joseph, một sử gia Do Thái phục vụ người La Mã, cho hay: “Người Pharisêu áp đặt lên dân chúng nhiều luật lệ của truyền thống Cha Ông vốn không được ghi chép trong luật Môsen” ( (Antiquités Juives, 13.297). Ta sẽ tìm thấy ý tưởng đó một lần nữa trong Thư của chính Thánh Phaolô khi Ngài cho hay Ngài cuồng tín “bênh vực truyền thống Cha Ông” (Gl 1:14). Các luật liên quan tới ăn uống, cashroute, được coi là quan trọng. Chúng có tính biểu tượng để phân biệt Dân Chúa Chọn với các dân khác. Niềm tin mới, trong lòng Do Thái Giáo, đã bỏ rơi sự phân biệt này. Việc bỏ rơi ấy những người Pharisêu sùng đạo như Saolô không thể nào chấp nhận được: đối với họ, nó đe doạ chính sự tồn vong của Ítraen.

Tuy nhiên, bức tranh do Thánh Phaolô tự mô tả về chính mình không nên khiến ta có cái nhìn khép kín đối với nền văn hóa tôn giáo của Ngài. Ta đã thấy bối cảnh trong đó Thánh Phaolô lớn lên tại Tarsus. Các Thư của Ngài xác định rằng Ngài từng được thụ huấn nơi hội đường nhưng cũng được hấp thụ môi trường Hy Lạp nữa. Việc Ngài thành thạo với thuật hùng biện Hy Lạp đến độ có thể trích dẫn hay tham chiếu các tác giả cổ điển Hy Lạp cho thấy Ngài từng học hỏi các vấn đề ấy, ít nhất cũng đến lúc 14, 15 tuổi. Rồi sau đó, Ngài được gửi tới Giêrusalem để học hỏi các truyền thống Cha Ông tại học đường của Gamaliel (*). Ngay các rabbis, vào thời ấy, cũng không ngần  ngại cho các học trò của mình đọc các tác giả Hy Lạp. Bởi thế ta thấy chân trời văn hóa và trí thức của Thánh Phaolô khá rộng lớn.

Việc trở lại và đi truyền giáo của Thánh Phaolô

Trở lại?

Ơn gọi đi truyền giáo và “trở lại” là hai điều liên kết chặt chẽ với nhau nơi Thánh Phaolô. Đó là lý do tại sao nghiên cứu bản chất cuộc biến đổi thiêng liêng này lại thích thú để có thể hiểu ơn gọi làm nhà truyền giáo của Ngài.

Thánh Phaolô nói rất ít về biến cố này trong các Thư của Ngài. Các đoạn thư chính là 1Cor 15:1-11; Gl 1:13-17 và Pl 3:2-14, nhưng chúng chứa rất ít chi tiết lịch sử. Thánh Tông Đồ chỉ tập chú  nhiều hơn vào ý nghĩa. Ngài nói tới một kinh nghiệm đã hoàn toàn thay đổi đời Ngài, hơn là một biến cố biệt lập, và Ngài coi nó như một ơn gọi từ ngay lúc còn trong lòng mẹ (Gl 1:15). Bởi thế, ta không thể giải thích cuộc gặp gỡ Chúa Kitô đó mà không xét tới trọn bộ cuộc hiện sinh của Ngài.

Vậy biến cố ấy có nghĩa gì? Nói đến trở lại, ta sẽ lầm lẫn nếu chỉ coi đó như việc từ một tôn giáo này chuyển qua một tôn giáo khác. Thực thế, Thánh Phaolô không bao giờ coi mình đã thay đổi tôn giáo. Cần ghi nhận một điều: đến lúc đó, chưa có sự tách biệt giữa Do Thái Giáo và Kitô Giáo. Việc trở lại của Ngài vì thế có một ý nghĩa hết sức sâu sắc, một mở lòng ra với Thiên Chúa, một ngập tràn ơn thánh và biến đổi trọn con người.

Thánh Phaolô nhận định về cuộc gặp gỡ Chúa Kitô này như sau: “Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên” (Gl 1,15-16). Thánh Tông Đồ coi cú xốc nội tâm này như kết quả của diễn trình chín mùi từng khởi đầu ngay từ giây phút đầu tiên trong cuộc hiện sinh của Ngài: từ lúc mới sinh, Ngài đã được Thiên Chúa hướng dẫn, cách từ từ, kiên nhẫn, cho đến lúc quyết định khi Chúa Giêsu nắm chặt lấy Ngài và biến Ngài thành của Người vĩnh viễn (Pl 3:12). Trong các Thư của mình, Thánh Phaolô nhấn mạnh tới sáng kiến thần thánh này. Chỉ trong giây lát, mọi sự đã ra khác hẳn.

Việc trở lại ấy quả là việc sinh lại lần nữa. Biến cố ấy đem lại sự mới mẻ từ cội rễ. Thánh Phaolô bị việc mạc khải của Chúa Kitô làm cho mù mắt. Phép Rửa phục hồi lại thị giác cho Ngài (Cv 9:18), quả là một biểu tượng mạnh mẽ. Một người trước đây không nhìn được, nay được sinh hạ vào cuộc sống mới. Một thế giới mới được mạc khải cho vị Tông Đồ. Toàn bộ tư tưởng của Thánh Phaolô được xây dựng trên kinh nghiệm này. Đó không phải chỉ là một thị kiến đơn thuần về Chúa Kitô. Đúng hơn, đó là một mạc khải cho thấy sự biến đổi thế giới sâu sắc do Chúa Kitô Phục Sinh thực hiện. Trong các trước tác của mình, Thánh Phaolô nhấn mạnh đến sự phân biệt giữa thế giới cũ và thế giới mới. Ngài cảm nghiệm được sự phân biệt ấy ngay trong thân xác Ngài.

Ngài dùng hai biểu thức để mô tả điều xẩy ra: Ngài “thấy” Chúa Kitô (1Cor 9:1; 15:8) và nhận được “mạc khải” (Gl 1:16; 2:2; Eph 3:3), một hạn từ được Ngài hay dùng (Rm 16:25; 1Cor 1:7; 2Cor 12:17...). Cả hai hạn từ trên đều chỉ hành vi của Thiên Chúa. Chúa Kitô không được nhìn thấy, nhưng Người là Đấng tự để cho mình được nhìn thấy. Khi nói tới thị kiến ấy, Thánh Phaolô dùng các động từ ở thể thụ động. Thiên Chúa mạc khải chính Người cho con người; đó là việc thông truyền mầu nhiệm Thiên Chúa. Không phải là vô lý khi Thánh Phaolô, trong thư gửi tín hữu Êphêsô chương 1, câu 17, nói tới “thần trí khôn ngoan và mạc khải”, nguồn nhận thức về mầu nhiệm Thiên Chúa, đối với Kitô hữu.

Nhà truyền giáo

Cuộc mạc khải trên không tìm thấy lý do hiện hữu của nó ngay trong chính nó. Thánh Phaolô giải thích rằng cuộc mạc khải này được ban cho Ngài “để nó (mầu nhiệm Chúa Kitô) được loan báo cho dân ngoại”. Cuộc mạc khải ấy nhằm biến Ngài thành nhà truyền giáo, nhưng phải hiều sứ mệnh truyền giáo của Ngài theo dòng ơn gọi tiên tri. Thư Galát chương 1, các câu 15-16 dựa vào hai tham chiếu đối với ơn gọi tiên tri của Isaia (Is 49:1) và Giêrêmia (Giêrêmia 1:5). Thánh Phaolô coi ơn gọi ra đi truyền giáo cho dân ngoại của Ngài như một tiếp nối sứ mệnh của các tiên tri xưa, và nhất là sứ mệnh của người tôi trung Thiên Chúa như đã được mô tả trong Isaia. Nhà truyền giáo là một sứ giả ghé vai gánh vác sứ mệnh người tôi trung Thiên Chúa từng được giải thích trong Isaia 40-45. Tuy nhiên, trong một thị kiến lúc còn ở Côrintô, Thánh Phaolô được chỉ thị: “Đừng sợ; hãy lên tiếng và đừng giữ im lặng: Ta luôn ở với con. Ta có nhiều người thuộc về Ta trong thành phố này đến nỗi sẽ không ai có thể làm hại con đâu” (Acts 18,9-10). Chúng ta đọc trong Is 41:10: “Đừng sợ, vì Ta ở với ngươi; đừng ngã lòng, vì Ta là Thiên Chúa của ngươi; Ta sẽ củng cố ngươi; đúng,  ta sẽ giúp ngươi; đúng, Ta sẽ nâng đỡ người bằng cánh tay mặt đức công chính của Ta”. Nhiệm vụ của Thánh Phaolô tại Côrintô là thi hành trách vụ người tôi trung Thiên Chúa.

Phần lớn các đoạn văn trên liên hệ tới Isaia và nhất là khuôn mặt người tôi trung của Giavê. Nền giáo lý Kitô giáo thuở ban đầu nhận ra trong nhân vật bí nhiệm này lời tiên tri về Chúa Kitô. Chỉ cần nhớ lại cuộc đối thoại giữa viên hoạn quan Êtiôpia và tông đồ Philíp trên đường Gaza (Cv 8:30-35). Thành thử có thể nói được là Thánh Phaolô, khi áp dụng lời tiên tri ấy vào chính mình, đã hiểu được rằng sứ mệnh của Ngài chính là một nối dài sứ mệnh của Chúa Kitô. Việc đồng hóa vị rao giảng với Chúa Kitô này phải được hiểu theo nghĩa năng động hơn là tĩnh tụ. Đến đây, ta nhận ra điểm căn bản trong thần học của Thánh Phaolô: việc đồng hóa với Chúa Kitô bắt đầu với Phép Rửa và là một diễn trình kéo dài suốt đời. Được Chúa Kitô “chiếm đoạt” (Pl 3:12), được Người dẫn tới cuộc biến đổi bản thân sâu sắc này. Việc ấy đã đặc biệt xẩy tới trong trường hợp của Thánh Phaolô.

Lời tự biện minh của Thánh Phaolô khi bị chỉ trích quả hết sức phong phú về giáo huấn (2Cor 4:7-15). Thánh Phaolô buộc phải biện minh phẩm tính Tông Đồ của mình đối với những nhà truyền giáo Kitô giáo gốc Do Thái vốn không mấy kính trọng phẩm tính ấy: “Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi” (2 Cor 4,7-15). Câu này nói lên một lý thuyết mà thánh nhân sẽ chứng minh bằng các câu tiếp theo: tính mỏng dòn của vị Tông Đồ trong sứ vụ tông đồ của mình, phải sống trong cảnh cấm cách, không phải là dấu hiệu yếu đuối, nhưng đúng hơn là điều kiện cần thiết để kho tàng Ngài đang mang trong tay, tức nhận thức về Chúa Kitô, được mạc khải và để cộng đồng Kitô giáo tiếp nhận sự sống của Chúa Kitô Phục Sinh. Câu 10 và câu 11 minh họa rõ Ngài đã đồng hóa sự đau khổ của mình với sự đau khổ của Chúa Kitô ra sao. Thánh Phaolô viết: chúng ta “hằng bị cái chết đe dọa”. Kiểu nói “hằng bị cái chết đe dọa” hay được Thánh Phaolô và các phúc âm gia sử dụng để chỉ cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô. Ngài tiếp tục việc đồng hóa này trong câu 14, khi Ngài cho hay Ngài sẽ cùng Chúa Kitô chỗi dậy từ cõi chết. Bởi thế, sứ mệnh của Ngài là  hiến mạng sống mình như Chúa Kitô từng làm: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi.Thật vậy, tuy sống, chúng tôi hằng bị cái chết đe doạ vì Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân xác phải chết của chúng tôi” (2 Cor 4,10). Hai câu này gợi ý rằng cái chết đang hoạt động trong người rao giảng chính là nguồn sống cho cộng đoàn, cũng như cái chết của Chúa Kitô là nguồn sống của ta. Nhờ thừa tác vụ Tông Đồ của mình, Ngài làm cho lễ hy sinh cứu chuộc của Chúa Kitô trở thành hiện thực. “Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Col 1,24). Ở đây, ta có được yếu tính thánh thể cho mọi đời sống truyền giáo.

Tới với mọi dân tộc

Phổ quát là đặc điểm chủ yếu trong sứ mệnh truyền giáo của Thánh Phaolô. Nó là hậu quả trực tiếp từ bản chất niềm tin mới. Nhiệm vụ của Ngài là loan báo Tin Mừng cho dân ngoại. Câu này, thấy trong thư Galát, chương 1, câu 16, được xác nhận một cách đầy đủ bằng lời hứa trợ giúp ta thấy trong Công Vụ 26:17: “Ta sẽ cứu con khỏi những người và những dân tộc mà Ta sẽ gửi con tới”. Đối với người Do Thái lẫn không Do Thái, Thánh Phaolô sẽ là nhân chứng của Đấng Phục Sinh, được Chúa của Tán Tụng sai đi, Đấng mà Ngài cũng như nhóm Mười Hai đều đã tận mắt nhìn thấy. Một trình thuật khác về thị kiến ấy được dùng làm nền cho sứ mệnh của Ngài nơi dân ngoại, nơi các dân tộc. Công Vụ 22:17-21 nhắc đến một thị kiến xẩy ra trong đền thờ. Thánh Phaolô phải đi tới với mọi “dân tộc”. Điều ấy có thể chỉ những người không phải là Do Thái nhưng cũng chỉ cả những người sống bên ngoài Giêrusalem. Ở đây, ta gặp một trong các trọng điểm của sự mới mẻ trong đức tin Kitô giáo và thần học của Thánh Phaolô: tính phổ quát của Ơn Cứu Rỗi. Chúa Kitô hiến mạng sống Người cho toàn thể nhân loại và Người muốn mọi người được cứu rỗi. Tình yêu của Chúa Kitô, từng bùng cháy trong tâm hồn Thánh Tông Đồ, sẽ dẫn dắt Ngài tới những nơi xa xăm như Tây Ban Nha (Rm 15:24), mà thời ấy, vốn được coi là cõi tận cùng trái đất được người ta biết đến.

Truyền giáo và Giáo Hội

Thánh Phaolô cho hay Ngài là một “Tông Đồ” tuy không thuộc Nhóm Mười Hai. Chữ “tông đồ” (Apostle) là do một hạn từ Hy Lạp vốn có nghĩa là  “sai đi”. Quyền được Thánh Phaolô nêu ra để  “đòi” cho được tước hiệu này dựa vào sự kiện chính Chúa Kitô Phục Sinh đã sai Ngài đi rao giảng (1Cor 1:17), cho dân ngoại mầu nhiệm về Chúa Kitô (Gl 1:16; Eph 3:8), và Ngài ý thức rất sâu sắc niềm vinh hạnh lớn lao hàm chứa trong tước hiệu ấy: “Vì tôi là tông đồ tầm thường nhất trong các tông đồ và thực sự không xứng đáng được gọi là tông đồ, vì tôi từng bách hại Giáo Hội của Thiên Chúa” (1Cor 15:9). Muốn làm tông đồ, Ngài phải được sai đi; nguyên sự kiện Ngài được thấy Chúa Kitô mà thôi không đủ. Trong 1Cor 15:5-7, Thánh Phaolô phân biệt “năm trăm anh em” với “tất cả các tông đồ” (các vị sau cũng khác biệt với Nhóm Mười Hai). Sự phân biệt trên hệ ở chỗ nhóm trước không được trao phó việc ra đi truyền giáo.

Sự chính xác về ngữ nghĩa ấy đã dẫn ta vào chủ đề Giáo Hội. Như chính Ngài đã khẳng định, Ngài được chính Chúa Kitô trực tiếp sai đi, thì liệu có thể có chăng một thứ truyền giáo ở bên ngoài Giáo Hội? Trong các trình thuật khác nhau về ơn gọi của Ngài, cả trong các Thư lẫn trong Công Vụ, ta thấy Giáo Hội  không bao giờ vắng mặt. Dù Thánh Phaolô hay cho rằng sứ vụ truyền giáo của Ngài không phải là một trách vụ do Giáo Hội trao phó cho, mà đúng hơn đó là một đặc sủng của chính Thiên Chúa. Tuy nhiên, ta cũng thấy chính trung gian Giáo Hội đã chứng thực cho tính chân thực trong sứ mệnh của Ngài. Thánh Phaolô tới gặp Thánh Phêrô để khỏi rơi vào cái ảo tưởng  “ngược xuôi vô ích” (Gl 2:2). Trong Công Vụ 9:10-18, ta thấy Ngài tiếp nhận việc Ngài được sai đi truyền giáo không phải trực tiếp từ Chúa Kitô mà qua trung gian Ananias. Mục đích việc Ananias làm trung gian không phải để trình bầy với Thánh Phaolô một học lý mới mà là giúp Ngài hiểu rằng việc trao ban phẩm chức tông đồ cho Ngài được thực hiện dưới ánh sáng truyền thống Giáo Hội (1Cor 11:2; 11:23; 15:1). Dù sao, quan tâm liên tục của Thánh Phaolô từ trước tới nay vẫn là được cộng đồng sai đi. Điều ấy đúng cho lúc Ngài khởi đầu sinh hoạt truyền giáo, khi Ngài lên đường rời khỏi Antiốc (Cv 13:1-3), mà còn đúng cho đến cả lúc tận cùng nữa. Sau này khi viết cho tín hữu Rôma, Thánh Phaolô đã yêu cầu họ nhiều điều, nhưng trong đó có việc xin họ hỗ trợ và nhìn nhận sứ mệnh truyền giáo của mình (Rm 15:24). Thành ra không hề có mâu thuẫn giữa sứ mệnh truyền giáo của Ngài và truyền thống Giáo Hội.

Sứ mệnh truyền giáo của Thánh Phaolô

Ta vừa thấy nguồn gốc sứ mệnh truyền giáo và ý nghĩa của nó đối với Thánh Phaolô. Giờ đây, ta sẽ khai triển các khía cạnh cụ thể trong sứ mệnh truyền giáo của Ngài. Ngài có một chiến lược nào không? Ngài thi hành chiến lược ấy ra sao? Ngài bắt đầu như thế nào? Đó là những câu hỏi mà bất cứ ai tham dự vào việc truyền bá Phúc Âm cũng cần lưu ý.

Được Chúa Thánh Thần hướng dẫn

Thánh Phaolô nói với người Do Thái trước và chỉ sau đó mới nói với dân ngoại, nhưng Ngài biết Ngài phải nói với cả người không phải là Do Thái nữa. Ngài là nhà truyền giáo cho cả hai (Rm 1:16). Kế hoạch có tính chiến lược của Ngài khá đơn giản: để chu toàn nhiệm vụ được trao phó, Ngài quyết định mình sẽ loan báo Phúc Âm cho những người không phải là Do Thái tại những  nơi chưa ai nghe nói tới Phúc Âm ấy bao giờ (Gl 2:7; Rm 15: 14-21). Khi du hành trên khắp các ngả đường La Mã, Thánh Phaolô đi từ thành này tới thành nọ của vùng Arabia, Syria và Cicicia, rồi tiếp tục tới Cyprus, Tiểu Á, Macedonia, Achaia và cả Tây Ban Nha, nơi chính Ngài dự tính sẽ tới. Thánh Phaolô trao phó con đường truyền giáo của mình vào tay Thiên Chúa. Dù đặt kế hoạch đàng hoàng cho các hành trình truyền giáo của mình, Thánh Phaolô vẫn ý thức rõ mình cần tới hành động của Chúa Thánh Thần, Đấng Ngài nhận làm người hướng dẫn (Cv 16:9), bất chấp bách hại. Và bách hại chính là nguyên nhân khiến Thánh Phaolô không ngừng di chuyển, có khi còn chạy trốn nữa: trốn Antiốc (Cv 13:5051), trốn khỏi Icôniô (14:5-5); trốn khỏi Lystra (14:19-20); trốn  khỏi Philippi (16:19-40); trốn khỏi Thessalonica (17:5-9), Berea (17:13-14) và Êphêsô (20:1).

Hội đường, các nơi công cộng

Chiến lược của Thánh Phaolô là tập chú vào các trung tâm thành thị, các trung tâm hành chánh La Mã, văn hóa Hy Lạp và có người Do Thái sinh sống, để Phúc Âm có thể được truyền bá từ các cộng đoàn do Ngài lập nên mà lan ra ngoài tới toàn bộ xứ sở.              

Khi tới một thành thị nào đó, việc đầu tiên Thánh Tông Đồ làm là tới hội đường địa phương vào ngày Sabát, để tham dự buổi thờ phượng tại đấy. Vì là khách phương xa, thế nào Ngài cũng được các nhà chức trách tôn giáo sở tại mời cắt nghĩa sách Torah. Đây là dịp tốt để Ngài đăng đàn loan báo Chúa Kitô Phục Sinh. Theo quan điểm chiến lược, người ngoại giáo nào nhìn nhận Thiên Chúa của Israel, “những người kính sợ Thiên Chúa”, đều là mục tiêu tốt nhất cho công việc loan báo Tin Mừng nơi dân ngoại. Trong khi loan báo Phúc Âm tại các hội đường, Thánh Phaolô nhằm những người đó để chinh phục. Hội đường vì thế là tham chiếu thường xuyên trong cuộc đời Thánh Phaolô. Ngay về cuối đời, lúc tới Rôma, Thánh Phaolô vẫn mời người Do Thái tại thành phố này đến nghe điều Ngài có bổn phận phải nói (Cv 28).

Về môi trường ngoại giáo, như Công Vụ 17:16-34 đã cho thấy, khi nhắc đến việc rao giảng tại Athens, địa điểm Thánh Phaolô ưa chọn để rao giảng chính là các quảng trường công cộng. Ngài không bao giờ ngần ngại sử dụng bất cứ dịp may nào để loan báo Phúc Âm của Chúa Kitô, ngay cả lúc ngồi tù (Cv 16:25-34), trong đó có câu truyện trở lại hết sức cảm động của cả một gia đình.

Tư gia

Các tư gia là nơi chủ yếu cho việc truyền giáo. Sinh hoạt của các cộng đoàn Kitô giáo tiên khởi có quan hệ mật thiết với tư gia. Mà tư gia hồi đó bao gồm trọn một ‘gia đình’ kể cả đầy tớ và nô lệ. Tư gia được coi như điểm quy chiếu, nơi cộng đoàn tụ tập nhau vào Ngày Của Chúa và được dùng làm bản doanh cho công tác truyền giáo. Điều ấy không có chi mới lạ đối với các tín hữu gốc Do Thái, từng được giáo dục trong môi trường tụ họp nhau thường xuyên tại các tư gia. Các tư gia còn có lợi điểm khác nữa: sau cử hành Lễ Tạ Ơn, cộng đoàn có thể cùng nhau chia sẻ bữa ăn chung. Tư gia bảo đảm sự kín đáo, một điều sau đó không lâu đã trở nên cần thiết khi người La Mã khởi diễn cơn cấm cách và người của hội đường tỏ ra ganh ghét.

Điều lý thú đáng ghi nhận là Thánh Phaolô từng khuyên vợ một dân ngoại đừng bỏ chồng (1Cor 7:13-14). Điều ấy rất đáng lưu ý vì tư gia vốn là nơi thờ phượng của gia đình. Các thần minh của dân ngoại vốn có bàn thờ riêng. Pater familias, tức người chủ gia đình, được tự do tới đền thờ để cầu nguyện hay thi hành một chức năng tư tế nào đó. Ông ta cũng có quyền tự do lui tới các động điếm, vốn rất thịnh hành hồi đó. Ta cũng thường nghe nói tới việc cả một gia đình trở lại đạo: gia đình bà Lydia, gia đình viên cai ngục ở Philippi (Cv 16: 14-15, 32-34), hai gia đình Crispus và Stephana ở Côrintô (Cv 18:8; 1Cor 1:16; 16:15). Các nghiên cứu trong ngành kiến trúc cho thấy tùy theo cỡ nhà, các tư gia thường chứa ít nhất 20 người đến thờ phương, nhưng cũng có tư gia có thể chứa tới 100 người.

Các thính giả của Thánh Phaolô

Thánh Phaolô nói với đủ mọi thành phần trong xã hội. Dù người Côrintô phần lớn thuộc giai cấp tầm thường trong xã hội và các tên được nhắc tới trong thư Rôma 16 cũng cho thấy họ có lối sống đơn giản, Thánh Luca cũng đã hơn một lần tường thuật rằng Thánh Phaolô từng tiếp xúc với các thành viên thuộc giai cấp thượng lưu trong xã hội: Lydia chẳng hạn là một phụ nữ làm nghề buôn tơ lụa, nhiều phụ nữ khác thuộc giai cấp thượng lưu ở Thessalonica và Berea (Cv 17:4, 12), cũng như nhiều chức sắc miền Asia (Cv 19:31). Những người vừa kể được coi là bằng hữu của Thánh Phaolô, có thể là kết quả công trình truyền giáo của Ngài. Công Vụ 13:7 ghi lại cho chúng ta trường hợp nổi tiếng của Sergius Paulus, tổng đốc tại Paphos.

Cuộc giáp mặt của Thánh Phaolô với tổng trấn Festus và Vua Agrippa là điều đáng lưu ý, nó cho thấy Thánh Phaolô từng nói truyện với những nhân vật ở tột cùng bậc thang xã hội. Với Festus, người từng gọi Ngài là một tên điên, Thánh Phaolô trả lời bằng cách thưa truyện thẳng với Vua Agrippa, người tin vào các tiên tri (Cv 26:27). Ngài kết luận bằng cách bày tỏ ý muốn: một ngày kia các thính giả của mình cũng bắt chước nhà vua mà trở thành tín hữu (Cv 26:29). Đoạn văn có tính hô hào trong nghệ thuật hùng biện truyền giáo này không những cho thấy lòng can đảm của Thánh Phaolô mà còn cho thấy công cuộc truyền giáo ngày một tỏ ra thành công hơn nơi người Do Thái.

Theo thư thứ 2 gửi Timôtê 4:16-17, Thánh Phaolô rao giảng Phúc Âm ngay cả thời gian bị giam tại Rôma” Khi tôi đứng ra tự biện hộ lần thứ nhất, thì chẳng có ai bênh vực tôi. Mọi người đã bỏ mặc tôi. Xin Chúa đừng chấp họ. Nhưng có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng. Và tôi đã thoát khỏi nanh vuốt sư tử”.

Những tiếp xúc và đối thoại trong các hoàn cảnh tương tự như thế giúp Ngài nhận được sự hỗ trợ về chính trị và tới lui được nhiều địa điểm gặp gỡ rộng lớn. Chúng cũng chothấy sự kiện này nữa là Phúc Âm đụng tới mọi tầng lớptrong xã hội. Tuy nhiên, trong các bản văn này, không có chỗ nào cho thấy ở các lãnh vực này, Thánh Phaolô có bất cứ chiến thuật đặc thù nào.

Thời gian các lần truyền giáo tại thành thị

Đọc lướt qua Tông Đồ Công Vụ cũng như các Thư của Thánh Phaolô, ta có cảm tưởng Ngài không lưu lại lâu tại bất cứ thành phố nào. Ngài chỉ đi qua các thành phố đó mà thôi. Nhưng thật ra, có khi Ngài dừng chân tại một thành phố khá lâu. Như ở Syria (Antiốc) chẳng hạn,  Công Vụ 11:26 nói tới một năm. Việc truyền giáo tại Macedonia và Achaia kéo dài ba năm từ năm 49 CN tới năm 51 CN. Trong thời gian đó, Thánh Phaolô lập ra ít nhất bốn cộng đoàn: Philippi, Thessalonica, Berea và Côrintô. Thánh Phaolô cũng lưu lại Côrintô 18 tháng (Cv 18:11, từ tháng Hai-Ba năm 50 tới tháng Chín năm 52 CN). Việc truyền giáo của Ngài tại Asia trong các năm 52-55 tập trung chính ở Êphêsô, nơi Ngài làm việc trong ba năm (Cv 20:31): Ngài giảng dạy trong hội đường ba tháng (Cv 19:8), tại trường của Tyrannô khoảng hai năm và có thể hơn một chút, tuy không được tường thuật chính xác (Cv 19:22). Nhà truyền giáo nào cũng biết rằng muốn chuyển giao đức tin cho ai, thì cần dành nhiều thì giờ với họ.

Cách thông đạt của Thánh Phaolô

Sự phong phú của Thánh Phaolô làm chúng ta thèm thuồng! Cẩn thận đọc các thư của Ngài cũng như Tông Đồ Công Vụ, ta hiểu rõ lý do của sự phong phú phi thường ấy. Ta đã thấy: Thánh Tông Đồ giống như chiếc bình bằng đất sét, dễ bể, dễ nứt rạn. Nhưng chiếc bình ấy là nơi cư ngụ của Chúa Thánh Thần, của quyền lực Thiên Chúa. Và Thánh Phaolô tìm mọi cách làm dễ dàng quyền lực ấy, làm dễ dàng công việc của Chúa Thánh Thần. Đó sẽ là điểm đầu tiên cho cuộc trình bầy của chúng ta. Thánh Phaolô hoàn toàn sống vì Phúc Âm và sống với Phúc Âm. Phúc âm được loan báo chủ yếu nhờ hai phương tiện:rao giảng và thực hành đặc sủng.

Mọi sự cho Phúc Âm và nhờ Phúc Âm 

Theo Thánh Phaolô, điều kiện chính của hoạt động truyền giáo là lối sống nhất quán. Cuộc sống của nhà truyền giáo phải là một công bố Phúc Âm. Nó không được cản trở việc công bố này bất cứ cách nào. Thánh Tông Đồ phát biểu quan điểm này cách đặc biệt khi Ngài cho hay Ngài không muốn trở thành gánh nặng cho cộng đoàn mà Ngài tới thăm viếng và loan báo Phúc Âm, dù Ngài nhìn nhận rằng nhà rao giảng có quyền sống nhờ sự rao giảng của mình. Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, chương 9, trình bầy cho ta rõ suy nghĩ của Thánh Phaolô về điểm này. Dù có quyền hưởng hoa trái lao công của mình, thánh nhân cũng đã từ khước không hưởng đặc quyền ấy. Lý do chính là: Thánh Phaolô coi việc rao giảng Phúc Âm như nhiệm vụ được trao phó cho Ngài: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm!” (1 Cor 9:16). Tiếp nhận sáng kiến rao giảng ấy không tùy thuộc ở Ngài. Phần thưởng của Ngài nằm ở chỗ được tự do loan báo Phúc Âm! Và để làm việc đó, Ngài ráng hết sức để trở thành mọi sự cho mọi người!

Cộng đoàn duy nhất được Ngài vui lòng tiếp nhận sự hỗ trợ về tài chánh là cộng đoàn Philippi. Khi Thánh Phaolô đang bị cầm tù, nghĩa là không thể làm việc được, cộng đoàn này đã cung cấp cho Ngài những thứ cần dùng. Các tù nhân thường chẳng được ăn uống gì khác, ngoài ‘của thăm nuôi’ từ gia đình hay bạn bè. Tù nhân Phaolô cũng vậy thôi.

Rao giảng

Thánh Phaolô là bậc thầy trong nghệ thuật rao giảng. Chỉ cần lướt qua các thư của Ngài, ta cũng thấy Ngài ‘xuất khẩu thành văn’, không cần phải chuẩn bị chi. Chắc chắn Ngài được Chúa Thánh Thần “linh hứng”, rất khác với lối thuyết giảng rỗng tuếch của các diễn giả ngụy biện thời ấy. Tuy nhiên, thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô 2:1-5 cho ta thấy cách xếp đặt nền tảng trong lời giảng của Ngài. Chắc chắn Thánh Phaolô không thích lối tu từ học rỗng tuếch chỉ biết vụ khoe khoang của thời ấy. Tuy nhiên, vốn xuất thân từ những trường nổi danh, hẳn Ngài cũng biết: bất cứ bài nói truyện nào, muốn có hiệu quả, đều cần phải áp dụng các luật căn bản của khoa hùng biện Hy Lạp. Ngài áp dụng nhận thức đó vào việc phục vụ Phúc Âm. Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, chương 2, cho ta một bài học có giá trị về điểm này, ta cần khảo sát kỹ. Bề ngoài xem ra như Ngài chỉ trích nghệ thuật ăn nói, mà bên trong,  quả Ngài đã khai triển ra cả một nền thần học về rao giảng. Trước nhất, Ngài nhắc cho mọi người hay sứ mệnh của Ngài là rao giảng Chúa Giêsu như Đấng Được Xức Dầu, nhưng là Đấng Được Xức Dầu Chịu Đóng Đinh. Công bố cái chết của Chúa là điều chính yếu. Người chia sẻ bàn tiệc Chúa phải công bố cái chết của Người (1Cor 11:26), lời Chúa phải được công bố trong các hội đường (Cv 13:5). Ngài cho các thành phần Giáo Hội tại Rôma hay đức tin của họ đang nổi tiếng khắp thế giới (Rm 1:8). Cần phải nhấn mạnh tới việc trình bầy nơi công cộng. Không nhất thiết phải hiểu là công bố tại các công trường hay công thự. Vì điều ấy buộc Thánh Phaolô phải đảm nhiệm vai trò một diễn giả nơi công cộng. Tuy nhiên, việc công bố bao giờ cũng có tính công cộng: không thông đạt một thứ giáo thuyết kỳ bí cho một nhóm người được dẫn nhập bí mật, nhưng là thuật lại các biến cố cho bất cứ ai sẵn sàng lắng nghe. Không như các nhà hùng biện thời Ngài, Thánh Phaolô từ khước không dùng bất cứ điều gì chỉ có mục đích khoái tai người nghe, mà cản trở việc hiểu rõ Phúc Âm. Ngài không nhằm gây giật gân, quyến rũ thính giả. Việc công bố của Ngài nhằm loan báo mầu nhiệm Thánh Giá. Ngài chỉ biết một điều, đó là Chúa Kitô chịu đóng đinh. Nhận thức ấy là trọn bộ nội dung sứ điệp của Ngài. Ngài thực sự nhập thân thực tại ấy. Chúa Kitô chịu đóng đinh sống trong Ngài (Gl 2:20).

Ngài cho ta biết Ngài rao giảng ra sao: Ngài rao giảng trong “run sợ”, một điều hết sức ngạc nhiên vì các thư của Ngài cho thấy Ngài có một đức kiên cường rất sáng ngời. Thực ra, đây là kiểu nói đặc biệt trong Cựu Ước, thường được dùng để nói về một người đang giáp mặt với kẻ thù hay một cuộc tấn công sinh tử (Xh 15:16; Đnl 2:25; Giuđít 2:28; Tv 54:6; Is 19:16). Rao giảng là một cuộc chiến đấu. Sự yếu đuối của Ngài giữa người Côrintô không phải là chuyện thường tình. Nó là bối cảnh để quyền lực của Thiên Chúa tự mạc khải ra. Ta thấy điều ấy trong 1Cor 1:27-29 và trong 2Cor 12:9 (“ơn Ta đã đủ cho con”). Thái độ này thật trái ngược với thái độ tự phụ của những nhà ngụy biện xiết bao. Thánh Phaolô chắc chắn không phải là loại người bạn có thể gọi là diễn giả mua vui cho đám đông.

Bản chất đặc biệt trong nghệ thuật rao giảng của Ngài thấy rõ trong các câu 1 Cor 2: 4 và 5 trong đó Ngài chơi chữ khá tinh tế. Nhiều chữ được Thánh Phaolô dùng với nghĩa kép, khó lòng ta mới có thể dịch nguyên văn được. Ngài dùng các chữ có nghĩa trong từ vựng tôn giáo nhưng cũng có nghĩa kỹ thuật trong khoa hùng biện. Chúa Thánh Thần được Ngài trình bầy như Đấng thuyết phục các tâm hồn. Thuật ngữ ấy dành cho Chúa Thánh Thần sức mạnh thuyết phục. Người mới là Đấng “chứng minh” (demonstration, bản phổ thông: ostensione) (một từ chuyên môn trong khoa hùng biện), và kết quả của việc chứng minh này không phải chỉ là một chứng cớ, một xác tín, nhưng là chính đức tin. Sức mạnh của Chúa Thánh Thần đánh tan sự yếu đuối của Thánh Phaolô và sức mạnh chứng minh của Chúa Thánh Thần đánh tan sức mạnh thuyết phục của lời nói, vốn thuộc sự khôn ngoan của người đời. 

Ngoài bối cảnh lịch sử phần nào xác định ra lối rao giảng của Thánh Phaolô, ta cũng có thể nhận diện được một vài yếu tố quan trọng đối với việc loan báo Phúc Âm. Sứ điệp phải đặt trọng tâm nơi mầu nhiệm Thánh Giá, nói cách khác, nơi ơn cứu độ. Phương tiện sử dụng phải phụ thuộc vào nội dung sứ điệp, hay tốt hơn, phải làm nổi bật sứ điệp ấy. Hoa trái của rao giảng phải là đức tin, chứ không phải là một hình thức thuyết phục. Nơi Thánh Phaolô, đức tin phải được biểu hiệu bằng đức vâng lời (xem Rm 1:18). Nó là lòng trung thành với con người và lời nói của Chúa Kitô. Đó mới chính là hoa trái việc làm của Chúa Thánh Thần. Người mới là diễn giả thực sự, đứng đàng sau con người của nhà truyền giáo, là người có nhiệm vụ phải hành động trong “run sợ”. Đồng thời, điều ấy có nghĩa: tình thế ở đây không có chi ổn định, nó là một trận chiến, nhưng cũng cần hiểu thêm: đây là công việc của Thiên Chúa. Nó diễn ra trước sự hiện diện của Thiên Chúa. Do đó, việc truyền giáo quả là một ‘nghề’ có tính thần học. Việc sắp xếp tinh tế trong đoạn văn vốn sử dụng được mọi phương tiện của khoa tu từ học này cho thấy nó không nghèo nàn về ngôn từ hay tính độc đáo. Trái lại, phương thế nào có thể chuyên chở được sứ điệp thì đều đã được Ngài sử dụng.

Đặc sủng và phép lạ

Không nên đánh giá quá thấp mà cũng không nên đánh giá quá cao vấn đề đặc sủng và phép lạ. Sách Tông Đồ Công Vụ cho ta thấy phép lạ không phải là nguyên nhân chính của việc rao giảng Phúc Âm. Đôi khi phép lạ đã không đóng góp tích cực chi vào việc rao giảng ấy nữa. Khi một đám đông trở lại, thì điều ấy chủ yếu không do phép lạ mà là do lời rao giảng. Cũng có hiện tượng trong đó phép lạ bị hiểu lầm và trở thành nguồn cho lầm lẫn. Ở đây, chỉ cần nhắc đến việc chữa lành cho một người bất toại ở Lystra trong Công Vụ 14. Thoạt đầu, dân thành Lystra nghĩ Thánh Phaolô và Banaba là các thần Zeus và Hernes! Ngay sau biến cố ấy, ta được tường thuật rằng Thánh Phaolô bị ném đá, sau khi công chúng bị một nhóm người Do Thái từ Icôniô và Antiốc tới xúi giục (Cv 14:19). Công Vụ 16:18 thuật lại việc giải thoát cô gái nô lệ khỏi qủy ám đã gây phẫn nộ ra sao nơi người chủ vốn hưởng lợi nhờ ‘tài’ bói toán của cô ta. Sau cùng trong Công Vụ 28, Thánh Phaolô bị rắn hổ mang cắn nhưng không chết. Tuy nhiên những người chứng kiến cảnh ấy đâu có trở lại mà chỉ ngó nhau ngạc nhiên như thể muốn nói Thánh Phaolô chắc phải là một vị thần!

Tuy nhiên cũng không nên đánh giá quá thấp các đặc sủng và phép lạ, coi chúng như không có hay hoàn toàn vô ích. Lịch sử rao giảng Phúc Âm đầy các ơn lạ của Chúa Thánh Thần, những ơn lạ đã cùng các phương tiện thông thường và ngoại thường khác đem nhiều tín hữu lại cho đức tin.  Muốn rõ điều ấy, chỉ cần đọc đoạn nói về các đặc sủng trong 1Cor 12-14. Tuy nhiên, vẫn phải nhớ: chính lời tiên tri, lời linh hứng trong các buổi tụ tập cầu nguyện mới là nguyên nhân trực tiếp làm người chưa có đức tin trở lại.

Trong các Thư của mình, Thánh Phaolô nói rất ít tới các phép lạ ngoại trừ trong đoạn nói về các đặc sủng, trong 1Cor 12-14 và có lẽ cả trong 1Cor 2:4, trong đó, khi nhắc đến việc chứng minh bằng quyền lực Chúa Thánh Thần, có thể Ngài muốn ám chỉ tới phép lạ. Chỉ có Sách Tông Đồ Công Vụ mới chứng thực cho các phép lạ mà thôi. Ở đây ta phải nhận rằng dù đôi lúc bị người ta hiểu lầm, nhưng các phép lạ thường là nguồn làm nhiều người trở lại. Như việc chữa người bất toại ở Lydda và việc phục sinh Tabitha ở Jaffa (Cv 9:32-43), việc Thánh Phaolô và Sila được thả cách lạ lùng khỏi nhà tù (Cv 16:25-34) chẳng hạn. Công Vụ 14:3 còn đáng lưu ý hơn. Lúc ấy Thánh Phaolô và Banaba đang giảng đạo tại Icôniô, và sách Công Vụ thuật lại như sau: “Phaolô và Banaba ở lại một thời gian khá lâu, mạnh dạn vì dựa vào Chúa, là Đấng chứng nhận lời giảng về ân sủng của Người, khi cho tay các ông thực hiện những dấu lạ điềm thiêng”. 

Kết luận

Thánh Phaolô từng được hiểu lầm là người sáng lập ra Kitô giáo chỉ vì tác động mạnh của Ngài trong công cuộc truyền giáo từ thuở ban đầu. Như thế quả không vô lý khi ta coi Ngài như tấm gương chói lọi của mọi nhà truyền giáo. Đặc điểm chính yếu ta nên noi gương Ngài chắc chắn phải là sự gần gũi của Ngài với Chúa Kitô: “điều đáng kể là phải đặt Chúa Giêsu Kitô làm tâm điểm đời ta, để bản sắc ta chủ yếu được đánh dấu bằng cuộc gặp gỡ, bằng cuộc hiệp thông với Chúa Kitô và với Lời Người” (Đức Bênêđíctô XVI, buổi triều yết ngày 25 tháng Mười năm 2006).

Đặc điểm thứ hai là quan điểm truyền giáo của Ngài. Ngài coi nó như công việc của Chúa Thánh Thần cộng với ý thức về sự nghèo nàn của bản thân mình. Nhà tông đồ phải là một với Chúa Kitô, nhưng phải là Chúa Kitô trên Thánh Giá. Sức mạnh của nhà tông đồ phải là sự yếu đuối của mình, vì qua sự yếu đuối ấy, Chúa Thánh Thần mới biểu dương được hết mọi quyền lực của Người. Việc mở lòng ra với Chúa Thánh Thần này phải là điều kiện cho bất cứ hoạt động tông đồ có kết quả nào.

Đặc điểm quan trọng thứ ba là quan niệm của Thánh Phaolô về tính phổ quát của ơn cứu rỗi. Ngài là người của phổ quát tính. Trong một thế giới đầy chia rẽ và phân hóa giữa các dân tộc và các nền văn hóa, Ngài đã hiểu ra rằng sứ điệp của Chúa Kitô là sứ điệp dành cho mọi người, bất kể họ thuộc nền văn hóa hay tôn giáo nào, quốc tịch hay hoàn cảnh xã hội nào. Ngài hiểu rõ: “Thiên Chúa là Thiên Chúa của mọi người” (Bênêđíctô XVI, buổi triều yết chung ngày 25 tháng Mười năm 2006).

Cuối cùng, tính trung tâm của Giáo Hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô, chắc chắn phải là bài học sau hết ta rút được từ gương sáng của Ngài. Thánh Phaolô luôn nghĩ rằng sứ mạng truyền giáo của Ngài phải được thực hiện trong lòng Giáo Hội và qua Giáo Hội. Truyền giáo là xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô. Điều ấy có nghĩa: Ngài không bao giờ tưởng tượng được việc rao giảng mà lại không do Giáo Hội sai đi. Dù khi phải gặp cho bằng được Thánh Phêrô để chắc mẩm là mình không rao giảng vô ích, hay khi yêu cầu cộng đoàn ở Rôma hỗ trợ, Thánh Phaolô đều biết rằng công việc truyền giáo luôn phải là hoa trái do mối liên kết sống động với Giáo Hội đem lại.

Phụ lục

Thánh Phaolô Tông Đồ, trong giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI

Từ lúc được bầu làm giáo hoàng cho đến nay, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI thường hay nhắc đến khuôn mặt Thánh Phaolô, Tông Đồ Mọi Dân Tộc. Ngay từ ngày 25 tháng Tư năm 2005, Đức Thánh Cha đã đi thăm mộ Thánh Phaolô, nơi đó, Ngài đã nói trong bài giảng như sau: “Tôi đến đây để làm sống lại trong đức tin “ơn phúc tông đồ” này, vì, như lời Thánh Tông Đồ Dân Ngoại từng nói, Thiên Chúa đã ủy thác cho tôi “nỗi lo lắng đối với mọi Giáo Hội”. Thánh Tông Đồ chủ yếu nổi tiếng là người rao giảng Phúc Âm cho mọi dân tộc. Nếu nhiệm vụ của Giáo Hội là truyền giáo, thì người kế nhiệm Thánh Phêrô đã tới đây “có thể nói, trong một cuộc hành hương tìm về cội rễ của việc truyền giáo ấy” (Thăm Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô, ngày 25 tháng Tư năm 2005).

Đức Giáo Hoàng nói về Thánh Phaolô trong ngày lễ kính hai thánh Phêrô và Phaolô và trong lễ bế mạc Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Sự Hiệp Nhất các Kitô Hữu hàng năm. Ngài cũng nói đầy đủ về con người và nền thần học của Thánh Phaolô vào các buổi triều yết chung các ngày Thứ Tư hàng tuần và khi loan báo Năm Thánh Phaolô, Ngài trình bầy Thánh Phaolô như người để ta bắt chước.

Khi đề cập tới con người của Thánh Phaolô, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh đến bản chất triệt để của cuộc gặp gỡ giữa thánh nhân và Chúa Kitô và sự mạc khải thánh nhân tiếp nhận được trên đường tới Đamát, coi chúng như nguồn thần học của Thánh Phaolô. “Ngài hiểu ngay tức khắc điều Ngài sẽ diễn tả sau này trong các trước tác của mình là: Giáo Hội hợp thành một cơ thể duy nhất với Chúa Kitô là đầu. Và điều này nữa: từ một người bách hại các Kitô hữu, Ngài đã trở thành Tông Đồ Dân Ngoại” (Kinh Chiều tại Nhà Thờ Thánh Phaolô ở Rôma, 25 tháng Giêng năm 2006).

Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI nhấn mạnh tới việc Thánh Phaolô ý thức mình được Thiên Chúa chọn và sai đi. Đối với Thánh Phaolô, ơn Chúa gọi này, ơn Chúa tỏ bầy lòng nhân hậu này là lý do để Ngài đích thân tham dự việc truyền giáo. Việc tự hiến thân là nguyên nhân chính đem lại hoa trái cho việc tông đồ của Ngài (Kinh Chiều, 28 tháng Sáu năm 2007). Trong buổi triều yết ngày 25 tháng Mười năm 2006, Đức Giáo Hoàng cho rằng cuộc sống Thánh Phaolô được đánh dấu bằng tính trung tâm nơi con người Chúa Kitô và tính phổ quát nơi hoạt động tông đồ của thánh nhân. Điều giúp thánh nhân vượt qua được các chặng đường truyền giáo khó khăn chính là tình yêu của Chúa Kitô dành cho Ngài và tình yêu của Ngài dành cho Chúa Kitô (2Cor 5:14-15). Như thế, phúc tử đạo chỉ là hậu quả luận lý, là biểu thức tối hậu của tình yêu hoàn toàn, một tình yêu dẫn thánh nhân tới chỗ tự đồng hóa mình với Thầy Chí Thánh, cả trong sự chết.

Đối với Đức Giáo Hoàng, sứ điệp của Thánh Phaolô có tính quy Kitô rõ rệt (Buổi triều yết chung ngày 8 tháng 11), là công việc của Chúa Thánh Thần (15 tháng 11), là Giáo hội hiện diện trong tâm hồn Ngài (Buổi triều yết chung ngày 22 tháng Mười Một năm 2006).

Chúa Kitô công chính hóa con người “bằng lòng nhân từ của Thiên Chúa”, qua việc đi vào hiệp thông sâu sắc với con người, tha thứ mọi tội lỗi của họ. Đó là cảm nghiệm căn bản trong cuộc trở lại của Thánh Tông Đồ. Con người nên công chính nhờ đức tin. Khía cạnh thứ hai cho thấy khía cạnh quy Kitô này chính là bản sắc Kitô hữu: “Bản sắc Kitô hữu này được tạo thành bởi hai yếu tố: hạn chế không tự đi tìm chính mình; thay vào đó phải tiếp nhận mình từ Chúa Kitô và cùng với Chúa Kitô, tự hiến mình đi, nhờ thế tự mình tham gia vào đời sống của chính Chúa Kitô đến độ tự đồng hóa mình với Người và biết chia sẻ cả sự chết lẫn sự sống của Ngài” (Buổi triều yết ngày 8 tháng Mười Một).

Cuộc sống của Thánh Tông Đồ trở thành một thể hiện cuộc sống của Chúa Kitô. Việc này xẩy ra trong chúng ta qua sự sống Chúa Thánh Thần, sự sống được Thánh Phaolô gọi là Thần Khí Chúa Kitô. Thánh Phaolô phân tích việc làm của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời Kitô hữu như sau: Người làm việc trong hiện thể và hoạt thể của họ (Buổi triều yết 15 tháng Mười Một năm 2006). Đối với Đức Giáo Hoàng, tư cách con cái Thiên Chúa, vốn là hoa trái sự hiện diện của Chúa Thánh Thần nơi Kitô hữu đã rửa tội, là ơn phúc đầu tiên và là ơn phúc chính của Chúa Thánh Thần, một ơn giúp Kitô hữu có thể gọi Thiên Chúa là “Lạy phụ thân, lạy cha của con”. Sự hiện diện của tình yêu Thiên Chúa trong ta này là lời hứa hẹn cho vinh quang mai hậu.

Giáo Hội là chương cuối trong suy niệm của Đức Giáo Hoàng về Thánh Phaolô, là người “đã trở lại với Chúa Kitô và Giáo Hội của Người” (Buổi triều yết chung ngày 22 tháng Mười Một năm 2006). Giáo Hội tìm thấy mình một cách đúng đắn trong cuộc đời của Thánh Tông Đồ. Đối với Ngài, các giáo hội vừa là nguồn vui vừa là nguồn sầu khổ. Đối với các giáo hội, Ngài vừa là cha vừa là mẹ. Nhiệm Thể Chúa Kitô được tiếp nhận trong Phép Thánh Thể (1Cor 10:17). Lời kêu gọi hiệp nhất và bác ái của Thánh Phaolô là kết quả tức khắc của quan niệm thần học nơi Ngài. Giáo Hội là nơi hiệp thông với Thiên Chúa và với nhau, đó là cộng đoàn những người kêu danh Chúa Giêsu Kitô.

Các suy niệm của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI về con người Thánh Phaolô quả là một bản tóm lược giáo huấn của Ngài. Đức Thánh Cha đặt ta diện đối diện với một soạn giả mà có lần chính Thánh Phêrô cũng cho là khó hiểu. Các suy niệm này là phương pháp tuyệt hảo để ta phân tích các thư của Thánh Phaolô

________________________________________________________________________________

 (*) Nhiều tác giả hoài nghi điểm này vì nếu Thánh Phaolô học tại Giêrusalem vào lúc đó, hẳn bản thân Ngài phải biết hay nghe nói về Chúa Giêsu. Thực tế, không thấy Ngài để lộ cái biết ấy. Xem bài “Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô” (Vietcatholic các ngày 5 và 6 tháng 9 năm 2008)

Tác giả: Vũ Văn An
   dunglac@gmail.com