Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Vũ Văn An
Bài Viết Của
Vũ Văn An
Antonio Rosmini, người của đức tin, lý trí và trái tim
Chiến dịch đem người Công Giáo trở về
Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II
Vatican và vấn đề tài liệu
Bốn Mươi Năm Sự Sống Con Người
Thờ Phượng Đích Thực Trong Tư Tưởng Thánh Phaolô
Gia Đình và Sự Sống
Khủng Hoảng Hôn Nhân và Gia Đình
Gia Tô Bí Lục Tân Thời
Thần học và thực hành mục vụ trong các thư của Thánh Phaolô
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa
Tính đáng tin cậy của Bộ Thánh Kinh
Kính Mừng Maria
Cầu nguyện theo lối chiêm niệm
Li dị và tái hôn trong các Phúc âm nhất lãm
Các nhà truyền giáo và kỹ nghệ tình dục
Từ Sydney tới Paris
Lộ Đức, sự hiện diện mênh mông của Mẹ
Bản Thể, Bản Tính
Thánh Phaolô, Nhà Truyền Giáo Vĩ Đại
Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
Cùng đi với Thánh Phaolô
Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội
Đức Bênêđíctô XVI: từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới hành trình đức tin trẻ em
CÁC NHÀ TRUYỀN GIÁO VÀ KỸ NGHỆ TÌNH DỤC

(Hồ sơ của Hãng tin Fides, ngày 7 tháng Tám năm 2008, do D.Q. thu thập, và do Luca de Mata biên tập)

"Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu. Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn. Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. [ ] Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. [ ] Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt. Quả thật, ai nấy sẽ được luyện bằng lửa như thể ướp bằng muối. Muối là cái gì tốt. Nhưng muối mà hết mặn, thì anh em sẽ lấy gì ướp cho mặn lại? Anh em hãy giữ muối trong lòng anh em, và sống hoà thuận với nhau."  (Mc, 9,41-50).

1. Phỏng vấn Cha Franco Cellano, bề trên Dòng Truyền Giáo Consolata tại Kenya

Kenya đang kinh qua cơn khủng hoảng chưa từng có về nhân đạo, gây ra bởi các tranh chấp bộ lạc và chủng tộc khởi đầu năm 2007 trong các cuộc biểu tình chống kết quả bầu cử. Theo cơ quan UNICEF, nhiều hành vi tàn bạo dã man chưa ai nghe thấy đã xẩy ra: trong một ngày, 19 phụ nữ và trẻ em bị thiêu sống. Ít nhất 350,000 dân đã bị cưỡng bức phải rời khỏi nhà cửa của họ. Tiếp theo các vụ tấn công, đốt phá và cướp bóc trong đó cả hàng ngàn người bị giết, từng làng đã bị bỏ hoang. UNICEF càng ngày càng tố giác các vụ hiếp dâm phụ nữ và bé gái ngay trong các trại tị nạn trên khắp xứ sở, nơi dung thân của kẻ không nhà. Sự bảo vệ của cảnh sát tại các trại tị nạn này hết sức ít ỏi. Chính phủ Kenya đã yêu cầu cơ quan UNICEF phối hợp các chiến dịch nhân đạo nhằm chăm sóc y tế, cung cấp thực phẩm, giáo dục và che chở các thành phần thiệt thòi này. Sự trợ giúp của UNICEF tại gần 300 trại rải rác khắp miền xứ sở bao gồm việc phân phối thực phẩm UNIMIX cho trẻ thơ và khẩu phần ăn cho 70% tổng số 80,000 trẻ em dưới 5 tuổi; phân phối thuốc viên chlorine để có nước sạch (80,000 viên riêng tại Nairobi); dựng các nhà vệ sinh tiền chế và các bể chứa nước sạch. Về phương diện an ninh, UNICEF đang cùng nhiều cơ quan khác làm thống kê tất cả các vị thành niên đang gặp khó khăn và đưa ra các biện pháp che chở bằng cách di tản phụ nữ và trẻ em.

Bất chấp hoàn cảnh ấy, Kenya vẫn là một trong những địa điểm hấp dẫn nhất cho những du khách tây phương đi tìm tình dục.

Dưới đây là cuộc phỏng vấn bằng điện thoại với cha Franco Cellano, Bề trên 31 phái bộ (missions) thuộc Dòng Truyền Giáo Consolata tại Kenya. Fides phải vất vả mấy ngày mới gặp được vị linh mục suốt ngày lên đường thăm các trại tị nạn và phối hợp việc trợ giúp các trại này.

Hỏi: Thưa Cha, Cha là người thành thạo tình hình tại Kenya, xin cha cho chúng con hay đôi điều về tình huống liên quan đến kỹ nghệ tình dục

Tôi là một thành viên trong một Ủy Ban Ý có nhiệm vụ thực hiện một cuộc nghiên cứu trong ba năm, đặc biệt để tìm hiểu tình hình tại các thành phố ven biển như Malindi, Lamu, Mombasa. Từ cuộc nghiên cứu này, chúng tôi thấy có ít nhất 30,000 vị thành niên Kenya, chủ yếu là các bé gái, mà đa số do cha mẹ xúi bẩy, đang bị sử dụng cho các sinh hoạt tình dục của người lớn. Cũng từ cuộc nghiên cứu này, chúng tôi thấy 38% các vụ bạo hành tính dục liên can tới người Kenya và du khác nước ngoài, chia ra như sau: 18% là người Ý, 14% là người Đức, 12% là người Thụy Sĩ, 8% là người Pháp.

Hoàn cảnh hiện nay ra sao?

Từ năm 2000, hiện tượng trên trở thành nhất quán bao gồm các hoàn cảnh thiếu thốn gian khổ, bị đẩy ra bên lề và nghèo đói bơ vơ. Trong ít năm gần đây, các du khách tình dục tây phương, trước đây hay lui tới Á Châu, nay bắt đầu chọn Phi Châu và Kenya làm những nơi họ thích lui tới nhất. Tôi phải nói ngay rằng kỹ nghệ tình dục tại Nairobi ngày nay đang hết sức phát triển, bao gồm cả các thanh niên thiếu nữ đồng tính luyến ái cần tiền để trả học phí hay các khóa huấn nghệ tìm việc làm. Mục tiêu của các thanh niên này không hẳn là khoái lạc, vì văn hóa ở đây rất coi trọng việc tôn kính tổ tiên; họ làm việc đó để có ba mươi ngàn, bốn mươi ngàn, năm mươi ngàn ‘shillings’ để trả học phí hay lệ phí huấn nghệ.

Xét chuung, hiện tượng ấy có mặt ở khắp nơi. Có điều tương đối mới là các phụ nữ tây phương cũng tới đây sử dụng các thanh niên Châu Phi. Điều này xẩy ra tại Malindi, Mombasa và nay đang xuất hiện ở Nairobi.

Chính phủ Kenya làm gì?

Một đạo luật của Kenya, ban hành năm 1990, nhằm bảo vệ quyền lợi trẻ em, nhưng có bao giờ được thi hành đâu. Đạo luật ban hành năm 2003 cũng thế, nó được ban hành để phạt tội hình những ai tổ chức việc đĩ điếm. Tuy nhiên, trong các trường hợp này, trách nhiệm cũng ở lực lượng cảnh sát, hiện hết sức tham nhũng, ít khi chịu can thiệp.

Có phải việc này có tổ chức chăng?

Phía sau hiện tượng này, chắc chắn có những tổ chức cưỡng bức các thiếu nữ vào vòng nhưng chính các thiếu nữ cũng tỏ ra rất nhanh nhẹ trong việc ẩn núp và trở thành vô hình.

Các cha tiến hành việc phúc âm hóa và đồng thời chiến đấu chống lại tệ đoan này ra sao?

Dòng truyền giáo của chúng tôi là một trong những dòng có mặt ở đây lâu nhất. Và như ông đã thấy, hiện chúng tôi có 31 phái bộ thuộc Dòng Truyền Giáo Consolata tại Kenya. Trong khi làm công tác phúc âm hóa, chúng tôi cũng cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền, quyền có nhà, có việc làm, quyền được chăm sóc thích đáng về y tế. Bên cạnh sinh hoạt mục vụ, một số trong 14 giáo xứ do chúng tôi đảm nhiệm đã tham gia tích cực vào việc tranh đấu chống lại hiện tượng mãi dâm này. Nhưng nói một cách tổng quát, vì cảnh quá nghèo và thiếu thốn, nên khó có thể thuyết phục để họ cưỡng lại nó.

Trước khi kết thúc, xin hỏi cha về cuộc khủng hoảng nhân đạo tại Kenya.

Trong mấy tháng gần đây, cộng đồng Công Giáo địa phương đã tận lực và âm thầm giúp ít nhất 350,000 người vô gia cư. Chúng tôi, 63 cộng đoàn tu sĩ khác nhau, cũng đã cùng nhau hợp tác để vừa thi hành việc tông đồ và rao giảng Phúc Âm vừa cung cấp các trợ giúp và cố gắng cổ vũ hòa giải và hòa bình. Tôi chỉ muốn nói rằng dân chúng vẫn còn sợ không dám trở lại làng xưa của họ. Tôi cũng muốn nói tới chủ nghĩa vụ hình thức của nhiều cơ quan quốc tế, chủ nghĩa ấy, trong hoàn cảnh như thế này, chẳng đem lại được ích lợi chi. Thực sự, chính tôi cũng từng tranh luận với các viên chức Hồng Thập Tự địa phương, một cơ quan cùng với UNICEF phần nào nhất trí với chính phủ Kenya. Họ phải chịu trách nhiệm trong việc xử lý cơn khủng hoảng nhân đạo này.

Một số người cho rằng sau rất nhiều năm, các tổ chức quốc tế ấy chỉ là “những toa tầu chở những nhà trình diễn bàn giấy”…

Đồng ý. Các gia đình vô gia cư bị buộc phải ra khỏi nhà không thể chờ hai tháng để Hồng Thập Tự phát 2,000 bộ đồ sống sót (nồi niêu xoong chảo, nệm nằm, chăn đắp, mùng màn, và một món tiền nhỏ để sống lúc đầu), giúp họ có thể trở về làng cũ. Hai tháng qua đi mà đồ phát vẫn chưa được mang tới. Thời gian chờ đợi như thế đã diệt hết nhân phẩm của những con người này, mà phần lớn là phụ nữ và trẻ em.

2. Giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo về lạm dụng tình dục

Về lạm dụng tình dục, Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng nói tại số 27 như sau: “bất cứ điều gì hạ nhục nhân phẩm, như các điều kiện sống dưới mức hợp nhân bản, giam cầm độc đoán, trục xuất, nô lệ, mãi dâm, bán phụ nữ và trẻ em; cũng như các điều kiện làm việc tồi tệ trong đó con người bị đối xử như dụng cụ kiếm lời không hơn không kém, thay vì là những hữu thể tự do và có trách nhiệm; tất cả những điều đó và nhiều điều khác tương tự như thế quả là những điều điếm nhục. Chúng chuốc độc xã hội con người, nhưng chúng cũng gây hại cho chính những người thực hành, có khi còn hơn là những người bị chúng gây tổn thương. Hơn nữa, chúng là một bất kính tối hậu đối với Đấng Hóa Công”.

Đức Gioan Phaolô II, trong bài diễn văn trước Đoàn Ngoại Giao bên cạnh Tòa Thánh, từng nói: “Ở hùng đông thiên niên kỷ này, chúng ta hãy cứu con người! Ta hãy cùng nhau, tất cả chúng ta hãy cùng nhau, cứu nhân loại! Các nhà lãnh đạo xã hội có nhiệm vụ phải gìn giữ nhân loại, bảo đảm để khoa học phục vụ con người nhân bản, không được thao túng con người như đồ vật, không được mua bán họ, không bao giờ ấn định luật lệ bằng lợi ích thương mại hay quyền lợi ích kỷ của các nhóm thiểu số”.

Trong Tông Thư Mulieris Dignitatem (phẩm giá phụ nữ) nhằm nói về hiện tượng này, Ngài trích dẫn câu truyện người đàn bà bị bắt quả tang đang ngoại tình để kêu gọi trách nhiệm của những người phạm tội ác này, nhất là người đàn ông liên hệ, là người thường hay bỏ rơi người đàn bà: “Chúa Giêsu đi vào hoàn cảnh cụ thể và lịch sử của các phụ nữ, một hoàn cảnh bị nặng trĩu vì gia tài tội ác. Một trong những phương thế nói lên cái gia tài này chính là thói quen kỳ thị chống lại đàn bà và nghiêng về đàn ông. Gia tài này cũng bắt rễ ngay trong người đàn bà nữa. Từ cách nhìn này, câu truyện người đàn bà “bị bắt quả tang đang ngoại tình” (xem Ga 8:3-11) quả đã hùng hồn nói lên nhiều điều. Trước nhất, Chúa Giêsu nói với người đàn bà: “Đừng phạm tôi nữa”, nhưng trước đó, Người khêu gợi ý thức tội lỗi nơi những người đàn ông tố cáo muốn ném đá nàng. Căn cứ vào đó, Người cho ta thấy Người có khả năng sâu sắc biết nhìn thấu lương tâm và hành động của con người dưới ánh sáng thật của họ. Chúa Giêsu như muốn nói với những kẻ tố cáo rằng: người đàn bà này, dù hết sức tội lỗi, nhưng trên hết há không phải là bằng chứng tố cáo chính tội ác của các ông sao, tội bất công “nam giới”, những việc làm tồi bại của các ông đó sao?

Sự thật trên có giá trị đối  với toàn thể nhân loại. Vì câu truyện ghi lại trong Phúc Âm Gioan đã được không biết bao nhiêu hoàn cảnh tương tự trong mọi thời đại lặp đi lặp lại không ngừng. Người đàn bà bị bỏ rơi, bị công luận lên án là tội lỗi, trong khi lấp ló phía sau tội lỗi ấy là một người đàn ông, kẻ gây tội, “tội người khác” mà trách nhiệm cũng chẳng kém gì. Nhưng không ai thấy tội của anh ta cả, nó âm thầm được bỏ qua: xem ra anh ta chẳng chịu trách nhiệm chi về tội lỗi người khác cả. Đôi khi, quên khuấy cả tội lỗi của mình, anh ta còn biến mình thành người tố cáo nữa, y như câu truyện đang nói ở đây. Còn người đàn bà thì phải trả giá cho tội của mình và phải một mình trả giá, trả giá một mình mà thôi. Biết bao lần nàng bị bỏ rơi với bụng mang dạ chửa, trong khi người đàn ông, cha đứa trẻ, nhất định không chịu một chút trách nhiệm nào? Ngoài chuyện có quá nhiều “các bà mẹ không cheo cưới” trong xã hội ta ra, ta cũng phải xét tới tất cả những cô gái, những người đàn bà, vì bị áp lực tứ phía, kể cả của chính người đàn ông, nên đành phải tống khứ đứa nhỏ ra ngoài trước khi em được sinh ra. Quả tình họ đã tống khứ “của nợ” ấy thật. Nhưng giá phải trả cho sự tống khứ ấy không nhỏ. Dù nền văn hóa ngày nay đang cố gắng hết sức để loại bỏ nét tàn ác của tội lỗi này, nhưng người đàn bà sẽ không bao giờ quên được sự kiện nàng đã kết liễu sự sống của chính đứa con của mình, cái sự sống mà bản nhiên nàng đã được tạo nên để chào đón.

Trong Tông Huấn hậu thượng hội đồng giám mục Á Châu “Ecclesia in Asia” (Giáo Hội Tại Á Châu), Đức Gioan Phaolô II đã tố giác hiện tượng trên, một hiện tượng rất phổ biến tại Á Châu do ngành du lịch tìm tình dục hết sức thịnh hành tại đây gây ra. Ngài viết: “Ngành du lịch cũng đáng ta chú ý cách đặc biệt. Mặc dù là một kỹ nghệ hợp pháp, có giá trị văn hóa và giáo dục riêng, nhưng trong nhiều trường hợp, ngành du lịch này đã gây ảnh hưởng tác hại trên môi trường luân lý và cả thể lý nữa cho nhiều quốc gia Á Châu, cụ thể trong việc hạ giá nhân phẩm các phụ nữ trẻ và có khi cả trẻ em nữa bằng nghề mãi dâm” (số 7). Tông huấn cũng nói thêm: “Thượng hội đồng ngỏ lời đặc biệt quan tâm tới phụ nữ, những người gặp hoàn cảnh hiện vẫn còn rất nghiêm trọng tại Á Châu, nơi việc kỳ thị và bạo hành đối với phụ nữ đôi khi xẩy ra ngay trong gia đình, nơi làm việc và cả trong hệ thống pháp lý nữa… Nhiều người trong số họ bị đối xử không hơn một món hàng trong nghề mãi dâm, trong ngành du lịch và kỹ nghệ tiêu khiển” (số 34).

Rồi trong Thư Gửi Phụ Nữ năm 1995, Đức Gioan Phaolô II cũng đã bày tỏ sự quan tâm đặc biệt tới hiện tượng bạo hành tình dục đối với phụ nữ. Ngài viết: “rồi vấn đề này nữa: khi ta xem xét một trong các khía cạn hết sức nhậy cảm về hoàn cảnh của phụ nữ trên thế giới ngày nay, làm sao ta không nhắc tới cái lịch sử lâu dài và hạ cấp, dù đôi khi là một lịch sử “hầm trú”, tức lịch sử bạo hành phụ nữ trong lãnh vực tính dục? Trước thềm Thiên Niên Kỷ Thứ Ba, ta không thể tiếp tục dửng dưng và e dè trước hiện tượng này nữa. Đã tới lúc phải mạnh mẽ lên án mọi kiểu bạo hành tình dục thường lấy phụ nữ làm đối tượng và phải ban hành các đạo luật bênh vực phụ nữ cách hữu hiệu chống lại việc bạo hành ấy. Nhân danh việc tôn trọng nhân vị, ta cũng không thể không lên án thứ văn hóa duy khoái lạc và chủ thương mại, một thứ văn hóa chuyên khuyến khích việc khai thác tính dục có hệ thống và đồi trụy hóa cả những bé gái nhỏ trong việc bán mình kiếm lợi nhuận” (số 5).

Nhân dịp Hội Nghị Quốc Tế về chủ đề “Cảnh nô lệ trong Thế Kỷ 21 - Chiều kích Nhân quyền đối với việc Buôn bán người”, Đức Gioan Phaolô II đã gửi một lá thư, vào ngày 15 tháng Năm năm 2002, cho Đức Tổng Giám Mục Jean-Louis Tauran, lúc ấy là tổng trưởng ngoại giao. Hội nghị này diễn ra trong hai ngày 15 và 16 tháng Năm năm 2002 tại Đại học giáo hoàng Gregorian và được các đại sứ cạnh Tòa Thánh cũng như hai hội đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình và về Di Dân cổ vũ. Đại diện của 30 quốc gia đã tới tham dự. Trong lá thư này, Đức Giáo Hoàng viết: “Việc buôn bán người đã tạo ra một cuộc tấn kích hãi hùng đối vào chính phẩm giá con người và là một vi phạm nghiêm trọng các nhân quyền nền tảng. Công đồng Vatican II từng nhấn mạnh tới ‘tệ nạn nô lệ, mãi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, các điều kiện làm việc tồi tệ trong đó con người bị đối xử như dụng cụ kiếm lời chứ không phải là những con người tự do, có trách nhiệm’, coi chúng như ‘những ô nhục sẽ chuốc độc toàn bộ xã hội con người và hạ giá chính những người gây ra các tệ nạn ấy’, đồng thời ‘bất kính một cách tối hậu đối với Đấng Tạo Hóa’ (Vui Mừng và Hy Vọng, số 27). Những hòan cảnh trên quả là một lăng nhục đối với các giá trị căn bản từng được mọi nền văn hóa và mọi dân tộc chia sẻ xưa nay, các giá trị vốn bắt rễ sâu trong chính bản chất nhân vị.
”Việc gia tăng đầy lo ngại nạn buôn bán người là một trong những vấn đề cấp bách về phương diện chính trị, xã hội và kinh tế có liên hệ tới diễn trình hoàn cầu hóa hiện nay; nó đem lại một đe dọa nghiêm trọng đối với nền an ninh của các quốc gia cá thể và một nghi vấn đối với công bình quốc tế. Hội Nghị hiện nay phản ảnh sự nhất trí quốc tế mỗi ngày một gia tăng, một sự nhất trí cho rằng vấn đề buôn bán người cần phải được giải quyết bằng việc cổ vũ các phương tiện tài phán hữu hiệu để ngăn chặn việc buôn bán tác hại này, để trừng phạt những người lợi dụng nó kiếm lời, và để hỗ trợ việc hội nhập các nạn nhân của nó vào xã hội. Đồng thời, Hội Nghị này cũng đem lại một cơ hội quan trọng để ta suy nghĩ lâu dài về các vấn đề nhân quyền phức tạp vốn do việc buôn bán này tạo ra. Ai có thể chối được rằng nạn nhân của tội ác này đôi khi là những người nghèo nhất và ít được bênh đỡ nhất trong gia đình nhân loại, ‘những người bé nhỏ nhất’ trong hàng ngũ anh chị em của ta?

Đặc biệt , việc khai thác tính dục phụ nữ và trẻ em là khía cạnh nhơ bẩn nhất của việc buôn bán này và phải bị coi là một vi phạm nội tại đối với nhân phẩm và nhân quyền. Khuynh hướng tồi tệ trong việc coi mãi dâm như một thương vụ hay một kỹ nghệ không những đã góp phần vào việc buôn bán con người, mà tự nó còn là bằng chứng cho thấy càng ngày người ta càng tách tự do ra khỏi luật luân lý và rút gọn mầu nhiệm phong phú trong tính dục con người để chỉ còn là một món hàng không hơn không kém (…)”. 

Trong một buổi triều yết ngày 15 tháng Năm, tại Quảng Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô, nhân dịp có Hội nghị này, Đức Gioan Phaolô II có gặp một nhóm chừng 500 phụ nữ từng được một hiệp hội Ý tên là Comunità Papa Giovanni XXIII (Cộng Đồng Đức Thánh Cha Giovanni XXIII) giải thoát khỏi nghề mãi dâm. Đức Giáo Hoàng ngỏ lời chào mừng họ và khích lệ họ hãy “tiếp tục tin tưởng tiến trên con đường dẫn tới tự do hoàn toàn, một tự do xây dựng trên phẩm giá con người”.

Về vấn đề mãi dâm, Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo cho hay: “Mãi dâm làm tổn thương phẩm giá những người can dự vào nó, biến con người trở thành dụng cụ cho khoái lạc sinh lý, còn người mua dâm thì phạm tội nặng chống lại chính bản thân mình: họ vi phạm đức trong sạch mà họ đã cam kết khi chịu Phép Rửa và làm hoen ố thân xác họ, vốn là Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Mãi dâm là một tai họa xã hội. Nó thường liên hệ tới phụ nữ, nhưng cũng liên hệ tới đàn ông, trẻ em và thiếu niên nữa (hai trường hợp sau còn mắc thêm tội làm gương mù). Dù bước vào việc mãi dâm luôn là một tội trọng, nhưng đôi khi tội ấy được giảm khinh vì hoàn cảnh nghèo túng, bị tống tiền hay bị áp lực xã hội” (số 2355)

Năm 2004, “Du lịch để phục vụ việc đem người ta lại với nhau” là chủ đề của Đại Hội Thế Giới lần thứ 6 về Chăm Sóc Mục Vụ cho Ngành Du Lịch do Hội Đồng Giáo Hoàng về Chăm Sóc Mục Vụ Cho Di Dân và Người Du Hành tổ chức, cùng hợp tác với Ủy Ban Công Giáo về Du Lịch của Hội Đồng Giám Mục Thái Lan, và được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 5 tới ngày 8 tháng Bẩy.

Tuyên bố sau cùng của Hội Nghị có đoạn như sau: “Ngành du lịch, ngành nay đã trở thành một hiện tượng xã hội và kinh tế có tầm mức hoàn cầu, phải đóng góp vào việc đem các dân tộc và các nền văn hóa lại với nhau; vào việc cải thiện môi sinh mà không làm hại tới các tài nguyên thiên nhiên; vào việc thể hiện hoàn toàn cũng như làm phong phú hơn nữa sự thịnh vượng về văn hóa và kinh tế của dân chúng địa phương; vào cuộc chiến đấu chống lại mọi hình thức kỳ thị và bóc lột hay, tệ hơn nữa, chống lại bạo lực tính dục đối với phụ nữ và vị thành niên”. Tài liệu này nói tiếp: “Trong bối cảnh này, các tham dự viên Hội Nghị, được linh hứng bởi tình yêu đặc biệt của Chúa Kitô dành cho người nghèo, chủ trương rằng chăm sóc mục vụ cho những người bị kỹ nghệ tình dục khai thác phải là ưu tiên cao đối với Giáo Hội.

“Trong số những người trên, những người dễ bị thương tổn nhất và khẩn thiết đòi được chăm sóc hơn cả chắc chắn là các phụ nữ, vị thành niên và trẻ em, nhưng việc che chở và quan tâm đặc biệt đối với trẻ em thúc đẩy chúng ta phải khuyến cáo những điều sau đây cho nhóm người bị bóc lột này: phải dành cho trẻ em trong hoàn cảnh này lòng cảm thương, sự che chở của luật pháp và việc phục hồi nhân phẩm các em; không nên kết tội hình các trẻ em trong các trường hợp trong đó nội dung Công Ước Quyền Trẻ Em bị vi phạm, như trong trường hợp lạm dụng tình dục. Hơn nữa, các thẩm quyền di dân nên đặc biệt chú ý tới thực tại này; các thẩm quyền nhà nước phải dành ưu tiên và khẩn cấp cho việc phản công chống lại việc buôn bán và nhất là khai thác kinh tế trẻ em trong ngành du lịch tình dục; các định chế nhà nước phải tăng cường việc thực thi luật lệ để bảo vệ trẻ em chống lại các khai thác tình dục trong ngành du lịch và đưa những kẻ vi phạm ra trước công lý qua các cố gắng mạnh mẽ, có phối hợp và nhất quán ở mọi tầng lớp trong xã hội, và trong sự cộng tác với các tổ chức quốc tế; các giáo phận và cộng đồng liên hệ phải cung cấp việc chăm sóc mục vụ thích đáng cho các trẻ em từng bị khai thác vào các mục tiêu tình dục trong ngành kỹ nghệ du lịch. Họ phải đánh động ý thức xã  hội biết nhận thức tính cách nghiêm trọng của tình thế và chia sẻ các tín liệu liên quan đến tội ác này và cả phương cách để chấn chỉnh nó nữa; các giáo phận và cộng đồng Công Giáo liên hệ phải thiết lập ra các cơ cấu để chăm sóc mục vụ cho trẻ em bị bóc lột, coi chúng như một khía cạnh quan trọng trong sứ mệnh phúc âm hóa của  họ; và họ nên hợp tác, qua đối thoại và hành động, với các thẩm quyền nhà nước, để chiến đấu chống lại việc khai thác trẻ em bằng các biện pháp thực tiễn; các giáo phận và cộng đồng Công Giáo phải hỗ trợ các phương thế làm tông đồ hiện nay, hay lập ra các phương thế mới, có thể chăm sóc các nạn nhân một cách đầy cảm thông và thương yêu, đồng thời cung cấp cho họ các trợ giúp về phương diện luật pháp, điều trị và tái hội nhập vào xã hội, và nếu là Kitô hữu, vào cộng đồng đức tin nữa; các hội nghị quốc gia và miền  về Chăm Sóc Mục Vụ cho Ngành Du Lịch phải được triệu tập nhằm thành lập ra các thẩm quyền có khả năng đưa ra được các hành động xã hội và giáo hội thích đáng nhằm thực thi  những điều được khuyến cáo ở đây”

Trong một buổi tiếp kiến các giám mục Công Giáo thuộc vùng Antilles tại Vatican vào ngày 7 tháng Tư năm 2008, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI có nói như sau: “Ở nhiều mức độ khác nhau, các vùng duyên hải của các đức cha đang bị tả tơi vì các khía cạnh tiêu cực của kỹ nghệ tiêu khiển, của ngành du lịch khai thác và tai họa của việc buôn bán vũ khí và ma túy; các ảnh hưởng trên không những phá hoại cuộc sống gia đình và gây bất ổn cho nền móng các giá trị văn hóa truyền thống mà còn có khuynh hướng ảnh hưởng tiêu cực tới nền chính trị địa phương”.

‘Con bạch tuộc’ độc hại và tởm gớm

Ngày 4 tháng Tư năm 2003, tại hội nghị Âu Châu về Bảo Vệ Trẻ Em Bị Lạm Dụng, Đức Ông Piero Monni, lúc ấy là Đại diện thường trực của Tòa Thánh tại Tổ Chức Du Lịch Thế Giới, đã có bài tham luận trong đó, Ngài ví ngành du lịch tình dục như con ‘bạch tuộc’ độc hại và tởm gớm. Đức Ông Monni nhắc lại rằng trong Phúc Trình năm 1993 của Cơ Quan Y Tế Thế Giới (WHO) về Các Bệnh Quốc Tế, ấu dâm (paedophilia), một đề tài được bàn tới trong chương nói về các sở thích tình dục, được định nghĩa là “một sở thích đối với trẻ em, thường ở tuổi dậy thì hay tiền dậy thì”. Tài liệu này giải thích thêm: để phạm một hành vi có thể gọi là ấu dâm, người phạm phải trên 16 tuổi và phải lớn hơn vị thành niên ít nhất 5 tuổi (WHO). Các hành vi này có thể là đồng tính, dị tính hay lưỡng tính. Các hành vi ấy có thể thực hiện qua quyến rũ, đe doạ hay tưởng thưởng. Chúng cũng có thể phát sinh từ sự thuận tình bề ngoài của vị thành niên nhất là khi vị thành niên đó vốn là người thiếu vắng âu yếm và do đó tìm được thoả mãn nơi người đã trưởng thành (WHO).

Đức Ông Monni cho rằng: Du khách tìm tình dục là người muốn làm tình với các vị thành niên và thường tổ chức các kỳ nghỉ hè vui chơi tại các quốc gia không những làm ngơ việc mãi dâm trẻ em mà còn quảng cáo để lôi cuốn du khách để kiếm ngoại tệ nữa. Tuy nhiên, nguy hiểm hơn nữa là có những quốc gia, vì các phong tục truyền thống và tôn giáo vốn lỏng lẻo hơn đối với tác phong này,  đang có khuynh hướng muốn hợp pháp hóa nó. Ngành du lịch tình dục nuôi sống thị trường mãi dâm vị thành niên và đem lại lợi nhuận khổng lồ cho các hãng du lịch, là các hãng chuyên lo cho các du khác đặc biệt này, từ quảng cáo (thường là ngụy trang, nhưng đôi khi cũng rõ ràng, hụych toẹt không che đậy), tới các ‘dịch vụ’ đưa đón, nơi đến, nơi ở khách sạn hay các cơ sở nhỏ hơn nhưng đầy đủ các ‘dịch vụ đặc biệt’”.

Trong bài tham luận trên, Đức Ông Monni có liệt kê các nơi đến chính của ngành du lịch tình dục (được định nghĩa như một “ngành kinh doanh”): tại Á Châu, là Phi Luật Tân, Đài Loan, Thái Lan, Ấn Độ và Tích Lan; tại Châu Mỹ La Tinh, là Mễ Tây Cơ, Ba Tây, Venezuela; tại Phi Châu, là Kenya. Đức Ông cho hay: “Các chính sách vô lương tâm, sự tham lam kinh tế của giai cấp được ưu đãi tại địa phương, sự nghèo khổ của một số quốc gia và nỗi gian lao để sinh tồn của dân chúng đã tạo nên cái tủy, cái nền để hình thức nô dịch hóa mới mẻ này phát triển. Thêm vào đó, ta phải kể tới áp lực kinh tế về phía các nhà đầu tư ngoại quốc đối với khu vực du lịch tại các quốc gia đang mở mang và sự lôi cuốn của hàng tiêu dùng từng kích thích các nước đã kỹ nghệ hóa cao”.

Đức Ông Monni nói thêm: “Nếu Thái Lan, Căm Bốt và Miến Điện đang đầy rẫy các du khách thèm khát tình dục với vị thành niên, thì Phi Luật Tân cũng đang phải trả giá cho tính vô luân, phần lớn do gia tài nhận được từ người Nhật thời chiếm đóng trong thập niên 1940 và sau đó là người Mỹ. Các căn cứ quân sự hiện diện trên đất Phi trong Thế Chiến II đã trở thành các trung tâm phát triển ấu dâm nơi một dân tộc bị khốn khổ vì thiếu phát triển. Thái Lan cũng thế, trong thời chiến tranh Việt Nam, cũng đã đón tiếp hàng ngàn binh lính Bắc Mỹ, là những người đã để lại một ký ức đáng buồn về sở thích tình dục đối với các vị thành niên.

“Cần phải nói rằng ngày nay, bất hạnh thay, trong các khu vực có chiến tranh tại nhiều lục địa khác nhau, kể cả Âu Châu, không ít binh sĩ vô trách nhiệm đang góp phần mở rộng kỹ nghệ làm tình với vị thành niên. Tại Olangopo, một thị trấn thuộc Phi Luật Tân, dân số chỉ hơn 4,000 người một chút, không xa Manila bao nhiêu, nhưng việc mãi dâm vị thành niên hiện đạt đến mức hết sức bệnh hoạn. Không thể nào dạo quanh một đường phố nào đó mà lại không bị một vị thành niên cản đường để chào mời làm tình. Nếu tới Ba Tây, ta sẽ thấy Fortaleza, một thành phố lớn, một trung tâm lôi cuốn ấu dâm. Các nhóm ấu dâm cũng phát sinh từ Ý, có thể chỉ hoạ huần thôi, nhưng nhất định cũng có ý định gây hại cho sự trong trắng ngây thơ của trẻ em. Tại Mễ Tây Cơ, những anh chàng Mỹ giầu (gringos) kéo đến hàng lũ và tại các khu vực biên giới với Hoa Kỳ, các băng video diễn tả các hành vi bạo loạn tình dục với vị thành niên được sản xuất với mức kỹ nghệ tại nhiều trung tâm sản xuất phim ảnh địa phương”.

“Kỹ nghệ mua vui”

Cơ quan Du lịch Thế giới định nghĩa du lịch tình dục là “ngành du lịch được tổ chức do các người điều hành các chuyến du lịch cho người khác. Họ dùng các cơ cấu và hệ thống của mình với ý định

chủ yếu là giúp đỡ các du khách kia có được các liên hệ tình dục với người địa phương” (Quy luật Đạo đức trong Ngành Du lịch Thế giới). Theo Liên Hiệp Quốc, loại du lịch này đưa lại các hậu quả xã hội và văn hóa cho cả nước đi lẫn nước tới, nhất là trong các hoàn cảnh trong đó sự bất bình đẳng về giới tính, tuổi tác, điều kiện xã hội và kinh tế của cư dân thuộc các trung tâm du lịch bị khai thác.

Ở một số nơi trên thế giới, ngành du lịch tình dục trở thành một hiện tượng tiêu thụ hàng loạt (mass consumption). Á Châu, Đông Âu và Châu Mỹ La Tinh là một số khu vực trong đó việc mua và bán thân xác con người cho mục tiêu tình dục đã trở thành ngành kinh doanh to lớn. Ở tâm điểm việc mua bán này chính là phụ nữ và trẻ em, phần lớn là các bé gái, những người yếu đuối, không ai che chở, nghèo khổ, trở thành mồi ngon cho thú tính một số đàn ông tây phương. Ngành du lịch tình dục là một lạm dụng tình dục của những du khách đàn ông hay đàn bà đối với những con người kém thế hơn mình về xã hội và kinh tế, những con người hầu hết là vị thành niên, sẵn sàng trao đổi thân xác mình, không nhất thiết để lấy tiền mà là để nhận được chút hàng hóa nào đó hay một lối sống nào đó mà nếu không dùng phương tiện này họ không bao giờ với tới được.

Việc thực hành ngành du lịch tình dục này dựa trên quan điểm lệch lạc coi một số quốc gia nghèo nàn như những nơi người ta được tự do tuyệt đối và được hoàn toàn miễn chuẩn khi thực hành những điều như làm tình với vị thành niên hay sử dụng bạo lực trong các liên hệ tình dục với đàn bà, đàn ông, người đổi phái tính, trẻ em và thiếu niên, vốn là những hành vi khó có thể thực hành tại các xứ giầu có hơn. Với cái nhìn lệch lạc như thế, những người đàn ông và đàn bà tây phương lên đường đi tìm những nơi họ nghĩ họ có thể phạm các hành vi tội ác nghiêm trọng mà hoàn toàn bảo đảm không bị truy tố, và là những nơi họ có thể kiếm được hàng trăm ngàn con gái, con trai, thiếu niên, người đổi phái tính, đàn ông và đàn bà thiếu thốn hay đang lao đao về xúc cảm sẵn sàng thoả mãn thú tính của họ.

Vì dựa trên việc khai thác những con người yếu đuối nhất, không thể tự quyết định được chính số phận mình, nên du lịch tình dục hiện là một tội ác và phải bị coi như thế trong luật lệ của nhiều quốc gia kể cả Ý và Ba tây.

Một yếu tố khác từng góp phần làm tăng gia hiện tượng du lịch tình dục và phát triển việc mãi dâm trẻ em là Chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến đã tạo ra khá nhiều căn cứ quân sự tại một số quốc gia Á Châu như Việt Nam, Đại Hàn, Thái Lan, Phi Luật Tân và Okinawa; lúc kết thúc cuộc chiến ấy, người ta ước lượng Sài Gòn có đến 500,000 người mãi dâm. Các căn cứ quân sự kia đã làm nhiều thành phố Á Châu lớn mạnh và còn tạo ra nhiều thành phố mới cũng như những nơi công cộng để cung cấp người bán dâm. Các bé gái và thiếu niên cũng có thể trở thành nạn nhân của thị trường tình dục cho các lực lượng gìn giữ hòa bình nữa. Như ở Mozambique chẳng hạn, sau khi ký thỏa ước hòa bình năm 1992, việc mãi dâm các cô gái từ 12 tới 18 tuổi đã được chính bộ chỉ huy lực lượng LHQ tại Mozambique (ONUMOZ) đứng ra tổ chức. Việc ấy đã bị tố cáo trong một phúc trình tựa là “Các Hậu Quả của Cuộc Tranh Chấp Vũ Trang đối với Trẻ Em và Thiếu Niên” do Graca Machel soạn thảo theo lời yêu cầu của ông Boutros Ghali, lúc ấy là Tổng Thư Ký LHQ. Phúc trình này được đệ trình cho Phiên Họp Khoáng Đại của LHQ vào tháng Tám năm 1996. Để chuẩn bị cho phúc trình Machel, 12 cuộc nghiên cứu về việc lạm dụng tình dục vị thành niên trong các tranh chấp vũ trang đã được thực hiện tại 12 quốc gia; kết quả cho thấy tại 6 trong các quốc gia được nghiên cứu này, sự hiện diện của các lực lượng gìn giữ hòa bình có liên hệ tới việc gia tăng nạn mãi dâm các vị thành niên.

Theo một Phúc trình Graca Machel mới được cập nhật hóa gần đây, được trình bầy ở New York vào tháng Mười Hai năm 2007, người ta thấy tác động của chiến tranh đối với trẻ em trong thập niên qua tàn bạo hơn bao giờ hết: chúng là nạn nhân các vụ tấn công vào trường học, bị bắt cóc và bị cưỡng bức phải đi lính, hay làm nô lệ tình dục, hoặc sống trong các điều kiện tôi đòi. Trong các vùng chiến tranh, các đe dọa đối với trẻ em càng gia tăng hơn nữa do sự kiện bạo lực giờ đây đánh thẳng vào nguồn che chở các em, đó là các bậc phụ huynh. Ann Veneman, tổng giám đốc UNICEF cho hay: “Nỗi nguy hiểm của trẻ em bị vây khốn trong chiến tranh tiếp tục gia tăng mỗi ngày. Chúng không còn phải là nạn nhân của lửa đạn nữa, nhưng càng ngày càng trở thành mục tiêu tiền định cho bạo lực, cho lạm dụng và khai thác, mặc tình để hàng trăm các nhóm vũ trang hành khổ, những nhóm chuyên xách nhiễu thường dân”. Phúc trình mới này cũng cho thấy nhiều tiến bộ thực hiện được trong lãnh vực ngăn ngừa việc tuyển dụng các binh lính trẻ em, tổ chức việc giải ngũ và tái hội nhập các em vào xã hội. Các can thiệp phối hợp của cộng đồng quốc tế cũng đem lại nhiều thành quả trong cuộc chiến đấu chống lại bạo lực tình dục. Trong lãnh vực này, ta có thể kể một số thành quả quan trọng như sau: phía các toà án quốc tế đã đưa ra các biện pháp tài phán sơ khởi, Hội đồng Bảo an LHQ đã cam kết theo dõi việc ban hành cũng như chấp nhận các đạo luật và các tiêu chuẩn quốc tế mới. Trong số ấy, phải kể tới Nghị Định Thư Nhiệm Ý đối với Công Ước Quyền Trẻ Em và Việc Can Dự của Trẻ Em vào Các Cuộc Tranh Chấp Vũ Trang, và việc chấp nhận Các Nguyên Tắc Paris để Ngăn Ngừa Việc Tuyển Dụng và Sử Dụng Trái Phép Trẻ Em vào Chiến Tranh. Phúc trình mới cũng đưa ra một số đề nghị cụ thể cho mười năm sắp tới, bao gồm việc kêu gọi các nước hội viên và xã hội dân sự nói chung hãy che chở các trẻ em hiện đang sống tại ít nhất 50 vùng có chiến tranh trên khắp thế giới, và các trẻ em đang gặp khó khăn để sinh tồn tại các xứ vừa chấm dứt chiến tranh.

Các trẻ em gái trai trong thị trường tình dục

Theo bản phúc trình Chấm Dứt Nạn Mãi Dâm, Nạn Khiêu Dâm và Buôn Bán Trẻ Em (ECPAT) do ba trường đại học Ý là Parma, Modena và Reggio Emilia phối hợp soạn thảo, thì hiện tượng trên khá phổ biến và đặc biệt có liên hệ tới các nước sau đây: Bangladesh, Lào, Căm Bốt, Việt Nam, Thái Lan, Sri Lanka, Đài Loan, Ân Độ, Ba Tây, Colombia, Phi Luật Tân, Cộng Hòa Dominique, Ukraine, Bảo Gia Lợi và một số quốc gia Châu Phi. Một số vùng hay thành phố trở thành các địa điểm nổi tiếng cho ngành du lịch tình dục và nhiều vùng hay thành phố đó trùng hợp với các vùng mãi dâm ở Amsterdam, Hòa Lan, ở Băng Cốc và Phủ Kiệt, Thái Lan và Angeles, thuộc tỉnh Pampanga của Phi Luật Tân, địa điểm đặt căn cứ quân sự đầu tiên của Mỹ tại nước này.

Tuy nhiên, phổ biến hơn cả nạn mãi dâm trẻ em là hiện tượng buôn bán người, bất chấp sự kiện này: trên phương diện luật lệ, chính phủ nào cũng bắt buộc phải che chở trẻ em khỏi bị khai thác và lạm dụng tình dục. Nguyên tắc này đã được công bố trong mọi công ước và khuyến cáo quốc tế. Như Công Ước Quyền Trẻ Em, điều 24, nói rằng: “Trách nhiệm các chính phủ là bảo vệ trẻ em khỏi bất cứ hình thức khai thác và lạm dụng tình dục nào”. Điều 35 dự liệu rằng trách nhiệm các chính phủ bao gồm việc ngăn ngừa nạn bắt cóc, bán hay trao đổi trẻ em vì bất cứ lý do nào hay dưới bất cứ hình thức nào. Cùng những cam kết ấy đã được lặp lại trong Nghị định Thư Nhiệm Ý đối với Công Ước về Buôn Bán Trẻ Em và Mãi Dâm và Khiêu Dâm Trẻ Em ban hành tháng Sáu năm 2000. Chúng tôi cũng xin nhắc tới một số chương trình của LHQ: Chương Trình Hành Động năm 1992 để Ngăn Ngừa Việc Buôn Bán Trẻ Em cũng như Việc Mãi Dâm và Khiêu Dâm Trẻ Em, và Chương Trình Hành Động năm 1996 để Ngăn Ngừa Việc Buôn Bán, Khai Thác Người và Việc Mãi Dâm.

Theo các tín liệu do  ECPAT và các trường đại học Ý đã nhắc trên đây thu thập, 90-95% các du khách tình dục là đàn ông trong hạn tuổi từ 20 tới 40, thuộc đủ mọi giai cấp xã hội khác nhau.

Một trong các nơi được du khách tình dục thăm viếng nhất là thành phố Fortaleza, thuộc đông nam Ba Tây. Trong khoảng thời gian từ tháng Mười Hai năm 2004 tới tháng Giêng năm 2005, số du khách Ba Tây cũng như ngoại quốc tại thành phố này cao hơn năm trước tới 13.5%. Phần lớn việc gia tăng này là do 40% gia tăng con số du khách ngoại quốc đến từ Bồ Đào Nha, Ý, Đức và Mỹ. Phân tích các yếu tố lôi cuốn du khách tới Fortaleza, người ta thấy trong nhiều năm qua, thành phố này sở dĩ phát triển được là nhờ các chào mời làm tình rẻ tiền dành cho du khách của nó, vé máy bay hạ, khách sạn rẻ và những gói nghỉ hè “bao hàm mọi sự”. Hiện tượng này cũng đã được nhắc tới trong các cuộc điều tra của một ủy ban quốc hội và nhiều tổ chức nghiên cứu khác. Những cuộc điều tra này cho thấy nguyên nhân gây ra hiện tượng này chính là việc bị xã hội cho ra rìa, kinh tế khó khăn, nạn đói và các sáng kiến vô lương tâm của giới kinh doanh nước ngoài, các khách sạn, các làng du lịch, các quán ăn…Tại Ba Tây, người ta thấy hiện tượng này trong các khu vực du lịch chính như Rio, Salvador, Recife, Foz do Iguacu, Natal, Manaus nhưng đặc biệt là Fortaleza. Theo Văn Phòng Đặc Biệt của Tổng Thống về Nhân Quyền, 22 thị trấn thuộc Rio Grande do Norte được liệt kê trong danh sách 937 thị trấn của cả nước có nạn khai thác vị thành niên về phương diện tình dục để kiếm lời. Kiểu nói này có ý chỉ việc buôn bán trên thị trường quốc tế các vị thành niên để đẩy họ vào các hệ thống mãi dâm; khai thác các thiếu niên trong các câu lạc bộ tư nhân; sử dụng vị thành niên vào việc sản xuất phim ảnh khiêu dâm. Tại Rio Grande do Norte, tội ác liệt kê sau cùng như trên đã xẩy ra hầu như duy nhất ngay chính hay chung quanh khu vực Natal và ở một số địa điểm duyên hải khác. Tuy nhiên, nhiều thiếu niên dính dáng vào ngành du lịch tình dục này xuất thân từ các vùng xâu hơn trong nội địa nơi các em bị khai thác trong các câu lạc bộ địa phương hay trong các xuất phẩm khiêu dâm.

Năm 2005, tại Bảo Gia Lợi, tờ tuần san cả nước tên là Politika từng tố giác rằng thành phố Petrich, vốn nổi tiếng về ngành du lịch tình dục, nay có được đồng nghiệp nữa là thành phố Sandaski, một thành phố chỉ có khoảng 30,000 dân nhưng ít nhất chứa đến 2 ngàn người bán dâm.

 Theo Cơ Quan Quyền Trẻ Em ở Ấn Độ, hàng trăm trẻ em bị khai thác để thoả mãn thú tính của những anh chàng ấu dâm mà chủ yếu đều là du khách nước ngoài đến Goa du lịch. Những tên ấu dâm này một là trực tiếp liên hệ với đứa trẻ hai là sử dụng các trung gian tại địa phương. Ở Châu Phi, Kenya là một trong những địa điểm được ngành du lịch tình dục lui tới nhiều nhất. Theo một cuộc thăm dò của UNICEF và chính phủ Kenya, tiến hành tại quận Diani, đông nam Malindi vào tháng Mười năm 2005, ở Kilifi và Mombasa giữa tháng Mười Một và tại Kwale vào tháng Ba năm 2006, thì khoảng 50% khách hàng lạm dụng trẻ em là đàn ông Âu Châu. Đàng khác, cuộc thăm dò này cũng cho thấy tại các thị trấn duyên hải như Mombasa, Kilifi, Malindi và Kwale, khoảng 15,000 hay 30% con gái cỡ tuổi từ 12 tới 18 thỉnh thoảng có hành nghề mãi dâm. Các khách hàng sộp của họ là Ý (18%), Đức (14%) và Thụy Sĩ (12%), sau đó là các du khách Uganda, Tanzania, Anh, Saudi Arabia và chính Kenya. Đối với UNICEF, một trong các khía cạnh nghiêm trọng hơn cả là nói chung, hiện tượng này được công luận chấp nhận. Điều ấy có nghĩa đứa trẻ nào ở Kenya cũng gặp nguy hiểm cả. Hơn 75% những người chủ yếu được hỏi để cung cấp tín liệu (phần lớn là các công nhân ngành du lịch và các đại diện kinh doanh) đều coi ngành du lịch tình dục với trẻ em một là chuyện bình thường hai là có thể khoan dung được, thậm chí còn có thể chấp nhận hoàn toàn được; chỉ khoảng 20% coi điều ấy là vô luân mà thôi.

Theo các phúc trình, việc buôn bán tình dục hiện đang liên can tới 80,000 người Ý (tuổi trung bình là 27). Sau Kenya, các nước nổi tiếng nhất là Cộng Hòa Dominique và Colombia. Các bé gái bị khai thác thường thuộc lớp tuổi từ 11 tới 15 trong khi các bé trai thuộc cỡ tuổi từ 13 tới 18. Những vụ làm tình này thường được quay phim và tải lên Internet. Các khách hàng của ngành du lịch tình dục dành cho phụ nữ thường tới Kenya, Gambia, Senegal, Cuba, Ba Tây và Colombia.

Phỏng vấn Marco Scarpati, chủ tịch ECPAT của Ý

Chấm dứt Mãi dâm, Khiêu dâm và Buôn bán Trẻ em

Về phần mình, ECPAT không hề thụ động: tại các nước có vấn đề, cơ quan này có những chương trình hợp tác và nhiều trung tâm phục hồi, trung tâm mới nhất vừa được mở tại Bảo Gia Lợi, nơi “có những em được đem tới cho chúng tôi trước đây từng tiếp cả hơn 6,000 khách hàng một năm”, chương trình huấn luyện hỗn hợp cho cảnh sát Ý và cảnh sát của nhiều nước khác, chiến dịch ngăn ngừa “vì tuổi cho du khách làm tình đã giảm đi cách đáng kể, nên ở đây ngăn ngừa phải bắt đầu với tuổi thiếu niên”. Nhưng tại sao lại là Ý? Là vì Ý vốn là xứ nguyên gốc của nhiều kẻ săn tình dục, và đồng thời cũng là nước đứng hàng đầu trong chiến dịch chống lại tội ác này. Scarpati cho hay: “Về tài trợ của chính phủ, chúng tôi đứng đầu danh sách Âu Châu và thế giới. Từ năm 2000, chúng tôi đã đưa ra nhiều cam kết như thế”. Dự tính sắp tới sẽ là Đại Hội Thế Giới Lần Thứ Ba Chống Khai Thác Tình Dục Trẻ Em và Thiếu Niên được ECPAT, UNICEF và Các Tổ Chức Phi Chính Phủ đứng ra tổ chức trước ngày Kỷ Niệm lần thứ 20 Công Ước Quyền Trẻ Em, địa điểm: Rio de Janeiro.

ECPAT là một hệ thống quốc tế gồm nhiều tổ chức cùng hợp tác với nhau để hủy diệt tận gốc việc mãi dâm, khiêu dâm và buôn bán vị thành niên cho mục đích tình dục. Hệ thống này khởi đầu tại Thái Lan năm 1991 để chống lại hiện tượng gia tăng đầy lo ngại trong việc mãi dâm trẻ em và trong việc dùng du lịch để khuếch trương tệ nạn trên. Hệ thống này làm việc mật thiết với các tổ chức phi chính phủ, cơ quan UNICEF và cơ quan ILO. Nó cộng tác với lực lượng cảnh sát tại các nước nguyên gốc của trẻ em và với cảnh sát quốc tế Interpol. Nó cũng làm việc với kỹ nghệ du lịch để chiến đấu chống lại ngành du lịch tình dục vốn bóc lột trẻ em. Nó gây áp lực với nhà cầm quyền địa phương để họ chấp nhận các biện pháp bảo vệ trẻ em khỏi bất cứ hình thức lạm dụng tình dục nào. Nó nhận diện và tố cáo hoạt động của những người bóc lột tại Ý và tại các nơi khác. Nó tham gia vận động (lobbying) để các đạo luật được thông qua hay cải thiện các đạo luật hiện hữu nhằm bảo vệ trẻ em hữu hiệu hơn. Nó làm việc với các thầy cô và học sinh để họ chịu học hỏi về nhân quyền; về sự bất quân bình giữa bắc và nam; về du lịch có trách nhiệm, tức biết tôn trọng nhân phẩm người khác. Nó theo dõi truyền thông và Internet để chống lại việc dùng trẻ em trong việc sản xuất các sản phẩm khiêu dâm. Ngày nay, ECPAT là hệ thống quốc tế rộng rãi nhất trong cuộc chiến chống lại việc khai thác tình dục vị thành niên: trong ngành du lịch tình dục sử dụng trẻ em; trong việc mãi dâm và buôn bán trẻ em cho mục tiêu khai thác tình dục; trong báo chí phim ảnh khiêu dâm trẻ nhỏ.

Thưa ông Scarpati, nếu ông phải ước lượng, thì hiện nay trên thế giới đang có bao nhiêu trẻ em bị khai thác cho ngành du lịch tình dục?

Trước nhất, tôi phải nói ngay tôi không thích ước lượng. Ước lượng không làm tôi mấy thích. Tôi không có ý niệm về con số. Tôi coi sự ước lượng của Liên Hiệp Quốc về con số 2.5 triệu là quá đáng. Tuy nhiên, cần phải nói rằng hiện tượng này hiện không thuyên giảm chút nào, ngược lại nó đã và đang tiếp tục lớn mạnh trong mấy năm gần đây.  Rất nhiều người du hành thế giới chỉ để tìm kiếm các vị thành niên… Khai thác tình dục các vị thành niên là vô luân, vì những người giầu có phương tây lạm dụng trẻ em để phục vụ cho khoái cảm tình dục của mình, nhưng ta nên nói rằng những người đi tìm trẻ em để lạm dụng ấy đã đi tới những nơi mà trẻ em vốn đã bị những tay anh chị địa phương khai thác rồi. Có những nơi được tạo ra cách chuyên biệt. Tôi nghĩ tới những khu mãi dâm tại nhiều thành phố Á Châu nơi các ‘đối tượng’ để thoả mãn tình dục bị đem ra bán, nơi thân xác và những con người bị đem ra bán, bất cứ điều gì người Âu Châu muốn cũng đều bị đem ra bán cả.

Xin trở lại với các ước lượng. Tổ chức của ông từng đưa ra các con số liên quan tới những người Ý đi du lịch thế giới để thoả mãn tình dục, họ ước lượng là 80,000 người, con số cao nhất ở Âu Châu, một con số gây kinh hãi. Ông nghĩ có nên tin con số ấy không?

Tôi sợ là có.

Đây là một việc kinh doanh lớn lao.

Và đó là vấn đề. Mục đích hoạt động của chúng tôi là làm mọi người ý thức được rằng con số người tham dự ấy hết sức lớn lao. Chúng ta đang nói tới ngành kinh doanh to lớn với lợi nhuận thật cao. Nếu thị trường trẻ em không hấp dẫn về phương diện lợi nhuận đến thế thì nó đã không hiện hữu. Cho nên chìa khóa để chấm dứt nó phải là chấm dứt yêu cầu.

Những người đó dùng phương tiện nào, họ tổ chức hoạt động của họ ra sao?

Họ có Internet, một phương tiện vô địch. Trên Internet, họ thấy đủ mọi chuyện được tổ chức đâu ra đấy kể cả giá cả và hợp đồng mua bán.

Có thể làm gì để chống lại sự ác này?

Một cách có lẽ là không cho các khách hàng lên đường, ngăn cản không cho họ tới các nước đang thực hành hành ngành du lịch tình dục. Cách nữa có lẽ là can thiệp để cải thiện nền kinh tế của những nước có ngành du lịch ấy và đưa ra các phương tiện nghiêm chỉnh để ngăn ngừa, để dạy trẻ em và huấn luyện các lực lượng cảnh sát địa phương để họ canh chừng hiện tượng và dẹp bỏ các tội ác do nó gây ra. Có lẽ cũng nên nhậy cảm hóa và nhờ các công nhân trong các ngành du lịch khác canh chừng như các tài xế taxi, các hướng dẫn viên du lịch, các khách sạn v.v…và cố gắng bảo đảm để các du khách không bị chào mời loại sinh hoạt ấy.

Những nước nào can dự vào hiện tượng này?

Nhanh hơn có lẽ tôi nên liệt kê các nước không can dự vào hiện tượng này vì hiện tượng này nay đã trở nên một hiện tượng hoàn cầu. Tuy nhiên, theo hiểu biết của chúng tôi, các nước can dự là Thái Lan,Việt Nam, Căm Bốt, Phi Luật Tân, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, A Phú Hãn, Ai Cập, Senegal, Nam Phi, Kenya (nơi người Ý rất ưa thích), Cuba (nước đang cố gắng che dấu vấn đề), Ba Tây, Peru. Cũng còn những nơi ít ai có ghể tưởng tượng được. Cách nay không lâu, ECPAT Ý đã được thông báo có những tay tổ chức các chuyến du lịch tình dục dưới danh nghĩa “Vui Chơi Câu Cá và Săn Bắn” tại Mông Cổ.

 

 

Tác giả: Vũ Văn An
   dunglac@gmail.com