Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Vũ Văn An
Bài Viết Của
Vũ Văn An
Antonio Rosmini, người của đức tin, lý trí và trái tim
Chiến dịch đem người Công Giáo trở về
Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II
Vatican và vấn đề tài liệu
Bốn Mươi Năm Sự Sống Con Người
Thờ Phượng Đích Thực Trong Tư Tưởng Thánh Phaolô
Gia Đình và Sự Sống
Khủng Hoảng Hôn Nhân và Gia Đình
Gia Tô Bí Lục Tân Thời
Thần học và thực hành mục vụ trong các thư của Thánh Phaolô
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa
Tính đáng tin cậy của Bộ Thánh Kinh
Kính Mừng Maria
Cầu nguyện theo lối chiêm niệm
Li dị và tái hôn trong các Phúc âm nhất lãm
Các nhà truyền giáo và kỹ nghệ tình dục
Từ Sydney tới Paris
Lộ Đức, sự hiện diện mênh mông của Mẹ
Bản Thể, Bản Tính
Thánh Phaolô, Nhà Truyền Giáo Vĩ Đại
Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
Cùng đi với Thánh Phaolô
Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội
Đức Bênêđíctô XVI: từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới hành trình đức tin trẻ em
CẦU NGUYỆN THEO LỐI CHIÊM NIỆM


Nhiều người cho rằng lối cầu nguyện chiêm niệm chỉ dành cho các vị đan sĩ là những người ‘hành nghề cầu nguyện’ cho thiên hạ. Tuy nhiên, khi đề tựa cho cuốn sách mỏng của linh mục James Borst MHM tựa là Một Phương Pháp Cầu Nguyện Chiêm Niệm (A Methode of Contemplative Prayer, St Paul Publications, Sydney 1983), Swami Abhishiktananda cho hay tác giả bận bịu với công tác mục vụ đến độ không còn một phút giây rảnh rang nào. Ấy thế nhưng ngài vẫn tìm ra giờ để cầu nguyện, hân hoan để cầu nguyện và ngài muốn chia sẻ kinh nghiệm hân hoan này cho người khác. Theo cha Borst, lối cầu nguyện này là lối cầu nguyện có tính bản thân nhất, trong đó ta phải đem trọn cái bản ngã sâu thẳm nhất và chân thật nhất của ta can dự vào. Ngài cho rằng lối cầu nguyện này biến ta thành khách lữ hành của Chúa Thánh Thần, luôn di động, luôn thèm khát vươn tới Thánh Nhan Chúa.

1. Các giai đoạn của chiêm niệm
Cha Borst cho rằng có nhiều giai đoạn trong lối cầu nguyện chiêm niệm, mà tùy theo hoàn cảnh hay nhu cầu bản thân, ta có thể dừng lại hay ở hẳn lại một giai đoạn nào đó. Tuy nhiên, các giai đoạn đầu thường được coi là các giai đoạn dọn đường cho giai đoạn chiêm niệm đúng nghĩa, là giai đoạn mà vì hoàn cảnh cá nhân, có thể ta không thực hiện được mọi lúc.
(1) Giai đoạn thư dãn và thinh lặng
Bạn hãy ngồi xuống và thư dãn. Từ từ và cố ý để mọi căng thẳng tan biến đi, rồi nhẹ nhàng êm đềm hướng lòng mình ý thức được sự hiện diện tức khắc và thân thiết của Chúa. Trong động tác này, đừng dùng chút bạo lực nào: không được đè nén, dẹp bỏ bất cứ tính khí, cảm xúc, hay tâm tình buồn bực nào. Đè nén, dẹp bỏ là dùng bạo lực rồi và nó sẽ gia tăng căng thẳng chứ không ích lợi gì. Không, không nên làm thế, chỉ cần thư dãn và để mọi sự lắng xuống, tự tan biến đi, khi ta dần dần nhận ra sự hiện diện của Chúa.
Sở dĩ bạn có thể thư dãn và để mọi sự lắng xuống, tan biến đi được chính là vì Người đang hiện diện: nơi Người đã hiện diện thì chả còn gì đáng kể nữa, mọi sự nằm trong tay Người. Căng thẳng, lo âu xao xuyến, thất vọng buồn rầu, trước mặt Người, tất cả sẽ tan chẩy đi như tuyết gặp mặt trời vậy.
Chỉ cần tìm bình an và thinh lặng. Hãy để trí khôn, trái tim, ý chí và tình cảm bạn lắng xuống và thanh thản. Hãy để những cơn bão tố nội tâm lắng dịu: như các ý tưởng gây ám ảnh, các thúc đẩy đầy đam mê của ý chí và xúc cảm. Hãy tìm kiếm và mưu cầu bình an (1).
Hãy sẵn sàng, nếu cần, cứ ở mãi trong trạng thái này suốt buổi cầu nguyện, không cần bất cứ kết quả, hiệu lực hay phần thưởng gì hết. Nghĩa là sẵn sàng chịu ‘phí’ thì giờ; chỉ cần hiến thì giờ trọn vẹn, hiến một cách không vị kỷ, cho một mình Chúa mà thôi.
Động tác tìm kiếm bình an và thinh lặng này sẽ mở cửa lòng ta cho ơn thánh Chúa tuôn đổ xuống. Nó sẽ tạo điều kiện để tình yêu chân chính, tình yêu chân thực, tình yêu có tính bản thân đối với Chúa được đánh thức dậy trong tâm trí ta.
Hãy để ý: động tác này không phải là một biến cố trung lập, thuộc tâm lý học: nó là một động tác ta phó mình cho Chúa và chấp nhận thánh ý Người. Ta làm cho trái tim ta, ý chí và xúc cảm ta có khả năng thấm nhiễm được ơn bình an của Chúa và thánh ý Người hướng tới một tình yêu bất bạo động…
Nhiều người cảm thấy rằng lối thư dãn này, cộng với lối thở thanh thản nữa, thường làm cho họ ngủ thiếp đi: như thể lúc mệt mỏi để cho mình âm thầm đi vào giấc ngủ vậy. Thật ra ở đây, ta tìm cách thư dãn ngõ hầu tỉnh táo mà nhận ra sự hiện diện của Chúa, giống như người lính canh ở thinh lặng ngõ hầu có thể nhận ra sự hiện diện của người khác. Tâm trí, các thần kinh và xúc cảm của ta thinh lặng để trái tim ta sẵn sàng:
“Trái tim con sẵn sàng, Lạy Chúa, trái tim con đã sẵn sàng,
Con sẽ ca, vâng con sẽ ca hát tán tụng Ngài.
Chúa hãy đánh thức tâm hồn con: và con sẽ đánh thức bình minh bừng dậy” (2).
(2) Giai đoạn ý thức sự hiện diện của Người
Hãy ngồi thinh lặng và hoàn toàn mở lòng mình ra để nhận thức sự hiện diện của Người. Người đang hiện diện trong thần trí tôi, đang chăm chú tới sự nhận thức của tôi. Người đang ngự ngay giữa tâm điểm bản ngã chân thực của tôi, trong cốt lõi hữu thể tôi. Giờ đây tôi tìm cách nhận thức được điều ấy, nhưng một ngày không xa, Người sẽ thoả tình ban cho tôi sự nhận thức ấy.
Người ở gần bản ngã chân thực của tôi hơn là chính tôi (3). Người biết rõ tôi hơn là tôi tự biết mình. Người yêu tôi hơn chính tôi yêu mình. Người là “Abba”, là bố tôi. Tôi hiện hữu vì có Người hiện hữu.
Trong tấm gương hiện sinh tạo dựng, tôi là hình ảnh và là họa ảnh sống động của Người: khi tôi nhận thức, tôi phản ảnh nhận thức của Người; khi tôi yêu, tôi phản ảnh tình yêu của Người; khi tôi gọi Người, Người nghe tiếng tôi; khi tôi tìm kiếm sự hiện diện của Người, Người đánh thức để tôi nhận ra sự hiện diện ấy nơi Chúa Giêsu, nhờ Chúa Giêsu và với Chúa Giêsu. Người nói với tôi Lời Yêu Thương: “con là con trai Ta, con là con gái Ta, kẻ Ta yêu mến, kẻ Ta rất hài lòng”. Trong, nhờ và với Chúa Giêsu, Người đổ tràn Chúa Thánh Thần xuống, làm tôi kêu lên được “Abba, Lạy Cha!” Ngài làm tôi tràn đầy lời cám ơn và ca tụng đối với sự hiện diện của Người.
(3) Giai đoạn phó thác
Trước nhan thánh Người, ý thức được sự hiện diện của Người rồi, tôi phó thác mọi khía cạnh con người tôi cho Người; tôi trả lại Người chính bản thân tôi; tôi tìm cách rút lại việc tôi chiếm hữu tôi và tôi khẩn xin Người chiếm hữu lấy tôi để Người sống trong tôi và qua tôi, đến độ “tôi sống, nhưng không phải tôi sống mà là Người sống trong tôi” (4). Đôi tay, đôi cổ tay và đôi cánh tay tôi; đầu tôi, hai tai và các giác quan cùng óc não tôi; đôi chân và hai cẳng chân tôi; mỗi một và mọi thần kinh cùng bắp thịt, mạch máu và cơ quan tôi. Xin Người nhận lấy làm khí cụ bình an và biến nó thành của lễ tinh tuyền…
Tôi phó thác mọi ưu tư lo lắng; tôi trưởng thành trong việc nhận thức rằng nếu niềm tin và niềm cậy nơi Người của tôi chân thực, thì còn gì cơ sở để tôi lo âu căng thẳng; Người nhận săn sóc, trông nom con cái Người. Nên, tôi để mọi sự đang làm tôi bận tâm tan biến đi, trong một động tác đầy tin tưởng phó thác. Từ nay trở đi, tôi để Người dẫn tôi đi, từng bước lại từng bước.
Tôi phó thác trái tim, xúc cảm, tình yêu tôi. Trái tim tôi sẽ không yêu bằng tình yêu của nó nữa. "mọi người yêu, đều từ Chúa mà sinh ra và biết Người” (5). Chính Chúa Giêsu, qua Chúa Thánh Thần, yêu Cha của Người bằng hơi thở yêu đương ‘của tôi’. Không phải tôi yêu mà Người yêu trong tôi và qua tôi… Và tình yêu của Người thì thinh lặng, thanh thản, vô lường và trường cửu.
Tôi phó thác trọn nhân cách tôi, chứ không phải chỉ là xúc cảm. Tôi mò mẫm hướng về một tình yêu êm đềm; và qúa bên kia tư duy, tôi “hướng về nơi có người đang chờ, người mà tôi biết rõ đang hiện diện, nơi mà không ai khác có thể xuất hiện” (6).
Trọn lời cầu nguyện của tôi chỉ là: trong cõi thinh lặng này, Người hãy tuôn đổ Thần Trí của Người ra và bắt đầu sống và hiển trị trong tôi…Tôi phó mình tôi cho Chúa Giêsu, Đấng Cứu Rỗi của tôi, và nhận Người là Chúa của mình. Người từng cầu nguyện và chịu đau khổ để giải phóng tôi và đòi tôi làm của riêng của Người: Chúa hãy chiếm lấy con và mọi sự con có, và mặc tình làm gì con thì làm. Chúa muốn sai con đi đâu thì sai. Muốn dùng con thế nào thì dùng. Con xin tuyệt đối, hoàn toàn, vô điều kiện và mãi mãi phó thác mình con và mọi sự con đang chiếm hữu cho Chúa để Chúa mặc tình kiểm soát.
Giai đoạn này có thể biến thành lời khẩn cầu tha thiết xin Chúa Thánh Thần đổ tràn các ơn của Người xuống cho ta để ta phủ phê nhận thức được sự hiện diện và ơn bình an của Người. Và lời khẩn cầu này luôn đi đôi với niềm tin rằng Người đã nhận lời khẩn cầu của ta rồi (7).
(4) Giai đoạn chấp nhận
Nhiều phản ứng ‘tự nhiên’ của ta chỉ là các phát biểu và cử chỉ không chấp nhận, là nổi loạn, là trốn chạy khỏi thực tại, là dẹp bỏ đè nén; là tức giận bùng lên; là nôn nóng ám lấy mình như qủy ám; là giận ghét và phẫn uất làm tâm hồn mình ra chai đá; là ghét bỏ can thiệp pha mình. Dù không phải lúc nào cũng nhận thức được, nhưng ta thường hay từ khước không chấp nhận những con người, những biến cố, những hoàn cảnh, những điều kiện, và cả chính bản thân ta, như Chúa đã muốn chúng xẩy ra cho ta, thậm chí còn chấp nhận cho ta nữa. Trong cầu nguyện, ta cảm nhận việc không chấp nhận thánh ý của Người trong các hoàn cảnh cụ thể là một hàng rào, một vật chặn đường không cho ta đến với Chúa. Vì ý của Người là muốn ta chấp nhận những con người, những hoàn cảnh và những biến cố như trong bản chất của chúng và như chúng đang xuất hiện với ta. Người muốn ta đừng bao giờ tìm cách ảnh hưởng người khác và các biến cố nói chung bằng bạo lực trái tim. Trái lại phải giúp họ cảm nhận được sức mạnh của yêu thương và tha thứ, của đau khổ, của chấp nhận và biết ơn. Trong cuộc sống hàng ngày, thái độ trên bao gồm: không bao giờ kết án, tranh cãi, chỉ trích, không bao giờ dùng bạo lực, chỉ nên chăm lo chu toàn nhiệm vụ của mình.
Thành thử ra, trong việc cầu nguyện, tôi phải ý thức được các hàng rào thực sự ngăn cản tôi không biết chấp nhận. Tôi phải nhìn vào mỗi hàng rào cản ấy và tự ý chấp nhận Ý Chúa về phương diện này. Tôi thu hồi các phán đoán chỉ biết lấy mình làm trung tâm và có tính kết án; tôi thu hồi các lời chỉ trích của mình. Tôi ân hận về tính ưa bạo lực của mình trong tư tưởng, trong lời nói và việc làm, tôi can đảm nhẩy vào đức tin và đức mến; khi hướng trái tim tôi về Người, Người sẽ khiến mỗi sự và mọi sự góp phần vào phúc lợi thực sự của tôi (8).
Trên thực tế, chấp nhận thánh ý Người đồng nghĩa với chấp nhận sự hướng dẫn của Người, chấp nhận Người là Chúa, Đấng dẫn dắt tôi từng bước băng qua các hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống hàng ngày. Qua thánh ý Người dành cho tôi, Người hướng dẫn và dẫn dắt tôi tới nước của Người. Nước của Người chỉ xuất hiện và tiến triển tại nơi nào thánh ý của Người được chấp nhận và đem ra thực hành.
Nên tôi xin từ bỏ ý riêng của tôi và cố gắng nhận ra thánh ý của Người. Tư tưởng và kế hoạch riêng của tôi phải mất đi hết tính cưỡng bức của chúng khi tôi tìm xem kế hoạch của Người đang tỏ hiện ra sao để cố gắng bước chân theo các khuôn thước của Người.
(5) Giai đoạn thống hối và tha thứ
(a) Khi bước vào lối cầu nguyện này, ta có thể nặng trĩu một cảm thức tội lỗi và thất bại. Đó có thể là một cảm thức tổng quát về tình trạng tôi lỗi và bất xứng của ta nói chung, mà cũng có thể là tình trạng nóng hổi của một tội lỗi mới xẩy ra. Ta phải đối diện với loại rào cản này trong một tinh thần thống hối chân chính và khiêm nhường thực sự. Ta xưng thú tội lỗi ta và các thiếu sót của ta, ta xin Người tha thứ và cảm tạ Người đã nhận lời ta cầu khẩn. Rồi ta phải gặp gỡ Chúa trong con người thực của mình: một kẻ tội lỗi, một kẻ khuyết tật và tàn tật về phương diện thiêng liêng trong nhiều khía cạnh, một bệnh nhân kinh niên. Ta chấp nhận các khuyết tật và tàn tật này vì ta như thế nào Người đã chấp nhận ta như thế và vì ta có thế nào, Người yêu ta như vậy.
Ta không được phép nuôi dưỡng mặc cảm tội lỗi; trái lại phải hoàn toàn và trọn vẹn chấp nhận sự tha thứ và tình yêu của Người. Mặc cảm tội lỗi và mặc cảm tự ti trước mặt Chúa chỉ nói lên lòng vị kỷ, lấy mình làm tâm điểm: ta coi trọng cái tôi nhỏ bé tội lỗi của mình hơn tình yêu mênh mông và không cùng của Người. Ta phải trao phó tội lỗi và tự ti của ta cho Người; lòng tốt của người lớn hơn cái xấu của ta. Ta phải chấp nhận cái vui của Người khi yêu thương và tha thứ cho ta. Trao tội lỗi của ta cho lượng từ bi của Người quả là một ơn thánh có tính chữa lành.
Ta có thể dành chút thì giờ lâu hơn để những tâm tình trên lắng sâu vào ý thức mình.
(b) Khi không thể cầu nguyện vì một lý do không chính xác rõ rệt nào, ngoài cảm thức bất ổn và bất xứng, sách Đám Mây Vô Minh (The Cloud of Unknowing) nói với ta như sau:
“Vì mọi sự ác đều tóm tắt trong tội, bất kể xét cách nông cạn hay trong yếu tính, nên khi cầu nguyện với ý định cởi bỏ sự ác, ta đừng nên nói, nghĩ hay hiểu điều gì khác hơn là cái chữ “tội” nho nhỏ ấy… Bạn nên làm đầy tâm trí bạn bằng cái nghĩa bên trong của chữ “tội” đơn giản này, khỏi cần phải phân tích nó thuộc loại nào, tội nhẹ hay tội nặng, tội kiêu ngạo, tội giận dữ, tội ghen ghét, tội hà tiện, tội lười biếng, tội mê ăn uống hay tội mê sắc dục. Đối với người chiêm niệm, đâu cần nó phải là tội gì và nặng nhẹ ra sao? Vì khi chiêm niệm, họ phải nghĩ rằng tội nào tự nó cũng đều nặng cả, cũng đều phân cách họ với Chúa, và ngăn cản họ không được bình an tâm linh.
“Bạn hãy cảm nhận tội trong tính toàn diện của nó, như một khối nặng, không nên chỉ rõ bất cứ phần đặc thù nào, mà ý thức rằng toàn bộ cái khối nặng đó chính là bạn. Rồi không ngừng la lớn lên trong tâm trí bạn câu này: ‘Tội! Tội! Tội! Xin giúp con! Xin giúp con! Xin giúp con!’. Tiếng la này ta học được từ Chúa bằng kinh nghiệm hơn là từ bất cứ con người nào bằng lời nói. Tiếng la ấy sẽ tốt nhất khi nó hoàn toàn tâm linh, không được suy tính trước và không được phát thành tiếng. Tuy nhiên, đôi khi trái tim quá ăn năn cũng có thể bật thành lời vì cả thân xác lẫn linh hồn thẩy đều đầy ứ hối hận và nặng trĩu tội lỗi” (9).
Ta cũng có thể kêu lên nhiều lần “Lạy Chúa, xin xót thương con!” hay “Lạy Chúa Giêsu, xin tha thứ tội lỗi cho con!” cho đến lúc Người ban cho ta ơn ăn năn và làm tan trong ta cái khối nặng của tội lỗi kia.
(6) Giai đoạn chiêm niệm
Đến lúc này bạn hẳn đã loại hết các trở ngại trong tâm hồn, mọi suy tư trong tâm trí, mọi chao đảo trong ý chí: giờ đây “tôi chỉ còn khát khao Người, tôi chỉ còn tìm kiếm Người và chỉ một mình Người mà thôi” (chương 7).
“Chỉ cần tôi cảm nhận được là mình đang được đánh động yêu thương…và trong cái triều sóng nội tâm này, tôi không nghĩ tới bất cứ điều gì khác ngoài Chúa ra. Mọi khao khát của tôi đều nhất loạt hướng về Người” (chương 34).
“Tôi nâng tâm hồn lên cùng Chúa với một tình yêu khiêm cung. Và phải là chính Chúa, Đấng đã dựng nên tôi, nuôi sống tôi, và sủng ái mời gọi tôi, chứ không phải một cái gì từ Chúa mà đến. Thực vậy, tôi không thích nghĩ tới bất cứ điều gì ngoài Chúa ra, đến độ không gì có thể chiếm cứ tâm trí và ý chí tôi, mà chỉ là Chúa thôi… Tôi không nghĩ bất cứ ý nghĩ nào khác về Người, ngoài ý nghĩ Người đang hiện diện, tuy không rõ ràng nhưng rất hiển vinh. Tất cả đều tùy thuộc lòng thèm khát của tôi: tôi hướng mọi ý định nguyên tuyền về Người, và về một mình Người mà thôi” (chương 3 và 7) (10).
Tôi hướng hoàn toàn con người tôi về Chúa. Tôi không ngừng nhìn ngắm Người. Sự hiện diện của Người giờ đây trở thành hiện thực hơn đối với tôi. Người hút hết cái nhìn nội tâm của tôi. Con mắt linh hồn tôi chỉ biết yêu thương nhìn Người chăm chăm. Lời cầu nguyện của tôi nguyên tuyền chỉ còn là một ý thức đầy yêu thương về Người. “Tôi nhìn vì tôi yêu; tôi nhìn để yêu, và tình yêu của tôi được cái nhìn ấy nuôi dưỡng và ảnh hưởng” (11).
“Khi không còn ai trước mắt, khi toàn diện căn nhà của tôi im ắng, không bị ai dòm ngó, khi toàn diện căn nhà của tôi yên ngủ im lặng” (12), tôi sẽ rướn người lên với Chúa trong yêu thương. Đương khi đang thinh lặng và hiện hữu với ý thức thanh thản và đơn giản về sự hiện diện của Người, trái tim tôi mò tìm Người và mở ra đón nhận tình yêu của Người. Đây là một lời cầu nguyện không lời được nuôi dưỡng bằng một lòng sốt sắng thinh lặng. “Ta chỉ bắt và giữ được Người bằng tình yêu, chứ không bao giờ bằng tư duy” (13). Có một thứ bóng tối mà tư tưởng và nhận thức phân minh không làm sao phá tan được, mà chỉ có thứ tình yêu chờ mong mới “đánh tan được đám mây vô minh giữa bạn và Chúa” (14):
“Vào một đêm may mắn ấy
trong bí nhiệm, không ai dò thấy,
tôi đi không nhận ra,
không một chút ánh sáng nào
ngoài ngọn lửa đang bùng cháy trong tim.
Nó chiếu sáng và dẫn tôi đi
chắc chắn hơn ánh sáng giữa trưa
tới nơi có Đấng đang chờ
sự hiện diện của Người tôi biết rõ
ở nơi không ai khác có thể xuất hiện (15).
Ta có thể dùng mấy câu trên làm lời cầu nguyện lặp đi lặp lại, theo nhịp thở của ta.
(7) Giai đoạn tiếp nhận
Chúa luôn đáp ứng. Người không thể từ chối người đi tìm trong đức tin và đức mến. “Tìm thì luôn luôn sẽ thấy” trở thành “tìm thì sẽ luôn luôn được tìm thấy”. Người tìm ta trước khi ta tìm Người, đang khi ta tìm Người và sau khi ta tìm Người. “Ta đã yêu con bằng một tình yêu đời đời, nên ta bền đỗ trong tình âu yếm đối với con” Đó là lời Chúa phán (16).
Thế nào Người cũng trả lời. Người hướng về tôi. Người tìm kiếm tôi. Người bồn chồn muốn xâm lấn tâm trí tôi. Người muốn Thần Trí Người chiếm hữu tôi. Tôi ngụp lặn trong tình yêu ấm áp của Người. Tôi cảm thấy Người nhìn tôi say đắm. Chúa Giêsu, Đức Chúa của tôi, chỉ những muốn chiếm hữu trái tim tôi và dùng trái tim ấy mà yêu Chúa Cha, và toả chiếu tình yêu của Người ra.
“Ai yêu mến Ta cũng sẽ được Cha Ta yêu mến, và Ta sẽ yêu mến người ấy và tỏ mình ra cho người ấy…Và chúng ta sẽ đến và cư ngụ trong người ấy”. Đó chính là lời Chúa phán (17).
“Bản thân chúng tôi biết và tin vào tình Chúa yêu chúng tôi. Thiên Chúa là tình yêu. Và ai sống trong tình yêu là sống trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa sống trong người ấy” (18).
Người tràn đầy tâm hồn ta bằng sự hiện diện của Người, bằng Thần Trí của Người. Ta chỉ nhận ra Người nhờ đức tin, hay nhờ cảm nghiệm ơn thánh của Người.
Sự hiện diện của Người mang lại cho ta sự bình an sâu sắc thiêng liêng, sự dự phần vào việc nghỉ ngơi ‘ngày thứ bẩy’ của Người, sự thanh thản lớn lao, khả năng biết chấp nhận và biết đau khổ, cất bỏ được thất vọng, bùng lên hân hoan và yêu thương, nhận được ánh sáng chan hòa, bừng lên ý muốn mạnh mẽ được ca ngợi và cảm tạ Người.
Và nếu Người muốn, sự hiện diện của Người còn mang lại sức mạnh để ta phục vụ Người và công bố về Người, làm chứng nhân cho Nước của Người, đem chữa lành nhân danh Người tới người khác, đem bình an và hợp nhất cho mọi người thiện chí.
(8) Giai đoạn khẩn cầu
Khẩn cầu là một nhu cầu luôn luôn có. Chúa Giêsu tiếp tục cứu rỗi ta qua lời khẩn cầu không bao giờ đứt đoạn (19). Một cách nào đó, Người cũng cần dùng trái tim của ta để làm việc khẩn cầu ấy. Quả đúng, ta đi tìm Người Cho chứ đâu có đi tìm của cho, nhưng Người Cho đây lại đang tìm cách cứu dân của Người. Qua Thánh Thần của Người trong ta, Người quan tâm tới tất cả những ai thuộc về dân của Người; Người muốn khẩn cầu và chịu đau khổ trong chúng ta.
Ta phải khẩn cầu và không bao giờ ngã lòng (20), khẩn cầu với một lòng tin đơn sơ và đầy trông cậy. Người từng hứa: hãy xin thì sẽ được (21). Ta phải học cách cầu nguyện với niềm tin rằng Người đã ban cho ta điều ta xin rồi, như chính Người thường thúc giục ta cầu nguyện: Đối với mọi điều chúng con xin và cầu nguyện cho, hãy tin rằng chúng con đã nhận được rồi và sẽ là của chúng con” (22).
Ta cầu nguyện theo Ý của Người (23), cầu nguyện cho nước của Người trong ta và trong người khác. Lạy Chúa, xin dạy con cách cầu nguyện; Ý Chúa thể hiện trong đời con và trong đời người khác; Lạy Chúa, xin ban bình an cho…; xin giúp… trong các nhu cầu của họ. Lạy Chúa, xin làm … biết Ý Chúa.
(9) Giai đoạn ca ngợi và cảm tạ
Chúa Giêsu luôn cảm tạ và ca ngợi Cha của Người và dạy các môn đệ làm như thế.
Kinh nguyện Thánh Thể đúng là lời cầu nguyện ca ngợi, cảm tạ và khẩn cấu ấy. Khi Người làm ta nhận ra sự hiện diện của Người hay đánh động ta bằng Thánh Thần của Người, làm ta tràn đầy ơn thánh và bình an, ta nên cảm tạ và ca ngợi Người một cách tự phát.
Ước chi đến lúc ta còn cảm tạ Người vì đã cho ta được chia sẻ nỗi cô đơn và đau đớn của Chúa Giêsu, chỉ vì ý Người đang được thể hiện trong ta…

2. Hai cách trợ giúp lối cầu nguyện chiêm niệm
Làm cách nào chống chọi được chia trí? Đó là câu hỏi thường được đặt ra hơn cả. Chia trí, hay các ý tưởng lởn vởn, vì thế là một vấn đề lớn. Chúng có thể làm ta không thư dãn, không để cho các căng thẳng biến đi được và do đó không thể phó thác cho Chúa được, hay làm ta mệt mỏi cả thể xác lẫn tinh thần. Điều đầu tiên cần làm là chấp nhận trọn vẹn sự yếu đuối này và nhớ rằng lối cầu nguyện này là vì Người chứ không vì bất cứ lợi lộc nào cho ta cả: cho nên phải sẵn sàng phí cái phần thời giờ này như một ‘hiến tế’ đổ ra vì Người. Xét một cách nào đó, thì cảm thức thất bại cũng nằm ngay trong yếu tính của lối cầu nguyện này, vì nhờ nó, ta học được cách trở nên bất vụ lợi thực sự; ta tìm sự hiện diện của Người và yêu mến Người ngay cả khi Người dấu mặt, ngay cả khi ta không nhận ra sự hiện diện ấy.
Điều ấy đúng nếu hiểu thất bại theo nghĩa tổng quát hơn của nó: “Sự bất toàn và cả tội lỗi nữa cũng giúp ta khiêm nhường, một điều kiện rất cần cho cầu nguyện, đến độ chúng được coi như trợ giúp chứ không phải cản trở. Cảm thấy mình hoàn toàn bị đè bẹp, bị hủy tiêu, không có khả năng làm điều tốt nào, hoàn toàn lệ thuộc vào lòng thương xót vô lượng của Chúa là chuẩn bị tốt nhất và duy nhất để ta cầu nguyện. Có nghĩa là ta phải hoàn toàn tin tưởng và hân hoan được là không, vì Chúa là tất cả, điều này sẽ mang lại bình an duy nhất, bình an đích thực (24).
Sau đây là hai cách thế đặc biệt giúp ta giảm thiểu chia trí và duy trì chú tâm của ta vào sự hiện diện của Người một cách cao độ nhất (25).
(1) Thở nhịp nhàng
Căng thẳng, lo lắng hay phấn khích tất cả đều khiến hơi thở của ta thành ngắn và cạn. Mặt khác, nếu ta cố ý thở, thở chậm và đều đặn (nhịp nhàng) hơn, thì căng thẳng sẽ dịu đi, khiến ta thư dãn hơn, có được cảm thức bình an và thanh thản nhiều hơn.
Bởi thế, khi cầu nguyện, ta nên cố gắng hít vào thở ra một cách chầm chậm, thật sâu và một cách có ý thức,cùng nhịp với mạch máu hay nhịp đập của trái tim. Nói chính xác hơn, bạn hãy hít vào bằng mũi, vừa hít vừa đếm nhẩm 1,2,3,4,5…cho tới khoảng 6, nghĩa là bằng khoảng vận tốc của nhịp tim, nín một lúc (vào khoảng vài cái đếm) rồi thở ra cùng một cách như lúc hít vào nghĩa là có kiểm soát và chầm chậm. Khi đã thở ra hết, nên nín hít vào ngay (chừng vài cái đếm). Bạn cũng nên thực tập lối hít thở này ở những thời điểm khác như lúc đang đi bộ, đang ngồi im lặng hay đang nằm.
Khởi đầu còn cần phải chú ý và kiểm soát, nhưng dần dần, việc ấy sẽ trở thành thói quen và bạn sẽ làm việc ấy một cách tự động, không cần phải suy nghĩ gì cả. Cha Hoffman từng viết về việc này như sau:
“Dù không do ý muốn mình mà có được việc cầu nguyện chiêm niệm, nhưng ta có cách dọn mình cho lối cầu nguyện ấy. Những cách này phải do mỗi người tự khám phá ra. Thánh Gioan Thánh Giá nhắc đến sự kiện có những nơi thuận tiện cho việc cầu nguyện hơn những nơi khác. Cũng vậy, có một kỹ thuật của Phương Đông, nhưng khá thích hợp cho Phương Tây. Đó là phương pháp thở chậm và sâu trong lúc cầu nguyện, trong đó có việc nín hơi lúc sắp thở ra (26). Phương pháp này có hiệu quả không những giúp bản ngã tâm lý ta thanh thản mà còn đem lại cho các cảm nhận nội tâm cũng như các suy tư của lý trí một cái gì đó để bận bịu… Dĩ nhiên, chỉ nên dùng phương pháp này nếu thấy hữu ích. Còn nếu không cần, thì thôi, vì nó có thể gây chia trí. Nhiều người sợ phương pháp này dễ đưa mình vào giấc ngủ. Tuy nhiên, nếu đời sống thiêng liêng đã chín mùi để có thể áp dụng được lối cầu nguyện này, thì nói chung, ít sợ việc này xẩy ra (27).
(2) Những lời cầu nguyện lặp đi lặp lại
Những lời cầu nguyện được lặp đi lặp lại đi song song với việc thanh thản hít thở nhịp nhàng kiểu trên sẽ giúp ích rất nhiều. Ta có thể đọc các lời của kinh ấy (đọc nhẩm trên môi hay đọc nhẩm trong óc) lúc hít vào hay lúc thở ra, hay cả hai lúc. Để ăn nhịp với hơi thở nhịp nhàng của ta, lời kinh nên có vần có điệu thích đáng.
Về phương diện này, lời Kinh Lạy Chúa Giêsu (Jesus Prayer) là thích hợp hơn cả: kinh này hệ ở việc lặp đi lặp lại tên cực thánh Chúa Giêsu: Lạy Chúa Giêsu, Lạy Chúa Giêsu, Lạy Chúa Giêsu… hay lặp đi lặp lại cả câu: Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống, xin thương xót con, là kẻ tội lỗi. Đọc nhịp nhàng theo nhịp thở chậm, sâu, cố ý của mình, nhiều lần như thế, trong khi tâm trí ta luôn hướng về sự hiện diện của Chúa (28).
Ta cũng có thể sử dụng các lời khác để lặp đi lặp lại như "Với Chúa, trên thánh giá, con không sống, mà Chúa sống trong con” hay “tình Chúa trong giọng con nói, tình Chúa trong im lặng con”… Thực vậy, ta có thể tạo ra các lời cầu nguyện tương tự như thế miễn là chúng nói lên được điều ta muốn nói và có vần có điệu thích hợp để có thể đọc theo nhịp thở đều đặn của mình. Bất kể đó là lời cầu nguyện phó thác, lời cầu nguyện vâng theo, lơì cầu nguyện tỏ lòng yêu mến, lời cầu nguyện ca ngợi hay lời cầu nguyện tạ ơn.
Ta cũng có thể lặp đi lặp lại theo cách trên từng phần của Kinh Lạy Cha: hoặc chỉ ngắn gọn “Abba, Lạy Cha!” hoặc thêm một lời cầu xin như “Abba, lạy Cha, xin cho danh Cha cả sáng”, hoặc đọc cả phần đầu trong lúc thở ra một cách chầm chậm, thật lâu và thanh thản: “Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất, cũng như trên trời”…
Sau cùng, nếu ta không muốn dùng các lời như trên nữa, ta có thể dùng Kinh Mân Côi, vừa âm thầm lần hột vừa đọc các kinh Kính Mừng một cách nhẹ và nhịp nhàng theo hơi thở đồng thời suy niệm các mầu nhiệm về Chúa và Đức Mẹ…Nhiều người đã nhận ra sự ích lợi to lớn của lối đọc Kinh Mân Côi như thế.
Ghi chú
24. Dom John Chapman, Thư Thiêng Liêng (Spiritual Letters, Sheed & Ward,
London, tr.293).
25. “Chia trí có hai loại (a) chia trí thông thường như thứ chia trí trong lúc nguyện gẫm làm người ta không còn nguyện gẫm gì được; (b) chỉ có trí tưởng tượng là lang thang vẩn vơ cách vô hại mà thôi, trong khi ấy trí khôn ta lười lĩnh và trống rỗng, nhưng ý chí ta vẫn bám chặt lấy Chúa. Loại chia trí thứ hai này vô hại. Dù loại này có hiện diện suốt buổi đi chăng nữa, việc cầu nguyện của ta vẫn tốt. Đôi khi còn tốt hơn là đàng khác. Ý ta và Ý Chúa vẫn kết hợp làm một; dù ta cảm thấy không hài lòng chút nào” (Dom John Chapman, sách đã dẫn, tr. 290).
Ở đây, ta đặc biệt để ý tới việc trí tưởng tượng lang thang “vô hại” trong khi trái tim và ý chí ta vẫn vươn lên cùng Chúa và bám chặt vào Người. Trí tưởng tượng như thế cũng giống như con chó cưng (pet dog) của ta có mặt trong phòng vậy: ta muốn nó đứng yên một chỗ trong giây lát, nhưng nó cứ tha thẩn chung quanh. Hai trợ giúp vừa trình bầy, tức việc thở nhịp nhàng và các lời kinh lặp đi lặp lại, giống như hai sợi dây xích chó khiến trí tưởng tượng của ta không quá tha thẩn và tha thẩn quá xa!
26. J.-N. Dechanet OSB, Yoga Kitô Giáo (Christian Yoga), Harper and Row,
New York, được Dominic Hoffman OP trích dẫn ở tr.217, xem ghi chú số 27: “Thêm vào ba giai đoạn thở này như đã nhắc ở trên (hít vào, nín hơi và thở ra), bạn sẽ tự động thêm giai đoạn bốn, tức nín thở trong lúc phổi rỗng hơi. Việc này rất giúp ích cho chiêm niệm…”
27. Dominic Hoffman OP, Đời Sống Nội Tâm: Việc Cầu Nguyện Hợp Nhất (The Life Within: The Prayer of
Union)Sheed & Ward, New York, 1966, tr.217.
28. Kinh Lạy Chúa Giêsu được mô tả chi tiết trong Con Đường Của Người Hành Hương (The Way of the Pilgrim), do R.M. French dịch từ tiếng Nga qua tiếng Anh, Seabury Press,
New York, 1970. Jean Guillard cũng nói về nó trong một phụ chương cho cuốn Yoga Kitô Giáo của Cha Dechanet dưới đầu đề: Mấy dòng về Lời Kinh Của Trái Tim. Swami Abhishiktananda, trong cuốn Cầu Nguyện (Prayer) của ông do ISPCK, Delhi xuất bản năm 1972 cũng đã đề cập tới Kinh Lạy Chúa Giêsu này trong chương “Kinh Kính Tên”. Tác giả này cũng cho rằng lời kinh vắn vỏi, do chính Chúa Giêsu đặt lời, tức Kinh Abba, Lạy Cha!là kinh tốt nhất để ta bước vào sự sống của Chúa Ba Ngôi Chí Thánh. Cần ghi nhận rằng Kinh Lạy Chúa Giêsu có phạm vi áp dụng vượt quá cả quan tâm hiện nay của ta, tức lo dành một giờ mỗi ngày cho việc cầu nguyện chiêm niệm, vì nó nhằm tiến tới lối cầu nguyện liên lỉ để ta kết hợp nên một với Thiên Chúa.
3. Một số điểm thực tiễn của lối cầu nguyện chiêm niệm
Cầu nguyện ở đâu. Xin thưa: ở nơi ta được hoàn toàn tư riêng và ở một mình; nơi khó lòng ta bị phiền nhiễu; nơi yên tĩnh, không ồn ào. Chúa Giêsu vốn bảo ta: “Khi cầu nguyện, các con hãy vào phòng riêng và sau khi đóng cửa, hãy cầu nguyện cùng Cha các con, Đấng đang ngự nơi kín đáo đó” (29). Chính Người “cũng hay đi tới một nơi nào đó chỉ có một mình mình để cầu nguyện”(30). Có điều an ủi là, không phải lúc nào Người cũng làm được việc đó (31). Có nhiều người khác cùng ở nơi hay phòng ấy xem ra không thuận tiện cho lối cầu nguyện này, vì chính việc thấy có nhiều người khác cùng hiện diện có thể khiến ta chia trí rất nhiều và cản trở không cho ta thư dãn.
Lý tưởng nhất là trước Phép Bí Tích Cực Trọng, bí tích biểu tượng cho sự hiện diện của Người giữa chúng ta. Đây là điều Cha Voillaume khích lệ các môn đệ của cha thánh Charles de Foucauld. Nhưng phải nhận một điều nhiều nhà thờ và nhà nguyện ngày nay dễ chia trí và ồn áo quá.
Đức Hồng Y Lercaro tóm tắt như thế này: “Nếu có thể, thì tại nhà thờ hay tại phòng mình; tốt hơn nên tại phòng mình vì tại nhà thờ đôi khi ta bị mời thi hành một nhiệm vụ gì đó thuộc thừa tác vụ, hay bị lẽ này lẽ nọ làm cho phân tâm. Một nơi nào đó ngoài nhà cũng được. Nhưng xét chung, nơi chọn phải là nơi hy vọng ít bị chia trí hay gián đoạn nhất” (32).
Cầu nguyện bao lâu. Người ta hay nghĩ tới mỗi ngày một giờ trọn. Đối với nhiều luật dòng, đây là thì giờ truyền thống được ‘cố định’ cho việc cầu nguyện trong trí khôn. Thánh Phêrô thành Alcantara cho hay: “thời gian mà quá ngắn, thì không đủ để xua đuổi trí tưởng tượng và kiểm soát được trái tim; ngay lúc tưởng là đã sẵn sàng và bắt đầu được buổi cầu nguyện, thì đã phải ngưng lại” (33). Thực sự thì mỗi ngày một giờ cũng chỉ là 4 phần trăm thì giờ sống một ngày của ta mà thôi.Vả lại, thực hành này đem lại nhiều lợi ích hơn các thực hành khác rất nhiều vì nhờ nó, Thiên Chúa thay đổi và canh tân ta một cách tuyệt diệu. Mặt khác, thoạt bắt đầu, một giờ có thể là khoảng thời gian quá lâu, nhưng với thói quen, nó sẽ trở nên ‘dễ chịu’ hơn hay ít nhất ta cũng trở nên quen thuộc với nó hơn. Hơn nữa, ta có ơn Chúa đặc biệt giúp đỡ nữa (34)
Tuy nhiên, áp dụng việc này cho các tu sĩ là điều hợp lý, còn đối với phần lớn các giáo dân ngày nay, thì việc ấy khó áp dụng được. Lối cầu nguyện chiêm niệm áp dụng cho các đối tượng này do đó cần phải uyển chuyển hơn, kể cả khoảng thời gian ngắn dài của nó.
Cầu nguyện khi nào. Điều này tùy thuộc vào khung cảnh làm việc và dấn thân của từng người. Nhiều người thích chiêm niệm lúc sáng sớm: “Lúc tảng sáng, khi trời còn tối, Chúa Giêsu đã trỗi dậy và đi ra ngoài, đến một chỗ thanh vắng và cầu nguyện ở đấy” (35). Buổi sáng tĩnh mịch quả là thích hợp nếu ta hoàn toàn tỉnh táo cả thể xác lẫn tinh thần. Người khác lại thích buổi tối yên tĩnh trước khi đi ngủ; vì lúc này rất dễ thư dãn và tham gia ‘một giờ canh thức’ với Chúa Kitô.
Nhiều người khác không có chọn lựa nào khác và không có cơ may dành cả một giờ trọn cho việc chiêm niệm. Cho nên họ đành phải hy sinh một số công việc nào đó để tìm dịp chiêm niệm… bất cứ lúc nào: tại bến xe, trên chuyến máy bay liên tỉnh, liên quốc gia…
Những vị sống thành cộng đoàn và do luật dòng bắt buộc phải dành giờ cầu nguyện trong tâm trí, thì có thể thảo luận với nhau hay lãnh ý kiến bề trên để ấn định ra thời điểm chiêm niệm.
Cũng cần để ý rằng lối cầu nguyện chiêm niệm này đã đủ để chu toàn bổn phận cầu nguyện bằng suy gẫm mà một số tu sĩ và nhiều người khác phải làm hàng ngày. Điều này phải chăng có nghĩa việc suy gẫm không cần thiết nữa? Trong những hoàn cảnh đặc biệt, có thể bỏ việc suy gẫm, nhưng suy gẫm như một hình thức cầu nguyện thì không bao giờ bỏ hẳn được. Người đi tìm Chúa trong lối cầu nguyện chiêm niệm thường sẽ đọc và nghe Lời Chúa một cách chăm chú và thích thú hơn: Các bài đọc trong phụng vụ và trong các thực hành đọc sách thiêng liêng khác bao giờ cũng giúp người ta suy gẫm; họ liên tục suy gẫm các mầu nhiệm và đường lối của Chúa.
Cơ thế khi cầu nguyện chiêm niệm. Đây là một điểm quan trọng vì cơ thế (bodily posture) gây ảnh hưởng đáng kể đối với khả năng thư dãn và không chia trí của ta. Thân xác ta phải thư dãn nhưng thư dãn một cách có chú tâm; thân xác ta phải có tư thế thoải mái, không bò bó, căng thẳng. Kinh nghiệm cho hay giữ lưng cho thẳng, cơ thể ta sẽ ít căng thẳng nhất. Trong tư thế ấy, ta giữ được lưng và đầu ta luôn thẳng, là tư thế những người đội nặng trên đầu dùng để giữ thăng bằng.
Theo truyền thống, qùy thẳng người là thế được ưa chuộng. Ngồi có thể thư dãn hơn miễn là phải ngồi thẳng người; ngồi trên một chiếc ghế đẩu không có lưng tựa (cao chừng 25cm) cũng tốt. Những người thích ngồi bệt xuống dưới sàn, thấy thế ngồi này khá thoải mái, dĩ nhiên lưng lúc nào cũng phải thẳng.
Nhiều người thực hành lối cầu nguyện này thấy tốt nhất nên mở mắt nhưng nhìn cố định vào một điểm hay một vật nào đó thẳng trước mặt. Khi con mắt ‘đảo điên’, thì tâm trí ta cũng ‘điên đảo’ theo, khiến ta hết chú ý nổi.
Ghi chú
29. Mt 6:6
30. Lc

31. Mc
ff.
32. Đức Hồng Y Lercaro, Các Phương Pháp Cầu Nguyện Trong Tâm Trí (Methods of Mental Prayer) Burns & Oates, London 1957, tr,207.
33. Đức Hồng Y Lercaro, sách đã dẫn tr. 206.
34. Đám Mây Vô Minh, chương 34
35. Mc 1:35.

4. Phẩm chất đời bạn
Giờ cầu nguyện thinh lặng như thế này phải quan trọng đối với trọn cuộc sống làm người Kitô hữu, làm tu sĩ và làm linh mục của qúy vị. Phần lớn các tu sĩ vốn cảm nghiệm ơn gọi nguyên thủy của họ như một ơn gọi sống phó thác cho Chúa và tận tụy phục vụ Người, nhưng cũng thêm rằng Chúa hứa cho các vị một cuộc sống trong đó, các vị sẽ cảm nghiệm được, một cách đặc biệt, nhận thức về Người và về tình yêu của Người.
Giờ chiêm niệm này có mục đích dẫn qúy vị đạt được lời hứa ấy cách trọn vẹn.
Nhưng đời bạn phải sẵn sàng đón nhận ơn thánh này hai cách.
(a) Thứ nhất, bạn phải cố gắng biểu lộ được sự phó thác liên tục kia bằng cách tách mình ra khỏi bạo lực mà tiến vào những phương cách bất bạo động và hiếu hòa, ra khỏi bất cứ thứ dối trá nào mà tiến vào tính chân thực hoàn toàn và hòa hợp nội tâm, ra khỏi tính vị kỷ mà tiến vào sự nhậy cảm đối với nhu cầu, quyền lợi và cảm xúc của người khác, ra khỏi tính chiều chuộng thân xác mà bước vào ý thức tự nhiên biết giữ gìn tâm và trí luôn trong trắng, ra khỏi tính chiếm hữu và tham lam mà bước vào tính cho đi và chia sẻ…
Nói cách khác, bạn phải cương quyết chống lại các khuynh hướng tồi bại muốn làm Chúa Thánh Thần đau buồn và giết hại linh hồn mình: kiêu ngạo tiếng tăm, ghen tương đố kỵ, giận dữ bạo hành, chiều chuộng thân xác và không trong sạch, ươn lười và tham lam. Bạn phải chào mời vào tâm hồn bạn các hoa trái của Chúa Thánh Thần: tình yêu chân thực, niềm vui trong Chúa Thánh Thần, bình an trong tâm hồn, nhẫn nại trong cách cư xử, nhân từ với hết mọi người, tốt lành trong các ý hướng, chân thật trong mọi giao tiếp, dịu dàng đối với mình và đối với người ngoài, luôn tự chủ trong tâm hồn và trí khôn.
Tất cả những điều trên đều có thể thực hiện được bao lâu bạn biết mở lòng và mở đời bạn cho Thần Trí Chúa Giêsu. Và bản tính con người là thế, nó đòi bạn phải không ngừng hoán cải ăn năn.
(b) Thứ hai, bạn phải nuôi dưỡng liên tục trong chính bạn lòng khao khát Chúa, lòng khao khát được thấy lời hứa từ ban đầu của Người đối với bạn được thể hiện hoàn toàn.
Có thể bạn không có được những cảm tình cao độ như họ nhưng ít nhất bạn nên có thiện cảm với người viết những giòng sau đây về sự thu hút của Chúa:
“Nếu sự thu hút bạn cảm thấy khi đọc hay khi nghe về việc này (tức tình yêu chiêm niệm về Chúa) tự nó chiếm hữu bạn đến độ vào giường với bạn, thức dậy với bạn vào buổi sáng, theo bạn suốt ngày trong mọi việc bạn làm, phân cách bạn với mọi thực hành hàng ngày…; nếu sự lôi cuốn ấy …khiến bạn thay đổi cả cách nhìn của bạn và làm bạn luôn nở nụ cười trên môi; nếu trong khi nó tồn tại, điều gì cũng trở thành ủi an và không điều gì có thể làm bạn phật lòng; nếu bạn dám chạy cả hàng ngàn cây số để nói truyện với một người bạn biết rõ cũng có cùng một cảm nhận như bạn; nếu khi tới nơi, bạn thấy mình chẳng có điều gì để nói… ngoại trừ một mình điều ấy; nếu bạn dùng ít lời nhưng đầy thâm trầm và bốc lửa; nếu những lời vắn vỏi của bạn làm cho thế giới tràn đầy khôn ngoan nhưng đối với những kẻ chưa vượt quá được bên kia lý trí chúng chỉ là rồ dại; nếu sự im lặng của bạn là im lặng bình an, nếu lời nói của bạn là lời nói xây dựng, lời cầu nguyện của bạn là lời cầu trong nơi kín đáo, nếu niềm hãnh diện của bạn là niềm hãnh diện thích đáng, nếu tác phong bạn khiêm tốn, nếu tiếng cười của bạn nhẹ nhàng; nếu niềm vui của bạn là niềm vui của trẻ thơ đang nô giỡn; nếu bạn thích ở một mình và ngồi riêng ra vì cảm thấy người khác gây trở ngại cho bạn, không chịu làm điều bạn đang làm; nếu bạn không muốn đọc và nghe chi nếu điều ấy không nói về việc này; thì quả thực đã đủ bằng chứng bạn đang được thu hút vào lối cầu nguyện chiêm niệm chân thực, một lối cầu nguyện vượt quá mọi lời nói và suy tưởng” (36).
Ta cũng nhận ra một lòng thèm khát Chúa cao độ như thế trong lời lẽ của bài thánh ca Jesu, Dulcis Memoria (Ôi Giêsu, kỷ niệm dịu dàng):
“Lạy Chúa Giêsu: chỉ cần nghĩ đến Chúa là trái tim con đã tràn đầy hân hoan vì chẳng có hạnh phúc nào sánh được với niềm vui thấy Chúa hiện diện diụ dàng.
Quyến rũ hơn mọi giai điệu
phấn chấn hơn mọi tin tức,
thỏa lòng hơn mọi ý niệm khác, đó chính là Chúa, lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu: Chúa là hy vọng của tội nhân biết ăn năn
Chúa nhân từ với những ai xin Chúa giúp đỡ
Chúa tốt bụng với những ai tìm kiếm Chúa
Nhưng ai nói được Chúa ra sao đối với người đã tìm thấy Chúa!
Không lời nào diễn tả được, không sách nào giải nghĩa được,
và nếu nhờ kinh nghiệm mà biết được,
bạn chỉ có thể tin: yêu Chúa Giêsu có nghĩa gì.
Khi Chúa đến thăm trái tim con, nó tắm gội trong ánh sáng chân lý, thế giới mất hết sức quyến rũ và một tình yêu bùng cháy trong trái tim con.
Ai đã nếm được Chúa, sẽ đói khát hơn nữa. Ai đã uống được Chúa, sẽ khát khao hơn nữa, nhưng, lạy Chúa Giêsu, chỉ những ai yêu Chúa mới có thể mong chờ Chúa thôi.
Lạy Chúa Giêsu, hãy là niềm vui của con bây giờ và sau này là phần thưởng của con,
xin cho vinh quang của Chúa ngự trong con, đời đời và mãi mãi. Amen.”
Sau đây là hai cách ta có thể sử dụng để nuôi dưỡng và củng cố sức quyến rũ và lòng thèm khát Thiên Chúa:
Cách thứ nhất là ‘Lối Đọc Lời Chúa’ (Lectio Divina): Đây là lối đọc sách thiêng liêng để nguyện gẫm, đọc những bản văn giúp ta cảm nhận, lôi cuốn ta tới Chúa và tới việc cầu nguyện; những bản văn này không cần dài dòng nhưng phải giúp tâm trí ta tràn đầy yêu thương và thèm khát Chúa.
Những bản văn này giúp tâm trí ta suy gẫm sốt sắng, dẫn ta tới việc chiêm niệm. “Bởi thế, nếu bạn tha thiết với việc chiêm niệm, thì hãy siêng năng sốt sắng và liên tục suy gẫm vì đây là cách tuyệt đối sẽ thành công” (37).
“Ta chỉ nên xem sét những công trình thấm nhiễm phẩm tính thần thiêng. Không cần phải nói, Sách Thánh là nguồn trước nhất và tinh ròng hơn cả. Đọc có suy tư thực sự vừa làm Chúa hài lòng vừa là khí cụ đem Người trở lại với chúng ta. Giờ đây, trong trạng thái yên tĩnh, linh hồn ta sẽ nhận được nhiều soi sáng, giúp nó khám phá ra các sắc thái, các ý nghĩa mới mà trước đây nó không hề thấy; những sắc thái và ý nghĩa mới này xuất hiện một cách không khó khăn, giống như một thứ minh quang (enlightenment) hết sức ngọt ngào nhưng đủ chất lượng để được cảm nhận. Lúc ấy, linh hồn ta sẽ hiểu ra rằng Sự Hiện Diện minh quang ấy chính là Chúa Thánh Thần. Ơn Chúa này chính là nhận thức cao hơn, đầy yêu thương về chính Người, và là một gia tăng đức tin của ta vào Sách Thánh của Người” (38).
Cách thứ hai là cầu xin để được ơn biết cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin dạy con cách cầu nguyện, cách nhận biết và yêu mến Chúa trong lối cầu nguyện thinh lặng; Lạy Chúa, xin để Thánh Thần Chúa chiếm hữu con, để Chúa thống trị trong con và qua con…”.
Căn cứ vào Phúc Âm, ta biết rõ a) ta phải cầu xin cho được ơn Chúa Thánh Thần, bằng một đức tin cậy trông; và b) lời cầu xin ấy thế nào cũng được khứng nhận (Lc
).
Nên nhớ: không được ca bài ca tôn sùng một cách coi thường, không được nói lời gì một cách khinh xuất, nhưng đã nói là phải giữ. Không nên ẩu tả bắt đầu lối cầu nguyện này. Chỉ bắt đầu khi đã sẵn sàng và khi đã bắt đầu rồi, không nên quay lưng nhìn lại. Chúa yêu bạn và cần bạn. Người đang chờ dịp để bước vào đời bạn. Một khi đã khởi sự lối cầu nguyện này, bạn sẽ không còn như trước nữa. Người sẽ sử dụng bạn. Đây là chuyện vĩ đại nhất trong đời bạn. Xin ngợi khen Người; alleluia!
Ghi chú
36. Thư Linh Hướng Riêng cũng của tác giả cuốn Đám Mây Vô Minh, (xem ghi chú số 9), Burns & Oates,
London, tr.67-68.
37. Đức Hồng Y Lercaro, sách đã dẫn, tr.252 trích dẫn lời Cha Thomas: Chúa Giêsu nói về việc chiêm niệm đã thủ đắc được.
38. Dom G. Belorgey OCSO Thực Hành Việc Cầu Nguyện Trong Tâm Trí (The Practice of Mental Prayer) Mercier Press,
Cork, 1951, các tr.144-145.
5. Ý nghĩa và tính thích hợp của lối cầu nguyện chiêm niệm
Lạy Chúa, xin dạy chúng con ‘cách cầu nguyện!’
Người ta thường hỏi Kitô hữu: Các bạn cầu nguyện ra sao? Họ biết rõ sự tận tụy suốt đời của ta trong việc phục vụ nhân loại; họ nhìn nhận trong cuộc sống độc thân của linh mục tu sĩ Công Giáo có một kỷ luật giúp các vị đầy đủ thiên hướng để cầu nguyện; họ ngờ rằng bí quyết tạo ra sức mạnh của ta là việc kết hợp với Chúa trong cầu nguyện, cảm nghiệm trọn vẹn được sự Hiện Diện của Người ở trong ta, nhưng họ muốn biết làm sao chúng ta đạt được điều ấy.
Ấy thế nhưng, phần đông chúng ta thấy câu hỏi của họ khó trả lời tức khắc được. Vì phần lớn chúng ta không quen suy nghĩ về các cách thế, các phương tiện và mục tiêu của cầu nguyện và nhất là các đòi hỏi của nó. Ta thường quen thực hành việc cầu nguyện bằng cách (a) đọc một số kinh đã có sẵn như Thần Vụ, kinh nguyện trong Thánh Lễ, phép lần hạt Mân Côi; (b) suy gẫm mỗi ngày ít phút; và (c) đôi lúc thưa truyện ‘riêng’với Chúa một cách trực tiếp.
Ta vẫn thường cho rằng chỉ cần trung thành với các thói quen cầu nguyện như trên là ta đã chu toàn bổn phận rồi. Thực thế, mục tiêu của việc huấn luyện cầu nguyện, cả trong các tu viện và chủng viện đi chăng nữa, dường như chỉ chú trọng vào việc dẫn nhập người ta vào một chương trình cầu nguyện nào đó và thúc giục họ trung thành với chương trình đó.
Chương trình trên hay lắm thì cũng chỉ là hình thức suy gẫm đơn giản hay cầu nguyện trong tâm trí. Hình thức ấy được thực hành như là một phần trong thời khóa biểu hàng ngày và người ta hy vọng ta cứ thế áp dụng suốt đời. Những lối cầu nguyện vuợt quá hình thức suy gẫm (meditation), tức lối cầu nguyện dùng suy tư, trí tưởng tượng và ý chí, gọi tắt là lối cầu nguyện chiêm niệm, ít khi được trình bầy như một khai triển tự nhiên của lối sống cầu nguyện; vì người ta đã tạo ra cảm tưởng rất thông thường này là lối cầu nguyện đó khó có ai vươn tới được.
Cha Sergius Wroblewski OFM, gần đây, có cho ta một vài lý do lịch sử khiến người ta ngại ngùng trước lối cầu nguyện chiêm niệm này trong Giáo Hội mấy thế kỷ qua (39). Theo ngài, lý do đầu tiên là phần đông người Thệ Phản không những không đánh giá được mà còn hoài nghi lối cầu nguyện này. Lý do thứ hai là những thái quá của các nhà cực đoan thời Trung Cổ như phái thần quang (illuminists) của Tây Ban Nha (40) và thứ nữa là cuộc tranh cãi đáng tiếc giữa Bossuet và Fenelon tại Pháp trong thế kỷ 17. Cuộc chiến thắng của Bossuet khiến cho việc cầu nguyện chiêm niệm trở thành đáng e ngại. Rồi đến sự e ngại đầy kinh hãi đối với chủ nghĩa an tịnh (quietism) (41)… Kinh hãi đến độ không ai dám động tới chữ ‘chiêm niệm’ nữa (42). Do đó, các cộng đoàn tu sĩ và cả các linh mục triều vốn trung kiên với cuộc sống độc thân cũng không có một viễn ảnh chân thực nào về lối cầu nguyện này (43).
Đồng thời, Cha Wroblewski cũng cho ta thấy sự phồn thịnh của lối cầu nguyện này trong Giáo Hội, nhất là thời Trung Cổ, trong đời sống các thánh thuộc mọi thời đại. Ngài cũng đề cập đến hiện tượng ngày nay người ta đang tái khám phá ra vai trò trung tâm của lối cầu nguyện này trong cuộc sống thiêng liêng.
Dù nhìn cách nào, hình thức cầu nguyện này cũng vẫn rất sinh động trong đời sống các thánh và các Kitô hữu nhiệt thành. Nhưng không lúc nào bằng lúc này, Thiên Chúa muốn tái lập hình thức cầu nguyện qúy hóa này cho toàn Dân của Người.
Cha René Voillaume, theo truyền thống cha thánh Charles de Foucauld, vốn khuyến khích việc thực hành lối cầu nguyện chiêm niệm, trong thinh lặng và cô tịch, tốt nhất trước Mình Thánh Chúa trong Phép Bí Tích Cực Trọng, và coi đó như thành phần có ý nghĩa nhất trong cuộc sống thiêng liêng của ta, nhất là đối với các linh mục và tu sĩ. Đã có nơi khuyến cáo các vị giáo sĩ triều nên chuẩn bị chịu chức linh mục bằng những buổi cầu nguyện chiêm niệm như thế này. Cha John Dalrymple, một cha linh hướng kỳ cựu tại Đại Chủng Viện Drygange, bên Tô Cách Lan, khi đưa ra khuyến cáo trên, đã trích dẫn câu nói sau đây của Cha Godin: “Tất cả các vị truyền giáo, tức những vị hoàn toàn hiến thân cho việc Kitô hóa thế giới lao động, hãy là những nhà chiêm niệm đầu tiên”, và chính Cha Godin cũng không phải là một thị nhân (visionary) mắt sáng long lanh, mà là người đứng chung hàng ngũ với giai cấp lao động của Paris (44). Công Đồng Vatican II cũng thúc giục mọi tu sĩ phải biết phối hợp việc tông đồ với việc chiêm niệm” “… vì họ đi tìm Thiên Chúa trên hết mọi sự và chỉ tìm kiếm Người mà thôi, nên các thành viên của từng tu hội phải phối hợp chiêm niệm với lòng mê say Tông Đồ” (45).
Nhưng không phải chỉ có linh mục và tu sĩ mà thôi, xem ra Chúa Thánh Thần còn đang thổi hơi của Người trên toàn bộ xã hội hiện đại, một xã hội đang rất đói khát thiêng liêng và quá bị thế tục hóa này, để đem nó tới một cuộc sống mới, đặc biệt là qua việc đánh thức giới trẻ ngày nay để họ học biết chiêm niệm.
Đức Hồng Y Alfrink khi lên tiếng trước Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới tại Rôma năm 1971, đã nhận xét như sau: “Tuy chúng ta đang hết sức bận bịu với các hiệu quả tai hại của diễn trình thế tục hóa, nhưng ở nhiều quốc gia, giới trẻ của chúng ta đã và đang tìm đường trở về với Thiên Chúa và với Chúa Kitô, đang dấn thân vào việc làm cho thế giới tốt hơn, đồng thời tái khám ra đường lối chiêm niệm. Tất cả những điều này đều xẩy ra ở bên ngoài cơ cấu chính thức của các Giáo Hội. Há điều ấy không dẫn ta tới việc xét lại lương tâm mình một cách nghiêm chỉnh hay sao?”.
Ta cũng có thể nói tới mối liên kết giữa chiêm niệm và Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng (Charismatic Renewal Movement) hay Phong Trào Thánh Linh Công Giáo (Catholic Pentecostal Movement): trong các buổi cầu nguyện thinh lặng của Phong Trào Đặc Sủng chẳng hạn, ta thấy có một động tác hướng ta tới việc phó mình cho Chúa Thánh Thần trong yêu thương, bình an, vui mừng và cảm tạ. Trong cả hai lối cầu nguyện chiêm niệm, ta đều thấy có việc mở trái tim và mở đời ta lãnh nhận các ơn và hoa trái của Thần Trí Chúa Giêsu, Đấng dẫn ta tới Chúa Cha (46).
Dù sao, cũng như trong thập niên 1960, qua việc cải tổ và lỏng lẻo hóa các cơ cấu, hiện tượng thế tục hóa đã gây nên một tác động sâu xa đối với đời sống của Giáo Hội, thì trong thập niên hiện nay, rất có thể ta lại được chứng kiến lại cảnh Chúa Thánh Thần tuôn đổ hồng ân của Người xuống cho Dân của Người, giúp Dân Người biết tích nhập lối cầu nguyện chiêm niệm vào cuộc sống của Giáo Hội, lấy nó làm tâm điểm cho một canh tân kéo dài. Đây có thể là một giải đáp cho lời cầu nguyện của Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan XXIII khi ngài viết trong thông điệp Humanae Salutis (Sự Cứu Rỗi Con Người) rằng: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin Chúa canh tân các điều kỳ lạ của Chúa trong thời đại chúng con, như để chuẩn bị cho một Lễ Hiện Xuống Mới, và xin Chúa hãy ban cho Giáo Hội, khi kiên nhẫn đồng tâm nhất trí và liên tục cùng nhau cầu nguyện với Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu và dưới sự hướng dẫn của Thánh Phêrô, gia tăng được nước Chúa Cứu Thế, nước chân lý và công bình, nước yêu thương và bình an. Amen”
Ghi chú
39. Sergius Wroblewski OFM, Thần Học Bonaventura Về Cầu Nguyện (Bonaventuran Theology of Prayer), Franciscan Publications, Pulaski,
Wisconsin, USA, 1967, chương 1.
40. Phái thần quang (illuminissm) chủ trương rằng nhờ chiêm niệm, ngay ở đời này, họ cũng có thể hưởng phúc thiên đàng (beatific vision) rồi. Quan điểm của họ phát sinh từ việc giải thích sai lầm về ơn chiêm niệm phú ban (infused contemplation), trong đó Thiên Chúa cho ta được trực tiếp cảm nghiệm sự hiện diện của Người. Ngược với quan điểm này, các tác giả thiêng liêng nhấn mạnh rằng một cảm nghiệm như thế, mặc dù là một ơn kỳ diệu, nhưng tự nó không phải là dấu chỉ sự thánh thiện đích thực. Sự thánh thiện đích thực, tức sự thánh thiện nhờ ơn thánh dẫn ta tới việc hưởng phúc thiên đàng trong vinh quang Thiên Chúa, được đo lường nhiều hơn bằng hoa trái Chúa Thánh Thần (Gl 5:22) và sống thực các điều răn (Ga 15:19) trong cuộc sống hàng ngày.Về điểm này, xin xem Dominic Hoffman OP, Cuộc Sống Bên Trong: Lời Cầu Nguyện Hợp Nhất (The Life Within: The Prayer of Union), New York, 1966, tr.181; Stephen Clark, Chịu Phép Rửa Trong Chúa Thánh Thần (Baptised in the Spirit) Dove Publications,1970, các trang 33-34; và thư 1 Gioan 3:2 và thư 1Cor 13:12.
41. Phái an tịnh (quietism): Trong lối cầu nguyện chiêm niệm, trong khi cảm xúc, tâm trí và trí tưởng tượng lắng dịu xuống, thì trái tim và ý chí ta tập chú duy nhất vào Chúa, đầy thứ ‘tình yêu chờ mong’ mà tác giả cuốn Đám Mây Vô Minh muốn nói tới.
42. Xem Sergius Wroblewski OFM, sách đã dẫn, tr. 30.
43. Trong cuộc sống tu trì, các lời khấn nói lên việc hiến mình cho Chúa và Nước của Người. Việc hiến mình này giúp người khấn có thiên hướng và dẫn họ tới nhận thức yêu thương (knowledge-in-love) về Chúa, được cảm nghiệm bằng đức tin. Khi viên đá góc tường của lối cầu nguyện chiêm niệm không minh nhiên hiện diện trong đời sống tu trì nữa, thì vị tu sĩ ấy sẽ mất phương hướng và các cái nhìn của vị ấy sẽ ra méo mó: Tình yêu Thiên Chúa, tức điều răn thứ nhất, lúc nào cũng phải ở hàng đầu. Cũng thế, trên bình diện bản thân, lời khấn độc thân chỉ có nghĩa nếu nó bao gồm việc chia sẻ nhận thức và tình yêu của Người đối với Chúa Cha.
44. Cha John Dalrymple trong cuốn Chủng Viện Và Việc Cầu Nguyện (The Seminary and Prayer) The Clergy Review, Tháng Tư năm 1964 (
Ware, UK). Cha Henri Godin, làm việc dưới quyền Đức Hồng Y Suhard, đã khởi xướng ra phong trào ‘linh mục thợ’ nhưng sau đó qua đời rất sớm. Cuốn sách của ngài, tựa là Nước Pháp Ngoại Giáo? (France Pagan?) đã gây tác động lớn vào lúc đó.
45. Perfectae Caritatis (Đức Mến Hoàn Hảo) 5.
46. Xem Simon Tugwell OP, trong một số bài trên tờ The New Blackfriars (Thầy Dòng Áo Đen Mới),
Cambridge các năm 1969-1971. Các bài này đã được công bố dưới hình thức một cuốn sách, tựa là Bạn Đã Nhận Được Chúa Thánh Thần Chưa? (Did You Receive the Spirit? (1972).

6. Thế nào là cầu nguyện theo lối chiêm niệm?

Muốn nắm được ý nghĩa của việc cầu nguyện theo lối chiêm niệm, đầu tiên ta hãy xét tới ba giai đoạn cổ điển của cầu nguyện. Đầu tiên, ta cầu nguyện bằng lời: tức lối cầu nguyện phải dùng tới môi miệng, nhấn mạnh tới lời nói, được đọc hay hát lên. Bản văn thường được sáng chế từ trước hay soạn sẵn và thường rất hay, đầy cảm hứng. Cũng có những lời cầu nguyện bằng lời lẽ tự phát.

Rồi đến loại cầu nguyện bằng suy gẫm hay nói tắt là suy gẫm: tức lối cầu nguyện đặt trọng tâm ở trong trí, nhằm vẽ ra hình ảnh về Chúa, ngẫm nghĩ và suy tư về Người và về các công trình kỳ diệu của Người. Trí ta cố gắng tìm kiếm sự hiểu biết và thông sáng. Trong suy gẫm, môi miệng ta thinh lặng, còn trí khôn ta thì hoạt động tích cực.

Sau cùng, là lối cầu nguyện chiêm niệm hay nói tắt là chiêm niệm: tức lối cầu nguyện của trái tim và ý chí nhằm vươn tới sự hiện diện của Chúa. Cả môi miệng lẫn trí khôn đều thinh lặng: chỉ còn trái tim chăm chăm nhìn lên Chúa trong một thứ cầu nguyện không lời, còn ý chí thì tìm cách trở nên một với ý chí của Người.

Chiêm niệm là ‘nhận ra Chúa, biết và yêu Người trong tận đáy hữu thể ta’ (47). Khi ta đi tìm sự nhận biết này và thấy nó bằng đức tin, là ta đang nói tới thứ chiêm niệm thủ đắc (acquired contemplation). Còn khi ta đem lại cho nhận thức ấy một cảm nghiệm thực sự thì đó là chiêm niệm phú ban (infused contemplation).

Kitô hữu trưởng thành và chín mùi nào cũng đều có mục tiêu phải đạt cho được giai đoạn cầu nguyện chiêm niệm nói trên. Ba giai đoạn trên có thể ví với ba giai đoạn đi học vậy. Ta bắt đầu học bậc tiểu học, để học đọc học viết (cầu nguyện bằng lời). Giai đoạn trung học đệ nhất cấp của cầu nguyện chính là suy gẫm, trong đó, việc suy tư về cuộc sống và ơn mạc khải là chủ đề chính, mặc dù không quên lối cầu nguyện bằng lời. Giai đoạn trung học đệ nhị cấp của cầu nguyện là buổi đầu của lối cầu nguyện chiêm niệm. Ta không quên hay không gạt qua bên những điều mình đã học được ở giai đoạn tiểu học và trung học đệ nhất cấp, nhưng nay đã tới lúc đời sống cầu nguyện của ta bắt đầu chú tâm tới sự hiện diện của Thiên Chúa và sẵn sàng mở lòng mình ra cho Thánh Thần của Người. Dĩ nhiên còn một giai đoạn nữa, cao hơn nhiều, đó là giai đoạn huyền nhiệm của bậc cao học và tiến sĩ!

Nhưng thôi, ta hãy trở lại với việc cầu nguyện chiêm niệm. Nếu so sánh nó với lối cầu nguyện bằng lời, bạn có thể nói rằng trong lối cầu nguyện chiêm niệm, bạn tìm cách nhận ra rằng điều chứa trong lời nói nay đang thực sự hiện diện cho chính bạn. ‘Lạy Cha chúng con ở trên trời’ chẳng hạn: ta vượt qua các lời này để nhận ra sự hiện diện của Người đối với ta, sâu thẳm trong ta, và ta đắm mình trong sự hiện diện ấy. Những lời trên được dùng như tiếng rung chuông, đánh thức ta bừng dậy từ một giấc ngủ sâu để ý thức được sự hiện diện của Người bên trong ta (48).

Nếu so sánh nó với lối cầu nguyện suy gẫm, bạn có thể nói rằng thay vì dùng suy tư chạy tới với Chân Lý, bạn dừng lại và đứng đó chăm chăm nhìn vào Chân Lý, nhận ra sự hiện diện của Người bên trong bạn. Có thể so sánh việc suy gẫm với hoạt động chuẩn bị đi vào việc thực hiện và vẽ một bức tranh. Lúc ấy, chiêm niệm chính là việc thinh lặng ngắm nhìn bức tranh đã hoàn thành, nhìn nó trong tính toàn bộ của nó, nhờ thế mà ý thức được cái thực tại từ cái nhìn của nhà nghệ sĩ vẽ ra nó” (49).

Vượt qua các biểu tượng (lời nói, ý nghĩ, quan niệm), ta tìm cách đi vào chính cái thực tại thiêng liêng và chân thực, lâu bền và mãnh liệt kia, tức là chính Thiên Chúa, Cha chúng ta, Chúa Giêsu, Con yêu dấu của Người, và Thánh Thần của cả hai Vị. Vì thực tại này vượt quá cái la bàn ý niệm, vượt quá bất cứ miêu tả nào, nên trí khôn ta không thấy, không nắm được nó, mà chỉ có tình yêu mới biết nhận ra nó và chỉ có Chúa Thánh Thần mới đánh thức được thứ tình yêu và thứ tình phó thác ấy mà thôi. Bởi thế, tác giả sách Đám Mây Vô Minh nói rằng: “Ta chỉ có thể yêu Người chứ không suy nghĩ được Người. Người chỉ có thể đạt tới và nắm giữ bằng tình yêu; chứ không bao giờ bằng ý nghĩ” (50). Chúa có thể nhân hậu đáp trả tình yêu, như thánh Gioan Thánh Giá từng nói: “Chiêm niệm không là gì khác hơn việc phú ban (infusion) Thiên Chúa một cách bí nhiệm, một cách an bình cho ta, mà nếu biết tiếp nhận, linh hồn ta sẽ rực lửa Thánh Thần Yêu Thương”.

Cầu nguyện chiêm niệm là lối cầu nguyện duy nhất chân thực, theo nghĩa: nó dẫn dắt ta vượt quá lời (cầu nguyện bằng lời), vượt quá ý (cầu nguyện suy gẫm) mà vươn tới chính thực tại được các lời và ý kia ám chỉ. Theo nghĩa này, mọi lời cầu nguyện phải có đặc tính chân thực hay chiêm niệm, vì thực ra cầu nguyện bằng lời không bao giờ chỉ hệ ở việc đọc lời, và cầu nguyện suy gẫm không bao giờ chỉ hệ ở việc suy gẫm mà thôi.

Lại nữa, thực tại được ta tìm kiếm là một thực tại thiêng liêng, một thực tại trong chính tinh thần của ta, nhưng trên tất cả, nó là thực tại của Chúa Thánh Thần. Chính vì thế, ta có thể gọi lối cầu nguyện chiêm niệm là lối cầu nguyện chân thực và là lối cầu nguyện thánh thiêng theo nghĩa nó mở lòng ta cho Chúa Thánh Thần, cho hành động của Người, cho các ơn của Người hay “mở tinh thần chúng ta một cách không e dè đón nhận ơn thanh tẩy và chữa lành của Chúa Thánh Thần, trong khi mình đang ý thức được sự hiện diện của Người”.

Đến đây, ta thấy lý do tại sao ta cũng có thể gọi lối cầu nguyện chiêm niệm này là lối cầu nguyện thánh linh (pentecostal prayer) và ngược lại, theo nghĩa: qua lối cầu nguyện này, ta nhận ra sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Đấng Chúa Giêsu đã ban làm người Nâng Đỡ An Ủi ta, Đấng sẽ ở với ta mãi mãi (51), và sẽ cung cấp cho ta mọi ơn thiêng liêng ta cần.

Trong tất cả các điều trên, điều cần thiết là ta phải hướng về núi thánh của Chúa. Mỗi người chúng ta phải bắt đầu cuộc hành trình hướng về núi thánh đó bằng chính đôi chân của mình. Dĩ nhiên, ta có bản đồ và hướng dẫn viên. Ta đừng ngần ngại hỏi thăm người ta gặp trên đường nhưng nên nhớ chính hơi thở của Chúa Thánh Thần làm ta tiến bước và leo bước; chính Vinh Quang Thiên Chúa mà ta mờ mờ nhận ra hay phỏng đoán ra ở cuối đường kia đã lôi kéo ta bước tới… Và cũng đừng quên thỉnh thoảng phải tra cứu các sách hướng dẫn nữa.

Trong truyền thống Các-men, giai đoạn đầu của lối cầu nguyện này được gọi là ‘chiêm niệm thủ đắc’ nghĩa là lối chiêm niệm bất cứ người thiện chí nào, nhờ ơn thánh Chúa,  nếu cố gắng, đều có thể đạt tới. Thánh Têrêxa thành Avila gọi lối cầu nguyện này là ‘lối cầu nguyện hồi tâm’ (prayer of recollection) (52). Hình như Bossuet là người đã phổ thông hóa ‘lối cầu nguyện đơn sơ’ (prayer of simplicity) từng được A.Tanquerey tiếp nhận (53). Ngoài ra còn nhiều tên khác, khá có ý nghĩa, như ‘lối cầu nguyện trong thinh lặng’, ‘lối cầu nguyện thanh tĩnh”, “lối cầu nguyện để Chúa hiện diện”, “lối cầu nguyện chú tâm đầy yêu thuơng’ và “lối cầu nguyện bằng trái tim” (54)

Ghi chú

47. Clifton Wolters trong phần dẫn nhập vào bản dịch tiếng Anh cuốn Đám Mây Vô Minh của ông, Penguin Books, 1961, tr.36.

48. Xem Abhisshiktananda, Cầu Nguyện (Prayer) ISPCK, 1972.

49. Cha René Voillaume miêu tả lời cầu nguyện này là “nhìn ngắm Chúa đương lúc yêu mến Người”. Cũng nên xem Dom Vitalis Lehodey OCR, “ta nhìn và ta yêu, ta nhìn để ta yêu và tình yêu của ta được nuôi dưỡng và bừng cháy nhờ ‘nhìn’”. Các Cách Cầu Nguyện Trong Trí (Ways of Mental Prayer) Gill, Dublin, 1960, phần II, chương IX, đoạn 2 và Đức Hồng Y Lercaro, người từng định nghĩa “Cầu nguyện theo lối chiêm niệm là dùng trực giác đơn giản và nhiều hiệu quả mà nâng tâm hồn lên cùng Chúa” Các Phương Pháp Cầu Nguyện Trong Trí (Methods of Mental Prayer) Burns & Oates, London, 1957, chuơng 14.

50. Đám Mây Vô Minh, một khảo luận thời trung cổ (khoảng năm 1350) về chiêm niệm, Penguin Classics, 1961, chương 6.

51. Ga 14:16

52. Con Đường Toàn Thiện (The Way of Perfection), chương 28.

53. A. Tanquerey, Đời Sống Thiêng Liêng đoạn 1363 ff.

54. Đức Hồng Y Lercaro, Các Phương Pháp Cầu Nguyện Trong Trí, Burns & Oates, London, 1957, chương 14.

7. Lối cầu nguyện của Chúa Giêsu và các môn đệ

Đôi lúc, người ta có cảm tưởng rằng cầu nguyện theo lối chiêm niệm không có trong Phúc Âm của Chúa Kitô. Cùng lắm chỉ có thể nói nó là một thực hành do Giáo Hội đưa ra dựa vào các tôn giáo không phải là Kitô Giáo và thích ứng vào đời sống Kitô hữu. Lẽ dĩ nhiên, nhiều người ở bên ngoài truyền thống Kitô Giáo từng thiết tha lên đường tìm kiếm và đã tìm thấy Thiên Chúa trong lúc cầu nguyện. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu kỹ các phúc âm và các truyền thống Kitô Giáo, ta thấy việc cầu nguyện theo lối chiêm niệm nằm ngay ở trung tâm Phúc Âm và cuộc sống Kitô hữu. Nó vốn là lối cầu nguyện của các tiên tri và những người khiêm hạ trong Cựu Ước, của những ai, trong khi đi tìm Thánh Nhan Chúa, có quyết tâm yêu Người, Thiên Chúa của họ, hết lòng, hết linh hồn, hết sức họ (55), và thờ phượng Người trong trạng thái thanh thản chiêm niệm và nghỉ ngơi của ngày Sa-bát.

Nhưng nó còn là lối cầu nguyện của chính Chúa Giêsu, của Đức Maria và của các thánh nữa. Nghiên cứu cuộc đời của hầu hết mọi người thánh thiện, ta sẽ thấy sáng tỏ sự kiện lối cầu nguyện này vốn nằm ở tâm điểm việc làm môn đệ và cuộc sống Kitô hữu của ta.

Đây là lối cầu nguyện của Chúa Giêsu

Chúa Giêsu cũng cảm nghiệm sự nên một của Người với Thiên Chúa trong và qua bản tính nhân loại của mình, một bản tính hoàn toàn giống bản tính ta, “Người tiếp nhận cho mình dòng dõi từ Abraham. Trong phương cách ấy, điều chủ yếu là Người phải trở nên hoàn toàn giống anh em nhân loại của Người để có thể  là linh mục thượng phẩm đầy cảm thương và đáng tin trong tôn giáo của Thiên Chúa, có khả năng đền thay tội lỗi nhân loại. Nghĩa là, nhờ việc phải tự mình kinh qua cám dỗ, Người mới có khả năng giúp người khác đang kinh qua cám dỗ” (56).

Ta thấy Người đã cố gắng sống thân phận con người ra sao trong cô tịch, trong tư riêng, trong thinh lặng, trong chay tịnh, trong cảnh giác, trong cầu nguyện, giúp bản tính nhân loại của Người cởi mở hơn để tiếp nhận Chúa Thánh Thần, tiếp nhận các phương tiện tốt hơn để cầu nguyện, để cảm nghiệm nhiều hơn sự kết hợp với Cha của Người trong hiểu biết và yêu thương. Chính trong lúc thinh lặng cầu nguyện như thế, Người đã học biết Thánh Ý Cha của Người và cảm nghiệm được sự phó thác hoàn toàn trong tình yêu. Trong cầu nguyện, Người nghe thấy lời Cha của Người nói (57), và cũng trong cầu nguyện, Người nhận biết Cha của Người bằng tình yêu (58).

Khi chia sẻ Thánh Thần đầy yêu thương và phó thác của mình cho các môn đệ, Người cũng chia sẻ với họ việc Người nên một với Cha của Người (59). Nhờ cách đó, ta đã trở thành con nuôi, nghĩa là nhờ ơn thánh, được chia sẻ điều mà Chúa Giêsu, người Anh của chúng ta, tự bản chất vốn là. “ Nếu là con, ta cũng là kẻ thừa tự: kẻ thừa tự của Thiên Chúa và đồng thừa tự với Chúa Kitô, chia sẻ đau khổ của Người để cùng được chia sẻ vinh quang của Người” (60).

Như thế, Chúa Giêsu muốn chúng ta chia sẻ cảm nghiệm nhân bản của Người về tình cha con với Chúa Cha trong tình yêu của Chúa Thánh Thần (61). Trong cầu nguyện chiêm niệm, chúng ta được hướng dẫn để tái tạo lại kinh nghiệm cầu nguyện của Chúa Giêsu, dù kinh nghiệm của ta chỉ là một kinh nghiệm bất toàn, dễ bị lung lay, nhưng một ngày kia sẽ được kiện toàn trong ánh sáng vinh quang của Người (62).

Đây là lối cầu nguyện của Đức Maria

Có một mấu chốt rất quan trọng giúp ta hiểu được cuộc sống thiêng liêng của Đức Maria. Đó là quyết định lạ lùng không muốn kết hôn của Ngài, một quyết định có trước biến cố Truyền Tin, mà theo truyền thống Do Thái và công luận lúc ấy chống lại bậc sống hôn nhân (63). Quyết định này cho thấy Ngài được ơn đặc biệt ngay từ lúc đầu đời. Hẳn từ lúc thiếu thời, Ngài đã quen sống với ý thức về Chúa và hẳn từng cảm nghiệm được niềm vui sống trước Thánh Nhan của Người, niềm vui được Người mỉm cười chúc phúc rồi (64). Một cách như theo bản năng, Ngài đã xa lánh tội lỗi và sự ác, vì những điều này làm mờ mối liên hệ ấy và cản trở không để con người của Ngài lại gần Chúa.

Trong trái tim của Ngài luôn có ơn thánh của một “anawim”, một tâm hồn khiêm hạ, kẻ nghèo hèn của Chúa luôn một lòng tìm kiếm Thánh Nhan của Người và ca ngợi Danh của Người. Nền linh đạo của tâm hồn ấy đã được Thánh vịnh 34 nói lên cách tuyệt diệu:

“Hãy cùng tôi tán dương Chúa: chúng ta hãy cùng nhau ca ngợi Danh của Người!

Tôi tìm kiếm Chúa và Chúa đáp ứng tôi:

Hãy hướng lên Chúa và hân hoan rạng rỡ!

Hãy nếm thử Chúa và thấy Chúa tốt lành dường bao

Hãy tìm kiếm và ráng mưu cầu bình an!

Những ai trú ẩn trong Người sẽ không bị kết án”.

Một cách như bản năng, Ngài bị lôi cuốn vào một lối sống giúp Ngài hoàn toàn tự do để phụng sự Thiên Chúa, không phải chỉ phụng sự bề ngoài, mà còn phụng sự nội tâm bằng ngợi ca và cám tạ. Ngài coi mình là nữ tì của Chúa, một lòng một dạ tìm kiếm Thánh Nhan của Người. Nếu Chúa chuẩn bị mang ơn cứu rỗi đến cho Dân của Người qua một Tôi Tớ nghèo nàn và khiêm hạ (65), tức “kẻ Ta đã chọn, kẻ hồn Ta vui thích”(66), thì Ngài chính là Tôi Tớ nghèo nàn và khiêm hạ ấy của Chúa, người Nữ Tì suốt đời nói lên tấm tình yêu và lòng thủy chung phu thê của mình, tấm tình yêu và lòng thủy chung mà Israel luôn tỏ ra thiếu vắng một cách rõ rệt (67).

Cứ thế, Ngài cảm thấy bị lôi cuốn vào quyết định không kết hôn, một quyết định giúp Ngài hoàn toàn phó mình đầy tin yêu cho sự hướng dẫn của Chúa. Cũng chính quyết định ấy đã dẫn Ngài tới gặp người thanh niên tên Giuse, một người cũng có một ơn thánh tương tự…

Ngài là người biết suy nghĩ (68), biết trân qúy các bài ca cầu nguyện (thánh vịnh) đầy chất thơ của truyền thống và các sứ điệp của Chúa qua miệng tiên tri. Ngài có các cảm nhận về ngôn ngữ chiêm niệm và khi được linh hứng, đã có thể xướng lên lời cầu nguyện của riêng mình dưới hình thức ca hát cổ truyển (69).

Ngài hẳn đã khai tâm Chúa Giêsu vào lối cầu nguyện của Do Thái. Là mẹ Chúa Giêsu, bậc thầy của cầu nguyện, và là bà dì của vị tiên tri có lối sống ẩn tu là Gioan Tẩy Giả, hẳn Ngài đã dành nhiều thì giờ để thinh lặng cầu nguyện và chiêm niệm. Lần cuối cùng gặp Ngài được Thánh Kinh nhắc tới, ta thấy Ngài cùng các môn đệ cầu nguyện liên tiếp, xin Chúa Thánh Thần hiện xuống như Con của Ngài từng hứa trước đó (70).

Ghi chú

55. Đnl 6:5

56. Dt 2:17-18

57. Ga 17: 8, 14

58. Ga 10:15; xem Mt 11:25-27.

59. Ga 17:21

60. Rm 8:17

61. Rm 8:28-30

62. 1Cor 13:12; 1Ga 3:2

63. Lc 1:31-34

64. Trong lịch sử Hồi Giáo, vốn mạnh mẽ chống lại bậc sống không lập gia đình, có kể lại trường hợp rất đáng chú ý về sự kiện vì Thiên Chúa mà giữ mình đồng trinh, dù bị mọi người chống đối. Đó là trường hợp bà Rabi’a ở Basra, qua đời tại Giêrusalem năm 801 CN. Bà có một cảm thức muốn hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và nhờ một cuộc sống nhiệm nhặt đã đạt tới một sự thánh thiện và lòng yêu mến Chúa cao cả. Bà đã gây ảnh hưởng lớn đối với phong trào chiêm niệm trong Hồi Giáo (phái Sufi), đến độ Faridu’d-Din Attar viết về bà như sau: “Rabi’a, Đấng sống ẩn dật, đã được mặc chiếc áo tinh tuyền. Bà đầy tràn lửa yêu mến và khát mong được tới gần Chúa của mình và được chìm ngập trong vinh quang của Người. Bà là Đức Maria thứ hai và là một phụ nữ không chút tì vết” (John Subhan trong Phái Sufi, Các Thánh và Đền Thánh Của Họ (Sufism, Its Saints and Shrines) Lucknow, 1960, tr.14.

65. Ds 6:25

66. Is các chương 42, 49, 50 và 52.

67. Is 42:1

68. Một chủ đề của nhiều tiên tri

69. Lc 2:19

70. Lc 1:46-55

71. Cv 1:14.

8. Một số đặc điểm và ích lợi của chiêm niệm
(1) Chiêm niệm là thư dãn trước Mặt Chúa
Lối cầu nguyện này nhằm tìnm kiếm bình an, yên tĩnh và thanh thản. Ta đi tìm Chúa của Ngày Sabát, tại nơi Người nghỉ ngơi, tận đáy tâm hồn ta, trong giờ khắc nghỉ ngơi và thư dãn trước Mặt Người, dâng kính Người sự thờ phượng của đời ta.
Bởi thế, nhiệm vụ chính của giờ khắc này là để căng thẳng lắng xuống, để yên bình trở lại, để ta tin yêu phó mình cho Chúa và nhờ lời Người, bão tố trong ta yên lặng, giúp ta chấp nhận ý của Người. “Hãy tìm kiếm bình an và theo đuổi bình an ấy” (72), không phải bằng cố gắng bạo động, nhưng bằng cách để mọi căng thẳng, phấn khích, xao xuyến lo âu, thèm khát nóng bỏng, giận dữ độc hại tan biến đi.
Trong lối cầu nguyện này, ta hay gặp ý niệm ‘tập trung’. Vâng, ta phải tập trung hay chú ý, nhưng tập trung đây không phải là kết quả của một cố gắng căng thẳng, mà là kết quả của việc để cho mọi chuyện tự động biến đi cách nhẹ nhàng, không để cho cân não ta bị quấy nhiễu bởi người và hoàn cảnh, giải thoát mình khỏi buồn bực lo âu.
Khi những cái tiêu cực ấy dần dần tan đi, ta chỉ còn lại một điều: chú tâm vào Chúa, ý thức được sự hiện diện của Đấng vốn là Tác Giả và Người Ban mọi bình an và sức mạnh.
(2) Chiêm niệm là bất bạo động trong tâm trí
Ta cũng phải cam kết cương quyết sống một cuộc sống hiếu hòa. Cuộc sống ấy vừa là điều kiện vừa là hiệu quả của lối cầu nguyện này. Sự hiếu hòa của ta rất có thể bị khuấy động bởi bẩy mối tội đầu, tức các khuynh hướng xấu vốn hằng quấy phá trong ta: kiêu ngạo, ghen tương, giận dữ, mê ăn uống, mê dâm dục, lười biếng và tham lam. Ấy thế nhưng kẻ quấy phá chính yếu đe dọa sự bình an trong ta chính là cái tư dục giận dữ.
Ít nhất đó cũng là gợi ý của Evagrius thành
Pontus (345-399) (73). Bất cứ sự nhượng bộ nào đối với giận dữ (bao gồm hiềm thù, ngờ vực, bất thiện cảm, chua cay, cáu kỉnh, dễ tự ái) đều là nhưng trở ngại đối với thời điểm cầu nguyện của ta. Cầu nguyện là hàn thử biểu giá trị, đo được một cách chính xác, không thiên vị, cảnh thanh bình hay bão tố trong ta. “Cầu nguyện là cái nhánh của dịu dàng và là cái vắng bóng của giận dữ” (Evagrius). Vì tận gốc rễ của giận dữ, ta thấy chình ình cái lòng thèm khát và dính kết đối với của cải và giá trị trần gian: “Thực vậy, con người ta cần gì phải giận dữ nếu không phải vì họ quá chú tâm tới của ăn, giầu sang, danh vọng v.v…” (Evagrius).
Như thế, rõ ràng ta phải một lòng dấn thân theo tinh thần của Chúa Giêsu như đã được bộc bạch trong phúc âm và được Bài Giảng Trên Núi đề cập tới: không bạo động, không hân thù, không có ý muốn độc ác, không trả thù, không kết án, nhưng dịu dàng, cảm thương, sẵn sàng cho đi và chia sẻ, yêu thương cởi mở và tha thứ đối với những kẻ hại mình.
(3) Chiêm niệm biến cải nhân cách ta
Một cách từ từ nhưng chắc chắn, lối cầu nguyện chiêm niệm sẽ dẫn đến một biến đổi kỳ diệu chính con người chúng ta. Quả thế, cuộc sống tâm linh và cầu nguyện của ta phải có tính ‘hiệu lực’ trong việc làm ta thay đổi, nếu không nó chẳng quan hệ gì tới ta mà còn là một gương mù gương xấu. Bạn không thể cầu nguyện hết ngày này qua ngày nọ, hết tháng này qua tháng nọ, nhưng con người bạn thì đâu vẫn hoàn đó. Nếu là thế, thì việc tìm kiếm và lời cầu nguyện của bạn không chân thực, mà chỉ là cách khéo léo ẩn mình khỏi Thiên Chúa hằng sống, không cho Chúa Thánh Thần ‘dây dưa’ gì tới cuộc sống của bạn. Thực ra, cầu nguyện chiêm niệm đúng nghĩa đòi ta phải mở lòng mình ra cho Chúa Thánh Thần. Các ơn và hoa trái (74) của Người phải mỗi ngày mỗi hiển nhiên hơn. Qua lối cầu nguyện này, mỗi ngày ta càng cảm nhận được quà phúc bản thân của chính Chúa Giêsu dành cho ta: đó là sự bình an (75). Hàng ngày, ta được “chữa lành” trong nước ban sự sống của Chúa Thánh Thần, và lớn lên cho đủ tầm cỡ nhân tính của chính Đấng Cứu Chuộc.
Tác giả cuốn Đám Mây Vô Minh mô tả sự biến đổi trên một cách tuyệt diệu như sau: “Tất cả những ai từng dấn thân vào việc chiêm niệm này đều thấy rằng nó gây một hiệu quả tốt đối với cả thể xác lẫn linh hồn, vì nó làm cho cả thể xác lẫn linh hồn trở thành quyến rũ đối với tất cả những ai thấy chúng. Đến nỗi người xấu nhất, nhờ ơn thánh, mà bước vào lối cầu nguyện chiêm niệm, cũng thấy mình bỗng chốc trở nên khác (dĩ nhiên cũng nhờ ơn thánh) và cho hay ai thấy họ cũng đều vui và vui lòng làm bạn với họ, thấy được tươi trẻ về phương diện thiêng liêng và được tình bạn này làm cho gần gũi Chúa hơn.
“Bởi thế, hãy tìm cách nhờ ơn thánh mà tiếp nhận được ơn phúc này; vì bất cứ ai thực sự có được ơn phúc này đều có khả năng kiểm soát được cả bản thân lẫn những gì thuộc về mình. Nó đem lại cho họ sự biện biệt để khi cần có thể đọc được nhu cầu và tính khí người khác. Nó đem lại cho họ nghệ thuật biết gây thoải mái với mọi người họ trò truyện với, dù tội lỗi kinh niên hay không, mà không vướng tội…đến nỗi không những làm mọi người phải ngạc nhiên, mà còn gây hiệu quả như nam châm đối với những người khác nữa, đến độ nhờ ơn thánh mà lôi kéo được những người này bước chân vào công việc thiêng liêng đang được họ thực hành. Khuôn mặt và lời họ nói đầy sự khôn ngoan thiêng liêng, sốt sắng, gây hiệu quả, chắc chắn và không hề lầm lẫn, giả tạo hay giả hình…” (76).
Theo tác giả trên, người biết cách thư dãn, thân mật và thoải mái với Chúa, thực ra, cũng giống mọi người khác thôi; trong khi những con người nóng nẩy, dễ giận dữ, khó gây được cảm tình, thì lẽ đương nhiên ta thích được gặp những con người hiếu hòa, bình thản, nhiều thiện cảm, dễ thân mật thoải mái và nhất là hiểu được ‘nhu cầu và tính khí ta’.
Thánh Têrexa thành
Avila cho ta nhiều chứng cớ chứng minh tính hiệu quả của lối cầu nguyện chiêm niệm. Thánh Nữ viết: “Nếu bạn chịu cố gắng sống trước mặt Chúa một năm, cuối một năm ấy, bạn sẽ thấy mình đạt tới cao điểm của đức thiện toàn mà không hay”
Chứng cớ của những người thời ta tuy khiêm tốn hơn nhưng cũng khá tích cực: “Sau gần hai năm nghiêm chỉnh cố gắng cầu nguyện chiêm niệm, tôi nhận ra các thay đổi sau đây đã xẩy ra bên trong tôi:
“Vui mừng, bình an, thanh thản, còn trước đây thì sợ hãi, căng thẳng, bất ổn đủ thứ. Ngay trong các hoàn cảnh và quyết định khó khăn, bình an vẫn còn đó nhờ thế các giải pháp đã được đưa ra một cách không ngờ, không phải do tôi khôn ngoan, vì tôi không thấy, nhưng chúng đã đến với tôi.
“Càng ngày càng xác tín hơn về thực tại Thiên Chúa và Thánh Thần của Người. Thoáng thấy rõ Tình Phụ Tử của Thiên Chúa, cảm nhận phẩm giá và giá trị con người mình vì chính Chúa đã yêu tôi. Cảm nhận này đã thay thế hẳn cái cảm nhận tự ghét mình, tự tiêu cực với chính mình trước đây của tôi.
“Biết chấp nhận công việc mình làm, các nhiệm vụ không mấy vui của nó, biết chấp nhận lời chỉ trích một cách hiếu hòa và từ bỏ mình một cách yêu thương nhiều hơn. Khoan dung hơn và chấp nhận người khác hơn mà không hờn tủi gây hấn như trước. Vì bản tính tôi khá kiêu căng, nên tôi thấy nhờ lòng thương xót của Người, tôi đã tránh được nhiều thảm họa. Dần dần tôi cũng đã khám phá ra hình ảnh ngẫu tượng lầm lẫn về chính mình, nhờ thế biết khao khát chân lý nhiều hơn. Nhiều chứng bệnh tâm lý bị lộ ra ánh sáng, giúp tôi tự do hơn.
“Tôi biết đánh giá nhiều hơn ơn kêu gọi của mình, nhiều ổn định và chân thực hơn trong việc cố gắng sống ơn kêu gọi ấy. Các lối cầu nguyện và sùng kính khác trở nên có nhiều ý nghĩa hơn. Lòng thèm khát Chúa tăng triển. Điều ấy đem lại cho tôi nhiều can đảm hơn để cố gắng thêm. Trước đây, tôi vốn dễ nản lòng và hay than van.
“Tôi nghĩ quả thực Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến đã được thâm hậu hóa. Tôi mong muốn được chia sẻ kho tàng này”.
(4) Nhờ chiêm niệm, trở nên chân thực hơn với chính mình
Một hiệu quả hay hoa trái toàn diện khác của lối cầu nguyện này là: nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, ta trở nên nhân bản trọn vẹn và đích thực hơn.
Trước mặt Chúa, ta học cách phải trở nên tuyệt đối chân thực với chính mình. Ta học cách biết nhìn mình trong con người thực sự của mình, phía sau mặt nạ của ước lệ, của kiểu cách và giả bộ, những điều lớn nhỏ từng đánh lừa chính ta. Dần dà, nhờ vượt qua tính giả tạo trong suy nghĩ, lời nói và việc làm, cũng như các thái độ không thật, cái tôi không thật của mình, ta lớn mạnh trong chân thực và đích thực. Càng ở và sống trước mặt Chúa, ta càng trở nên chính ta một cách chân thực hơn.
Mà càng trở nên chân thực với mình, vì nhờ chân thực với Chúa, ta càng chân thực hơn với sự vật chung quanh (như khách quan hơn trong việc tìm kiếm nhận thức và đánh giá tín liệu) và với những con người ta sống chung với. Khả năng trong các mối liên hệ liên bản ngã chân chính của ta cũng gia tăng hơn. Đức ái chân thực (theo nghĩa một khả năng biết đi vào tâm tư tình cảm, hoàn cảnh và nhu cầu sống của người khác một cách đầy thiện cảm) bao giờ cũng tay trong tay đi đôi với cầu nguyện chân thực: tức khả năng biết cởi mở và chân thực với Chúa và với chính mình. Lời của Thánh Gioan đúng biết chừng nào: Ai nói mình biết Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình thì là người nói dối!
Sebastian Temple (77) nói đến điều tương tự như trên trong bài ca của ông tựa là Người Hạnh Phúc như sau:
“Hạnh phúc thay người tha thẩn với Chúa: Hạnh phúc thay người biết phải sống ra sao. Hạnh phúc thay người không bao giờ tìm phần thưởng: họ cho vì họ thích cho đi…Họ không tìm vàng, họ không muốn lúa gạo; họ biết mọi điều ấy chỉ là phù vân. Họ không cần tiếng khen, cũng chẳng cần danh dự: khẩu hiệu của họ là: Chân thực với chính bản thân bạn. Hạnh phúc thay người học biết cầu nguyện. Hạnh phúc thay người có mục tiêu nóng bỏng. Hạnh phúc thay người không cần đền đáp cho phục vụ của mình: Người như thế đã tìm thấy chính linh hồn của mình. Hạnh phúc thay, hạnh phúc thay người của Chúa!”
(5) Hiệu quả đối với đời sống cầu nguyện của ta
Hiệu quả chính đối với các lối cầu nguyện khác là đem lại ý nghĩa mới và cảm thức thống nhất cho chúng. Người ta sẽ bỏ được lối đọc kinh theo thói quen, theo những chương trình đã có sẵn từ bao đời nay. Ta cảm thấy nhu cầu và dần dà có được khả năng đem lại cho mọi lối cầu nguyện một đặc tính chiêm niệm nghĩa là biến chúng thành lời cầu nguyện chân thực chứ không phải chỉ đọc hay hát mà thôi.
Thoạt đầu, người ta sẽ cảm thấy nhu cầu phải giảm bớt các bài kinh đọc thành tiếng, và tránh những kinh đọc đi đọc lại; người ta bắt đầu cảm thấy khó chấp nhận được những lối cầu nguyện vội vàng, cẩu thả, nhếch nhác, thiếu tôn kính và không chú ý tới ý nghĩa của nó. Nhưng sau này, dần dà, họ có thể quay trở lại với lối cầu nguyện thành tiếng, nhất là lối cầu nguyện lặp đi lặp lại (như chuỗi mân côi riêng; những kinh vắn tắt, Kinh Lạy Chúa Giêsu, v.v…) vì chúng quả có giúp họ hiện diện trước mặt Chúa và ‘tha thẩn với Người’.
Công đồng Vatican II cũng đã nhấn mạnh tới lợi ích to lớn đối với Thánh Lễ và việc Đọc Sách Nguyện do việc cầu nguyện suy gẫm.
“Để các tu sĩ có thể chia sẻ một cách thân mật hơn và nhiều ích lợi hơn vào mầu nhiệm Thánh Thể, và các lời cầu nguyện công khai của Giáo Hội, và để cuộc sống nội tâm của họ được nuôi dưỡng cách dồi dào hơn, cần phải đặt ưu tiên cho việc suy gẫm so với các hình thức cầu nguyện khác. Tuy nhiên, những thực hành cộng đoàn nào đã thành truyền thống trong Giáo Hội thì cần phải duy trì và chăm sóc để các tu sĩ được huấn giáo đúng đắn trong đường lối sống cuộc sống tu trì” (Ecclesiae Sanctae, số 21).
Chắc một điều Mẹ thánh Giáo Hội, khi rút vắn và đơn giản hóa các giờ kinh phụng vụ và thánh lễ, đã chỉ mong sao chúng ta đạt được hai mục tiêu là (a) biến chúng thành những lời cầu nguyện thực sự và có ý nghĩa; (b) dành nhiều giờ hơn cho lối cầu nguyện chiêm niệm.
Ghi chú
72. Tv 34:14
73. Sursum Corda, Tháng Hai 1971, tr.329 ff.
74. Gl 5:22
75. Ga 14:27
76. Đám Mây Vô Minh, chương 54, Thánh Gioan Thánh Giá cũng từng dạy rằng “một đời sống cầu nguyện sâu sắc trong Chúa Thánh Thần sẽ đến nhanh chóng hơn đối với những ai chuyên chăm cầu nguyện trong nơi thanh vắng”
77. “Một người Công Giáo cao ráo, tóc hung, rất muốn chia sẻ tình yêu của anh đối với Chúa. Trong cuộc tìm kiếm chân lý của mình, anh đã thực hành Yoga trong 17 năm và từng là một tu sĩ ấn giáo 2 năm. Không thấy thoả mãn, anh đã nghĩ đến việc theo Do Thái Giáo, nhưng may mắn tìm thấy trong Đạo Công Giáo điều anh đang đi tìm. Tác phẩm mới phát hành tựa là Và Dòng Nước Cứ Thế Chẩy (And the Waters Keep on Running) và Chúa là Ngọn Lửa Yêu Thương (God is a Fire of Love), The Examiner,
Bombay, ngày 19 tháng Sáu năm 1971, tr.400.
9. Kết luận: lý do thực tiễn của chiêm niệm
Để kết luận, ta có thể liệt kê một số lý do thực tiễn cho thấy nhu cầu và giá trị của việc chiêm niệm hàng ngày.
(a) Ta thấy rằng ta có nhiều lầm lỗi và yếu điểm đã thành thói quen, mà bất chấp ý ngay lành, ta vẫn không sao có thể khắc phục được (như chỉ trích, nôn nóng, và mất bình tĩnh, lời nói nặng nề, hằn thù, dễ chán nản). Những lầm lỗi và yếu điểm này phá vỡ sự bình an của ta với người khác, với chính ta và với Thiên Chúa. Người ta đã chứng minh được rằng thành thực cố gắng đi tìm Chúa trong thinh lặng và phó thác theo lối cầu nguyện này sẽ dần dần giảm thiểu được tác động của các lầm lỗi và yếu điểm này. Như cuốn Đám Mây Vô Minh từng nói: “Trong chiêm niệm, linh hồn ta làm khô gốc rễ và vùng đất chung quanh tội lỗi là những thứ vốn có ở đấy, ngay cả sau khi đã xưng tội, và dù người ta có bận bịu việc thiêng liêng đến đâu đi nữa” (78).
(b) Cũng thế, lối cầu nguyện này còn giúp đỡ rất nhiều để ta giảm bớt căng thẳng và nôn nóng, nhất là đối với những ai sống cuộc sống cộng đoàn, vì nhu cầu họ phải luôn sẵn sàng, có mặt ở đó và cởi mở đối với các anh chị em của mình.
Đối với việc xây dựng một cuộc sống cộng đoàn chân thực, thì việc thực hành lối cầu nguyện này có hiệu lực hơn cả phương pháp đối thoại thường xuyên nhiều, tuy phương pháp sau cũng là một phương pháp chủ yếu. Trong đối thoại, người ta hay có khuynh hướng nhấn mạnh tới tầm quan trọng của ‘vấn đề’ trong khi trong lối cầu nguyện chiêm niệm, việc tìm kiếm yêu thương và bình an là vấn đề chính mà mọi vấn đề khác phải tùy thuộc vào; và cả khi cần phải đưa ra một quyết định khó khăn, ta cũng được hướng dẫn phải tiến hành một cách bất bạo động.
(c) Ta cần một nhịp điệu hàng ngày trong việc ngủ nghỉ và thức giấc, làm việc và thư dãn, ăn uống và tiêu hóa thế nào, thì một giờ hàng ngày để ‘chữa lành linh hồn’, để nghỉ ngơi trong hoạt động yêu thương thiết nghĩ cũng là một đòi hỏi cần thiết đối với cuộc sống nhân bản và Kitô giáo cân bằng như vậy (79).
(d) Dù bận bịu với trăm công nghìn việc, kể cả các công tác mục vụ mà nhiều người ngày nay tham gia, lúc nào ta cũng cần nhớ rằng chiêm niệm thực sự là một cuộc gặp gỡ bản thân có tính giao ước với Chúa. Nói cách khác, việc dành ra một thời gian nào đó để chiêm niệm là dấu chỉ bề ngoài của giao ước này, trong đó, ta phó thác bản thân ta cho Chúa và Chúa trao ‘thân’ Người cho ta. Giao ước này dù sao cũng là hoa trái chín mùi của cam kết lúc ta chịu Phép Rửa.
Cam kết này luôn được cử hành và canh tân trong Phép Thánh Thể của Giao Ước Mới giữa Thiên Chúa và Dân của Người.
Ghi chú
78. Đám Mây Vô Minh, chương 42
79. Xem Douglas Streers: “Khi một người Ấn Giáo sống một tháng trong một gia đình Thệ Phản Mỹ, ông ta hỏi người chủ nhà: trong ngày, lúc nào là lúc ông ta dành ra cho việc chữa lành linh hồn, thì đây quả là một giao điểm liên tôn khó lòng có thể bỏ qua”. Trong Đời Sống Cầu Nguyện Như Cơ Sở Của Hiệp Nhất(Life of Prayer as Ground of Unity), Worship, Tháng Năm 1971, tr.260.

Chú thích
1. Tv 34:14
2. Tv 57 và 108
3. Câu “Intimior Intimio Meo” của Thánh Augustinô
4. Ga 2:20
5. 1Ga 4:7
6. Thánh Gioan Thánh Giá, Các Vần Thơ (Poems), bản dịch tiếng Anh của Roy Campbell, Penguin, 1960, p.27.
7. Mc 11:24
8. Rm 8:28
9. Cuốn Đám Mây Vô Minh (The Cloud of Unknowing) là sách chiêm niệm, được viết khoảng năm 1350, không rõ tác giả là ai. Bản dịch sang tiếng Anh hiện đại là của Clifton Wolters, Penguin Classics, 1961, các chhương 39 và 40.
10. Trích từ các chương trong sách Đám Mây Vô Minh (xem chú thích 9 ở trên)
11.
Dom Vitalis Lehodey OCR, Cách Cầu Nguyện Trong Trí (The Ways of Mental Prayer), Gill, Dublin, 1960 Pt II, Ch IX, para 2
12. Thánh Gioan Thánh Giá, sách đã dẫn tr.27
13. Đám Mây, chương 6
14. Đám Mây, chương 12
15. Thánh Gioan Thánh Giá, sách đã dẫn tr.27
16. Giêrêmia 31:5
17. Ga
, 23
18. 1 Ga

19. Dt
; xem Rm ; 1Ga 2:1
20: Lc 18:1
21. Lc

22. Mc
; xem 1Ga -15; Gc 1:5-6
23. 1Ga
-15.

Tác giả: Vũ Văn An
   dunglac@gmail.com