Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Vũ Văn An
Bài Viết Của
Vũ Văn An
Antonio Rosmini, người của đức tin, lý trí và trái tim
Chiến dịch đem người Công Giáo trở về
Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II
Vatican và vấn đề tài liệu
Bốn Mươi Năm Sự Sống Con Người
Thờ Phượng Đích Thực Trong Tư Tưởng Thánh Phaolô
Gia Đình và Sự Sống
Khủng Hoảng Hôn Nhân và Gia Đình
Gia Tô Bí Lục Tân Thời
Thần học và thực hành mục vụ trong các thư của Thánh Phaolô
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa
Tính đáng tin cậy của Bộ Thánh Kinh
Kính Mừng Maria
Cầu nguyện theo lối chiêm niệm
Li dị và tái hôn trong các Phúc âm nhất lãm
Các nhà truyền giáo và kỹ nghệ tình dục
Từ Sydney tới Paris
Lộ Đức, sự hiện diện mênh mông của Mẹ
Bản Thể, Bản Tính
Thánh Phaolô, Nhà Truyền Giáo Vĩ Đại
Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
Cùng đi với Thánh Phaolô
Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội
Đức Bênêđíctô XVI: từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới hành trình đức tin trẻ em
LI DỊ VÀ TÁI HÔN TRONG CÁC PHÚC ÂM NHẤT LÃM

 

Hai truyền thống thuật lại lời dạy của Chúa Giêsu về ly dị và tái hôn là truyền thống Nhất Lãm và truyền thống Phaolô. Nhưng, hai trong ba tác giả phúc âm Nhất Lãm, tức các nhà soạn thảo ra hai phúc âm Luca và Mátthêu (người ta tin không phải là tông đồ Mátthêu) chưa bao giờ được tự thân nghe chính Chúa Giêsu. Máccô thì rất có thể đã được diễm phúc ấy. Nhưng nếu ông là Gioan Máccô, đồng hành của Thánh Phaolô và Barnaba được nhắc đến lần đầu trong Công Vụ 12:25 chứ không phải chàng thanh niên cởi trần chạy thoát thân sau khi Chúa Giêsu bị bắt trong Vườn Cây Dầu (Mc 14:51-52), thì rất có thể đã xuất thân từ Antioch thuộc Syria và do đó tự thân cũng đã không được nghe chính Chúa Giêsu. Nếu ông Máccô này soạn ra phúc âm mang tên Máccô và sau này trở thành bạn đồng hành và là  ‘con cưng’ của Thánh Phêrô mà truyền thống thường tin, thì hẳn là ông đã được nghe lời dạy của Chúa qua giáo huấn của Thánh Phêrô.

 

Dù sao chăng nữa, những điều các soạn giả này truyền lại như là giáo huấn của Chúa Giêsu về ly dị và tái hôn cũng đã được gạn lọc qua các giáo huấn giáo lý của nhiều cộng đoàn Kitô giáo thuộc thế hệ đầu tiên. Những dị biệt đáng kể trong các phiên bản của họ có thể gán cho những bài giáo lý sơ khai đó cũng như cho ý định biên tập của chính các soạn giả. Điều này đã đủ nói lên nỗi khó khăn của chúng ta, những con người ở thế kỷ 20 và 21 này, khi muốn biết đích xác Chúa Giêsu đã thực sự nói gì về hai khía cạnh trên. Sau đây là các phiên bản. Phúc âm Luca () thuật lại như sau:

 

"Bất cứ ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị chồng rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình” (1)

 

Phiên bản Máccô (10:1-12) chi tiết hơn nhiều và có nhiều dị biệt. Một trong những dị biệt này là giáo huấn của Chúa Giêsu được lồng trong một trình thuật kể lại cuộc đối chất và tranh luận với người Biệt Phái:

 

“Chúa Giêsu bỏ nơi đó, đi tới miền Giuđê và vùng bên kia sông Giođan. Đông đảo dân chúng lại tuôn đến với Người. Và như thường lệ, Người lại dạy dỗ họ. Có mấy người Pharisêu đến gần Chúa Giêsu và hỏi rằng: "Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không? " Họ hỏi thế là để thử Người. Người đáp: " Thế ông Môsen đã truyền dạy các ông điều gì? " Họ trả lời: "Ông Môsen đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ." Chúa Giêsu nói với họ: "Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsen mới viết điều răn đó cho các ông. Còn lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly." Khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Người về điều ấy. Người nói: "Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình."

 

Phiên bản đầu và ngắn hơn của Mátthêu lấy từ Bài Giảng Trên Núi (-32) như sau:

 

"Luật còn dạy rằng: Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp (2), ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình”.

 

Phiên bản dài hơn của Mátthêu giống phiên bản Máccô vì cũng được lồng trong một trình thuật về cuộc đối chất với nhóm Biệt Phái (19:3-12), nhưng dĩ nhiên có khác biệt với phiên bản Máccô:

 

“Có mấy người Pharisêu đến gần Chúa Giêsu để thử Người. Họ nói: "Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không? " Người đáp: "Các ông không đọc thấy điều này sao: "Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ", và Người đã phán: "Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt." Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly." Họ thưa với Người: "Thế sao ông Môsen lại truyền dạy cấp giấy ly dị mà rẫy vợ? " Người bảo họ: "Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsen đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu. Tôi nói cho các ông biết: Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình. Các môn đệ thưa Người: "Nếu làm chồng mà phải như thế đối với vợ, thì thà đừng lấy vợ còn hơn." Nhưng Người nói với các ông: "Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy, nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu. Quả vậy, có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ, họ đã không có khả năng; có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn; lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu."

Khi thưa chuyện với một cử tọa chỉ Do Thái có một phần và toàn bộ không sống ở Palestine, Thánh Phaolô xem ra đã đẽo vào tận tâm điểm của truyền thống Nhất Lãm và xem ra đã đi xa hơn truyền thống ấy, như sau trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô (7:1-16):

 

“Bây giờ, tôi đề cập tới những điều anh em đã viết cho tôi: đàn ông không gần đàn bà là điều tốt. Nhưng để tránh hiểm hoạ dâm ô, thì mỗi người hãy có vợ có chồng. Chồng hãy làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng; cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là vợ. Vợ chồng đừng từ chối nhau, trừ phi hai người đồng ý sống như vậy trong một thời gian, để chuyên lo cầu nguyện; rồi hai người lại ăn ở với nhau, kẻo vì hai người không tiết dục nổi mà Xatan lợi dụng để cám dỗ. Điều tôi nói đó là một sự nhân nhượng chứ không phải là một mệnh lệnh. Tôi ước muốn mọi người đều như tôi; nhưng mỗi người được Thiên Chúa ban cho đặc sủng riêng, kẻ thế này, người thế khác.

 

“Với những người độc thân và quả phụ, tôi nói thế này: họ cứ ở vậy như tôi thì tốt cho họ. Nếu không tiết dục được, họ cứ kết hôn, vì thà kết hôn còn hơn là bị thiêu đốt.  Còn với những người đã kết hôn, tôi ra lệnh này, không phải tôi, mà là Chúa: vợ không được bỏ chồng, mà nếu đã bỏ chồng, thì phải ở độc thân hoặc phải làm hoà với chồng; và chồng cũng không được rẫy vợ. 

 

“Còn với những người khác, thì tôi nói -chính tôi chứ không phải Chúa-: nếu anh em nào có vợ ngoại đạo mà người này bằng lòng ở với người ấy, thì người ấy đừng rẫy vợ. Người vợ nào có chồng ngoại đạo mà người này bằng lòng ở với người ấy, thì người ấy đừng bỏ chồng. Thật vậy, chồng ngoại đạo được thánh hoá nhờ vợ, và vợ ngoại đạo được thánh hoá nhờ người chồng có đạo. Chẳng vậy, con cái anh em sẽ là ô uế, trong khi thật ra chúng là thánh. Nếu người ngoại đạo muốn bỏ người kia, thì cứ bỏ; trong trường hợp đó, chồng hay vợ có đạo không bị luật hôn nhân ràng buộc: Thiên Chúa đã kêu gọi anh em sống bình an với nhau! Chị là vợ, biết đâu chị chẳng cứu được chồng? Hay anh là chồng, biết đâu anh chẳng cứu được vợ?”.

 

Ý định rõ ràng của các tác giả Nhất Lãm là muốn chuyển giao tới độc giả lời lẽ của chính Chúa Giêsu. Như trên đã nói, ý định này có phải cũng là ý định của Chúa Giêsu hay không là điều khó cho ta xác định. Vì ý định của các soạn giả Nhất Lãm xuất hiện từ 35 tới 45 năm sau khi Chúa Giêsu đã phát biểu ý định của Ngài ra (các học giả hiện đại cho rằng phúc âm Máccô được viết khoảng năm 65 A.D., còn phúc âm Luca và Mátthêu phải một thập niên sau mới được viết ra, trong khi Chúa Giêsu qua đời năm 30 A.D.). Họ tìm cách hướng lời dạy của Chúa Giêsu tới các cử tọa hoàn toàn là Kitô giáo mặc dù đã trở lại từ Do Thái Giáo hay từ các tôn giáo ngoại đạo… Trong khi Chúa Giêsu nói với các cử tọa hoàn toàn Do Thái sống tại Palestine. Ngài cũng chọn lời lẽ làm phương tiện chỉ trích lối sống Do Thái cùng thời với Ngài và rõ ràng cố gắng giải quyết cuộc tranh luận Do Thái lúc đó vẫn còn đang tiếp diễn ngay trong thế hệ Ngài sống sau khi đã khởi đầu ở một thế hệ trước đó bởi hai tư tế Hillel và Shammai.

 

Thành thử ra, chúng ta không có được những ghi chép chắc chắn về điều Chúa Giêsu thực sự nói về ly dị và tái hôn vì các môn đệ Ngài nghe và nhớ lại giáo huấn ấy với ít nhiều “y chang” khác nhau rồi sau đó đã truyền lại cho nhiều cộng đoàn Kitô giáo khác nhau thuộc thế hệ thứ nhất và thứ hai nội dung việc nhớ lại ấy. Việc các Kitô hữu thuộc các thế hệ này tin rằng lời của Chúa Giêsu nói cũng có ý định nói với họ nữa chỉ là cách họ giải thích ý định của Ngài mà thôi, cũng như chúng ta hiện nay, chúng ta xác tín lời Ngài cũng nhằm nói cả với chúng ta ở thế kỷ thứ 21 nữa cũng chỉ là cách chúng ta giải thích mà thôi. Và sự giải thích ấy, dù là do Huấn Quyền Công Giáo đi chăng nữa, cũng không hoàn toàn nhất nghĩa (univocal), không hàm hồ như sẽ thấy chi tiết sau đây.

 

1. Lời Chúa Giêsu dạy trong Luca 16:18

 

Hiển nhiên, giáo huấn của Chúa Giêsu về ly dị và tái hôn được tìm thấy dưới hình thức đơn giản nhất trong đoạn phúc âm theo Thánh Luca trên đây. Một số học giả Tân Ước nhấn mạnh rằng phiên bản này gần gũi nhất với chính lời của Chúa Giêsu. Lý do chính khiến họ tin như thế là bởi vì Luca đã không đặt phiên bản của mình trong khung cảnh một bài tường thuật về cuộc đối chất và tranh luận với người Pharisêu như Máccô và Mátthêu, một khung cảnh được các học giả này coi là ước lệ và giả tạo. Trái lại, Luca chỉ bao gồm giáo huấn này như một lời khuyến thiện tản mạn của Chúa Giêsu được ông gom lại thành một bộ giáo huấn luân lý đặt chung ở một phần trong phúc âm của mình, tức hành trình giáo huấn vĩ đại bắt đầu với 9:51 trong bối cảnh Ngài lên đường tới Giêrusalem và tới cái chết của mình (3). 

 

Lối giải thích trên có giá trị của nó, tuy nhiên không có tính thuyết phục. Sức mạnh của lối giải thích này tùy thuộc sự chính xác trong việc áp dụng nguyên tắc giải thích Thánh Kinh, tức nguyên tắc cho rằng trong diễn trình hình thành các đoạn Phúc Âm qua khoảng thời gian từ 35 năm tới 45 năm kể từ thời Chúa Giêsu tới thời các soạn giả phúc âm, các câu tuyên bố thoạt đầu được truyền lại từng cụm mà không đi theo một bối cảnh đời thực nào đó thì sau này thường được lồng một cách hư cấu vào các bối cảnh ký sự để làm chúng trở thành dễ nhớ và đem lại cho chúng một dáng dấp hiện sinh. Điều đó có thể là một phán đoán chính xác đối với một số đoạn, nhưng ít nhất tự nó, nó cũng không hoàn toàn hiển nhiên đối với hầu hết các đoạn, kể cả đoạn nói về ly dị và tái hôn. Không phải là vô lý nếu nghĩ rằng Luca đã làm ngược lại nguyên tắc ấy, ông thấy lời dạy của Chúa Giêsu được nói ra trong khung cảnh một câu truyện xẩy ra trên thực tế ở Palestine, nhưng ông rút lời dạy ấy ra khỏi khung cảnh trên vì khung cảnh ấy chẳng ăn nhằm gì đối với cử tọa Ngoại Giáo của ông tại Tiểu Á và những nơi khác.

 

Dù gì đi nữa, theo Luca, cử tọa nghe Chúa Giêsu nói giáo huấn này chỉ là những người theo Chúa Giêsu mà thôi, vì ông đã dẫn nhập toàn bộ các lời giáo huấn đã được ông tự ý gom lại này bằng một câu có tính công thức cho biết hậu cảnh như sau: “Dịp khác, Người nói với các môn đệ rằng…” Không có điều gì trong hậu cảnh này cho thấy giáo huấn của Ngài làm bối rối số đông đồng bào Do Thái của Ngài cả. Như sẽ thấy, cả Máccô lẫn Matthiêu đã thuật lại một cách khác thế.

 

Phiên bản của Luca cũng độc đáo ở chỗ đã không ghi lại lệnh truyền của Chúa Giêsu cấm vợ chồng, cả các môn đệ lẫn những người khác, không được ly dị. Quả thế, không như Máccô (10:9) và Mátthêu (19:6), Luca đã không ghi lại lời nghiêm cấm của Chúa Giêsu: “Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”. Ông cũng không kể đến việc Chúa Giêsu nghiêm cấm những người ly dị tái hôn hay cho họ hay họ không thể tái hôn vì cố gắng ly dị của họ vô hiệu. Luca chỉ kể lại việc Chúa Giêsu đề cập đến hiệu quả của hai lối hành xử nơi người đàn ông: nếu anh ta rẫy vợ (cách người Do Thái ly dị) và kết hôn (hay tìm cách kết hôn) với một người đàn bà khác, anh ta sẽ phạm tội ngoại tình. Ngoài ra, trọn câu kết thúc trong phiên bản này tức câu “…và ai cưới người đàn bà bị chồng rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình” có thể là câu thêm vào lời của chính Chúa Giêsu dưới hình thức một khai triển hợp lý dẫn khởi từ câu đầu của giáo huấn. Câu sau cùng này cũng có trong Mátthêu 5:32, cho thấy rất có thể nó được lấy từ Nguồn Q mà cả Luca lẫn Mátthêu đều sử dụng cho các đoạn khuyến thiện (parenetic) của họ. Tuy nhiên trong Máccô và trong Thánh Phaolô, câu đó bị bỏ qua.

 

Sau cùng, trong Luca, Chúa Giêsu không nói gì về tác phong của người đàn bà, một sự im lặng khá kỳ lạ, vì ông soạn thảo Phúc âm của mình cho một cử tọa rất quen thuộc với luật La Mã và sống dưới luật đó, một luật cho phép người đàn bà có thể cùng chồng thỏa thuận tiêu hủy cuộc hôn nhân của mình hay chấm dứt cuộc hôn nhân ấy bằng cách “rẫy” (repudiating) bỏ người chồng, chứ ông không soạn phúc âm cho một cử tọa sống dưới luật Do Thái là luật chỉ cho phép người chồng ly dị bằng cách tống khứ vợ mình. Để giáo huấn các Kitô hữu sống dưới luật La Mã, ông còn dùng cả động từ apolúein vốn do truyền thống Nhất Lãm sử dụng để chỉ cái thứ rẫy vợ đơn phương theo luật Do Thái.

 

2. Giáo Huấn Của Chúa Giêsu trong Máccô 10:1-12 (4)

 

Phiên bản của Máccô được lồng trong một bối cảnh có tính đời thực thuật lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và một nhóm Biệt Phái. Liệu đây là một tường trình thực sự hay là một hư cấu hữu ích, ta không có cách chi biết chắc (5). Đi trước chính cuộc tranh luận về ly dị, ta thấy có lời giới thiệu các nhân vật liên hệ đó là Chúa Giêsu và các Biệt Phái. Trước đó, khi còn ở nhà tại Capernaum (9:33) (6), Chúa Giêsu đã dạy Nhóm Mười Hai về trẻ em và những người bé mọn: việc đối xử với họ được coi là việc đối xử với chính Ngài. Nhưng nay Ngài lên đường rời Capernaum để du hành 80 dặm về hướng nam để vào lãnh thổ Judea và vượt qua Sông Jordan. Một lần nữa, đám đông lại đến với Ngài và cùng Ngài di chuyển đó đây. Và một lần nữa, Ngài lại dạy giỗ họ, như Ngài thường làm. Vì Chúa Giêsu vốn là một rabbi - một thầy dạy. Ta cần nhớ tước hiệu này trong bối cảnh rất nhiều đoạn văn khác trong đó Máccô miêu tả Ngài như một thầy dạy ngoại hạng của Do Thái Giáo. Cả bằng hữu lẫn kẻ thù đều gọi Ngài là “Rabbi” - Thầy (7). Ngài dạy trong hội đường (1:2 và 6:2), và trong đền thờ (; ; và ), và ở các nơi Ngài du hành (6:7).

 

Và đây là điểm các người Biệt Phái đến để thử Chúa Giêsu – xem Ngài có là một người thầy đúng nghĩa hay không, nghĩa là có giảng dạy theo luật Môsen hay không. Cũng như tại 8:11f và 12:13f, những trường hợp trước và sau trường hợp này trong đó Biệt Phái đến tiếp xúc với Ngài, và đó là những trường hợp duy nhất trong đó Máccô sử dụng kiểu nói “để thử Người”, ở đây, Máccô trình bầy người Biệt Phái như là đối thủ của Ngài đến với  ý đồ cho Ngài vào bẫy. Có lẽ họ đã nghe người khác nói rằng về vấn đề các ông chồng Do Thái rẫy vợ, Chúa Giêsu có quan điểm ngược lại luật lệ. Bởi thế họ đối chất Ngài để tự tay tìm ra quan điểm bất đồng ấy (8). Và họ tin tưởng rằng khi họ làm thế, họ có thể chứng minh được rằng Ngài đi ngược lại Môsen. Một khi làm được điều ấy, họ có thể hạ giá Ngài trước mặt công chúng là những người vốn nhìn nhận Ngài là một bậc thầy, không giống như họ, nhưng đã ‘giảng dạy những điều mới lạ - với uy lực và thẩm quyền” (). Nhưng Chúa Giêsu sẽ cho họ thấy điều ngược lại mới đúng, nghĩa là lệnh truyền của Môsen về việc chồng rẫy vợ đi ngược lại điều Thiên Chúa đã ra lệnh ngay từ buổi đầu dựng nên vũ trụ về mối tương quan giữa chồng và vợ.

 

Trong phiên bản Máccô đối với truyền thống Nhất Lãm này, lời của Chúa Giêsu trước hết ngỏ với một cử tọa kép và đa dạng, sau đó mới ngỏ với một cử tọa đơn nhất và đồng bộ. Nói cách khác, trong Máccô, Chúa Giêsu thoạt đầu đưa ra quan điểm của mình về cuộc tranh chấp với người Biệt Phái trong khi các môn đệ Ngài thì lắng nghe. Sau đó, khi còn lại một mình với các môn đệ, và có lẽ do lời yêu cầu bối rối của họ, Ngài trình bầy chính xác hơn giáo huấn của Ngài: “Khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Người về điều ấy. Người nói…” (10:10-11). Như thế, nếu nói về ý định của Chúa Giêsu mà thôi, nghĩa là một ý định tách biệt khỏi những điểm khác trong ngôn từ của Ngài, thì Máccô quả đã hướng nó trước nhất vào người Biệt Phái và qua họ vào dân Do Thái nói chung. Sau đó, trong cuộc đàm thoại thứ hai, ông mới hướng ý định của Chúa Giêsu vào các môn đệ của Ngài (và qua họ vào cả dân Do Thái nữa chăng?). Và vì Máccô nhắc lại lời Chúa Giêsu 35 năm sau khi chúng được nói ra, nên ông cho rằng có thể áp dụng chúng cho cộng đoàn Kitô Giáo mà ông đang soạn phúc âm này cho, tức cộng đoàn tín hữu Rôma. Dù cho ta không biết loại cử tọa mà ông muốn nhắn gửi phúc âm này, hẳn ta vẫn có thể đoán được họ không phải là những người Do Thái vùng Palestine đang sống dưới luật Môsen, nhưng là một cộng đoàn bên ngoài Palestine thuộc đủ cả hai nguồn sắc tộc Do Thái và Ngoại Đạo đang sống dưới luật Rôma và không biết chắc mình buộc phải theo luật Môsen đến mức nào, cái luật chứa đựng trong Thánh Kinh mà chính họ đã coi là của riêng. Trong câu 12, Máccô cho hay Chúa Giêsu ngăn cấm người vợ không được bỏ chồng, một lệnh cấm vô nghĩa đối với cử toạ Do Thái sống tại Palestine, vì luật Môsen không có điều khoản nào cho phép người vợ làm điều ấy, kể cả nền tư pháp tư tế vào thời Chúa Giêsu cũng vậy. (Như thế, hiển nhiên, Máccô, cũng như Luca, và cả Mátthêu lẫn Phaolô trong 1 Cor 7, như ta sẽ thấy, đã tự ý duyệt lại lời Chúa Giêsu và thêm thắt vào đó. Câu 12 được coi như một thêm thắt hiển nhiên nhất trong Máccô).

 

Người Biệt Phái khởi đầu cuộc thách thức của họ bằng một câu chất vấn khá đột ngột trong câu 2: "Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không? " (thể vô định trong nguyên bản Hy Lạp của Máccô là apolúein  giống như trong Luca (9). Nó được dùng mô tả cách đơn giản và chính xác thủ tục ly dị của người Do Thái thời Chúa Giêsu).

 

Trong câu 3, câu trả lời của Chúa Giêsu cũng thẳng thừng như câu hỏi của người Biệt Phái, nhưng bằng một câu hỏi ngược lại: " Thế ông Môsen đã truyền dạy các ông điều gì?". Sự giả thiết trong cách sử dụng động từ của Chúa Giêsu ở đây hiển nhiên đã chọc giận người Biệt Phái vì nó thách thức chính giả thiết riêng của họ. Phản ứng của họ trước thách thức này thấy rõ trong câu họ trả lời câu  hỏi của Chúa Giêsu trong câu 4. Họ chỉnh lại Ngài, vì họ nhấn mạnh rằng Môsen không truyền dạy họ nhưng " đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ". 

 

Nhưng trong câu 5, Chúa Giêsu vẫn một mực dùng động từ ấy "Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsen mới viết điều răn đó cho các ông”. Luận lý tôn giáo của Chúa Giêsu ở đây, dù rất quen thuộc đối với người Do Thái thời Ngài và trước đó nữa, nhưng khá xa lạ đối với tâm trí tôn giáo của người Phương Tây. Dưới con mắt Chúa Giêsu, việc cho phép hợp lệ để người chồng bỏ vợ là một lệnh truyền do Môsen đưa ra khiến người chồng bó buộc phải bất tuân lề luật của Chúa, nhưng chỉ bó buộc vì cái lòng dạ chai đá của họ mà thôi. Đây là lời giải thích có tính tiên tri tương hợp với nhiều thời điểm có ý nghĩa trong lịch sử dân Do Thái. Họ đã bao lần bất trung với các lệnh truyền của Thiên Chúa. Một trong các hậu quả của sự bất trung này là Ngài đã ban cho họ ‘những luật lệ không tốt”, không hẳn để trừng phạt  cho bằng để họ nhận ra Ngài vẫn còn là Chúa Tể của họ. Đây chính là tư tưởng của Ezekiel trong sách tiên tri của ông () trong đó, ông nói thay lời Giavê, Đấng đang nhắc họ nhớ lại lịch sử bất tuân của họ: “Ta ban cho chúng những luật lệ không tốt, những lệnh truyền chúng chịu không nổi…để chúng nhận ra rằng Ta là Giavê”. Sự bất trung này tệ hại nhất khi Môsen, từ trên Sinai đi xuống với hai tấm bia giới luật, chứng kiến dân đang thờ con bò vàng. Ở đây, Chúa Giêsu muốn hàm ý rằng cái tục đã thành lệ cho phép đuổi những người vợ mình không thích kia chính là việc tiếp diễn cái tinh thần bất trung ấy, và chính vì vậy mà dân đã được ban cho “những luật lệ không tốt”. Lòng chai dạ đá của họ đã mang đến cho họ lệnh truyền của Môsen phải xua đuổi vợ. Nếu họ không cứng lòng như thế, họ đâu có tiếp nhận lệnh truyền và phép tắc như thế.

 

Người Biệt Phái thách thức giáo huấn của Chúa Giêsu về lòng thủy chung đối với luật Môsen, và một cách kém hơn đối với ý Thiên Chúa. Chúa Giêsu không kết thúc việc phản thách thức của Ngài bằng cách chỉ cho họ thấy họ đã hiểu lầm lệnh truyền của Môsen về việc khoan nhượng đối với lòng dạ cứng cỏi của họ, và cũng chỉ cho họ thấy lệnh truyền ấy không phải là lệnh truyền của Chúa, mà là lệnh truyền của Môsen buộc họ tiếp tục bất tuân ý Thiên Chúa y như cha ông họ trước đây từng bướng bỉnh làm như thế.

 

Chúa Giêsu còn đi xa hơn thế. Ngài đẩy việc phản thách thức của Ngài vượt quá Môsen trở về với chính ý Thiên Chúa. Trong câu 6, Ngài cho họ thấy điều đáng lý ra họ đã phải biết từ lâu do việc trích dẫn các lời của Sách Sáng Thế mà đáng lý ra họ không nên hiểu lầm. Từ bài ca sáng tạo (St 1:27b), Ngài nhắc họ: “Còn lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ…”.  “Từ lúc khởi đầu” gợi cho người Biệt Phái điều này: việc họ giải thích mối liên hệ vợ chồng không phải là điều được Thiên Chúa dự kiến từ thuở đầu, và giải thích ấy chỉ là sáng chế mới mẻ của chính họ, một sáng chế đi ngược lại ý định của Chúa dành cho hôn nhân.

 

“…con người có nam có nữ”: kế sách của Thiên Chúa là phải có hai giới tính bổ túc cho nhau; do đó, hôn nhân là kế sách của Ngài và Ngài có quyền đòi nó phải hành xử theo ý muốn của Ngài (10).

 

Một khi Chúa Giêsu đã đẩy luận chứng của Ngài trở lại với các trích đoạn Sáng Thế, trí nhớ các thính giả của Ngài hẳn đã lược lại đầy đủ điều những câu này muốn nói về mối liên hệ đàn ông đàn bà mà Thiên Chúa đã vẽ ra. Động lực khiến Ngài đem người đàn bà vào cuộc hiện hữu là chính nhu cầu của người đàn ông: “Thiên Chúa phán: ‘đàn ông ở một mình không tốt’” (2:18a). Trước đó, người đàn ông đã được đặt để trong vườn đầy vui khoái để trông coi và quản trị mọi cư dân của nó. Nhưng cuộc sống anh có cái gì đó chưa đầy đủ, bất hạnh là đàng khác. Nên Thiên Chúa là Chúa Tể bèn quyết định: “Ta sẽ làm cho hắn một người hùn hạp xứng hợp” (2:18a). (Phần lớn các bản tiếng Anh thường dịch là người trợ lực –  helpmate. Lối dịch này làm nghèo nghĩa chữ đi nhiều lắm vì danh từ tiếng Hibri nghĩa đen vốn chỉ “một ai đó song hành với hắn” [someone alongside him] hay “một ai đó xứng hợp với hắn” [someone suited to him]. Hữu thể Thiên Chúa là Chúa Tể cung cấp cho nhu cầu người đàn ông lúc ấy đang cô độc lẻ loi phải là một ai đó cùng dự phần hùn hạp [partner] với anh ta hơn là người trợ lực).

Theo dụ ngôn trên, khi việc tạo hình mọi giống vật khác đã không sản sinh được người dự phần hùn hạp xứng hợp, Thiên Chúa là Chúa Tể bèn “làm cho người đàn ông mê mệt ngủ, rồi trong khi anh ta ngủ mê ngủ mệt như thế, Ngài lấy một trong những chiếc xương sườn của anh ta rồi lấy thịt đắp lại chỗ trống ấy. Đoạn Thiên Chúa là Chúa Tể dùng chiếc xương sườn Ngài đã lấy ra từ người đàn ông mà làm thành một người đàn bà” (2:21-22). Như thế, Thiên Chúa đã ban cho anh ta một hữu thể cùng một loài với anh ta vì để anh ở một mình là điều không tốt chút nào. Nhưng hữu thể ấy cũng lại khác biệt rõ nét đối với anh, và sự khác biệt đó chính là khác biệt giới tính. Nàng là một người đàn bà.

Lời anh chào đón nàng, lời anh phán định đối với người dự phần hùn hạp mới mẻ này của anh, hết sức phong phú về ý nghĩa: “có thế chứ, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (2:23). Để hiểu được những lời này có nghĩa nhiều hơn việc người đàn ông nhìn nhận người đàn bà có cùng chất liệu vật thể như mình, hay cả việc nàng được rút ra từ chính thịt và xương của mình, ta cần xem sét cái nghĩa thấp hèn nhất của các từ ngữ này. “Thịt và xương” tạo thành một chữ cặp xuất hiện nhiều lần trong Cựu Ước. “Thịt” tự nó không những có nghĩa là thành tố của cơ thể, mà trong một số bối cảnh còn có thể chỉ tính chất nhục thân và ngay cả yếu đuối nhân bản nữa. Tóm lại, nó chỉ “xác thịt-mềm yếu”. Xương trái lại có nghĩa cứng cáp và sức mạnh, “xương-mạnh”. Nhưng nếu phối hợp cả hai chữ lại với nhau, thì chúng có ý nghĩa hơn hẳn hai thực tại đứng gần nhau. Cùng với nhau, chúng tạo ra một ý nghĩa mới hẳn, và ý nghĩa này vượt quá sức mạnh và sự yếu đuối thể lý. Xác thịt-mềm yếu và xương-mạnh là hai phản đề trong thế phối hợp (two antitheses in combination), hai phản đề bao hàm không những hai cực đoan mà là mọi mức độ giữa chúng với nhau. Chúng bao hàm trọn bộ hết mọi nét độc đáo trong cá tính con người, từ điểm yếu nhất đến điểm mạnh nhất.

Như thế, khi người đàn ông nói với người đàn bà rằng nàng là “xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi”, anh ta có ý muốn nói nàng sẽ chia sẻ cái mạnh, cái yếu và tất cả những gì nằm giữa hai điểm ấy của anh ta. Nàng sẽ là người dự phần hùn hạp với anh ta trong mọi bất ngờ của cuộc đời. Liên hệ của họ sẽ là liên hệ đồng hành (companionship) không một hoàn cảnh đổi thay nào có thể phân rẽ được. Nó phải là một liên hệ của bất biến, của thủy chung như nhất (11).

Ta có thể đo lường sức mạnh trong luận điểm của Chúa Giêsu bằng cách trích dẫn kiểu nói ‘Ngài dựng nên họ có nam có nữ’ của Sách Sáng Thế với điều kiện  phải chú ý phân biệt được hai loại lời truyền dạy về tác phong thường được dùng trong các sách thánh của Do Thái. Một là halakha, hay luật tất yếu (apodictic law) nghĩa là lệnh truyền nói chính xác điều phải làm hay không được làm. Bộ Luật Về Sự Thánh Thiện Hợp Luật trong sách Lêvi 17-26 chính là loại lệnh truyền halakha này. Loại lệnh truyền kia gọi là haggadha, tức tấm gương làm điều đúng được nêu ra như một lý tưởng, một mục tiêu cần phải ráng vươn tới. Câu truyện tả lại sự kiên nhẫn của Ông Gióp trong cơn thử thách là một haggadha mở rộng.

Những người Biệt Phái đang tranh luận với Chúa Giêsu ở đây là những thầy thông luật. Họ hết sức quen thuộc với những điều được đặt thành luật hay được truyền dạy một cách chuyên biệt. Cho nên họ có thể chỉ nhận câu trích của Chúa Giêsu về quyết định của Thiên Chúa tạo ra con người đầu tiên có nam có nữ, một chồng một vợ như là một haggadha, một việc cặp đôi nguyên sơ và đầy lý tưởng, chứ không có gì khác. Họ không bao giờ nhìn ra trong đó có cái sức mạnh trói buộc của một lệnh truyền không hàm hồ của Thiên Chúa, một điều hết sức hiển nhiên trong bài ca tạo dựng (1:28): “hãy phong phú sinh nở đầy tràn mặt đất và hãy thống trị nó”. (Để vâng theo lệnh truyền này, họ đã sẵn sàng rẫy bỏ những người vợ son sẻ của họ, hay không cùng họ ‘thống trị được mặt đất’) (12). Lệnh truyền trên vì thế không có sức trói buộc đối với họ ngoại trừ Chúa Giêsu mở rộng ý nghĩa của nó để liên kết nó với halakha. Điều ấy, Chúa Giêsu đang làm lúc này và Ngài làm thế bằng cách lại nại tới cái phần của Torah mà người Biệt Phái cố tình làm ngơ, đó là dụ ngôn Vườn Địa Đàng trong Sáng Thế 2.

Ngài trích dẫn: “vì lý do đó, người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mình mà gắn bó với vợ; và cả hai sẽ nên một thân xác” (2:24). Đây rõ ràng là halakha, luật và lệnh truyền từ kế hoạch Thiên Chúa mà ra. Có lý để suy luận rằng ở điểm này, Chúa Giêsu có cùng chung một ý định như tác giả dụ ngôn. Điều này là để làm sáng tỏ tình thân mật và tính toàn bộ (totality) của liên hệ tính dục đầu hết, một mẫu mực hôn nhân do Thiên Chúa thiết dựng. Hai động từ trong lệnh truyền này thuộc ngôn ngữ giao ước. Trước nhất, chúng muốn nói rằng người đàn ông sẽ ‘lìa bỏ’ cha mẹ mình (động từ tiếng Hibri là asav). Anh ta thực hiện điều đó để bước vào một giao ước mới, giao ước này chính là giao ước với người đàn bà vợ anh ta. Anh ta kết hiệp với nàng; anh ta gắn bó với nàng (động từ tiếng Hibri là davaq, cũng là một từ có tính giao ước).

Như thế, Chúa Giêsu chỉ cho người Biệt Phái điều rõ ràng họ đã quên khuấy. Để là chồng là vợ, người đàn ông và người đàn bà phải bước vào và sống mối cam kết giao ước đối với nhau. Và đó là mối cam kết qúy giá nhất, qúy hơn cả tình quyến luyến và yêu thương người đàn ông dành cho cha mẹ. Vì nó đòi hỏi anh phải “lìa bỏ” họ.

Trong lệnh truyền này, Chúa Giêsu cho vào những lời cuối cùng trong bình luận của tác giả theo khuynh hướng Giavê về dụ ngôn này: “…và cả hai nên một thân xác”. Tham chiếu ở đây không hẳn trước nhất nhằm vào kết hiệp tính dục, mặc dầu điều ấy được hàm ý và có ý định. “Thân xác” ở đây chỉ  bản chất của một người trong cái mau chết và mỏng dòn của nó. Mở rộng ra, nó cũng chỉ căn tính nhân bản của người ấy. Như thế, khi nhắc lại điều trên, tức lời bình luận sau cùng theo khuynh hướng Giavê về sự kết hiệp đàn ông đàn bà, Chúa Giêsu muốn nhắc nhở người Biệt Phái rằng theo ý muốn Thiên Chúa, trong hôn nhân, người đàn ông kết hiệp với vợ mình đến nỗi họ trở thành một con người theo luật và trước mặt người ta. Với nhắc nhở ấy, Chúa Giêsu muốn hàm ý ít nhất hai điều. Nếu người đàn ông không nghĩ tới việc hủy hoại mối liên hệ ít qúy giá hơn với cha mẹ anh ta, thì làm sao anh ta có thể nghĩ đến việc hủy hoại mối liên hệ qúy giá hơn của mình với vợ?  Và nếu khi kết hôn, người đàn ông trở nên “một thân xác” với vợ mình, nghĩa là một con người theo luật và trước mặt người ta, thì làm thế nào anh ta lại có thể hủy bỏ chính con người của mình? (Thánh Phaolô sau đó cũng đã nói lên cùng một tư tưởng ấy trong thư Êphêsô 5:28-29 khi dạy các ông chồng Kitô hữu của cộng đoàn ấy phải yêu thương vợ mình ra sao: “Cũng cách đó, các ông chồng phải thương yêu vợ mình như yêu thương chính thân xác mình; vì người đàn ông yêu vợ là yêu chính mình. Người đàn ông không bao giờ ghét thân xác mình, nhưng nuôi sống và chăm sóc thân xác ấy…”).

Trong câu 9, Chúa Giêsu kết thúc luận chứng của mình với người Biệt Phái bằng cách thêm chính halakha của riêng Ngài. Đó là một lệnh truyền không hàm hồ và được nhấn mạnh hơn cả: “Do đó, sự gì Thiên Chúa đã kết hiệp, con người không được phân ly”. Động từ trong bản văn Hy Lạp của Tân Ước mang theo một ý nghĩa rất mạnh mẽ “…sự gì Thiên Chúa đã kết hiệp” đã được viết là synzeugnúein , và “…không được phân ly” được viết là chorízein. Ở đây, thể chủ động của hai động từ ngoại động (transitive verbs) này nguyên tuyền diễn tả điều bản tiếng Việt dịch là “kết hiệp” và “phân ly”. Việc sử dụng chúng càng có nghĩa mạnh hơn nhờ mối quan hệ gần gũi của chúng với nghĩa mà trong ngữ vựng văn hóa của Máccô chúng có được khi dùng chúng ở thể giữa (middle voice): synzeugnýthai lúc ấy có nghĩa là “kết hôn”; chorízethai lúc ấy có nghĩa là “ly thân” khỏi chồng hay vợ. (Đây cũng là một thí dụ trong đó các động từ Hibri lấy gốc từ tiếng Hy Lạp. Để nói “kết hiệp với nhau”, các rabbis thời ấy dùng chữ ziwwegh hay zawweg, lấy từ chữ zeugnúein của Hy lạp. Dù các động từ này vốn có nghĩa là “kết hiệp với nhau” đã đành, nhưng chúng cũng được dùng để chỉ việc Thiên Chúa kết hiệp người chồng và người vợ (13). Còn hình thức izdawwagh thì nghĩa là “lấy nhau”). Thành thử ra, điều Chúa Giêsu nói với người Biệt Phái cũng tương tự như nói “Điều Thiên Chúa đã kết duyên nên một, con người không được ly dị”. Nói cách khác, chủ nhân ông của hôn nhân không phải là người chồng, mà là Chúa. Chính thẩm quyền Thiên Chúa đã kết hiệp anh ta với vợ. Cho nên, không một người nào, kể cả người chồng, có thẩm quyền phân ly họ, và bất cứ mưu toan nào làm như thế là một mưu toan tiếm đoạt thẩm quyền Thiên Chúa. Do đó, cũng không phải ý chí của người chồng đã duy trì việc kết hiệp giữa anh ta và người vợ, mà là ý chí của Thiên Chúa. Người chồng luôn luôn nằm dưới phán xét của Thiên Chúa về việc đối xử với vợ mình.

3. Cuộc ĐàmThoại Sau Đó Với Các Môn Đệ, Máccô 10:10-12

Cuộc tranh luận với nhóm Biệt Phái được tiếp diễn và kết thúc trong cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu và riêng các môn đệ (các câu 10-12): “Khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Ngài về điều ấy”. Những môn đệ từng nghe cuộc trao đổi với người Biệt Phái hình như cho rằng điều Ngài nói với nhóm này cũng có hậu quả đối với họ. Cho nên họ muốn biết chi tiết về các hậu quả này.

Rất có thề cuộc đàm thoại thứ hai này chỉ là một hư cấu có ích mà một số nhà chú giải cho là Máccô đã sử dụng. Vì Máccô vốn có trách vụ đặc biệt làm thầy dạy cho cộng đoàn Kitô hữu thuộc thế hệ thứ hai, một cộng đoàn được ông viết phúc âm này cho. Trong khi giáo huấn và lệnh truyền của Chúa Giêsu được ngỏ riêng với cử tọa Do Thái sống dưới một lề luật chỉ cho phép người chồng được ly dị bằng cách rẫy bỏ vợ, thì cử tọa của Máccô (ít nhất cũng là thành phần dân ngoại của cử tọa này) lại sống dưới lề luật Rôma, một lề luật cho phép cả người vợ được quyền “rẫy bỏ” chồng và còn cho phép cả hai được hủy tiêu hôn nhân của họ bằng cách bỏ bê nó, rút lại ý muốn kết hôn với nhau.

Nếu cuộc đàm thoại này là một hư cấu (14), thì điều Máccô muốn thực hiện là nhân cơ hội các môn đệ đặt câu hỏi, ông để Chúa Giêsu cặn kẽ giáo huấn chính cử tọa Rôma của ông về các hậu quả thực tiễn đối với họ do việc Ngài đặt để lề luật cho người Biệt Phái. Một trong các hậu quả này là một thứ phó sản bất ngờ từ đó mà ra, tức điều Ngài giải thích trong câu 11, rằng bất cứ ai rẫy vợ và cưới người khác là phạm tội ngoại tình đối với nàng. (Ở đây, động từ trong câu thứ nhất cũng là động từ đã được dùng trong bản tiếng Hy Lạp nói về cuộc đàm thoại thứ nhất, tức cuộc tranh luận với người Biệt Phái. Đó là động từ apolúein, một động từ đã được các dịch giả Sách Torah của Bản Bẩy Mươi chọn trước đó gần hai thế kỷ để chỉ việc người chồng rẫy bỏ vợ mình). Như thế, Máccô đã để Chúa Giêsu thay đổi câu định nghĩa về ngoại tình đối với các thính giả Do Thái của mình. Cho đến lúc ấy, người đàn ông, dù đã lập gia đình hay không, chỉ phạm tội ngoại tình khi giao hợp với vợ hay vị hôn thê của một người đàn ông khác. Và nếu một người đàn ông phạm tội ngoại tình như thế, thì đó không phải là một vi phạm chống lại vợ mình nhưng là chống lại người chồng hay người vị hôn phu kia. Tội ngoại tình của anh ta không phải là tội bất trung đối với vợ mình mà là một vi phạm chống lại quyền độc hữu của người đàn ông kia trong việc làm tình với người vợ hay người hôn thê của họ, nghĩa là vi phạm đến quyền tư hữu của họ. (Nếu người chồng giao hợp bên ngoài hôn nhân với một người đàn bà chưa có chồng hay chưa đính hôn thì đó không phải là ngoại tình. Nhưng khi người vợ giao hợp với bất cứ người đàn ông nào khác không phải là chồng mình, dù người ấy có gia đình hay không, thì đó vẫn là ngoại tình, một vi phạm chống lại quyền độc hữu của chồng được làm tình với nàng). Nhưng giờ đây, theo Chúa Giêsu, việc người chồng rẫy bỏ vợ và cưới người đàn bà khác chính là tội ngoại tình, tội bất trung chống lại vợ mình, một vi phạm chống lại mối liên hệ giao ước giữa họ với nhau (15).

 

Các lời kết luận của Chúa Giêsu trong câu 12 gần như chắc chắn là do Máccô thêm vào. Ngài để Chúa Giêsu phán: “và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình." Động từ apolúein trong câu điều kiện cách này cũng y hệt như động từ trong câu 11 nói về hành vi của người chồng, nghĩa là việc anh ta đơn phương rẫy bỏ vợ. Một giáo huấn như thế nhằm vào người Do Thái đang sống dưới một lề luật chưa bao giờ quan niệm được việc người vợ, ít nhất trong thời Chúa Giêsu, có quyền rẫy bỏ chồng quả là điều không thực tiễn chút nào. Ấy thế nhưng nó lại không bất thực tiễn chút nào trong bối cảnh lịch sử xã hội tức trong cộng đoàn Kitô giáo tại Rôma lúc ấy, mà theo truyền thống thì đó là cộng đoàn chính Máccô soạn phúc âm của ông cho.

 

Ta có thể lý giải luật Rôma về ly dị theo hai cách tuy khác biệt nhưng có liên hệ mật thiết với nhau. Ngoài việc tiêu hôn do hai vợ chồng tự ý cùng nhau rút lui ra, luật còn cho phép bất cứ bên nào được quyền chấm dứt cuộc hôn nhân của mình bằng cách rẫy bỏ người kia. Hay ta có thể nói rằng dù không ai được rẫy bỏ người kia đi chăng nữa, thì bất cứ ai trong họ cũng có quyền đơn phương rút lui khỏi cuộc hôn nhân ấy.

 

Việc Máccô chọn động từ apolúein để chỉ thứ ly dị mà Chúa Giêsu ngăn cấm cả chồng lẫn vợ  cho thấy nếu ông thích ứng giáo huấn của Chúa Giêsu vào các Kitô hữu đang sống dưới luật Rôma, hẳn nhiên ông đã lý giải luật ấy như đã cho phép bất cứ người phối ngẫu cũng được quyền ly dị người kia. Dù thế nào, xem ra Máccô cũng cảm thấy thư thái trong việc viết ra những dòng này để Chúa Giêsu nói, vì tin tưởng rằng mình biết chắc Ngài sẽ nói như thế nếu gặp hoàn cảnh phải nói với các môn đệ hiện sống dưới luật Rôma.

 

Dù vậy, vẫn tồn đọng một vấn đề nữa cũng quan trọng chẳng kém. Nếu Máccô để Chúa Giêsu ngăn cấm việc chấm dứt hôn nhân bằng việc vợ chồng rẫy bỏ nhau (hay chấm dứt hôn nhân bằng đơn phương bỏ rơi người phối ngẫu), liệu ông có để Chúa Giêsu ngăn cấm cả hình thức tiêu hôn khác mà luật Rôma cho phép hay không, thí dụ việc hai bên tự ý cùng thỏa thuận rút chân ra không kết hôn với nhau nữa? Điều lạ là xem ra ông không để ý đến vấn đề ấy trong giáo huấn đầy ngụ ý của Chúa Giêsu mà chính ông đã thêm vào với mục đích rõ ràng là muốn áp dụng giáo huấn ấy vào các cuộc hôn nhân của các Kitô hữu hiện sống dưới luật Rôma. Hay Máccô nghĩ rằng hình thức tiêu hôn ấy đã bị ngăn cấm đủ bằng lệnh truyền Chúa Giêsu dùng để kết thúc cuộc đàm thoại thứ nhất, “Sự gì Thiên Chúa đã phối hiệp, loài người không được phân ly”? Và sở dĩ nghĩ như thế là bởi vì ông tin tưởng rằng việc ông sử dụng một động từ từng được luật Rôma quen dùng để chỉ việc tiêu hôn này, tức chorízein, đã đủ sáng tỏ vấn đề rồi? Quả không vô lý đối với chúng ta hiện nay, là những người sống hơn mười chín thế kỷ sau, đã có chung một tính tò mò, có lẽ cả bối rối nữa, như các Kitô hữu Rôma (16).

 

4. Giáo Huấn Của Chúa Giêsu Trong Mátthêu 5:31-32

 

Như đã thưa trên đây, Phúc âm theo Thánh Mátthêu có hai phiên bản kể lại giáo huấn của Chúa Giêsu về ly dị và tái hôn, phiên bản đầu ngắn hơn là lời phán (logion) ít nhiều độc lập bên trong Bài Giảng Trên Núi (5:31-32), phiên bản thứ hai dài hơn là một trình thuật, giống như trong Máccô, kể lại cuộc đụng độ với một nhóm Biệt Phái (19:1-12).

 

Trong bối cảnh của nó, phiên bản Bải Giảng là lời phán thứ năm trong toàn bộ các lời phán của Chúa Giêsu. Giống như lời phán này, chúng đều ngắn ngủi, đầy đủ như những đơn vị độc lập của một bài dạy giáo lý, có ý hướng chuyển giao cốt lõi giáo huấn luân lý của Chúa Giêsu về những điểm riêng rẽ thuộc tác phong. Ta hẳn đã quen thuộc với bộ các lời phán này, như “các con là muối đất…” (5:13-16); “đừng nghĩ ta đến để phá hủy lề luật hay các tiên tri…” (5:17-20); “các ông đã nghe có lời phán với tổ tiên chúng ta rằng: ‘chớ  giết người…’ Nhưng tôi cho các ông hay…” (5:21-26); “các ông đã nghe  ‘chớ ngoại tình’, Nhưng tôi bảo cho các ông hay…” (5:27-30). Hai lời phán sau có hình thức phản đề  “không những, mà còn…” được Chúa Giêsu đặt giữa truyền thống các thính giả của Ngài từng học biết và nền luân lý mới được Ngài truyền dạy cho.

 

Phiên bản ngắn trong Mátthêu về giáo huấn của Chúa Giêsu đối với ly dị và tái hôn cũng được phát biểu dưới hình thức vừa nói đó: "Luật còn dạy rằng: Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình”.  

 

Trích đoạn trên khá giống với trích đoạn của Luca đến nỗi người ta có lý mà tin là chúng cùng phát xuất từ một nguồn chung. Vì ở phần giống nhau, cả hai quá khác với Máccô, nên phần chắc là chúng đã không vay mượn từ nguồn phúc âm này. Mà là từ nguồn Q. Xét cả về nội dung lẫn văn phong, ta thấy cả hai trích đoạn trên đều là tư liệu của nguồn Q.  Ấy thế nhưng, các điểm giống nhau có ý nghĩa chỉ là hai mà thôi: thứ nhất, cả hai đều dùng động từ apolúein để chỉ loại ly dị được Chúa Giêsu cho hay sẽ dẫn tới ngoại tình; thứ hai, cả hai đều có cùng một câu kết y như nhau: “và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình”.

 

Còn các điểm khác nhau giữa hai trích đoạn trên khá rõ rệt, mặc dù chúng có cùng một ý định truyền dạy. Trong Luca, Chúa Giêsu không nhắc lại việc luật Môsen buộc người chồng rẫy vợ phải cấp cho nàng một ly thư. Nhắc như thế sẽ làm cử tọa Ngoại Giáo của ông bối rối vì họ vốn không quen thuộc với điểm lề luật và thực hành ấy. Trong khi theo Luca, Chúa Giêsu cho hay hậu quả việc chồng rẫy bỏ vợ là anh ta sẽ phạm tội ngoại tình nếu tái hôn, thì theo Mátthêu, Chúa Giêsu cho hay hậu quả ấy là khi rẫy bỏ vợ, người chồng sẽ khiến nàng trở thành kẻ ngoại tình (17). Do đó, nếu đọc kỹ cả hai phiên bản, ta thấy theo Luca, Chúa Giêsu không nói có gì sai nếu người chồng chỉ rẫy bỏ vợ, còn theo Mátthêu thì điều ấy đã là điều sai rồi. Sau cùng, theo Mátthêu, Chúa Giêsu có thòng câu ‘ngoại trừ’ sau đây: “ngoại trừ trường hợp pornéia”, còn theo Luca, không có câu thòng ấy.

 

Cuối cùng, cần ghi chú rằng hai trích đoạn trên mô tả Chúa Giêsu nói với các cử tọa đồng nhất, nếu không muốn nói là y hệt nhau. Trong Luca, cử tọa chính là các môn đệ của Chúa Giêsu cùng đi với Ngài trong hành trình từ Galilê lên Giêrusalem. Trong Mátthêu, cử tọa là các môn đệ cùng đi với Ngài lên sườn đồi Galilê và lắng nghe giáo huấn của Ngài. Ở cả hai trường hợp, việc nhận dạng cử tọa xem ra có vẻ giả tạo. Vì việc nhận dạng này chỉ có nghĩa trong vai trò làm đại biểu cho tất cả những ai cả Luca lẫn Mátthêu nghĩ là Chúa Giêsu có ý định nhắn gửi giáo huấn của Ngài về ly dị và tái hôn.

 

5. Phiên Bản Trong Mátthêu 19:1-12

 

Cái sườn tổng quát trong phiên bản trình thuật của Mátthêu cũng tương tự như trong phiên bản Máccô. Sự giống nhau này rất có thể là hiệu quả việc Mátthêu vay mượn trình thuật của mình nơi Máccô. Bởi thế, trong Mátthêu cũng như trong Máccô, một nhóm Biệt Phái đã tới để thử thách Ngài; Ngài trả lời bằng cách thử thách lại họ. Họ nại Môsen ra để chống lại Ngài; Ngài chỉnh lại lối giải thích Môsen của họ và trở lui quá cả Môsen tới điều chính Thiên Chúa thiết dựng ngay từ thuở ban đầu. Ngài kết thúc cuộc tranh luận bằng câu tuyên bố nnghiêm khắc của mình. Trong cuộc đàm thoại thứ hai với riêng các môn đệ, Ngài sẽ giải thích lời tuyên bố của mình cách chi tiết hơn.

 

Nhưng trong cái tương tự trên, có khá nhiều dị biệt có ý nghĩa. Chú tâm tới các độc giả của mình, và để thỏa mãn nhu cầu của các độc giả này cũng như để trả lời các câu hỏi của họ, Mátthêu cảm thấy rộng tay đối với chất liệu vay mượn của mình. Để bắt đầu, không giống như Máccô, ta thấy điểm người Biệt Phái muốn thử thách Chúa Giêsu không phải là tư cách thầy dạy chính hiệu hay lòng thủy chung như nhất với luật Môsen liên quan đến ly dị và tái hôn. Theo Mátthêu, họ tới để buộc Ngài, nếu có thể, phải đứng về phe này hay phe kia của cuộc tranh luận đang hiện hành lúc đó giữa các rabbis, và cả nơi quần chúng nữa, tuy ở mức độ ít gay cấn hơn. Rõ ràng họ hy vọng rằng dù chọn bất cứ phe nào, Chúa Giêsu cũng ra xa lạ và đánh mất nhóm người theo phe bên kia. Đó chính là cuộc tranh luận giữa đệ tử của hai bậc thầy lớn thuộc thế hệ trước Chúa Giêsu, Hillel và Shammai. Ta biết họ vốn không đồng ý và do đó tranh luận với nhau về nghĩa của một hạn từ chủ yếu trong Đệ Nhị Luật 24:1, tức đoạn văn trong Torah vốn được coi như nguồn và nguyên tắc cho luật lệ ly dị của Do Thái:

 

“Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà”.

 

Trước nhất, Hillel và Shammai không đồng ý với nhau về  hạn từ  “điều gì chướng”, nó có ý nói đến điều gì (erwat dabar trong Torah; pornéia trong Hy Ngữ của bản dịch Bẩy Mươi và của các trích đoạn Nhất Lãm ta đang khảo sát). Họ cũng bất đồng về việc liên kết hay không liên kết sự không hài lòng có tính chủ quan của người chồng với cái erwat dabar có tính khách quan của người vợ. Vì sự không hài lòng của người chồng để ông có thể rẫy bỏ vợ kia có cần phải được biện minh bằng điều gì chướng nơi người vợ hay không? Hay chỉ cần ông không hài lòng là đủ để ông rẫy vợ, khỏi cần phải chứng minh “điều gì chướng” nơi người vợ?

 

Shammai giải thích hạn từ trên cách khá chặt chẽ và do đó, so với Hillel, ông tỏ ra bênh vực người vợ nhiều hơn. Việc không hài lòng của người chồng phải là do erwat dabar nơi người vợ, và hạn từ này chỉ có ý nói tới việc ngoại tình đã có chứng cớ nơi người vợ, hay một hành vi nào đó tương đương như thế. Hillel dễ dãi hơn và so với Shammai, dĩ nhiên thiệt cho người vợ hơn. Ông từng nhấn mạnh rằng sự không hài lòng nơi người chồng có thể tách biệt khỏi cái chướng khách quan nơi người vợ, và cái chướng kia có thể bao gồm rất nhiều loại hành vi khác nhau, từ ngoại tình cho tới việc nấu nướng dở.

 

Cách Mátthêu lên khuôn thước cho câu hỏi mở màn của người Biệt Phái (ở câu 3) đối với Chúa Giêsu cho thấy cái tính tấn kích trong cuộc thử thách của họ: “Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không?”. Cách phát biểu câu hỏi như thế có thể được gợi hứng từ việc trước đây họ vốn đã được người ta cho hay ở những điểm khác, Chúa Giêsu, mỗi khi thấy cần, đã rất lỏng lẻo đối với những lệnh truyền nghiêm khắc của lề luật. Nên giờ đây, họ muốn biến cái lỏng lẻo ấy thành điểm bất lợi đối với Ngài; họ muốn xem xem liệu Ngài có sẵn lòng chấp nhận hậu quả của việc công khai đứng về một trong hai phe của cuộc tranh luận khá phổ biến này hay không. Họ cũng đặt cơ sở cho câu họ hỏi Chúa Giêsu trên giả thiết mù quáng là câu trả lời của Ngài sẽ là một thách thức. Họ giả thiết rằng câu hỏi nóng bỏng về ly dị muốn hỏi đâu là các cơ sở được lề luật chấp nhận cho phép người chồn rẫy bỏ vợ. Ít nhất, Chúa Giêsu cũng sẽ cho họ thấy câu hỏi ấy thực ra được đặt trên những cơ sở khác hẳn: liệu các ông chồng có được phép rẫy bỏ vợ hay không?

 

Điểm khác biệt đáng lưu ý thứ hai giữa hai trình thuật là: theo Máccô, khi nghe câu hỏi mở màn của người Biệt Phái, Chúa Giêsu trả lời ngay tức khắc: “Thế ông Môsen đã truyền dạy các ông điều gì?”, sau đó mới kéo chú ý của họ tới điều Thiên Chúa đã thiết lập ngay từ buổi ban đầu. Trái lại, theo Mátthêu, Chúa Giêsu trả lời câu hỏi họ mở màn bằng cách lập tức quay trở về với điều Thiên Chúa thiếp lập ở thuở ban đầu. Nghĩa là, theo Mátthêu, Chúa Giêsu muốn lái câu hỏi của họ ra khỏi Sách Đệ Nhị Luật, ra khỏi cả Hillel lẫn Shammai, và đặt nó trở lại ngay đầu Sách Sáng Thế nơi ý muốn nguyên khởi của Thiên Chúa về các ông chồng và các bà vợ đã được mạc khải:

 

“Người đáp: "Các ông không đọc thấy điều này sao: "Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ", và Người đã phán: "Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt." Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”.

 

Mọi điều cái hiến pháp thần linh nguyên thủy này có ý nói về người chồng người vợ trong Máccô thế nào thì cũng có ý nói như thế ở đây: Thiên Chúa là Đấng Hóa Công đã tạo ra hai giới tính bổ túc cho nhau và do đó Ngài là Đấng Hóa Công đã tạo ra hôn nhân; thực vậy, chính việc dựng nên hai giới tính dị biệt này là để chúng kết hiệp với nhau nên một. Cho nên bất cứ cuộc hôn nhân nào cũng diễn tiến dưới thẩm quyền của Thiên Chúa, chứ không phải thẩm quyền của con người. Đối với người đàn ông, hôn nhân của anh ta là mối liên hệ còn qúy giá hơn cả mối dây hiếu tử cột anh ta lại với mẹ với cha, một liên hệ có lẽ chả bao giờ anh dám nghĩ đến cắt bỏ. Nhờ hôn nhân, anh ta trở nên một con người với vợ trước mặt mọi người và trước mặt luật pháp, vậy thì làm thế nào anh ta có thể tơ tưởng tới việc rẫy bỏ chính con người của mình?

 

Một cách hợp luân lý và hợp luật pháp, điều mà tất cả những điểm trên dẫn tới đã được Chúa Giêsu gom lại thành một lệnh truyền nghiêm khắc của chính Ngài: “Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”. Không người nào được phép nghĩ rằng anh ta có thể tháo bỏ công trình của Thiên Chúa. Nói cho cùng, nếu ta phối hợp điều Mátthêu ghi về giáo huấn của Chúa Giêsu với điều có trong Máccô, ta thấy Chúa Giêsu gần như định nghĩa lại hôn nhân cho các thính giả của Ngài nghe. Đối với họ, hôn nhân là một liên hệ chủ yếu nhằm phục vụ hạnh phúc và thuận tiện cho người chồng, và có thể được thao túng vì lợi ích một chiều của anh ta. Chúa Giêsu bác bỏ điều ấy, thay vào đó, Ngài nhấn mạnh rằng nó là sự kết hiệp nên một do Thiên Chúa dự hoạch nhằm đem lại hạnh phúc cho cả người đàn ông lẫn người đàn bà.

 

Việc Mátthêu đảo ngược thứ tự so với trình thuật của Máccô vẫn tiếp tục. Bây giờ, sau khi Chúa Giêsu nại tới thẩm quyền cao hơn, và đã giải thích điều ấy cho họ, người Biệt Phái bèn phản công bằng cách trích dẫn Môsen (câu 7): “Họ thưa với Người: ‘Thế sao ông Môsen lại truyền dạy cấp giấy ly dị mà rẫy vợ?’”. Trong phiên bản của Máccô, người

Biệt Phái nói rằng Môsen cho cho phép họ rẫy vợ; ở đây, Mátthêu cho hay, để bênh đỡ cho tác phong của họ, họ nói họ chỉ vâng theo lệnh truyền của Môsen mà thôi, hàm ý đó là đức vâng lời đạo hạnh của họ. Rồi cũng như ở Máccô, ở đây Chúa Giêsu cũng chỉnh lại việc họ chọn động từ, nhưng khi làm thế, Ngài đã đảo ngược lại việc chọn các động từ ấy như đã được Máccô ghi lại: không, họ không bào chữa được bằng cách nại đến lệnh truyền của Môsen. Đúng hơn (câu 8) “Người bảo họ: ‘Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsen đã cho phép các ông rẫy vợ’”. Và Ngài nhắc để một lần nữa họ nhớ đến thẩm quyền cao hơn thẩm quyền Môsen: “chứ thuở ban đầu, không có thế đâu”.

 

Cuối cùng (trong câu 9), Chúa Giêsu đem giáo huấn của Ngài tới tập chú chính xác nhất của nó. Dùng chính thẩm quyền của mình, Chúa Giêsu nói hụych toẹt: “Tôi nói cho các ông biết: Ngoại trừ trường hợp pornéia, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình”.

 

Theo cách ghi chép của Mátthêu, với câu trên, Chúa Giêsu đã kết thúc cuộc đàm luận của Ngài với người Biệt Phái (18). Nhưng trong câu kết thúc này, có mệnh đề ngoại trừ mà việc tìm ra nghĩa chính xác của nó tỏ ra cực kỳ khó khăn suốt trong nhiều thế kỷ kể từ lúc nó xuất hiện lần đầu trong truyền thống Phúc Âm. Tuy nhiên, vì mục đích xử lý có tính chiến thuật, câu hỏi đầu tiên của chúng tôi sẽ không hỏi về ý nghĩa của mệnh đề này cho bằng về tính xác thực (authenticity) của nó. Cả Máccô lẫn Luca đều không có câu này, kể cả những hình thức ngụy trang của nó cũng không. Vậy có phải chính Chúa Giêsu đã nói ra câu ấy nhưng hai vị này và cả Thánh Phaolô nữa đã lược bỏ vì một lý do nào đó hay không? Hay quả Ngài không nói câu ấy, nhưng Mátthêu đã sáng nghĩ ra và thêm vào bài giảng huấn của Chúa Giêsu vì lý do riêng của mình? Các tìm tòi bác học hiện nay có khuynh hướng mạnh mẽ kết luận rằng chính Mátthêu là khởi nguyên của mệnh đề ấy (19). Như vậy, giả thiết rằng tìm tòi này chính xác, ta hẳn sẽ thắc mắc không hiểu động lực của Mátthêu là gì khi sáng nghĩ ra câu ấy để Chúa Giêsu nói ra.

 

Giải thích hợp lý nhất về động lực trên mà chúng tôi hiện có được đặt cơ sở trên cấu trúc tôn giáo và sắc tộc của cộng đoàn Kitô giáo mà Mátthêu đã soạn thảo phúc âm cho. Dựa trên chứng cớ khá hùng hồn có sẵn trong phúc âm này, ta thấy cộng đoàn trên hiểu biết khá nhiều về Thánh Kinh Do Thái, về phong tục xã hội và tôn giáo Do Thái, về các truyền thống của cha ông, về giáo huấn tư tế và luật lệ Do Thái. Các vấn đề, các câu hỏi và ưu tư của họ có tính Do Thái một cách khá đặc trưng. Nói tóm, đại đa số thành viên trong cộng đoàn này chắc chắn bao gồm những người tuy đã trở lại làm môn đệ đức Kitô nhưng vẫn là người theo Do Thái Giáo với đầy đủ những ý nghĩa như vừa trình bầy. Bởi thế, quan tâm của họ về ly dị và tái hôn hẳn nhiên có tính Do Thái, và một số các quan tâm này khác với các quan tâm của các cộng đoàn được Máccô, Luca và Phaolô viết cho. (Điều này trùng hợp với truyền thống vẫn cho rằng Phúc Âm Mátthêu đã được soạn thảo cho cộng đoàn phần lớn gồm các Kitô hữu gốc Do Thái sống tại Syria, có thể ngay tại Antioch).

 

Là Kitô hữu gốc Do Thái, cộng đoàn này hiển nhiên biết rõ và từng đem ra sống và hiện còn đang sống cái luật lệ ly dị của Sách Đệ Nhị Luật. Phần chắc là nơi đó sự bất đồng về nội dung của thuật ngữ erwat dabar trong Sách Đệ Nhị Luật kia vẫn còn rất sống động. Rất có thể cuộc tranh luận Hillel-Shammai cũng đã được cộng đoàn này thừa hưởng với ít nhiều cường độ mạnh mẽ hơn. Các thành viên cộng đoàn này có thể đã chất vấn soạn giả phúc âm Mátthêu, người từng nhớ được và từng chia sẻ giáo huấn của Chúa Giêsu, xem Chúa Giêsu đã nói gì, nếu có, về sự bất đồng trên. Dù Mátthêu thực sự không biết liệu Chúa Giêsu có nói gì không về chủ đề trên, ông vẫn có thể cảm thấy thong dong thêm vào phúc âm của mình điều ông nghĩ Chúa Giêsu rất có thể đã đề cập đến. Hay có lẽ ông đã học được ý kiến của một số người có thế giá về điều có thể Chúa Giêsu đã nói về vấn đề ấy. Nhưng dù thế nào, thì ông đã trình bầy ý kiến của mình như là chính lời Chúa phán vậy.

 

Mặt khác, dù thế nào, ý nghĩ của ông về lời phán của Chúa Giêsu rõ ràng cũng làm dịu đi điều được coi như lệnh truyền hết sức ngoại thường của Chúa Giêsu, “Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”. Trong diễn trình lịch sử, việc làm dịu ấy không hẳn là lần đầu (Thánh Phaolô từng làm dịu như thế trước đó cả một thập niên, như ta sẽ thấy (19a)), mà nó cũng không phải là lần chót. Nhưng trong khi Thánh Phaolô biện minh việc làm dịu này bằng việc người phối ngẫu bất tín ra đi (theo luật Rôma, chính là việc ly dị về phần đời), thì trong Mátthêu, nó lại là việc người đàn bà bước vào hôn nhân với một bất năng lực nào đó về phương diện luật lệ hay luân lý, một “điều chướng” nào đó hay vì nàng mắc phải điều chướng ấy khi đã thành hôn.

 

6. Ý Nghĩa Câu Ngoại Trừ Trong Mátthêu

 

Vậy thì thử hỏi đâu là ý nghĩa hữu lý hơn cả của mệnh đề ngoại trừ đã trích dẫn ở trên, của hạn từ pornéia mà vì có nó hiện diện nơi người vợ nên soạn giả Mátthêu nghĩ Chúa Giêsu hẳn sẽ nhìn nhận là đủ để biện minh cho việc chồng nàng rẫy bỏ nàng, và giúp chàng khỏi biến nàng thành kẻ ngoại tình  khi rẫy bỏ nàng như thế (5:3), và chính chàng khỏi tội ngoại tình nếu tái hôn sau khi rẫy bỏ nàng (19:9), và cũng khỏi tội ngoại tình nếu chàng cưới một người đàn bà từng bị rẫy bỏ vì nó (5:32)? (20).

 

Một giải thích cho hay trong cả hai mệnh đề ngoại trừ của Phúc Âm Mátthêu, chữ pornéia đều chỉ một bất năng lực về phương diện luật pháp (legal disability) nơi người đàn bà, một bất năng lực được ngữ vựng tư tế gọi là erwat dabar trong Đệ Nhị Luật 24:1. Giáo huấn tư tế, dựa trên Torah, nhìn nhận khá nhiều loại bất năng lực về phương diện này, được coi như điều dơ bẩn đối với hôn nhân như: bất lực sinh lý, cha mẹ ngoại giáo, son sẻ, họ máu hay bàng hệ đến một cấp nào đó, địa vị nô lệ nơi người cha cô gái vào lúc kết hôn. Sách Lêvi, chương 18, là nguồn trong Torah để phán quyết về các trường hợp này. Trong Tân Ước, có một số thí dụ trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô chương 5 và trong Công Vụ Tông Đồ 15:20-29. Thuật ngữ trong luật hôn nhân Công Giáo gọi những bất năng lực này là những ngăn trở hay những điều kiện vô hiệu hóa (invalidating impediments or conditions). Theo lối giải thích tư tế, chúng không phải là nguyên cớ đưa đến vô hiệu hóa cuộc phối hợp, nhưng là cơ sở để tiêu hôn hợp pháp.

 

Người Do Thái, khi gia nhập cộng đoàn Kitô hữu, đã mang theo mình truyền thống tư tế nói trên. Nên  hẳn họ muốn biết truyền thống ấy còn giá trị hay không, và họ muốn được biết điều ấy từ lời của chính Chúa Giêsu. Một giải thích trong lối giải thích này cho hay những tân tòng đầu tiên muốn biết điều ấy chính là các môn đệ của Chúa Giêsu, và chính họ đã tự đặt câu hỏi với Chúa Giêsu. Hiển nhiên lời giải thích này giả thiết rằng soạn giả phúc âm Mátthêu không sáng nghĩ ra câu ngoại trừ này, nhưng Máccô và Luca đã tự ý lược bỏ câu ấy vì cử tọa của họ chỉ có số ít là tân tòng gốc Do Thái, trong khi cử tọa của Mátthêu hầu hết là tân tòng gốc Do Thái.

 

Lối giải thích trên tiếp tục cho hay sau khi bác bỏ cả hai cơ sở của Hillel và Shammai cho phép chồng rẫy bỏ người vợ đã kết hôn thành sự, Chúa Giêsu chấp nhận truyền thống tư tế nghiêng về việc giải tiêu các cuộc phối hợp trên thực tế vốn không phải là hôn nhân, vì chúng đã phạm một hay nhiều các “ngăn trở” nêu trên.

 

Lối giải thích này có điểm yếu của nó, nghĩa là liền sau lời tuyên bố của Chúa Giêsu trong đó có mệnh đề ngoại trừ nêu trên trong Mt 19, các môn đệ của Chúa Giêsu phản ứng hốt hoảng bằng cách hỏi vặn lại rằng: “Nếu làm chồng mà phải như thế đối với vợ, thì thà đừng lấy vợ còn hơn”. Phản ứng này rõ ràng lo âu cách không thực tiễn khi Chúa Giêsu đã chấp nhận truyền thống tư tế là truyền thống cho phép rẫy vợ vì bất cứ bất năng quyền nào trong các bất năng quyền được truyền thống này nhìn nhận. Nó cho phép người chồng bị vướng vào một bà vợ mình không muốn có đủ đường thoát thân khỏi người này. Xem ra người chồng ấy đâu đến nỗi thấy mình bị vướng bẫy như cảm thức của các môn đệ khi nêu ra câu hỏi trên. Điểm không nhất quán này cho thấy câu ngoại trừ trên không có ý nói tới những cuộc phối hợp vô hiệu hay những cuộc phối hợp có thể hủy tiêu cách hợp lệ được, nhưng là một điều gì đó rất hiếm thấy nơi người vợ. Hoặc sự không nhất quán này là do vì cuộc đàm luận trên đã tổng hợp nhiều câu tuyên bố được Chúa Giêsu, các môn đệ và người Biệt Phái nói ra ở nhiều thời điểm và nơi chốn khác nhau. Nếu điều giả thiết sau là đúng, thì trong đoạn này, ta được đọc lời giải thích của soạn giả phúc âm Mátthêu, chứ không hẳn là bản ghi chép lại giáo huấn của Chúa Giêsu.

 

Van Tilborg đề nghị một lối giải thích về câu ngoại trừ trên, vừa để chứng minh Mátthêu là tác giả độc quyền của câu nói vừa giải thích được cách thoả đáng phản ứng hốt hoảng của các môn đệ, ngay khi người ta cho rằng phản ứng này chỉ là một phần của việc dàn dựng hư cấu cho câu truyện do chính Mátthêu sáng nghĩ ra (21). Theo ông, ta có thể hiểu câu này nhiều hơn nếu chịu giải thích nó theo đoạn Mátthêu 1:18-19. Ở đấy, thánh Giuse được truyền lệnh phải cân nhắc việc rẫy bỏ đức Maria vì thấy ngài có thai trước khi họ về chung sống với nhau trong hôn nhân. Vào thời Chúa Giêsu, một người con gái không còn đồng trinh khi kết hôn lần đầu không còn bị ném đá cho đến chết như luật Torah đã dự liệu (Đnl 22:20-21). Ấy thế nhưng khi cô dâu không phải là một góa phụ hay một người đàn bà ly dị, thì vẫn có phong tục buộc cuộc hôn nhân phải diễn ra vào ngày thứ tư trong tuần, để nếu người chồng thấy vợ mình không còn trinh, thì có thể tố giác nàng trước tòa án thường chỉ họp vào ngày thứ năm mà thôi.

 

Theo lối giải thích này, câu ngoại trừ trên có thể có nghĩa như sau: người đàn ông nào rẫy bỏ vợ mình và kết hôn với người khác sẽ phạm tội ngoại tình ngoại trừ trường hợp anh ta thấy người vợ đầu tiên của mình không còn đồng trinh. Trong trường hợp này, anh ta có quyền rẫy bỏ nàng và tái hôn. Lối giải thích này rất có thể là lối hiểu của cộng đoàn Kitô hữu chủ yếu bao gồm người gốc Do Thái là cộng đoàn Mátthêu đã soạn phúc âm cho, một cộng đoàn hết sức quen thuộc với câu truyện của Thánh Giuse và Đức Mẹ Maria. Và lối hiểu đó cũng giải thích tốt cho phản ứng nơi các nam thính giả của Chúa Giêsu trong câu truyện. Vì các cô gái Do Thái thường kết hôn lúc 12 hay 13 tuổi, sau một tuổi thơ được cha mẹ cẩn trọng canh chừng, nên khi bước vào hôn nhân mà lại không còn đồng trinh thì quả là chuyện họa hiếm. Con đường thoát thân cho các ông chồng bất hạnh lẽ đương nhiên cũng họa hiếm cách cân xứng như thế.

 

Nếu lối giải thích trên chính xác, thì người ta càng có lý tin là câu ngoại trừ trên không phát xuất từ chính Chúa Giêsu. Vì mặc dù lối giải thích này mnạnh về phương diện chú giải như là lời giải thích theo nghĩa của Mátthêu, nhưng cả về phương diện tôn giáo lẫn luân lý, nó lại rất yếu không phải là tâm trí của Chúa Giêsu. Theo lối giải thích này, Mátthêu yêu cầu độc giả tin rằng trong tâm trí Chúa Giêsu, phản ứng có thể chấp nhận được nơi người chồng trước việc cô dâu bước vào hôn nhân mà không còn đồng trinh là dùng ly dị chính thức để loại bỏ nàng. Điều này rõ ràng không nhất quán chút nào với giáo huấn của Chúa Giêsu liên quan đến tha thứ, tha thứ bất chấp lệnh truyền hay cho phép của luật pháp. Nó cũng không nhất quán với việc Chúa Giêsu nhấn mạnh ở nơi khác rằng giữa các môn đệ của Ngài, đàn ông và đàn bà đều phải được xử lý với cùng một nền luân lý bằng nhau.

 

Lại có lối giải thích thứ ba cho hay pornéia  ám chỉ cuộc kết hiệp loạn luân, một cuộc kết hợp được phép và cần phải kết liễu. Một trong những giải thích thuộc loại này là của Joseph Fitzmyer. Ông lý giải như sau (22). Tài liệu Damascus, một bản văn của phái Essene được khám phá lần đầu vào cuối thế kỷ 19, có một đoạn (trong CD 2:14-6:1) nói về một lời khuyên bảo người Do Thái sống tại Palestine vốn không phải là thành viên của cộng đồng Essene. Dùng lối Thiên Chúa nói ở ngôi thứ nhất, bài khuyên bảo này chỉ trích tác phong luân lý của những người Do Thái này. Một trong những loại tác phong bị chỉ trích này là lối sống không trong sạch của họ, tức lối sống zenut. Và tài liệu kể ra hai tác phong sau đây: lấy hai vợ lúc sinh thời, bất kể là đa thê hay do ly dị rồi tái hôn (đều nghịch lại luật Torah trong Sáng Thế 1:27 và 7:9), và thói quen cưới cháu gái hay cháu trai (nghịch với luật Torah trong Lêvi 18:13). Như thế, người Essenes, tác giả tài liệu Damascus này, đã liên kết đa hôn, ly dị và hôn nhân loạn luân dưới một kết án chung như là zenut. Kết luận dò chừng của Fitzmeyer nhằm coi pornéia như là một nguyên cớ biện minh cho việc người chồng Do Thái rẫy vợ và tái hôn và nguyên cớ ấy chính là cuộc hôn nhân loạn luân như đã bị bản văn Essene lên án. (Liệu cuộc kết hợp ấy có thành hiệu hay không, hay liệu có phải nó thành hiệu nhưng bất chính [illicit] hay không là điều chưa được giảng giải trong bất cứ lối giải thích nào từ trước đến nay. Nếu trường hợp sau đúng, thì Mátthêu quả có nhân nhượng để thẩm quyền nhân bản, ở đây là người chồng, có năng quyền tiêu hủy các cuộc hôn nhân thực sự).

 

Giống như các lối giải thích kia, lối giải thích trên cũng chỉ nên coi là dò chừng, dù hiển nhiên có giá trị. Tính chính xác của nó còn tùy ở sự kiện lịch sử, một điều khó mà kiểm chứng được. Điều rất có thể đúng là câu ngoại trừ trên đã được thế hệ thứ hai thêm vào truyền thống Nhất Lãm do chính soạn giả phúc âm Mátthêu. Chứng cớ giá trị nhất coi ông như một người Do Thái không có gốc Palestine lúc đó đang phục vụ bên ngoài Palestine để giáo huấn cộng đoàn Kitô hữu gốc Do Thái. Như thế làm sao ông biết được một tài liệu ở Palestine mà phạm vi lưu hành hết sức hạn chế?

 

Ta cũng hãy giả thiết rằng những người Do Thái trở thành Kitô Hữu trong cộng đoàn không có gốc Palestine của Mátthêu có chấp nhận những cuộc hôn nhân bị tài liệu Damascus coi là loạn luân. Lối giải thích ấy phải giả thiết là Mátthêu khởi đầu chống lại kiều kết hợp ấy và việc này thúc đẩy ông sử dụng lời kết án của phái Essene để chống lại chúng.  Và sau cùng, không có bằng chứng nào cho thấy các cộng đoàn Kitô hữu thuộc thế hệ thứ nhất và thứ hai ngăn cấm các tân tòng Do Thái không được kết ước những cuộc hôn nhân mà luật lệ riêng của họ vốn cho phép. Quả có việc luật lệ Rôma tổng quát ngăn cấm các cuộc hôn nhân giữa anh em họ hai đời (first cousin). Nhưng người ta phải chứng minh được rằng về vấn đề này, luật Rôma có trói buộc các tân tòng Do Thái gia nhập Kitô Giáo, hay luật ấy trói buộc họ ở Syria, nơi rất có thể đã soạn ra phúc âm Mátthêu này.

 

Lối giải thích thứ bốn cho rằng Chúa Giêsu đồng ý với Đệ Nhị Luật 24:1 và truyền thống tư tế trong việc cho phép người đàn ông rẫy bỏ người vợ phạm tội ngoại tình. Lối giải thích này còn cho là Ngài đồng ý với Thầy Shammai. Nhưng nó cũng cho thấy Ngài bất đồng với Shammai khi nói rằng người chồng không được tái hôn sau khi rẫy bỏ vợ, và nếu anh ta mưu toan làm điều ấy, anh ta sẽ phạm tội ngoại tình. Trong trường hợp ấy, việc ly thân thực ra không phải là việc tiêu hôn thực sự, vì người đàn ông một khi độc thân trở lại sau khi rẫy bỏ vợ mình chỉ phạm tội ngoại tình nếu anh ta tìm cách kết hôn với một người đàn bà từng bị rẫy bỏ một cách bất thành hiệu. Lối giải thích này giải thích được cách hợp lý phản ứng hoảng hốt của các môn đệ đối với lời tuyên bố của Chúa Giêsu.

 

Nhưng lối giải thích này cũng có cùng một điểm yếu như lối giải thích thứ hai. Vì nó cũng yêu cầu độc giả phải chấp nhận rằng Chúa Giêsu khuyến cáo, hay ít ra cũng cho phép, ông chồng nào khám phá thấy vợ ngoại tình đều được phép rẫy bỏ nàng thẳng thừng. Ngay cả khi ta thấy điều ấy có thể chấp nhận được bất chấp giáo huấn được Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại nhiều lần về chịu đựng và tha thứ đi chăng nữa, nó vẫn không giải thích được sự im lặng của Ngài trong đoạn này về đặc quyền hay trách nhiệm của các bà vợ trước việc khám phá ra ông chồng của mình ngoại tình. Bên dưới và bên cạnh tất cả những lối giải thích này là chứng cớ rõ ràng cho thấy Chúa Giêsu hết sức nhấn mạnh tới sự công bình (fairness), đến trách nhiệm bình đẳng của cả vợ lẫn chồng. Sự kiện không có điều gì được Ngài nói tới trong đoạn này liên quan đến thái độ của người vợ đối với người chồng ngoại tình một lần nữa đã chứng minh rằng câu ngoại trừ trên không do Chúa Giêsu mà là do chính soạn giả phúc âm Mátthêu nói ra.

 

Phải nói gì về  lối giải thích cho đến nay được chấp nhận rộng rãi hơn cả, không những về số lượng mà về chính sự nhìn nhận trong nhiều thế kỷ coi pornéia chỉ việc người vợ ngoại tình như đủ để biện minh cho việc chồng nàng xua đuổi nàng và kết hôn với người  khác? Đây là lối giải thích đã được các hoàng đế Kitô Giáo của Rôma tiếp nhận ít nhất cũng đến lúc Đế Quốc này xụp đổ ở Phương Tây. Đây cũng là lối giải thích đã được các nhà cai trị đế quốc Công Giáo Đông Phương còn lại ủng hộ, và tiếp tục vẫn là lối giải thích chính thức của các Giáo Hội Công Giáo Phương Đông tận cho đến ngày nay. Nó cũng là lối giải thích của hầu hết các giáo hội Thệ Phản.

 

Những điểm chứng cớ sau đây chống lại việc nhìn nhận rằng ít nhất trong tâm trí Chúa Giêsu, pornéia chỉ việc ngoại tình của người vợ như một tác phong tồi tệ được coi như đủ để biện minh cho việc chồng nàng rẫy bỏ nàng và tái hôn.

 

Thứ nhất, giọng điệu và trình tự của phiên bản Mátthêu trong cuộc tranh luận với người Biệt Phái cho thấy Chúa Giêsu từ khước không đứng về phe nào với những người hoặc ủng hộ Hillel hoặc ủng hộ Shammai. Ngài cũng từ chối không cho thấy việc lựa chọn giữa hai lối giải thích sách Đệ Nhị Luật của hai vị thầy này là một vấn đề quan trọng. Nhưng nếu việc ngoại tình của người vợ là cơ sở duy nhất có tính biện minh ngoại hạng, hẳn người ta đã trình bầy Chúa Giêsu như là không nhất quán vì đã đứng về phe với Shammai.

 

Nếu câu ngoại trừ là do Mátthêu thêm vào mục đích để trả lời câu hỏi do cử tọa Kitô hữu thế hệ thứ hai đặt ra cho ông, và nếu hạn từ pornéia trong tâm trí ông có ý ám chỉ việc ngoại tình của người vợ, thì giải thích của ông rõ ràng đã áp đặt tính không nhất quán vào tư tưởng của Chúa Giêsu. Đồng thời nó cũng làm nhẹ đi điều Chúa Giêsu nói ở câu 6: “Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”.

 

Có chứng cớ cho thấy ngay cả việc soạn giả phúc âm Mátthêu muốn dùng pornéia để chỉ việc ngoại tình của người vợ xem ra cũng không ổn. Vì trong ngữ vựng của Phúc Âm này, ta thấy có cả một danh từ và một đại danh từ chuyên biệt chỉ việc ngoại tình và việc phạm tội ngoại tình đó là các chữ moichéia moichéuein. Ông dùng động từ này trong câu chính ở 19:9 để chỉ việc người chồng sẽ phạm nếu anh ta tái hôn sau khi rẫy bỏ vợ (trừ trường hợp pornéia). Ông cũng dùng một động từ ấy để chuyển đạt giáo huấn của Chúa Giêsu về ngoại tình trong 5:27-30 và trong giáo huấn của Ngài về ly dị và tái hôn trong 5:31-32. Thành thử nếu ông có ý định, hay ông cho là Chúa Giêsu có ý định nói rằng chính việc ngoại tình của người vợ đã biện minh cho việc người chồng rẫy bỏ nàng và tái hôn, thì hẳn ông đã dùng cùng một động từ ấy mới có lý chứ. Cho nên chỉ còn cách duy nhất là nhận rằng pornéia ở đây chỉ chung tác phong tính dục không đẹp của người vợ, kể cả việc ngoại tình. Nhưng nếu như thế, thì việc các môn đệ sửng sốt trước cái lối thoát họa hiếm giúp người chồng bước ra khỏi cuộc hôn nhân mình không muốn đó không được giải thích cách thỏa đáng.

 

Mặt khác, cần nhắc lại một lần nữa việc người chồng rẫy bỏ người vợ ngoại tình không nhất quán với sự tha thứ mà Chúa Giêsu đã đặt thành lệnh truyền tổng quát và bền vững cho các kẻ theo Ngài. Tính cách thiên vị trong việc cấp cho một mình người chồng đặc ân chống lại người vợ ngoại tình lại càng bất nhất gấp hai lần đối với Chúa Giêsu mà ta gặp nơi khác trong Phúc Âm này.

 

Bây giờ xin đề cập đến chính thái độ sửng sốt của các môn đệ ở câu 10: “Nếu làm chồng mà phải như thế đối với vợ, thì thà đừng lấy vợ còn hơn”. Câu này và câu trả lời của Chúa Giêsu sau đó đã làm thành phiên bản của Mátthêu về cuộc đàm thoại thứ hai và sau đó với riêng các môn đệ, một cuộc đàm thoại được kể lại tách biệt hơn trong Máccô. Nhưng cũng như phiên bản Máccô, nó được nhằm để đem lại cho Chúa Giêsu (hay đúng hơn cho chính Mátthêu) cơ hội giải thích một điểm vốn dư thừa đối với người Biệt Phái thù nghịch nhưng lại rất cần thiết cho những ai có ý định bước chân theo Chúa Giêsu.

 

Chúa Giêsu nhận rõ và một cách nào đó, đồng ý với sự ngỡ ngàng của các môn đệ. Giáo huấn của Ngài quả có đặt lên vai người chồng một lệnh truyền khá nghiêm khắc, thậm chí còn quá nghiêm khắc là đàng khác đối với nhiều người. Vì theo Ngài (câu 11): “Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy…”. Nếu không phải ai cũng hiểu, thì ai hiểu đây? Câu trả lời cho câu hỏi ấy, một lần nữa, cho thấy lệnh truyền ấy quả là nghiêm khắc biết chừng nào. Vì không ai có thể tiếp nhận nó bằng chính sức mạnh của mình, “…nhưng chỉ những ai Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu được”. Bất kể bản chất của lệnh truyền ấy ra sao, chắc chắn nó là một lệnh truyền người chồng chỉ có thể thực hiện được với ơn Chúa trợ lực mà thôi, nghĩa là với ơn thánh ban sức mạnh của Ngài.

 

Ta có thể hiểu được điều làm cho con người nhân bản không chịu đựng được lệnh truyền này là tìm hiểu nghĩa của hạn từ “hoạn quan” trong truyền thống Do Thái, một truyền thống Chúa Giêsu vốn sinh sống, nhất là ý nghĩa trong cái hiểu và trong ý định của các tư tế. Vì một trong các hiệu quả từ lệnh truyền của Chúa Giêsu là biến người chồng thành hoạn quan, và, trong hoàn cảnh được Chúa Giêsu đưa ra, thành hoạn quan của Nước Trời, của lối sống được Chúa Giêsu khởi diễn trong vâng phục ý Chúa Cha.

 

Trong câu tuyên bố này, lệnh truyền của Chúa Giêsu xem ra ít có liên quan đến những người vì Nước Trời mà sống độc thân không lập gia đình. Vì họ không phải là “hoạn quan” trong đồng văn này, bởi đồng văn này vốn không phải là cuộc thảo luận về vấn đề độc thân suốt đời, cũng không có ý nói tới nỗi lo lắng của các môn đệ về thứ độc thân ấy. Họ lo âu về điều Chúa Giêsu dạy họ phải chấp nhận sau khi cuộc hôn nhân thất bại vì một lý do nào đó. Thực tế, hạn từ “hoạn quan” trong thuật ngữ tư tế vào thời Chúa Giêsu giản đơn không có ý nói tới tình trạng có gia đình hay không có gia đình của người đàn ông. Đúng hơn nó ám chỉ việc anh ta không có khả năng có con. Hạn từ ấy cũng không phân biệt giữa việc hiếm muộn của anh ta và sự hiếm muộn của người vợ anh ta. Trong văn chương tư tế, vấn nạn về hoạn quan không phải là anh ta có thể kết hôn hay không, nhưng, như trong Jebamoth 8:4,5,6, đó là vấn nạn liệu người vợ của hoạn quan có phải chấp hành quy định của luật Lêvi khi anh ta qua đời, nghĩa là liệu nàng có phải sinh con cho người chồng quá cố bằng cách giao hợp với người em anh ta hay không, và liệu chính người hoạn quan có phải sống dưới luật này nếu người anh có gia đình của mình qua đời mà chưa có con hay không. Chứ trong truyền thống tư tế ấy, hạn từ “hoạn quan” không bao giờ ám chỉ người đàn ông không có khả năng giao hợp (23).

 

Như thế, ta có thể có lý khi suy đoán rằng bất luận hạn từ pornéia trong câu ngoại trừ có thể có nghĩa như thế nào trong việc cho phép người đàn ông rẫy bỏ vợ và tái hôn, nhưng chắc chắn nó không ám chỉ việc người vợ hiếm muộn khiến người chồng ra “hoạn quan”. Nếu câu này do chính Chúa Giêsu, thì trong đó Ngài gián tiếp cho những kẻ theo Ngài hay rằng nếu họ muốn thuộc về Nước của Cha Ngài, họ phải sẵn sàng làm “hoạn quan”. Quả thế, họ không được rẫy bỏ vợ chỉ vì họ không có khả năng sinh con, để lấy người đàn bà khác mắn con làm vợ. Họ phải tiếp tục sống với vợ mình và do đó chấp nhận việc không có con (24). Đối với một người đàn ông Do Thái, là người coi con cái qúy giá đến độ trở thành bản chất cho chính ý nghĩa cuộc đời anh ta, thì nghe lệnh truyền trên quả là điều gây kích xúc. Đối với anh ta quả tình đừng lấy vợ với hy vọng có con trai con gái còn hơn là lấy vợ rồi bị kết án phải sống với bản án trong đó niềm hy vọng kia bị tiêu hủy mãi mãi.

 

Nếu giải thích trên chính xác, nó không cho ta thấy pornéia thực ra có nghĩa gì. Nhưng căn cứ vào luận lý học loại trừ (excluding logic), nó cho ta thấy: đối với các người theo Chúa Kitô, việc thiếu khả năng trầm trọng nhất nơi người vợ tức việc nàng thiếu khả năng sinh con cho chồng không phải là nguyên cớ biện minh được việc người chồng rẫy bỏ người vợ ấy. Đàng khác, xem ra trong cuộc đàm thoại thứ hai đầy tính sắp xếp này, soạn giả phúc âm Mátthêu quả có kết hiệp hai sự kiện lại với nhau. Ông đã lợi dụng cơ hội để đem giáo huấn của Chúa Giêsu về việc đối xử với các bà vợ hiếm muộn từ nơi khác vào trong thừa tác vụ giảng dạy của Ngài và ở đây làm nó cùng có được tính nghiêm chỉnh như giáo huấn tổng quát của Ngài về ly dị và tái hôn.

 

Sau cùng, thiển nghĩ, một cách đơn giản, quả chúng ta không làm sao biết chính xác được  ý nghĩa của câu ngoại trừ trong đoạn văn này của phúc âm Mátthêu. Tuy nhiên, ta có thể gần như chắc chắn kết luận rằng câu ấy không phải của Chúa Giêsu nhưng là phương thế để Mátthêu cố gắng giải thích tâm tư của Ngài. Bất kể lối giải thích của ông chính xác đến bao nhiêu, ông cũng đã lãnh nhận trách vụ ấy, tức trách vụ giải thích và thích ứng, một trách vụ không một ai quyết định sống lời Chúa Giêsu có thể lẩn trốn được.

 

Phủ định hay khẳng định

 

Những nhận định trên đây về câu “ngoại trừ” trong phúc âm Mátthêu là của linh mục Theodore Mackin S.J trong Divorce and Remarriage, New York, Paulist Press, 1984, những nhận định có tính phủ định. Vấn đề vì thế có vẻ như bỏ lửng ở đây. Và việc ấy chắc chắn khiến nhiều người trong chúng ta không thấy thoả mãn. Hiển nhiên, một câu quan trọng như thế, dù là của chính Chúa Giêsu nói hay là soạn giả phúc âm Mátthêu, nhờ linh hứng, mà tin là nếu Chúa Giêsu hiện diện nơi cộng đoàn của ông lúc đó cũng sẽ nói như vậy, phải có một nghĩa nào đó có tính khẳng định. Chính vì thế đã có rất nhiều cố gắng xác định ra ý nghĩa này.

 

Các Bản Tiếng Việt

 

Ở đây, tưởng nên nhắc lại một vài lối dịch của các bản tiếng Việt. Bản của Tin Lành: “Người nào để vợ mà không phải vì cớ ngoại tình, thì người ấy làm cho vợ mình ra người tà dâm”. Bản của Cha Nguyễn Thế Thuấn: “Mọi kẻ rẫy vợ, trừ phi là nố dâm bôn, là làm cho vợ ngoại tình”. Bản của Cha An Sơn Vị: “Trừ nố kết hôn phi pháp, ai bỏ vợ tức là khiến nó ngoại tình”. Bản của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ: “Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình” …

 

Bản của Tin Lành vốn không có chú thích. Cha Thuấn thì chú thích rằng: “Nghĩa vợ chồng bất di bất dịch. Nố trừ ở đây có thể là thứ hôn nhân bất hợp pháp, trái với luật của Thiên Chúa.(Có người hiểu về sự thất trung ngoại tình đòi phải ly thân)”. Cái hiểu sau không giá trị bao nhiêu vì ly thân không cho phép người chồng tái hôn. Cha Vị và Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ giống nhau cả lối dịch lẫn lời chú thích, theo đó pornéia có ba nghĩa chính: a) cái gì ô nhục (xem Đnl 24:1); b) ngoại tình; c) kết hôn phi pháp (xem Lv 18:6-18 và Cv 15:28-29). Lối dịch “hôn nhân phi pháp” này xem ra chung chung nhất vừa có thể nói lên khía cạnh “không chính dâm” của chữ pornéia vừa có thể hỗ trợ cho nguyên tắc chung được Chúa Giêsu long trọng đưa ra là: không có ly dị ở bất cứ trường hợp nào, vì hôn nhân bất hợp pháp vốn không phải là hôn nhân thực sự. Và vì thế đây là lối dịch thông thường của các phiên bản Công Giáo.

 

Các Bản Ngoại Ngữ

 

Như bản Thánh Kinh Giêrusalem chẳng hạn cũng dịch câu ngoại trừ là “except for the case of illicit marriages”. Tuy nhiên hai bản Phổ Thông cũ và mới đều dịch câu ngoại trừ là “excepta fornicationis causa”. Bản Douay-Rheims cũng thế. Hầu hết các bản Tin Lành đều theo khuynh hướng ấy mà dịch chữ pornéia“some terrible sexual sin” (Bản American Bible), “unchastity” (Bản New American Standard Bible), “fornication” (Bản King James Version) hay “unfaithfulness” (New International Version)… Ai cũng hiểu “terrible sexual sin”, “unchastity” hay “unfaitfulness” là một hành vi xấu thực hiện trong đạo vợ chồng, trong cuộc sống lứa đôi, nói cách khác là ngoại tình.

 

Nhưng còn “fornicatio”? Tra từ điển Latinh của Đại Học Notre Dame Hoa Kỳ, người ta không thấy chữ này, nhưng có chữ fornicatus có nghĩa là bẻ thành cửa vòm hay vòng cung (arched/vaulted). Một tác giả cho hay: các gái điếm lành nghề của cổ La Mã thường hay “chào hàng” bằng cách đứng ở dưới cửa vòm của các công thự lớn để khách mua hoa dễ thấy. Chữ Latinh dùng để chỉ cửa vòm là “fornix” và ai đứng dưới của vòm kiểu này được gọi là fornicator nếu là đàn ông và fornacatrix nếu là đàn bà. Dịch vụ của họ được gọi là fornicatio (http://boards.hbo.com/forum.jspa?forumID=800001151&start=15). 

Từ điển Đức Tin Kitô Giáo (Dictionnaire De La Foi Chrétienne do Olivier de La Bosse chủ trương) và Pocket Catholic Dictionary của John A. Hardon SJ cũng giải thích như thế.

 

Như vậy, fornicatio được hiểu là việc mua dâm, hay việc làm tình trước hôn nhân và nói chung bên ngoài hôn nhân. Nhưng trong 1 Cor 6:9,  fornicarii (người tà dâm) được hiểu là khác với adulteri (người ngoại tình). Do đó, người ta vốn hiểu fornicatio là việc làm tình có thoả thuận giữa những người chưa lập gia đình, trong khi ngoại tình là việc làm tình giữa những người hoặc cả hai đều đã kết hôn với người khác hay ít nhất một người đã kết hôn với người khác (xem từ điển bách khoa Wikipedia). Linh mục Hardon hình như muốn ám chỉ đến câu ngoại trừ của phúc âm Mátthêu, định nghĩa fornication là hành vi giao hợp tính dục giữa một người đàn ông và một người đàn bà chưa kết hôn thành sự (validly married), mặc dù họ được tự do lấy nhau.

 

Theo Cha Benedict T. Viviano O.P., tác giả cuốn chú giải “The Gospel According to Matthew” trong bộ The New Jerome Biblical Commentary do Raymond E. Brown, Joseph A.Fitzmyer và Roland E. Murphy chủ biên (Geoffrey Chapman, 1989), lối giải thích pornéia như hôn nhân bất hợp pháp là chỉnh hơn cả. Vì theo ngài, trong truyền thống tư tế, pornéia là để dịch từ Hibri zenut, một từ dùng để chỉ những cuộc phối hợp có tính loạn luân nghĩa là cuộc hôn nhân giữa những người có họ hàng gần (Lv 18:6-18). Cuộc phối hợp này thực ra không phải là hôn nhân thực sự và do đó không cần phải ly dị mà chỉ cần tuyên bố vô hiệu (annulment) mà thôi, vì hành vi fornicatio xẩy ra ở ngay khi kết ước hôn nhân, nên cuộc hôn nhân ấy không thành hiệu. Các môn đệ hiểu điều đó, nghĩa là không có ly dị trong bất cứ trường hợp nào, và đó là lý do khiến các ông đâm “hoảng” trước lệnh truyền quá ngặt của Chúa Giêsu.

 

Tuy thế. một số phiên bản vì không an tâm trước lối giải thích trên, nên vẫn loay hoay đi tìm lối giải thích khác. Như bản “Good News Bible, Today’s English Version” của United Bible Societies đã dịch câu của phúc âm Mátthêu như sau: “if a man divorces his wife, even though she has not been unfaithful, then he is guilty of making her commit adultery if she marries again” (nếu một người đàn ông ly dị vợ mình, cho dù nàng không thất trung, là anh ta phạm tội đã khiến nàng phạm tội ngoại tình nếu nàng tái hôn). Dù các trường Công Giáo tại Sydney, Australia, có thời đã dùng bộ Thánh Kinh này cho các học sinh của mình, nhưng ai cũng phải nhận lối dịch như thế quá phóng túng, và không chú trọng đến chữ pornéia cho bằng liên từ nối hai mệnh đề trong câu văn. Đức ông Ronald A. Knox trong bản dịch Kinh Thánh năm 1945, theo ủy nhiệm của hội đồng giám mục Anh, Wales và Scotland xem ra cũng có cùng một khuynh hướng này. Vì mặc dù ngài dịch câu trên là “the man who puts away his wife (setting aside the matter of unfaithfulness) makes an adulteress of her…”(người đàn ông nào rẫy bỏ vợ mình [bỏ ra ngoài vấn đề bất trung] là biến nàng thành kẻ ngoại tình…). Trong phần chú thích, đức ông Knox cho rằng: hạn từ Hy Lạp ở đây dịch là bỏ ra ngoài thường được hiểu là “ngoại trừ nàng thất trung”, nhưng nó cũng được giải thích như có nghĩa là “dù nàng thất trung hay không” (whether she is unfaithful or not). Mà nếu hiểu theo nghĩa sau, thì quả tình không có trường hợp trừ nào cả, mà chỉ là cách soạn giả phúc âm Mátthêu muốn nhấn mạnh câu văn mà thôi.

 

Vinc Vũ Văn An

 

Chú Thích

 

Các chú thích là của Linh Mục Theodore Mackin SJ (sách đã dẫn) mà bài viết đã được trình bầy ở phần đầu của bài này.

 

(1) Bản dịch các câu Tân Ước qua tiếng Anh là của chúng tôi dựa theo bản The Greek New Testament do Kurt Aland, Matthew Black, Bruce M. Metzger và Allen Wikgren chủ biên, London, 1966. Chúng tôi đặc biệt lưu tâm đến việc phải làm sao để các bản dịch này phản ảnh được các sắc thái ý nghĩa của đồng văn Do Thái trên đất Palestine trong các Sách Nhất Lãm. Thí dụ, dùng động từ “ly dị” cách chung chung (hầu như mọi bản dịch Anh Ngữ đều giống nhau ở điểm này) để chỉ cách hủy tiêu hôn nhân trong đồng văn ấy là làm người đọc hiểu lầm. Dịch như thế là không nắm được động từ Hy Lạp apolúein của nguyên bản, một động từ chỉ việc người chồng đơn phương rẫy bỏ vợ mình.

 

(2) Chúng tôi cố ý giữ nguyên hạn từ chủ yếu này lấy từ bản Hy Lạp của Phúc Âm Mátthêu chỉ là bởi vì suốt hơn hai mươi thế kỷ qua, ý nghĩa của nó rất mơ hồ đối với phần đông độc giả. Một số các lối dịch, như “không khiết tịnh”, “không trong sạch”, “tà dâm” và cả “ngoại tình” nữa cũng đáng hoài nghi. Dùng bất cứ lối dịch nào mà bỏ qua các lối dịch khác cũng đều làm người ta lầm lẫn. Việc chúng tôi không chắc chắn về ý nghĩa được Chúa Giêsu có ý nhắm cho các chữ erwat dabar chính Ngài dùng càng làm chúng tôi không chắc chắn hơn về ý nghĩa mà soạn giả phúc âm Mátthêu có ý nhắm khi dịch lời của Chúa Giêsu qua danh từ pornéia của Hy Ngữ và việc này là một điển hình cho thấy tìm lại được điều Chúa Giêsu thực sự nói quả là chuyện khó khăn xiết bao, và không phải chỉ là việc Ngài thực sự đã nói gì trong phiên bản Mátthêu mà thôi, mà cả trong hai phiên bản Máccô và Luca nữa, vì không phiên bản nào trong số này đã thuật lại câu ngoại trừ nổi tiếng ta đang bàn, một câu chỉ được Mátthêu thuật lại mà thôi.

 

(3) Đặc điểm của lời giáo huấn cho thấy một cách mạnh mẽ rằng Luca đã lấy từ nguồn Q, tức tuyển tập các bài giáo huấn về giáo lý (dưới hình thức bản viết hay chỉ là lời truyền miệng thì vẫn còn đang tranh cãi) lúc ấy đang được phổ biến nơi các cộng đoàn Kitô Giáo thuộc thế hệ thứ hai. Sự hiện hữu của nguồn này hiện đang được giả định một cách có lý vì chỉ có thế mới giải thích được nguồn tài liệu của các soạn giả Nhất Lãm. Người ta nghĩ rằng Máccô ít lấy từ nguồn này nhất, nhưng (theo một lý thuyết) chủ yếu lấy từ các lời giảng dạy và huấn giáo của Thánh Phêrô nhiều hơn. Họ cũng nghĩ rằng Luca và Mátthêu đã lấy trình tự và phần lớn các tư liệu ký sự từ Máccô và các truyền thống địa phương họ có được, nhưng phần lớn các giáo huấn có tính giáo lý thì họ rút từ nguồn Q. Ta có thể nhận ra tư liệu tiêu biểu thuộc nguồn Q ở Bài Giảng Trên Núi. (Q là viết tắt của chữ ‘die Quelle’ trong tiếng Đức và chiểu tự có nghĩa là ‘nguồn’.

 

(4) Trong việc khảo sát hai phiên bản Máccô và Mátthêu về lời giáo huấn của Chúa Giêsu, chúng tôi đã dựa nhiều vào khảo luận của J.H.A. van Tilborg, được dịch qua tiếng Đức dưới tiêu đề “Exegetische Bemerkungen zu den wichtigsten Ehetexten aus dem Neuen Testament” trong Fur Eine Neue Kirchliche Eheordnung: Ein Alternatifentwurf, do  P.J.M. Huizing chủ biên, Dusseldorf, 1975 (nguyên bản tiếng Hòa Lan “Exegetische notities bij de belangrijkste huwelijksteksten uit het Nieuwe Testament” trong Alternateif Kerkelijk Huwelijksrecht, Antwerp, 1974.

 

(5) Bultmann chẳng hạn nghĩ rằng cuộc tranh luận này đã phản ảnh cuộc tranh chấp sau đó, có lẽ thời thế hệ Kitô Giáo thứ hai, giữa thẩm quyền của các cộng đoàn Kitô Giáo và các bậc thầy tư tế.

 

(6) Vai trò đáng hoài nghi của căn nhà trong trình thuật Máccô đã làm cho trình thuật này xem ra kém chính xác về sự kiện. Như ta sẽ thấy, trình thuật này gồm hai cuộc đàm luận: cuộc tranh luận của Chúa Giêsu với nhóm Biệt Phái và lời Ngài sau đó giải thích cho các môn đệ hiểu điều Ngài nói với nhóm Biệt Phái trước đó. Cuộc đàm luận thứ hai này được dẫn khởi bởi câu, “Khi về đến nhà…” (10:10). Ở đây, nếu Máccô có ý nói tới căn nhà ở Capernaum mà ông từng đề cập tại 9:33, hẳn ông giả thiết là lời giải thích của Chúa Giêsu phải đình hoãn đến 4 hay 5 ngày, là thời gian cần để di chuyển khoảng đường 80 dặm từ Giuđêa ngược trở lại Capernaum ở phía Bắc. Nhưng cái khó khăn của trình thuật này là: theo diễn trình các biến cố xẩy ra trong Máccô, Chúa Giêsu đâu có trở lại Capernaum, mà đi thẳng từ địa điểm tranh cãi thuộc vùng Bên Kia Giócđăng ấy mà lên Giêrusalem, nơi Ngài bị bắt, bị xử án và xử tử. Như thế, nếu khung cảnh của bài trình thuật lại giáo huấn của Chúa Giêsu về ly dị và tái hôn là do Máccô sáng tác, thì quả ông đã thêm chi tiết ấy vào phúc âm của mình một cách khá bất cẩn. 

 

(7) Các môn đệ của Ngài tại 4:39, 9:38, 10:35, 13:1 và 14:4; dân chúng tại 5:35 và 9:17; chàng thanh niên giầu có tại 10:17-20; Nhóm Biệt Phái và Nhóm Hêrôđê tại 12:14; Nhóm Sađuchê tại 12:19; và nhóm luật sĩ tại 12:32.

 

(8) Trong khảo luận của mình, tựa là “The Matthean Divorce Texts and Some New Palestinian Evidence” (trong Theological Studies [Vol.37.2, 1976] các trang 197-226), Joseph Fitzmyer gợi ý rằng điểm mà phe Biệt Phái muốn thử Chúa Giêsu là xem Ngài có tôn trọng Sách Torah hay không bằng cách ủng hộ việc rẫy bỏ người vợ, hay Ngài đứng về phe với giáo huấn của Nhóm Essenes tại Qumran vùng Giuđêa vốn ngăn cấm ông vua lý tưởng, các ông hoàng bà chúa và lẽ đương nhiên cả thần dân của họ không được ly dị. (Bản văn tiết lộ giáo huấn Qumran này là Sách Cuộn Đền Thờ [Temple Scroll], thuộc bộ Qumran Cave XI).

 

(9) Đây cũng là động từ được Mátthêu sử dụng trong Trình Thuật Thơ Ấu (1:19) để chỉ ý định của Thánh Giuse muốn rẫy bỏ Đức Maria khi thấy Ngài có thai. Động từ này được một số văn sĩ Hy lạp sử dụng để chỉ hình thức ly dị họ biết (Như Dionysius thành Halicarnassus, một sử gia Hy lạp thuộc thế hệ trước Chúa Giêsu, trong tác phẩm Roman Antiquities, 2.25.7 của ông; và Diodorus Siculus trong cuốn Historical Books 12.18, 1-2 của ông). Khi xuất hiện trong các đoạn thánh kinh được soạn thảo hay phiên dịch sang tiếng Hy Lạp, động từ này thường có một trong hai nghĩa sau đây: “thả tự do, thả, tha thứ, tha nợ”; hay “rẫy bỏ, đuổi đi”. Nó được dùng chỉ ly dị  bằng cách rẫy bỏ trong 1 Esdras 9:36, trong bản dịch Bẩy Mươi sách Đệ Nhị Luật 24:1, và dĩ nhiên trong truyền thống Nhất Lãm ta đang khảo sát. (Xem W.F. Arndt và F.W. Gingrich, A Greek-English Lexicon of the New Testament and Other Early Christian Literature, Cambridge and Chicago, 1957, các trang 95-96). Như sẽ thấy, Thánh Phaolô cũng dùng động từ aphiénai trong 1Cor 7 cùng với chorízein để chỉ việc ly dị. Kiểu ly dị được hai động từ này chỉ về hẳn phải được tìm thấy trong bối cảnh văn chương cũng như lịch sử xã hội của bức thư.

 

(10) David Daube, trong cuốn The New Testament and Rabbinic Judaism (New York, 1973) các trang từ 72 biện luận rằng câu này giả thiết trước và có chứa đựng truyền thống tư tế, một truyền thống cho rằng con người đầu tiên á nam á nữ (androgynous) và được Thiên Chúa dựng nên như thế. Bằng chứng được đưa ra để chứng minh điều đó là bản văn Hibri của Sáng Thế  1:26-27 không dứt khoát giữa số ít và số nhiều khi nói về người đàn ông và người đàn bà đầu hết: “Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài, Ngài dựng nên anh ta (số ít) theo họa ảnh của Ngài; Ngài dựng nên họ (số nhiều) có nam có nữ”. Từ đó, câu kết luận của tư tế  là: người ta chỉ có thể dùng cả số ít lẫn số nhiều để nói về con người ái nam ái nữ, sau khi đã nêu tên cả hai giới tính. Truyền thống ấy cũng phát sinh do cố gắng muốn hòa hợp hai đoạn văn của sách Sáng Thế “…Ngài dựng nên họ có nam có nữ” (1:27); và chi tiết trong dụ ngôn Vườn Địa Đàng nói rằng Thiên Chúa tạo nên người đàn bà đầu tiên bằng chính thịt xương của người đàn ông đầu hết (2:18ff). Nếu người đàn bà được rút ra từ người đàn ông, thì hẳn nhiên người đàn ông ấy phải có cái đàn bà tính trong chính anh ta. Cái nữ tính đàn ông ấy của con người đầu hết khiến người ta nhớ đến huyền thoại ái nam ái nữ trong Symposium của Platon (189C ff) và có lẽ được rút ra từ nguồn tư tế rất quen thuộc với cuộc đối thoại này. Truyền thống này ngụ ý rằng sự nên một đầy thân mật, có khi có tính hữu thể nữa của người đàn ông và người đàn bà kia chính là dự tính của Thiên Chúa. Đó là điều lý tưởng được Ngài đưa ra, một mục tiêu được Ngài thúc giục, và là chính ý nghĩa của hôn nhân. Thành thử ra ly dị là làm hỏng dự tính của Thiên Chúa, là án ngữ việc thực thi cái lý tưởng và việc đạt tới mục tiêu trên.

 

(11) Walter Brueggmann đã khai triển ý nghĩa này trong khảo luận của ông tự là “Of the Same Flesh and Bone” đăng trong The Catholic Biblical Quarterly, Vol.32.4 (1970), các trang 532-542.

 

(12) Bản chất và các công dụng của halakha haggadha đã được cắt nghĩa trong Daube, Sách Dã Dẫn, các trang 72-79.

 

(13) Daube, Sách Đã Dẫn, tr.368.

 

(14) Hư cấu hay không, đây không phải là đoạn duy nhất trong phúc âm của ông nơi Máccô tường thuật cuộc đàm thoại có tính tiếp hậu (sequel)  như thế. Ông thực hiện điều đó ở 4:10-34 (giải thích tiếp hậu của Chúa Giêsu về các dụ ngôn ban đầu), ở 7:17 (cùng môt kiểu giải thích cửa Chúa Giêsu đối với các giáo huấn trước đó về những điều sạch sẽ và những điều dơ bẩn), và ở 9:28-33 (Ngài giải thích cho các môn đệ lý do họ không có khả năng trừ qủy khỏi đứa trẻ bị ám).

 

(15) Một số nhà chú giải nghi vấn về tính chân xác của nhóm chữ “chống lại vợ mình” trong câu tuyến bố của Chúa Giêsu. Họ cho rằng Máccô thêm nó vào, vì cả Luca lẫn Mátthêu đều không có nhóm chữ này trong cùng một sấm ngôn.

 

(16) Van Tilborg (Sách Đã Dẫn, tr.14) cho thấy một hậu quả khác cũng làm ta thắc mắc về việc giáo huấn của Chúa Giêsu đi từ luật Do Thái chạy qua luật La Mã. Vì luật Do Thái, một luật mà Chúa Giêsu không miễn chước cho các môn đệ của mình, có cho phép người chồng lấy nhiều vợ, nên người chồng (nếu ta đọc giáo huấn của Chúa Giêsu theo nghĩa đen) sẽ không phạm tội ngoại tình chống lại vợ mình, không thất trung chống lại nàng, khi cưới người vợ thứ hai, miễn là anh ta không rẫy bỏ người vợ thứ nhất. Nhưng luật này không cho phép người vợ được như vậy; nó không cho phép nàng đa phu.

 

Còn luật La Mã thì không cho phép cả đa thê nữa. Bởi thế các ông chồng Kitô giáo sống dưới luật La Mã sẽ phạm tội ngoại tình khi có dự mưu cưới người vợ thứ hai, dù vẫn giữ người vợ thứ nhất.

 

Việc Chúa Giêsu để nguyên lối vào sự bất bình đẳng và bất công này trong giáo huấn của Ngài (không bất công cho các ông chồng La Mã, nhưng bất công cho các bà vợ Kitô giáo vùng Palestine!), thì quả là bất nhất với kế hoạch hết sức tỏ tường của Ngài muốn chấm dứt sự bất công đã thành định chế ấy.  Bởi thế khó mà nghĩ được là trong vấn đề này Máccô đã chuyển giao lời của Chúa Giêsu một cách chuẩn xác. Có lẽ ông nghĩ ông đã giải quyết sự bất nhất kia đơn giản bằng cách ghi lại lời Chúa Giêsu trích dẫn sách Torah rằng “Và cả hai [không phải ba hay bốn] sẽ trở nên một thân xác”.

 

(17) Các sinh viên của thế kỷ 20 xem ra khó nắm được điểm sự kiện tiềm ẩn trong phiên bản của Mátthêu về hậu quả ngoại tình. Tại sao việc người chồng rẫy bỏ vợ lại làm nàng trở thành kẻ ngoại tình? Ta có thể tìm được câu trả lời có vẻ rõ ràng nhờ xem sét các chọn lựa người vợ bị rẫy bỏ thời Chúa Giêsu có thể có. Không chọn lựa nào trong số ấy hấp dẫn cả. Nàng có thể trở thành đầy tớ cho một ai đó (và do đó tương đương như nô lệ). Nàng có thể trở về nhà cha mình, hay nhà anh em trai của nàng nếu cha nàng đã qua đời, và sống tại đó trong thân phận khó xử gần như góa bụa. Hay nàng có thể trở thành gái điếm (và phạm tội ngoại tình như Chúa Giêsu đã cảnh cáo?). Nếu đó là điều, theo Mátthêu, Chúa Giêsu có ý nói đến, thì hẳn ông cũng muốn Ngài nói rằng các hậu quả đáng buồn ấy sẽ không có nếu anh ta xua đuổi nàng vì nàng có điều pornéia, bất luận cái tác phong tính dục không đẹp ấy có nghĩa gì. Không phải vì người chồng, khi làm thế, đã đẩy vợ tới tác phong sống như gái điếm, nhưng vì điều pornéia kia, khi xẩy ra trong thời gian sống chung với nhau như vợ chồng, đã giữ cho việc anh ta xua đuổi vợ không biến nàng thành gái điếm dù nàng có rơi xuống thân phận ấy. Nói tóm lại, nàng đã trở thành gái điếm rồi.

 

Lối giải thích này có vẻ gượng ép. Nhưng nó đã được đưa ra làm yếu tố  giải nghĩa điều  pornéia nơi người vợ xẩy ra trong thời gian hôn nhân, nghĩa là để chỉ sự ngoại tình. Có lẽ lối giải thích hiện đại vừa chính xác hơn vừa đơn giản hơn, cho rằng Chúa Giêsu nhìn nhận điều thực sự đang xẩy ra trong dân chúng, nghĩa là phần nhiều, nếu không muốn nói là hầu hết các bà vợ bị xua đuổi ấy đều tái hôn, và họ làm thế là vì đó là giải pháp đỡ đau lòng nhất đối với họ. Tuy nhiên, Ngài vẫn coi cuộc hôn nhân thứ hai của họ là ngoại tình, và người chồng từng xua đuổi các bà vợ ấy chính là những người hợp tác chủ chốt vào việc ngoại tình ấy.

 

Hay lối giải thích đơn giản hơn cả có thể là: câu “…là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình” không phải là lời của Chúa Giêsu nói mà là do Mátthêu thêm vào. Trong bốn phiên bản Nhất Lãm thuật lại giáo huấn của Chúa Giêsu, chỉ có Mt 5:31 có câu đó. Ngay phiên bản có tính trình thuật của ông ở chương 19 cũng không có câu này.

 

(18) Câu phán cuối cùng này giống hệt phiên bản về nó trong Bài Giảng Trên Núi. Nhưng nó lược bỏ mệnh đề thứ hai, có tính cân bằng hóa, trong giáo huấn Trên Núi: “… và ai cưới người đàn bà bị rẫy cũng phạm tội ngoại tình”.

 

(19) Hai lý do mạnh nhất khiến ta kết luận rằng chính soạn giả phúc âm Mátthêu đã tạo ra và thêm câu này vào là: thứ nhất, câu ấy không có cả trong Máccô lẫn Luca, còn thánh Phaolô thì không lưu ý gì tới phần ‘ngoại trừ’ được đưa ra trong câu ấy. Thứ hai, soạn giả phúc âm Mátthêu thường có thói quen thêm lời của mình vào các lời Chúa Giêsu phán. Ông thêm vào hai lời cầu xin nữa trong Kinh lạy Cha ở 6:10b, 13b (so sánh với Luca 11:2-4). Ông cũng thêm một, hai mối nữa vào các Mối Phúc Thật ở 5:3a, 6a (so sánh với Luca 6:20b-21). Ngoài ra ông còn mở rộng lời thánh Phêrô tuyên xưng tư cách đấng được Xức Dầu của Chúa Kitô và thêm vào lời Chúa Giêsu trả lời cho thánh Phêrô, ở 16:16-19 (so sánh với Máccô 8:29). Ta cũng hãy so sánh Mt 13:12b với Mc 4:25 và Luca 8:18; Mátthêu 25:29 với Luca 14:26.

 

(20) Hạn từ pornéia lẽ dĩ nhiên cũng xuất hiện ở nơi khác trong Tân Ước. Nó ám chỉ loạn luân tại 1Cor 5:1; chỉ đĩ điếm hay đi thăm đĩ tại 1Cor 6:13; chỉ tác phong dâm dật nói chung tại 2Cor, Cl 3:5 và Eph 5:3. Tại Cv 15:20, 29, hình như nó ám chỉ đến cuộc hôn nhân hay giao hợp tính dục với họ hàng gần, có lẽ ở cấp hay đời được Lv 18 nhắc đến. Mátthêu chỉ sử dụng nó một lần nữa tại 15:19, trong đó, ông liệt kê nó cùng lúc với các hành vi xấu xa khác như sát nhân và ngoại tình. Hiển nhiên, đây là một hạn từ chỉ chung bất cứ hành vi tính dục lăng loàn nào của một trong hai người phối ngẫu.

 

(21) Sách Dã Dẫn, các trang 17-18

(22) Sách Đã Dẫn, các trang 213-223

 

(23) Strack và Billerbeck (trong Deutsches Worterbuch Zur Neutestamentlichen Wissenschaft Aus Talmud Und Midrasch, I,806) trích dẫn Talmud rằng hoạn quan cũng giống như người đàn bà hiếm muộn: bà ấy trở thành hiếm muộn do bàn tay Thiên Chúa thế nào, thì anh ta cũng thế. Số phận không may phải làm hoạn quan chính là nỗi khổ lập gia đình mà không có con cái này.

 

(24) Trong phiên bản Máccô về cuộc đụng độ với Biệt Phái, Chúa Giêsu hành xử ra sao thì ở đây Ngài cũng thách thức luật Do Thái một cách nghiêm chỉnh như thế. Vì nếu dạy rằng người chồng phải tiếp tục sống với người vợ không sinh con và hiếm muộn, không được rẫy bỏ nàng  dù là sau 10 năm, theo quan điểm của Jebamoth (6:6) là chống lại chính lề luật.

Tác giả: Vũ Văn An
   dunglac@gmail.com