Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Vũ Văn An
Bài Viết Của
Vũ Văn An
Antonio Rosmini, người của đức tin, lý trí và trái tim
Chiến dịch đem người Công Giáo trở về
Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II
Vatican và vấn đề tài liệu
Bốn Mươi Năm Sự Sống Con Người
Thờ Phượng Đích Thực Trong Tư Tưởng Thánh Phaolô
Gia Đình và Sự Sống
Khủng Hoảng Hôn Nhân và Gia Đình
Gia Tô Bí Lục Tân Thời
Thần học và thực hành mục vụ trong các thư của Thánh Phaolô
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa
Tính đáng tin cậy của Bộ Thánh Kinh
Kính Mừng Maria
Cầu nguyện theo lối chiêm niệm
Li dị và tái hôn trong các Phúc âm nhất lãm
Các nhà truyền giáo và kỹ nghệ tình dục
Từ Sydney tới Paris
Lộ Đức, sự hiện diện mênh mông của Mẹ
Bản Thể, Bản Tính
Thánh Phaolô, Nhà Truyền Giáo Vĩ Đại
Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
Cùng đi với Thánh Phaolô
Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội
Đức Bênêđíctô XVI: từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới hành trình đức tin trẻ em
GIA TÔ BÍ LỤC TÂN THỜI

 

Năm 1981, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội tại Hà-Nội  cho xuất bản cuốn Tây Dương Gia Tô Bí Lục với phụ đề Ghi Chép Những Chuyện Kín của Ðạo Gia Tô Tây Dương. Trang bìa sau và trang thứ tư của Sách ghi là “Lưu Hành Nội Bộ”  với số lượng phát hành lên đến 20,500 bản và lời ghi: “sách in ngoài chỉ tiêu kế hoạch”.

Nếu có một chút liêm sỉ tối thiểu, hẳn cái gọi là Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội kia phải tự khai tử từ lâu rồi vì đã cho phổ biến một tác phẩm quái dị theo một cung cách có một không hai ấy. Một độc giả, chỉ cần học bậc trung học phổ thông, cũng đủ khám phá thấy cái tính sai sự thực lịch sử đến buồn cười của người giới thiệu, giải thích và ghi chú tác phẩm và do đó của cả cái gọi là Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội kia! Một thí dụ: trong lời giới thiệu, Ngô Ðức Thọ viết rằng “Vào cuối thế kỷ XVIII, giám mục khâm mạng toà thánh ở Việt-Nam phán quyết giải tán dòng Tên, sáp nhập giáo đồ vào dòng Ðôminic (tức Ðômingo)” (tr.12). Thế kỷ XVIII, giữa Việt-Nam và Vatican, đâu có liên hệ ngoại giao, mà bảo là có khâm mạng toà thánh. Còn việc phán quyết giải tán Dòng Tên mới nực cười, giải tán một hội dòng đâu phải là thẩm quyền của một khâm mạng tòa thánh! Thôi cũng cho là chấp nhận đi, vì ba cái thứ lẩm cẩm ấy thuộc lãnh vực chuyện thiên hạ, dốt cũng đâu có sao. Nhưng còn chuyện của mình thì sao. Xin nghe Ngô Ðức Thọ viết thêm: đây là “một tác phẩm truyện ký dã sử” do bốn giáo sĩ dòng Tên là Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hoà Ðường, Nguyễn Bá Am, và Trần Ðình Hiên cùng soạn. Cả bốn người cùng sống vào khoảng cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Hai người đầu là “hai giám mục địa phận Nam-Chân (nay là vùng Hải Hậu, Hà Nam Ninh)”. Hai người sau là “hai thầy cả trẻ quê ở Hải Dương” (tr.12). Ai cũng biết Giám Mục Việt-Nam tiên khởi là Nguyễn Bá Tòng, chỉ được tấn phong năm 1933 bởi Giáo Hoàng Piô XI. Chỉ có Ngô Ðức Thọ là mù tịt, dù trong phần Tài Liệu Tham Khảo ở cuối Sách, ông ta có kê khai ít nhất hai cuốn Lịch Sử về Giáo Hội Việt-Nam, đó là các cuốn Lịch Sử Ðạo Thiên Chúa ở Việt-Nam, xuất bản dưới quyền duyệt chính của linh mục L. Cadière và cụ Nguyễn Văn Tố, Huế, Ðại Việt thiện bản, 1944, và cuốn Lịch Sử Truyền Giáo ở Việt-Nam, của Nguyễn Hồng, Hiện Tại 1959.

Chỉ có thể kết luận đây là một kế hoạch rẻ tiền nhằm bóp méo sự thật, bôi lọ không phải một Giáo hội mà là một tôn giáo với gần hai ngàn năm lịch sử. Chỉ lạ, nó đã được Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội cho xuất bản. Họ đui hay họ cố ý đui để gieo mầm sai lạc. Chúng tôi vẫn cứ thắc mắc như thế từ những năm cuốn sách này xuất hiện. Nhưng, tưởng chỉ có cái thứ đại diện cho trí tuệ loài người của Cộng Sản Việt-Nam mới trâng tráo như thế, không ngờ, ngay trong xã hội Tây Phương, vẫn có những thứ Tây Dương Gia Tô Bí Lục. Tại Hoa Kỳ, một nhóm người Việt nào đó đã cho in lại cuốn sách trên và tại Úc này, có hiệu sách đã cho quảng cáo nó trên một tờ tuần san ở Melbourne. Nhưng chuyện còn lạ hơn nữa, đó là những cuốn loại Tây Dương Gia Tô Bí Lục do chính các tác giả Tây Phương công bố. Chúng tôi muốn nói đến hai cuốn sách: một là vở kịch Vị Ðại Diện (The Representative) của Rolf Hochhuth xuất bản năm 1963, hai là cuốn Giáo Hoàng Hitler (Hitler’s Pope) của John Cornwell, xuất bản năm 1999.

1. VỊ ÐẠI DIỆN

Vị Ðại Diện (Der Stellvertreter) là một vở kịch của Rolf Hochhuth, được trình diễn lần đầu tại Berlin ngày 20 tháng 2 năm 1963 và tại London ngày 25 tháng 9 cùng năm.Vở kịch gây một tiếng vang mạnh trong dư luận thế giới và tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi mấy chục năm qua. Trong vở kịch này, Hochhuth tố cáo Ðức Piô XII đã im hơi lặng tiếng không chống lại chính sách diệt Do-Thái của Hitler và do đó khiến thân phận người Do-Thái trở nên tồi tệ. Lời tố cáo ấy được người đóng vai linh mục dòng Tên Fontana nói lên: “Một Ðại Diện Ðức Kitô khi thấy tận mắt những điều này mà vẫn im hơi lặng tiếng chỉ vì chính sách quốc gia, mà vẫn trì hoãn dù chỉ một ngày… một giáo hoàng như thế… chẳng phải là một tội phạm sao?”.

Nếu lời kết án ấy nguyên tuyền chỉ là lời nói giả tưởng của một nhân vật kịch, thì phản ứng chẳng có chi mạnh. Ðàng này, Hochhuth lại muốn chứng minh rằng lời kết án ấy là lời kết án của lịch sử. Nên ông đã in thêm 46 trang tài liệu vào kịch bản. Trong số các tài liệu này, trích đoạn của văn hào công giáo Francois Mauriac đáng chú  ý  hơn cả . Trích đoạn đó như sau: “Chúng ta chưa được cái an ủi nghe đấng kế vị Người Miền Galilea, Simon Phêrô, kết án việc đóng đinh hằng hà sa số những ‘người anh em của Chúa.’ bằng một ngôn từ bất hàm hồ và rõ nghĩa chứ không bằng những ám chỉ ngoại giao … một tội ác cỡ này phải là trách nhiệm của những chứng nhân không chịu lên tiếng chống lại nó dù lý do của sự im lặng ấy là thế nào chăng nữa”. Lời tố cáo này vì thế đã gắn liền tên tuổi đức Piô XII vào cuộc tranh luận chung quanh Sự Im Lặng của Ngài trước tội ác tầy trời của Ðức Quốc Xã trong Thế Chiến Hai.

Thực ra Rolf Hochhuth là ai và kịch bản của ông ra đời trong hoàn cảnh nào? Theo Tiến Sĩ Joseph L. Lichten, một chính khách và một học giả Ba-Lan gốc Do-Thái, Giám Ðốc Quốc Tế Sự Vụ của Liên Ðoàn Chống Phỉ Báng B’nai B’rith, Rolf Hochhuth chỉ là một đứa trẻ (sinh năm 1931) dưới thời Ðức Piô XII và động lực chính của ông là sáng tác ra một vở kịch hay, chứ không phải một hồ sơ chính xác cho nên viễn tượng lịch sử của ông không đủ để phê phán chính đáng về các hành động của Ðức Piô XII. Mặt khác, ai cũng biết vở kịch này được trình diễn chỉ mấy tháng sau ngày bế mạc phiên đầu của Công Ðồng Vatican II và trước đó vụ xử Adolf Eichmann tại Do-Thái. Biến cố đầu đặt Giáo Hội Công Giáo lên hàng đầu trong dư luận thế giới và mở ra cả một kỷ nguyên hồi sinh tươi trẻ. Các lực lượng thù địch của Giáo hội ấy không muốn nằm im. Một trong các lực lượng đó chính là Nhà Nước Cộng Sản Nga. Ta biết ngay từ những năm 1944, cơ quan ngôn luận Nga Sô, Izvestia, đã từng kết án Vatican đồng loã với Hitler và Mussolini. Lời kết án này đã bị truyền thông Mỹ như tạp chí New York Times lên án nặng nề. Quốc Hội Tiểu Bang New York, trong phiên họp ngày 8 tháng 3 năm đó, cũng đồng thanh phản đối lời kết án kia, cho rằng cả đức Piô XI lẫn đức Piô XII đều từng lên án chủ nghĩa Phát-Xít lẫn chủ nghĩa Quốc Xã  và “mọi hình thức cai trị độc tài khác trong cả các tuyên bố công lẫn tư từ năm 1931”. Hình thức cai trị độc tài khác dĩ nhiên là chế độ Cộng Sản, và sau khi hai chế độ đầu bị diệt vong, nền độc tài sau tỏ ra còn tàn bạo hơn chúng nhiều lần (nhận định của sử gia H. Philip) và do đó tiếp tục bị đức Piô XII lên án. Moscow trả đũa bằng cách đưa ra những trận phản công chống Vatican với luận đề chính là đức Piô XII muốn đi với Quốc Xã để chống lại Cộng Sản Nga. Biến cố sau (vụ xử Eichmann) làm thế giới bàng hoàng vì lần đầu tiên các tội ác chống người Do-Thái được miêu tả một cách hãi hùng, khiến dư luận thế giới phẫn nộ và cả một phong trào đi tìm giải thích xuất hiện. Những nhà trí thức và sử gia Do-Thái như Ben Hecht và Hannah Arendt đặt ra những nghi vấn đại loại như “Tại sao người Do-Thái, qua các lãnh tụ của chính họ, đã cộng tác với Quốc Xã trong việc tự hủy diệt chính mình?”, “Tại sao hàng triệu người Do-Thái đã đi vào cái chết của mình như những con chiên đi vào lò sát sinh?”. Arendt cho rằng sự đồng loã (complicity) của các nhà Zionist trong thảm  kịch này là một trong “những trang đen tối nhất” trong lịch sử dân tộc họ. Nhiều người thấy những chất vấn ấy thật khó mà trả lời trực diện. Họ lên đường đi tìm con chiên thế tội và  đức Piô  XII, nay đã  chết, trở thành mục tiêu thuận tiện để trút hận và giúp người ta quên đi vấn đề đồng lõa của những người Zionists do các nhà bất đồng chính kiến nêu ra (Xem William Hughes, Pope Pius XII: Victim of the Christian-Bashers).

Phải chăng chính trong môi trường trên, kịch bản của Rolf Hochhuth đã được viết ra và được chào đón như một thứ hỏa mù làm mờ đi hình ảnh Vatican II và tạo nên một thứ chiên chuộc tội (scapegoat) cho lương tâm Ðức Quốc và cả lương tâm một số nhà Zionists. Rolf Hochhuth vốn là người Ðông Ðức. Ðông Ðức lúc ấy dưới ảnh hưởng nặng nề của Liên Sô và vừa thiết lập xong Bức Tường Bá-Linh! Một điều đáng lưu ý là Hocchuth cũng xuất bản một kịch bản khác tố cáo Churchill giết người, nhưng kịch bản ấy không gây được tiếng vang nào. Vì nó không phù hợp với cái mảnh đất mầu mỡ đi tìm chiên thế tội lúc ấy.

Trở lại với tác phẩm của Hochhuth, tiến sĩ Lichten, trong tác phẩm Một Vấn Ðề thuộc Phán Ðoán: Giáo Hoàng Piô XII và Người Do-Thái (A Question of Judgment: Pius XII and the Jews),  nhận xét rằng do cố tình bỏ qua (by lacunae), dụng ý chỉ muốn chứng minh luận đề của mình, tác phẩm của Hochhuth có tính thiên vị và đưa ra những kết luận bất công. Thí dụ như trong ấn bản tiếng Anh, trang 312, Hochhuth cho rằng những điều Donati phúc trình cho Trung Tâm Tài Liệu Do-Thái Hiện Ðại về thái độ chính thức của các viên chức ngoại giao Tòa Thánh cần được trích dẫn. Mùa Thu năm 1942, Donati có một thư ngắn nhắc đến hoàn cảnh người Do-Thái tại Miền Nam Nước Pháp nhờ linh mục dòng Capuchin là Cha Marie-Benoit chuyển cho Ðức Giáo Hoàng, trong đó ông kêu gọi sự giúp đỡ của ngài. “Nhưng sự giúp đỡ ấy không được đưa ra”. Thực tế, Tiến Sĩ Lichten cho hay Trung Tâm này tại Paris có rất nhiều tài liệu cho thấy nhiều người Do-Thái, đồng đạo của Angelo Donati, một người Ý gốc Do-Thái, đã được cứu sống nhờ những liên hệ giữa ông ta và Vatican. Mặt khác, khi trích Francois Mauriac, Hochhuth đã cố tình bỏ không trích những câu giữa của Mauriac: “Chắc chắn các lực lượng chiếm đóng có thể mang lại những áp lực không thể cưỡng lại được, chắc chắn sự im hơi lặng tiếng của Ðức Giáo Hoàng và các hồng y của ngài là một bổn phận kinh khủng nhất; điều quan trọng là phải tránh cho được những bất hạnh có khi còn tệ hơn nữa”. Ðiều ấy cho thấy Mauriac hiểu rõ thế lưỡng nan khủng khiếp của Ðức Piô XII.  Khi bị chất vấn về điểm này, Hochhuth đã phải nhìn nhận và do đó đã cho thêm những câu ấy trong ấn bản tiếng Anh. Còn bản tiếng Ðức vẫn giữ nguyên.

Hocchuth cũng trích phúc trình của Ðại sứ Ðức cạnh Toà Thánh, Baron von Weizsacker, để kết án đức Piô XII, mà câu có giá nhất đối với ông ta là: đức Giáo Hoàng “đã không để mình bị dụ vào chỗ đưa ra bất cứ lời tuyên bố phô trương nào chống lại các vụ đầy ải người Do-Thái… Ngài đã làm những gì có thể làm, trong vấn đề tế nhị này cũng như trong các vấn đề khác, để không gây hại cho các mối liên hệ với chính phủ Ðức”. Phúc trình này có thật. Nhưng phải hiểu nó trong ngữ cảnh các hành xử cũng như thái độ của chính Weizsacker. Ông theo đuổi một chính sách cố ý đánh lừa chính các chủ nhân ông của mình bằng cách tự ý giải thích các đáp ứng của Ðức Giáo Hoàng với mục đích để che chở ngài khỏi nguy cơ rất có thể bị bắt giam. Cho nên khi Vatican gửi phản kháng lệnh bắt con tin đến ông, ông đã không chuyển các phản kháng ấy về Berlin, vì nghĩ rằng dù sao các phản kháng ấy cũng chả ai tại đó thèm đọc. Người ta phải tự hỏi vì lẽ gì con trai ông sau này trở thành Tổng Thống nổi danh của Cộng Hòa Liên Bang Ðức!

Thực ra những người chống đối Ðức Piô XII trong đó có Hochhuth không quên các cố gắng không ngừng nghỉ của Ngài trong việc trợ giúp người Do-Thái trong chiến tranh. Ðiều họ muốn nói là sự im hơi lặng tiếng đối với chế độ Hitler. John Lucas, trên National Review, số ngày 22 tháng 11 năm 1999, cho hay người ta phê phán không phải những điều đức Piô XII đã làm mà là những gì Ngài đã không làm. Khảo sát một con người vì những gì người ấy không nói hay không làm là một trách vụ khó khăn khi nói đến việc truy tầm sự thật. Mà thực ra, Ngài có im hơi lặng tiếng hay không? Không hẳn, những người chống đối cho rằng ngài có lên tiếng, nhưng ngôn từ xử dụng chỉ là những ngôn từ chung chung, trừu tượng, hàm hồ theo lối ngoại giao, không trực tiếp lên án Quốc Xã, không nêu đích danh chúng.  Ðiều này đúng, nhưng người ta phải xét xem tại sao Ngài đã chọn không lên tiếng như vậy? Tiến Sĩ Lichten cho hay trong nền văn hóa Tây Phương, nguyên động lực là “yếu tố yếu tính trong bất cứ cuộc tranh luận nào về sự trung chính của một con người”.

Im lặng hay không im lặng

Ðúng là Ðức Piô XII đã chọn không nêu đích danh chế độ Quốc Xã trong các lời kết án công khai của mình, dù những lời kết án ấy có rất nhiều và ai cũng hiểu chúng nhắm vào chế độ tàn ác ấy, kể cả bọn Quốc Xã (Phúc Trình của Văn Phòng An-Ninh Quốc Xã Trung Ương Gestapo ngày 22/01/1943: “Giáo Hoàng đã bài bác Trật Tự Mới cho Âu Châu của Quốc Xã…Tuy Giáo Hoàng không nêu đích danh Quốc Xã tại Ðức, nhưng diễn văn của ông là một cuộc trường chinh chống lại tất cả những gì chúng ta chủ trương… Ở đây, ông ta rõ ràng lên tiếng nhân danh người Do-Thái”). Thực ra, tư chất học giả tự nhiên thúc đẩy ngài cầm bút soạn thảo văn kiện có đầu có đuôi chính thức lên án chủ nghĩa Quốc Xã, như đức tiền nhiệm của ngài đã làm với thông điệp Mit brennender Sorge (Với Nỗi Lo Âu Nẫu Lòng). Linh-Mục Peter Gumpel S.J., một sử gia và là thỉnh nguyện viên phong chân phước cho Ðức Piô XII xác nhận trong bài báo Ðức Piô XII Như Ngài Thực Sự Là (Pius XII As He Really Was): “Ðức Piô XII đã soạn một bản văn công khai phản đối việc bách hại người Do-Thái. Nhưng ngay trước khi bản văn được gửi cho Osservatore Romano, có tin trình cho ngài hay những hậu quả thảm hại trong sáng kiến của các giám mục Hòa-lan. Ngài kết luận rằng việc phản đối công khai, thay vì làm nhẹ số phận người Do-Thái, thực ra lại đã gia tăng sự bách hại chống lại họ và ngài quyết định không muốn chịu trách nhiệm về việc tự mình can thiệp để rồi cũng có cùng những hậu quả và có khi còn tệ hơn nữa. Nên ngài đã hủy bản văn kia đi” (xem Christopher McGath, Pius XII and the Holocaust). Trong thư gửi giám mục von Preysing, chính Ngài nhắc đến sự kiện này: “Ta để các giám mục (địa phương) cân nhắc các hoàn cảnh trong việc quyết định có nên tự chế hay không, để tránh sự dữ tệ hơn (ad majora mala vitanda). Việc tự chế đó nên làm nếu những tuyên bố công khai của các giám mục liều mình sẽ đem đến các nguy cơ trả thù và cưỡng bức. Ðó là một trong những lý do, chính Ta cũng tự chế các công bố công khai của Ta. Kinh nghiệm Ta có trong năm 1942 trong các tài liệu Ta công bố để phân phát cho các tín hữu đã biện minh cho thái độ của Ta”. Ngài cũng từng tâm sự với linh-mục Pizzo Scavizzi: “Ðôi khi ta nghĩ đến việc rút phép thông công, để nghiêm khắc lên án trước con mắt của toàn thế giới cái tội ác diệt chủng quá khủng khiếp. Nhưng sau nhiều cầu nguyện và nước mắt, Ta hiểu ra rằng lời kết án như thế chỉ đưa lại thất bại trong việc cứu giúp người Do-Thái, vì rất có thể nó sẽ khiến cho hoàn cảnh của họ ra tồi hơn… Hiển nhiên một phản đối công khai sẽ đem lại cho Ta lời khen ngợi và lòng ngưỡng phục của thế giới văn minh, nhưng có khi nó đưa người Do-Thái khốn khổ đến cơn bách hại còn tồi tệ hơn nữa”.

Tưởng nên nhắc lại biến cố thảm khốc xẩy ra tại Hòa-lan năm 1942. Ðược gợi hứng bởi thông điệp Opere et Caritate (bằng việc làm và bằng đức ái), và dù bị Nhà Nước đe doạ không được lên tiếng, nếu không sẽ lãnh  hậu quả, các giám mục Hòa-lan cho công bố thư chung đề ngày 19/04/1942 để đọc trong mọi nhà thờ trong nước. Trong thư chung này, các ngài lên án “việc đối xử bất nhân và bất công nhằm vào người Do-Thái bởi những nhà cầm quyền trong đất nước chúng ta”. Quốc Xã trả lời bằng cách ruồng bố bất cứ tu sĩ, nữ tu, linh mục nào dù chỉ có một giọt máu Do-Thái trong người. Hơn 300 nạn nhân bị đưa tới Auschwitz và lập tức bị đẩy vào phòng hơi ngạt, trong đó có Edith Stein, nữ tu Carmelite, triết gia và huyền nhiệm học, người vừa được Giáo Hội tôn phong hiển thánh. Kết quả hành động anh hùng của hàng giáo phẩm Hòa-lan là 79 phần trăm người Do-Thái tại xứ này gồm 110,000 đàn ông, đàn bà và trẻ em đã bị thảm sát, một tỉ lệ cao nhất trong bất cứ quốc gia Tây Âu nào dưới ách thống trị của Quốc Xã. Thành ra, vấn đề ở đây chỉ là vấn đề phán đoán. Phán đoán có thể sai mà cũng có thể đúng. Nếu đối tượng của phán đóan chỉ là những điều trừu tượng, thì sai với đúng chẳng thành vấn đề, nhưng nếu đối tượng của phán đóan là mạng sống con người, thì không ai cho phép ta khinh xuất được. Nó bắt ta phải thận trọng lựa chọn và cái lựa chọn đúng nhất vẫn là ad majora mala vitanda (để tránh sự dữ tệ hơn). Chứng cớ rành rành. Hitler và đồng bọn, như nhận xét của Tiến Sĩ Lichten, không phải là những con người văn minh. Nên không thể đùa dỡn với chúng. Ngày 24 tháng Giêng năm 1943, Ngoại trưởng Quốc Xã, Joachim von Ribbentrop, chỉ thị cho Ðại Sứ Diego von Bergen thông báo cho Ðức Giáo Hoàng hay nếu Ngài hành động chống lại Ðệ Tam Quốc Xã (Reich), “Nước Ðức sẽ không thiếu các phương tiện trả đũa bằng võ lực”. Ðe doạ ấy được von Bergen chuyển cho Ðức Piô XII hai ngày sau. Không thể khinh xuất để cái tỉ lệ thảm sát khủng khiếp của Hòa-lan cũng được áp dụng tại các nơi khác của Tây Âu. Mặt khác, đã đành là có nhiều lời yêu cầu Ðức Piô lên tiếng công khai tố giác Quốc Xã, nhưng cũng không thiếu người cầu mong ngài đừng làm như vậy, oái oăm thay, họ lại chính là những nạn nhân trực tiếp của Quốc Xã. Ta hãy nghe Ðức Cha Jean Bernard, bị cầm tù tại Dachau và sau đó là giám mục Luxembourg, tâm sự: “Các linh mục bị cầm tù run sợ mỗi lần nghe tin có một thẩm quyền tôn giáo nào đó lên tiếng phản đối, đặc biệt là Vatican. Chúng tôi hết thẩy có cảm tưởng là các cai ngục bắt chúng tôi phải đền tội một cách nặng nề vì những lời phản đối ấy… Các mục sư Tin-Lành là những người hay bất bình nhất ‘lại cái ông giáo hoàng ngây thơ và các giám mục ẩu tả của các anh không giữ được miệng nữa rồi… Sao họ không lên tiếng một lần rồi ngậm miệng lại cho rồi. Cứ làm mã anh hùng để bọn này chịu trận!’”.

James Atkin trong bài How Pius XII Saved Jewish Lives, có kể một cặp vợ chồng Do-Thái từng bị giam tại trại tập trung nhưng sau trốn qua được Tây Ban Nha nhờ sự giúp đỡ của Ðức Piô XII cho hay “không ai trong chúng tôi muốn Ðức Giáo Hoàng lên tiếng phản đối công khai. Chúng tôi đều là những kẻ trốn chạy, mà kẻ trốn chạy đâu muốn người ta chỉ vào mình. Gestapo chắc chắn sẽ bị khích động hơn và sẽ gia tăng việc lùng bắt. Một khi Ðức Giáo Hoàng lên tiếng phản đối, Rome sẽ lập tức trở thành nơi kéo chú ý. Tốt hơn,  Ðức Giáo Hoàng nên giữ im lặng. Lúc ấy chúng tôi đều nhất trí như vậy, và cả bây giờ nữa chúng tôi vẫn xác tín như thế”.

Một điểm nữa, ta cần phải để ý đến bản chất của những tên đầu sỏ Quốc Xã. Trên kia chúng tôi đã đề cập đến khía cạnh chúng không phải là những con người văn minh, nên lý lẽ chỉ làm chúng nổi sùng. Một lên án của Giáo Hoàng liệu có làm chúng dừng bước hay không, nhất là những người này không tin tưởng gì các nguyên tắc của Kitô Giáo, coi cái Ðạo ấy chẳng qua chỉ là Ðạo của những kẻ yếu đuối khiếp nhược? Nhiều người tỏ ra hoài nghi . Họ trích dẫn lời của Joseph Goebbels viết trong nhật ký của hắn rằng: “Một khi chúng tôi đã nắm được quyền hành, chúng tôi sẽ không bao giờ từ bỏ nó. Họ sẽ phải kéo xác chết chúng tôi ra khỏi các phủ bộ”

Hai phương thức ngoại giao

Người ta cũng không quên đức Piô XII là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Phương thức hành động của ngài, vì thế, nghiêng nhiều về phía ấy.Charles R. Gallagher, trong một bài báo tựa là Personal, Private Views đăng trên tạp chí America, ngày 1 tháng 9 năm 2003, nhân khi tiết lộ hai tài liệu ngoại giao Mỹ trong những năm 1938 và 1939, vừa được tìm thấy tại Thư Viện Tổng Thống JF Kennedy ở Boston và tại Thư Viện Bộ Ngoại Giao Mỹ, đã đề cập nhiều đến khía cạnh này. Theo ông, đức Piô XII, một con người thức thời, đã chứng kiến sự thoái lui của điều được gọi là nền ngoại giao của thế giới cũ, thế giới thế kỷ 19 và sự xuất hiện nhanh chóng của nền ngoại giao tân thời. Ðối với các nhà ngoại giao được huấn luyện theo thủ tục của thế kỷ 19, thì tính bí mật (secrecy) trong các vụ thương thảo là quan trọng hơn cả, các hiệp ước hoàn tất là không thể vi phạm được, và các qui thức thủ  tục (formality) phải là tối thượng. Trong những vụ quan yếu, các chính phủ và các vị nguyên thủ quốc gia phải được tiếp xúc với cánh cửa  hoàn toàn khép kín.

Khoảng cuối Thế Chiến II, một phương thức ngoại giao hoàn toàn mới bắt đầu hình thành. Nó được nhận dạng qua các hội nghị công khai, qua những cuộc tranh luận dài dựa trên các lý tưởng dân chủ và chú trọng nhiều đến các liên hệ bản thân (personal) giữa các nhà lãnh đạo. Trong sự thay đổi đáng kể ấy, thành công trong các cuộc thương thảo được đo nhiều không phải bởi bản chất của hiệp ước (contractual substance) cho bằng bởi cái tinh thần do hội nghị ấy sản sinh ra. Eugenio Pacelli, trong tư cách Quốc Vụ Khanh và Giáo Hoàng, đã phối hợp cả hai nền ngoại giao ấy trong hành xử của ngài. Ðúng hơn, có thể nói rằng ngài cố gắng hiểu cả hai kiểu thức ngoại giao ấy và đem chúng áp dụng vào thực tế. Trong chiều hướng ấy, các sử gia thấy bên cạnh các hành động ngoại giao cũng như các công bố chính trị công khai, ngài cũng đã có những cuộc thảo luận tư riêng và bí mật.

Gallagher sau đó đơn cử hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất là phúc trình năm 1939 của Alfred W. Klieforth, lúc ấy là lãnh sự Mỹ tại Berlin, đến Rome thảo luận 3 tiếng đồng hồ với Hồng Y Pacelli về Tình Hình Tại Ðức. Ông cho Bộ Ngoại Giao hay, đức Pacelli đơn phương chống lại mọi thỏa hiệp với Quốc Xã. Ngài coi Hitler không những như một tên vô lại không đáng tin mà căn để còn là một người độc ác. Ngài không tin Hitler có thể chừng mực, dù bề ngoài có là gì đi nữa, và ngài hoàn toàn ủng hộ các giám mục Ðức trong chủ trương chống Quốc Xã của họ. Phúc trình này được Gallagher tìm thấy vào Mùa Hè năm 2003 tại Ðại Học Havard, trong văn khố riêng của Jay Pierrepont Moffat, người đứng đầu Phân Bộ Âu Châu của Bộ Ngoại Giao Mỹ thời trước Thế Chiến II. Nó cho thấy rõ nhất thái độ của Hồng Y Pacelli đối với Hitler. Nhưng mặt khác nó cũng nói lên điều này nữa là ngài thích đưa ra  những nhận xét như thế một cách tư riêng, với các nhà ngoại giao chuyên nghiệp và trong bối cảnh một bàn luận chính thức. Giống như phần lớn các nhà ngoại giao cùng thời, ngài chưa hoàn toàn thoát ra ngoài những qui luật của nền ngoại giao cũ.

Trường hợp thứ hai là hồ sơ ngoại giao của Ðại sứ Hoa Kỳ tại London, Joseph P. Kennedy, vừa được tìm thấy tại Thư Viện Tổng Thống JF Kennedy ở Boston. Trong số hồ sơ này, có phúc trình của Hồng Y Pacelli. Joseph Kennedy làm đại sứ Hoa Kỳ tại Anh trong các năm 1938-1940. Tháng 4 năm 1938, ông qua Rome gặp Hồng Y Pacelli, được Hồng Y trao cho một phúc trình dài bàn về Chủ Nghĩa Quốc Xã, trong đó ngài đưa ra quan điểm riêng, để tùy ông đại sứ kín đáo sử dụng, nhưng ông đại sứ được phép chuyển các quan điểm tư riêng này của tôi cho Người Bạn của ông (ám chỉ TT Franklin D. Roosevelt). Trong phúc trình này, Pacelli chỉ rõ chương trình của Quốc Xã tấn công thẳng vào nguyên tắc nền tảng của tự do hành đạo và cho thấy việc xuất hiện của một tân Chiến Tranh Văn Hóa (Kulturkampf) chống lại Giáo hội. Với một giọng điệu như bị vây hãm và đôi chút kinh hãi, ngài nhận định rằng Giáo hội đôi lúc cảm thấy bất lực và lẻ loi trong cuộc chiến hàng ngày chống lại đủ mọi thứ quá khích chính trị từ những người Bolsheviks tới những người ngoại đạo tân thời giữa các thế hệ Aryan trẻ. Dù thế, ngài vẫn đoan chắc với Ðại Sức Kennedy rằng thoả hiệp chính trị với chế độ Quốc Xã là điều không được đặt ra. Ta thấy yếu tính của phúc trình này là một văn kiện ngoại giao của Vatican và là một lên án riêng chống lại chủ nghĩa ngoại đạo Quốc Xã, nhưng phúc trình này, trong 65 năm qua, đâu được ai thấy ngoại trừ đại sứ Kennedy, TT Roosevelt và  Thủ tướng Neville Chamberlain. Bởi theo tập tục ngoại giao cũ, chỉ các nguyên thủ quốc gia mới nên được đệ trình những phúc trình như thế.

Gallagher cũng nhận xét rằng kiểu thức ngoại giao cũ nhiều khi làm người ta hiểu lầm như trường hợp đức Piô XII gửi điện văn cho Hitler lúc lên ngôi Giáo Hoàng. Lối văn chương ngọai giao bóng bẩy đầy mỹ từ ấy thật khác xa với những nhận xét ngài nói với Ðại sứ Kennedy một ngày sau lễ đăng quang. Kennedy phúc trình về Bộ Ngoại Giao rằng tân giáo hoàng  những thiên kiến tiềm thức phát sinh từ niềm tin của ngài rằng Chủ Nghĩa Quốc Xã và Chủ Nghĩa Phát-Xít là hai chủ nghĩa phò tà giáo (pro-pagan), mà đã phò tà giáo là phá hoại tận gốc tôn giáo. Gallagher kết thúc bài báo của mình bằng chi tiết qua đó, trước khi Thế Chiến II bùng nổ, đại sứ Kennedy khuyên ngài nên cố gắng một lần nữa thương thảo với Ðệ Tam Liên Bang Ðức để gìn giữ hòa bình. Ngài cho Ðại Sứ hay Giáo Hội chỉ có thể làm đến thế. Tuy nhiên, giáo hội sẽ làm những gì mình có thể làm được.

Hành động hơn lời nói

Phải chăng đó là chủ điểm của Opere et Caritate. Làm bằng lời vô ích, thì làm bằng việc làm và đức ái ? Bằng Việc Làm và bằng Bác Ái là một thư bí mật Ðức Piô XII gửi cho các giám mục Âu Châu nói về việc trợ giúp người Do-Thái trong Thế Chiến II. Suy cho cùng, bất cứ tổ chức nào vụ opere et caritate, chứ không phải chỉ verbo et littera (ngôn từ) cũng đã chọn phương thức hành động cẩn trọng này. Như Hồng Thập Tự Quốc Tế chẳng hạn, hay như Hội Ðồng Các Giáo Hội Thế Giới tại Geneva. Cả hai đã chọn không đưa ra các công bố công khai có thể làm cản trở công tác cứu tế của họ hoặc gây nên gia tăng đau khổ cho các nạn nhân bất luận họ là Do-Thái, Slavs, Kitô hữu, linh mục, gypsies, đồng tính luyến ái, hay cộng sản. Và việc làm của Ðức Giáo Hoàng thì không một ai không nhìn nhận và ca ngợi, kể cả Hochhuth và những người Do-Thái khó tính như Leon Poliakov (The Jews under the Italian Occupation) và Shira Schoenberg (Pope Pius XII and the Holocaust). Pinchas E. Lapide, tác giả cuốn Ba Vị Giáo Hoàng trước đây và Người Do-Thái (Three Last Three Popes and the Jews, London 1967), vốn là cựu lãnh sự Israel tại Milan đầu thập niên 1960, và hiện nay là một giáo sĩ Do-Thái, đã lục lọi Văn Khố Yad Vashem, Văn Khố Zion Trung Ương, và Tổng Văn Khố Lịch Sử Do-Thái tại Jerusalem, để tìm tòi các tài liệu liên quan đến việc Vatican trợ giúp người Do-Thái thời chiến tranh. Nhờ thế ông đã đưa ra kết luận sau đây: Toà Thánh đã làm nhiều để trợ giúp người Do-Thái hơn bất cứ tổ chức nào khác của Tây Phương, kể cả Hồng Thập Tự. Theo ông tính, trực tiếp hay gián tiếp, Giáo hoàng Piô XII đã cứu sống khoảng 860,000 người Do-Thái.

Ðể đạt thành qủa trên, Ðức Piô XII đã đưa ra những biện pháp vô tiền khóang hậu trong lịch sử vốn được coi là bảo thủ (hoặc pháo đài) của Giáo Hội Công Giáo như xử dụng  các tu viện kín, dù là của các nữ tu, làm nơi trú ẩn cho hàng ngàn người Do-Thái. Chỉ riêng tại Rome, đã có từ 4,000 đến 7,000 người Do-Thái được giúp đỡ kiểu này. Gia Ðình Von Trapp trong  phim The Sound of Music, mà ai trong chúng ta cũng đã từng xem qua ít nhất một lần, là một phản ảnh có thật của chính sách này. Tiếc thay, Saul Friedlander, một người sống sót nhờ trốn như thế, lại không biết ơn còn phê phán Ðức Piô XII trong tác phẩm Pius XII and the Third Reich xuất bản tại Paris năm 1964. Trái với Ðại Giáo Trưởng Do-Thái của Rome là Israel Anton Zolli. Ông và gia đình được sống sót nhờ trú ẩn trong các tu viện kín tại Rome. Trong hồi ký, ông kể lại việc Ðức Piô XII gửi thư tay đến các giám mục yêu cầu bỏ luật nhà kín để mở cửa cho người Do-Thái. Ông viết: “Tôi biết một nữ tu viện kia các nữ tu phải ngủ tại tầng hầm, dành giường của mình cho các người tị nạn Do-Thái”. Cái luật nhà kín, họ còn hy sinh được, cái giường thì đáng giá chi so với lòng bác ái đối với các nạn nhân Quốc Xã!  Giáo Trưởng cũng nhắc đến việc Ðức Piô XII ra lệnh xuất số vàng dự trữ của Toà Thánh để thoả mãn việc tống tiền của Quốc Xã trong âm mưu trục xuất người Do-Thái khỏi Rome, mà việc sắp xếp chính ông được tham dự vào. Cảm kích trước các hành động ấy,  ông và gia đình trở lại đạo ngay sau Chiến Tranh. Một sự kiện lý thú là Ðội Cận Vệ Palatine của Ðức Giáo Hoàng: năm 1942, con số là 300 người mà đến tháng Mười Hai năm 1943, con số ấy tăng tới 4,000 với đầy đủ giấy thông hành của Toà Thánh. Ít nhất 400 người trong số họ là Do-Thái (Xem Thomas Craughwell, Pius XII and the Holocaust). Xa hơn nữa, là việc cấp các giấy tờ căn cước giả cho người Do-Thái có thể trốn thoát đến những vùng an toàn. Về việc này phải kể đến linh-mục Marie-Benoit, dòng Capuchin, tại Marseilles. Theo tiến sĩ Lichten, không những linh-mục Marie-Benoit thuyết phục được viên tổng thanh tra của Ý tại  Nice, Guido Lospinoso, không thi hành việc trục xuất 15,000 người Do-Thái, mà còn biến tu viện của mình thành một nhà máy chuyên ấn hành giấy thông hành, giấy căn cước, chứng chỉ rửa tội và thư giới thiệu việc làm giúp người Do-Thái có thể trốn qua Tây Ban Nha và Thụy Sĩ. Việc làm của ông được đệ trình lên Ðức Piô XII và được sự ủng hộ hoàn toàn của ngài. Một phần do những lời trình này, mà văn phòng cứu trợ riêng của Toà Thánh, St Raphael Verein, và Văn Phòng Thông Tin, Uffizio Informazioni Vaticano, đã chuyển hẳn hành động nhằm giúp đỡ tinh thần và vật chất cho người Do-Thái. Riêng ở Ðức, Văn Phòng này nhận được 102,026 đơn xin cung cấp tin tức thân nhân thất lạc và 36,877 trường hợp đã nhận được phúc đáp. Riêng St. Raphael Verein, dưới sự điều khiển của Cha Anton Weber, dòng Pallotines, đã trực tiếp giúp đỡ 25,000 người Do-Thái, trong đó, 4,000 người đã có thể du hành tới những nơi an toàn tại ngoại quốc nhờ các giấy tờ hợp lệ do văn phòng này lo liệu.

Về việc cung cấp các giấy tờ trên, điểm nổi bật nhất chính là điều Ira Hirschmann gọi là Chiến Dịch Rửa Tội (Operation Baptism). Theo Tiến Sĩ Lichten, ít nhất ở những quốc gia do Ðức Quốc Xã chiếm đóng, người Do-Thái nào chứng minh được mình là thành viên của Giáo Hội Công Giáo bằng cách trưng được giấy chứng Rửa Tội, thì có thể xử dụng giấy ấy như một thứ thông hành để ra khỏi xứ. Hiện chưa có một hồ sơ nào cho biết ai đưa ra sáng kiến này và sáng kiến này được thực hiện ra sao, nhưng sự hiện hữu của những giấy chứng rửa tội giả, mà con số lên đến hàng ngàn, là một sự việc có thật. Một sự việc có thật nữa là Vatican biết rõ kế hoạch này và các thành viên của các nhóm kháng chiến, các sứ thần Tòa Thánh, các nữ tu, các đại diện của các nhóm cứu trợ Do-Thái đặt bản doanh tại các nuớc Ðồng Minh, và man vàn những công dân bình thường khác đều đã hy sinh phúc lợi riêng, nếu không muốn nói chính mạng sống mình, trong việc cổ võ cho kế hoạch thần diệu này. Riêng tại Hungary, kế hoạch đã cung cấp 80,000 chứng từ rửa tội kiểu này (Xem Jewish Virtual Library, 860,000 Lives Saved – The Truth About Pius XII and the Jews). Ðến giữa năm 1944, trong khi chỉ có những người Do-Thái tại Budapest tạm thời tránh thoát thảm họa sũng máu ở Hungary, một khuôn mặt Công Giáo thân thương khác đã tham gia việc đẩy mạnh chiến dịch này, làm gia tăng nhiều lần việc phân phối các thứ giấy chứng rửa tội giả ấy. Ðó chính là cộng sự viên gần gũi và là người kế vị Ðức Piô XII, Tổng Giám Mục Roncalli, Giáo Hoàng Gioan XXIII tương lai.

Con số 860,000 người Do-Thái được Giáo Hội Công Giáo cứu sống so với 6 triệu người Do-Thái được kể là bị thảm sát dưới bàn tay khát máu của Ðức Quốc Xã, thực ra chẳng thấm vào đâu. Không lạ gì, sau khi chiến tranh chấm dứt, lúc mà con số khủng khiếp kia được xác nhận, Ðức Piô XII tỏ ra buồn đã không thể cứu được nhiều người Do-Thái hơn. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Harry Greenstein, hiện là giám đốc của Liên Hiệp Bác Ái  Do-Thái tại Baltimore, và  trước đây là  đại diện của Ðại Giáo Trưởng Do-Thái của Jerusalem,  Isaac Herzog, đến cám ơn Ðức Piô XII, đã kể lại thái độ của Ðức Piô lúc ấy :”Ngài trả lời rằng ngài chỉ tiếc là đã không thế nào cứu được nhiều người Do-Thái hơn”. Tuy nhiên, lịch sử cho thấy chưa có tổ chức quốc tế nào đã đạt được thành quả trên.

Không ủng hộ không có nghĩa là bài

Vừa rồi chúng tôi có nhắc đến Ðức Gioan XXIII. Nhiều người dựa vào việc ngài cũng như Ðức Gioan Phaolô II xin lỗi người Do-Thái về những tâm tình bài Do-Thái trước đây của người Công Giáo, để mà kết luận đã đến lúc Giáo Hội Công Giáo phải nhìn nhận lỗi của mình trong biến cố 6 triệu người Do-Thái bị thảm sát trong Thế Chiến Hai. Ðây là một ngộ nhận cần được gạt bỏ. Theo William D. Rubeinstein, Giáo sư Sử học Hiện Ðại tại Ðại Học Wales, Aberrystwyth, đã đành tư tưởng Công Giáo tại lục địa Âu-Châu, trong thời gian giữa hai Thế Chiến, không mấy thiện cảm với người Do-Thái. Phần lớn các nhà trí thức và linh-mục Công Giáo cho rằng có quá nhiều người Do-Thái trong các nước Âu Châu có đông người Công Giáo và vì những người này không chịu đồng hóa, nên họ trở thành chướng ngại vật cho các hoài bão quốc gia của các nước này. Theo họ, người Do-Thái có quá nhiều ảnh hưởng kinh tế, can dự một cách bất cân xứng vào các phong trào Mác-xit và Tam Ðiểm, và xét chung là những người tiên phong của chủ nghĩa văn hóa vụ tân thời có tính phá hoại (destructive cultural modernism), do đó thù nghịch với sự ổn định Công Giáo và các giá trị bảo thủ. Phần lớn những tư tưởng gia này muốn người Do-Thái ra đi. Nhưng không một ai trong số họ ủng hộ bạo lực hoặc những phong trào bách hại người Do-Thái (pogrom). Tại Ba-Lan chẳng hạn,  những phần tử bài Do-Thái dữ dằn nhất trong giới truyền thông cũng luôn luôn lên tiếng phản đối việc bách hại người Do-Thái. Tờ Maly Dziennik, một tờ báo Công Giáo bài Do-Thái, đã đưa ra lời bình luận sau đây trong số tháng Sáu năm 1935: “Chúng ta nên tiến hành cuộc đấu tranh chống làn sóng Do-Thái của chúng ta theo phương cách Kitô giáo, không hận thù và không bạo lực”. Hiệu quả tư tưởng Công Giáo tại lục địa Âu-Châu vì thế gián tiếp lên men cho sự thù nghịch chống người Do-Thái nhưng đã thành thực lên án bạo lực chống lại họ, một thứ nước đôi khá quen thuộc đã có từ thời Trung Cổ. Trong không khí bài Do-Thái có tính chủng tộc giết người do Ðức Quốc Xã tạo ra, tư tưởng cũng như thái độ Công Giáo nói trên đối với người Do-Thái mới nhìn xem ra có vẻ đáng trách, nhưng thực ra đã gián chỉ và giảm thiểu bạo lực chống lại họ, và luôn luôn khích lệ các cố gắng cứu mạng. Trước và trong Thế Chiến Hai, các chế độ chịu ảnh hưởng nặng của giáo sĩ  trị thường đưa ra các luật lệ bài Do-Thái, nhưng lúc nào cũng dừng lại ở nạn diệt chủng. Không một chế độ nào nếu tự trị mà lại tham dự vào việc giết người hàng loạt chống Do-Thái, dù lẻ tẻ vẫn có những cá nhân và những viên chức bàn giấy trong các chính phủ này trực tiếp tham dự vào Giải Pháp Chung Cuộc. Người ta có thể chứng minh được rằng tỷ lệ sống còn của người Do-Thái trong các nước Công Giáo bao giờ cũng cao hơn tại các nước khác ở Âu Châu từng bị Ðức Quốc Xã chiếm đóng. Thí dụ rõ nhất là tại Bỉ Công Giáo và tại Hoà-Lan Thệ Phản. Tại Hòa-Lan, 104,000 trong số 140,000 (74%) người Do-Thái bị thảm sát, trong khi tại Bỉ, “chỉ có“ 28,000 trong số 90,000 (31%) người Do-Thái bị Quốc Xã giết chết. Tại Pháp, mặc dù sự tàn ác của chính phủ Vichy, vào khoảng 78,000 trong số 300,000 (26%) người Do-Thái thiệt mạng. Tại Ý, không có vụ trục xuất nào xẩy ra trước khi Quốc Xã chiếm đóng vào tháng Chín năm 1943,  7,700 trong số 44,500 (17%) người Do-Thái bị giết chết. Chỉ riêng tại Ba-Lan, tỷ lệ kia cao hơn: vào khoảng 2.5 triệu trong số 3.2 triệu (78%) người Do-Thái bị thảm sát. Việc thảm sát khủng khiếp này không do người Công Giáo Ba-Lan thực hiện là bởi vì không giống các nước khác, Ba-Lan bị Ðức trực tiếp cai trị, không qua một chính phủ bù nhìn. Bọn SS trực tiếp giải quyết vấn đề Do-Thái tại đó. Dưới mắt Ðức Quốc Xã, người Ba-Lan cũng thuộc một thứ tộc người hèn hạ như Do-Thái, cho nên không đáng có một chính phủ riêng, dù là bù nhìn. Chính vì vậy, người Công Giáo Ba-Lan cũng là người bị Quốc Xã bách hại nhiều hơn cả. Cũng cần lưu ý một điều, dù người Ba-Lan không ưa Do-Thái, 100,000 người Do-Thái đã được cứu sống nhờ ẩn dật nơi các gia đình Ba-Lan. Tưởng cũng nên thêm rằng  sở dĩ Ðức Piô XII từ khước không công khai lên án Quốc Xã trong việc thảm sát người Do-Thái và cả Kitô hữu nữa theo yêu cầu của Ðồng Minh là bởi Ðồng Minh cũng không ủng hộ việc Ngài muốn lên án công khai chế độ Stalin, lúc ấy là đồng minh của Mỹ, trong việc sát hại biết bao người Do-Thái và các tín hữu khác. Theo Kenneth L. Woodward, Newsweek, March 30, 1998, lịch sử cho thấy 5 trong số 6 triệu người Do-Thái chết là từ Nga và Ba-Lan, nơi giáo hoàng không có một chút quyền hành sai khiến bất cứ ai.

Tóm lại, Giáo Hội Công Giáo đã nhận lỗi về phần mình. Nhưng không ai có quyền đẩy cái phần lỗi Giáo Hội Công Giáo không phạm bắt phải nhận là của mình. Ở đây người ta cố tình đánh lộn con đen, khiến họ quên đi tội đồ chính hiệu, bằng cách đặt cái phương trình luân lý đồng đều giữa những tên sát nhân tập thể và những người cố gắng, dù kiến hiệu hay không, làm chúng dừng tay.

Phản ứng của các nhà lãnh đạo Do Thái

Chính vì những cố gắng phi thường của Công Giáo nói chung và của cá nhân đức Piô XII nói riêng nói trên, các giới Do-Thái cả chính trị lẫn tôn giáo đều lên tiếng ca ngợi công khai. Trên kia chúng tôi có nhắc đến Ðại Giáo Trưởng Do-Thái tại Jerusalem, Isaac Herzog. Chính ông đã thân hành qua Constantinople gặp Sứ Thần Tòa Thánh Angelo Roncalli tại đó để vận động cho Quĩ Cứu Tế Do-Thái của ông. Sau chiến tranh, ông đã gửi đến Ðức Piô XII qua trung gian Harry Greenstein lời cám ơn chân thành vì “những cố gắng cứu mạng của ngài nhân danh người Do-Thái trong thời Quốc Xã chiếm đóng Ý-Ðại-Lợi”. Chúng tôi cũng đã nhắc đến Ðại Giáo Trưởng Do-Thái tại Rome, Israel Anton Zolli và việc gia đình ông trở lại Ðạo Công Giáo sau chiến tranh. Chính ông lấy tên thánh Eugenio, vốn là tên thánh của Ðức Giáo Hoàng, đặt cho mình để tỏ lòng biết ơn Ðức Piô XII. Ông viết: “Ðiều Vatican làm sẽ được ghi khắc không bao giờ phai nhoà và đời đời trong tim óc chúng tôi… Các linh-mục và cả các giáo phẩm cao cấp đều đã thực hiện những công việc muôn đời trở thành niềm vinh dự cho Ðạo Công-Giáo”. Sau khi Ðức Piô XII qua đời, Ðại Giáo Trưởng tại Rome là Elio Toaff  tuyên bố: “hơn bất cứ ai khác, chúng tôi được may mắn chứng kiến lòng tốt vĩ đại, đầy cảm thương và hào hiệp, mà Ðức Giáo Hoàng đã bày tỏ trong những năm khủng khiếp của bách hại và khủng bố, khi xem ra chẳng còn một chút hy vọng gì cho chúng tôi”. Tại Liên Hiệp Quốc, ngoại trưởng Do-Thái, và sau này là Thủ Tướng đàn bà đầu tiên của thế giới, Golda Meir, phát biểu như sau: “Suốt trong một thế hệ chiến tranh và phân rẽ, ngài đã khẳng quyết các lý tưởng cao đẹp của hoà bình và lân tuất. Suốt trong mười năm khủng bố Quốc Xã, khi tộc người chúng tôi kinh qua các khiếp đảm của tử đạo, Ðức Giáo Hoàng đã lên tiếng kết án những kẻ bách hại và tỏ lòng sót thương các nạn nhân. Sự sống chúng tôi được giầu có thêm nhờ tiếng nói gióng lên các chân lý đạo đức cao cả vượt trên những ồn ào náo động của các cuộc xung đột hàng ngày. Chúng tôi đau buồn vì việc mất đi một người duy trì hòa bình vĩ đại”. Về phần mình, tiến sĩ Nahum Goldmann, Chủ Tịch Hiệp Hội Do-Thái Thế Giới (World Jewish Congress), viết lời phân ưu sau đây: “Với lòng biết ơn đặc biệt, chúng tôi tưởng nhớ mọi điều Ngài đã làm cho người Do-Thái bị bách hại suốt một trong những thời kỳ đen tối nhất của toàn bộ lịch sử của họ”. Sau cùng, người vừa được bầu là Người Của Thế Kỷ, Albert Einstein, tâm sự như sau: “Là một người yêu tự do, nên khi cách mạng dấy lên tại Ðức, tôi đã hướng về các đại học để bảo vệ nó, vì biết rằng các đại học luôn luôn tự hào về lòng tận tụy của mình đối với chân lý; nhưng không, các đại học đã lập tức giữ im lặng. Sau đó tôi đã hướng về các chủ bút vĩ đại của các nhật báo mà những bài xã luận nẩy lửa của những ngày qua đã nói lên lòng yêu tự do của họ. Nhưng họ, cũng như các đại học, đều đã lặng thinh chỉ mấy tuần lễ ngắn ngủi sau đó. Chỉ có Giáo Hội là đứng chân phương chắn đường chiến dịch Hitler dập tắt sự thật. Trước đây, tôi chưa bao giờ đặc biệt chú tâm chi tới Giáo Hội, nhưng giờ đây tôi cảm thấy một thân thương và ngưỡng mộ lớn bởi chỉ có một mình Giáo Hội có cái can đảm và trì chí đứng lên bênh vực chân lý tri thức và tự do luân lý. Cho  nên tôi buộc phải thú nhận rằng điều trước đây tôi khinh ghét, giờ đây xin ca tụng  không chút e dè.”.

Lời tố cáo của Hochhuth, vì thế, vừa không đúng vừa thật lẻ loi.

 

2. GIÁO HOÀNG HITLER (Hitler’s Pope)

Thực ra Hochhuth không lẻ loi như người ta tưởng, vì sau ông, một số tác giả khác như Friedlander, cũng tham gia vào trận tấn công không chính đáng chút nào này. Phần lớn các tác giả không phải là các sử gia chuyên nghiệp, cũng không đặt căn bản những điều mình viết trên phương pháp sử học, mà dựa vào các tài liệu đệ nhị đẳng (trích lại lời người khác, hoặc dựa vào bản sao chép các tài liệu lịch sử). Chính để góp phần soi sáng sự thật lịch sử, Ðức Phaolô Ðệ Lục đã làm một ngoại lệ bằng cách phá bỏ luật bí mật 70 năm vốn áp dụng xưa nay cho các văn khố Toà Thánh, và năm 1964, đã chỉ thị cho một nhóm học giả Dòng Tên nhuận chính các tài liệu thời chiến của Vatican để nhanh chóng cho xuất bản. Công trình nhuận chính ấy gồm 11 cuốn được ấn hành giữa các năm 1965 và 1981. Dưới tựa đề chung Các Văn Kiện và Tài Liệu của Tòa Thánh liên quan đến Ðệ Nhị Thế Chiến (ADSS-Actes et Documents du Saint Siège relatif à la Seconde Guerre Mondiale), các tài liệu này được công bố theo  nguyên ngữ  với  các hướng dẫn nghiên cứu (apparatus) bằng tiếng Pháp kèm theo; chỉ có một cuốn, là cuốn thứ nhất, được ấn hành bằng tiếng Anh. Phạm vi các chứng từ nhờ thế thật đồ sộ và bác học.

Nhưng có lẽ vì quá đồ sộ và bác học, nên các tài liệu này trở thành một thứ nhạc thanh nhã được gẩy vào tai trâu chăng, nên vẫn có những người viết về Ðức Piô XII mà không gặt hái gì được nhờ bộ tài liệu ấy. Một trong số họ là John Cornwell, tác giả cuốn Giáo Hoàng Hitler, Lịch Sử Bí Mật về Piô XII (Hitler’s Pope, the Secret History of Pius XII), do nhà Viking xuất bản tại London năm 1999. Tựa đề này mà thôi cũng đủ giúp độc giả ngửi thấy cái mùi quen thuộc của Tây Dương Gia Tô Bí Lục, Ghi Chép Những Chuyện Kín của Ðạo Gia Tô Tây Dương. Sao mà giống nhau đến thế. Làm như John Cornwell có qua Hà-Nội thụ giáo không bằng! Cũng khó mà không có một kết luận như vậy, nếu ta đọc cái nguyên ủy đưa đến việc ra đời tác phẩm này.

Chủ Ý

Trước khi tác phẩm trên được tung ra thị trường, nguyệt san thời thượng Vanity Fair có một bài phỏng vấn John Cornwell. Và căn cứ vào chính Lời Nói Ðầu của tác phẩm, người ta được biết: một cuộc đối thoại nẩy lửa giữa ông và một nhóm sinh viên liên quan đến Ðức Piô XII khiến ông muốn bênh vực ngài bằng một “tiểu sử đầy đủ” qua một cuốn sách  có thể thoả mãn nhiều loại độc giả khác nhau, già cũng như trẻ, cả Công Giáo lẫn không Công Giáo. Ông bèn xin được phép vào các văn khố chủ yếu của Rome để tra cứu các tài liệu cần thiết. Phép này được cấp sau khi các viên chức Vatican bị thuyết phục là “tôi ở về phía bênh chủ đề. Hành động hoàn toàn theo thiện ý, hai thủ văn khố chủ yếu cho tôi phép được tự do đọc các tài liệu chưa ai được xem: đó là các lời khai có tuyên thệ được thu lượm suốt hơn 30 năm qua để phong chân phước cho Pacelli, cũng như các tài liệu tại Văn Phòng Quốc Vụ Khanh của Vatican… Ðến giữa năm 1997, lúc gần kết thúc việc tra cứu của mình, tôi thấy tôi rơi vào trạng thái chỉ có thể mô tả là bị  xúc kích tinh thần (moral shock). Những tư liệu mà tôi thu lượm được, nếu xét cuộc đời của Pacelli dưới một cái nhìn bao quát hơn, sẽ đưa người ta tới không phải việc gỡ tội mà là việc phải kết án rộng rãi hơn nữa” (Giáo Hoàng Hitler, trang X). Và đấy là chủ ý của tác phẩm.

Trong Tây Dương Gia-Tô Bí Lục, (Ghi Chép Những Chuyện Kín Của Ðạo Gia-Tô Tây Dương), Ngô Ðức Thọ viết thế này: “Giáo Ðồ trấn Sơn Nam Hạ không chịu mất dòng (Tên), đã trích qũy nhà thờ và quyên góp thêm được một số tiền tạm đủ, khẩn thiết thỉnh cầu hai giám mục địa phận Nam Chân (nay là vùng Hải Hậu, Hà Nam Ninh) là Phạm Ngộ Hiên và Nguyễn Hòa Ðường sang Tây Dương đưa đơn khiếu nại lên Giáo Hoàng. Hai ông sợ giáo đồ đồng lọat bỏ đạo, đã nhận lời ra đi. Qua Ma Cao, đi thuyền biển mất sáu tháng, hai ông đến La-Mã khoảng giữa năm 1793, đưa đơn khiếu nại và được vào bệ kiến Giáo Hoàng. Hai ông được đón tiếp ân cần trang trọng, nhưng lời thỉnh cầu khôi phục dòng đạo thì không được giải quyết. Cũng trong dịp đó, hai ông được Giáo Hoàng đặc cách cho đọc một tập tài liệu mật của giáo hội… Về nước năm 1794, hai ông cùng nhau ôn trí nhớ, ghi lại nội dung cuốn sách đã được đọc trong điện Giáo Hoàng, đặt tên là Gia Tô Bí Pháp (Phép Kín Của Ðạo Gia-Tô), cất kín trong tráp để đợi thời, rồi bỏ chức giám mục mà ra khỏi đạo” (trang 12).

Ðúng là những ‘đầu óc lớn’ luôn luôn gặp nhau, dù là từ hai phương trời xa thẳm và cách nhau hàng 3, 4 thế kỷ. Chỉ có điều Cornwell không những không ra khỏi đạo sau khi được đọc hai bộ tài liệu mật trên, mà còn muốn bênh vực đạo khỏi cái mà ông gọi là những chính sách tập quyền độc đoán của ngôi vị giáo hoàng đã và đang hủy hoại Ðạo Công Giáo. Muốn thế thì trước mắt phải lên án con người sắp được Toà Phêrô phong chân phước và sau đó phong thánh, bởi nếu hai việc này diễn tiến, các chính sách của Eugenio Pacelli sẽ được nhìn nhận và như thế Ðạo Công Giáo sẽ “đóng ấn thiên niên kỷ thứ hai bằng một dối trá, và chuẩn bị thiên niên kỷ thứ ba cho những thảm hoạ mới” như nhận định của (cựu?) linh-mục James Carroll (xem The Holocaust and the Catholic Church. Không nên lẫn với linh mục  Michael Carroll, Pius XII: Greatness Dishonoured).

Cornwell chỉ trích Hochhuth, coi đó là cuộc “tấn công tai tiếng nhất” nhằm vào Ðức Piô XII, “một hư cấu lịch sử ít dựa vào tài liệu… Còn trầm trọng hơn nữa, việc lên nhân vật Pacelli như một người giả hình ham tiền thật quá xa trọng điểm đến nực cười. Tuy nhiên quan trọng nhất,  kịch bản của Hochhuth xâm phạm một trong những tiêu chuẩn căn bản nhất của một tài liệu: những chuyện kể và những chân dung trong đó chỉ có giá trị nếu có thể chứng minh được là chúng đúng sự thật” (tr. 365). Pacelli của Cornwell khác hẳn thế. “Các giáo hoàng của thế kỷ hai mươi không phải là những con người vị kỷ đi tìm kiêu hãnh, ngạo mạn (hubris), tham lam trần đời. Không trừ một ai, họ đều là những con người của cầu nguyện và lương tâm cao độ, bị trĩu nặng vì cái lịch sử ba chìm bẩy nổi của một định chế cổ xưa mà họ là đại diện. Pacelli cũng thế thôi” (tr.4). Trái với Hochhuth, Pacelli của Cornwell không hề ưa Hitler và bọn Quốc Xã, còn ghét bọn chúng là đàng khác. Mặt khác, Pacelli của Cornwell không hề nhát gan như Pacelli của Hochhuth, vì ngài dám làm trung gian trong một âm mưu lật đổ Hitler của tướng Ludwig Beck.  Cornwell tấn công Pacelli trên một trận tuyến khác:“Tuy thế, việc ngài gây một ảnh hưởng sinh tử và đầy tội ác lên lịch sử của thế kỷ hiện nay là đề tài của sách này” (trang 4).

Ông kể ra các căn bản làm nền cho câu phán quyết trên đây. Trước nhất, Pacelli sinh tại Rome năm 1876 trong một gia đình gồm nhiều luật gia từng phục vụ ngôi vị giáo hoàng và đang  bất mãn vì nhà nước tân lập Ý tiêu diệt các lãnh thổ của giáo hoàng. Thời ấy là thời của Ðức Piô IX, với Công Ðồng Vatican I và quyền vô ngộ. Cornwell không quên kể lại câu chuyện Pio Nono (biệt danh của Ðức Giáo Hoàng Piô Thứ Chín) nhận nuôi một đứa trẻ Do-Thái ngược với ý muốn của cha mẹ nó, tự mình săn sóc đứa trẻ cho đến lúc nó thụ phong linh-mục. Một thứ bài Do-Thái, theo Cornwell. Giáo dục tiểu học, rồi trung học và đại học của Pacelli, phần lớn diễn ra ngay trong chính gia đình với sự chăm sóc trực tiếp của mẹ, nhiễm đầy tinh thần bài Do-Thái của Tập San hàng đầu Civilta Cattolica. Rồi từ khung cảnh gia đình, Pacelli bước thẳng vào Vatican, một thứ Vatican bài dân chủ, bài tư tưởng Mỹ (Americanism), bài chủ trương tân thời (Modernism). Luận án tiến sĩ bàn về bản chất các tông hiệp (concordats, hiệp ước Toà Thánh ký với các chính phủ dân sự). Rồi tham dự vào việc soạn thảo Bộ Giáo Luật 1917 nhằm “khuôn định một cách toàn diện các điều kiện bên trong giáo hội” và với “tính vô ngộ tiệm tiến” trong mình, nó đã trở thành “một thứ chẳng giống thứ gì giáo hội vốn có trong suốt 2,000 năm hiện diện” bởi nó đem lại cho ngôi vị giáo hoàng sự thống trị bất thách thức từ trung ương Roma, bên dưới chỉ răm rắp cúi đầu tuân theo. Ðiều đáng chú ý hơn, Pacelli xử dụng Bộ Giáo Luật này làm nền cho Hiệp Ước Liên Bang (Reichkonkordat) ký với Hitler năm 1933, buộc người công giáo Ðức, kể cả Ðảng Trung Ương (Catholic Center Party), phải tự ý rút lui khỏi chính trường, nhường chỗ cho độc quyền Quốc Xã. Ðây là đòn chính Cornwell dùng để đo ván đối thủ. Theo ông, Ðức Piô XII không hề ưa Hitler, nhưng một cách khách quan, cái khuynh hướng trung ương tập quyền, phớt lờ quyền lợi các giáo hội địa phương, cái gì cũng muốn đưa về giáo hội trung ương đã làm ngài sai lầm nghiêm trọng đối với lịch sử qua việc ký kết hiệp ước với Hitler trong những điều kiện hết sức sai trái.”Hiệp ước của họ cho phép ngôi vị  Giáo Hoàng có thể áp đặt Bộ Giáo Luật mới lên Người Công Giáo Ðức… Ðể đổi lại, Giáo Hội Công Giáo Ðức, đảng chính trị của nó tại nghị viện, và  hàng trăm các hiệp hội và báo chí phải “tự ý” rút lui khỏi sinh hoạt xã hội và chính trị. Việc thoái lui chính trị của Công Giáo Ðức vào năm 1933, được thương thảo và áp đặt từ Vatican bởi Pacelli với sự thỏa thuận của Giáo Hoàng Piô XI, là một bảo đảm để Quốc Xã có thể lên cầm quyền mà không bị cộng đồng công giáo mạnh nhất trên thế giới chống đối” (tr. 7-8) (3). Ngoài ra, Cornwell còn nối kết việc ký kết hiệp ước này với Giải Pháp Chung Cuộc của Hitler đối với người Do-Thái. Ông viết: “Như Hitler đã huyên hoang trong buổi  họp nội các ngày 14/07/1933, việc Pacelli cam kết không can thiệp đã giúp cho chế độ rảnh tay giải quyết vấn đề Do-Thái. Theo biên bản của nội các, ‘[Hitler] phát biểu ý kiến rằng người ta chỉ có thể coi nó như một thành quả lớn. Tông hiệp đem lại cơ may cho nước Ðức và tạo ra một khu vực tin tưởng đặc biệt có ý nghĩa trong việc khai triển  cuộc đấu tranh chống  Do-Thái quốc tế”.  Ðối với Cornwell, bằng chứng bài Do-Thái của Pacelli không phải chỉ bắt đầu với tông hiệp này, nó bén rễ trong ngài từ lâu, ít nhất cũng từ lần đụng độ với nhóm Bolshevik tại Toà Sứ Thần tại Munich năm 1919. Trong thư ngày 18-04 gửi về Rome, ngài nhận xét về viên chỉ huy Bolshevik như sau: “Levien là một thanh niên, khỏang 30 hoặc 35 tuổi, cũng là một người Nga và là Do-Thái. Da mét, người bẩn thỉu, mắt lơ đãng, giọng nói không thanh nhã, thô bỉ, ghê tởm, với một bộ mặt vừa thông minh vừa lém lỉnh”. Và đây là bình luận của Cornwell: “việc nối kết căn tính Do-Thái với căn tính Bolshevik này xác nhận rằng Pacelli, từ những thập niên đầu 1940, đã nuôi dưỡng sự ngờ vực và khinh miệt đối với người Do-Thái vì những lý do chính trị”. Luận đề chính của tác phẩm vì thế được ông tóm gọn như sau: “Khảo sát sự nghiệp Pacelli từ đầu thế kỷ, những nghiên cứu của tôi cho thấy một câu chuyện về nỗ lực dành quyền vô tiền khoáng hậu cho giáo hoàng, một sự dành quyền đến năm 1933 đã đưa Giáo Hội Công Giáo vào thế đồng loã (complicity) với những lực lượng đen tối nhất của thời đại. Ðàng khác tôi cũng thấy bằng chứng cho thấy từ giai đoạn đầu của sự nghiệp, Pacelli đã để lộ một ác cảm không thể chối cãi đối với người Do-Thái, và rằng đường lối ngoại giao của ngài tại Ðức trong thập niên 1930 đã đưa lại hậu quả phản bội các hiệp hội chính trị Công Giáo rất có thể thách thức chế độ của Hitler và làm tiêu tan Giải Pháp Chung Cuộc. Eugenio không phải là một quái vật; trường hợp của ngài phức tạp, bi thảm hơn thế nhiều. Cái làm ta chú ý trong câu chuyện về ngài nằm ở sự phối hợp đầy định mệnh giữa những hoài bão thiêng liêng cao cả trong kình chống đối với khát vọng ngày một vươn cao muốn đạt quyền hành và khống chế. Chân dung về ngài không phải là chân dung của sự ác nhưng là chân dung về một tháo rời luân lý đầy bất hạnh - sự tháo rời quyền uy khỏi đức bác ái Kitô giáo. Hậu quả của sự tháo rời này chính là thoả hiệp với bạo chúa, và cuối cùng, với chính bạo lực” (tr.X-XI).

Phán quyết

Sau đó, Cornwell đã sử dụng gần 400 trang giấy để chứng minh phán quyết của mình. Giáo sư John S. Conway, trên Historian, Spring 2001, cho rằng, phán quyết ấy “rõ ràng là sản phẩm của một luân lý gia, chứ không phải của một sử gia”. Người có cái nhìn trung dung đối với tác phẩm của Cornwell như Arthur Jones, trên National Catholic Register (Nov 19, 1999) cũng coi các luận chứng của ông như là luận chứng của một “công tố viện… viết trong trả đũa hoặc tức giận… (với) một giọng văn loại bỏ bất cứ giả định vô tư nào”.

Thực ra Cornwell là ai và ông viết ra tác phẩm này với ý định gì? Trong một bài phỏng vấn của tập san Crisis số 1-03-2002, Cornwell cho hay ông không phản đối những người phê phán các luận chứng của ông và tranh biện về các chứng cớ lịch sử. Nhưng ông thất vọng bởi những người xử dụng các tranh luận nhắm vào con người (ad hominem arguments) ông, cho rằng ông không phải là người Công Giáo và hoài nghi ý định khởi đầu muốn bênh vực Ðức Piô XII của ông. Ông nhìn nhận mình không phải là một giáo sử gia cũng chẳng phải là một nhà thần học, nhưng muốn đóng góp phần mình từ ngoại biên vào cuộc tranh luận giữa hai khuynh hướng tập quyền độc đoán (centralization) và hợp quyền tập thể (collegiality) vốn có trong Giáo Hội xưa nay. Ông tin rằng sự đóng góp của ông có giá trị để tranh biện.

            Ðiều ấy người ta rất hoài nghi. Ðã đành thói quen của ông là muốn những tựa đề thật kêu để kéo chú ý của người đọc như chính ông thú nhận khi cho ra đời tác phẩm Breaking Faith mới đây. Trả lời ký giả Deal Hudson, ông cho hay: “Tôi muốn có một tựa đề giật gân… Breaking Faith chủ yếu nói về việc tôi mất đức tin vào khoảng năm 1965 khi tôi 25 tuổi, và việc ấy đã đưa tôi xa Giáo Hội hơn 20 năm…” (Crisis, 1-03-2002). Người ta thông cảm với Cornwell trong Breaking Faith, vì dù sao ông cũng là em ruột của nhà viết tiểu thuyết gián điệp John Le Carré. Nhưng đấy là chuyện riêng, chuyện lịch sử thì không thể giật gân kiểu ấy được, nhất là cái phụ ghi Secret History of Pius XII. Không một dấu than, không một dấu hỏi, không thể để mà tranh luận, nguyên tuyền chỉ là khẳng định dưới danh nghĩa sử học. Và do đó, người ta chỉ có thể nói ông thiếu hẳn tính liêm sỉ của một tác giả.

Sau khi bị chỉ trích nặng nề  cả về giá trị khảo cứu lẫn tính bất thống trong đức tin Công Giáo của mình, Cornwell mới cho ra đời Breaking Faith để biện minh cho ý ngay lành của mình và chứng minh mình là người Công giáo hoặc ít nhất cũng là người Công giáo đã quay trở về. Chứ trước đây ông vẫn huyên hoang về việc bỏ đạo của mình. Theo Giáo Sư Ronald J. Rychlak của trường Luật Mississippi, tác giả cuốn Hitler, the War, and the Pope, đến  tận cuối năm 1993, Cornwell vẫn cho mình là một người theo thuyết bất khả tri (agnostic) và là một cựu tín đồ Công giáo. Trên Washington Post số 24 tháng 12 năm 1989,  ông nói về ông như một cựu chủng sinh học ở Học Viện Anh tại Rome, rất quen thuộc với “đường đất Vatican”, người “từ lâu rời bỏ chủng viện và Ðức tin Công giáo, và nhờ thế đã viết với một quan điểm gay gắt, lạnh lùng, hằn học về Vatican mà chỉ những cựu Công giáo quen thuộc với Rome mới tinh thông”. Trong cuốn bán-tự truyện Hiding Place of God (1991), ông không mô tả mình như một thanh niên trung thành với đạo Công Giáo, huống hồ là trung thành với đức Piô. Thay vào đó, ông miêu tả mình như một người theo thuyết bất khả tri, đánh mất đức tin lúc học ở chủng viện, luôn luôn dụ dỗ các bạn chủng sinh của mình bỏ đạo. Hoài mong chính của ông là kiếm ra “bạn đồng hành âu yếm” có thể giúp chàng thanh niên “tan nát bởi những dằn vặt xác thân”. Trong thời gian ở Rome để viết cuốn A Thief in the Night năm 1989 nói về cái chết của Ðức Gioan Phaolô I, ông tỏ ra ngỡ ngàng khi được mời dự thánh lễ của đức Giáo Hoàng; “Thánh lễ ư? Nhưng tôi không rước lễ đâu nhé!”. Cái chiêu bài quay trở về với đức tin Công giáo khi viết Hitler’s Pope, vì thế, chỉ là một biện minh ít có người chấp nhận được. Nhất là khi Cornwell không chịu chừa bất cứ một điểm nào trong việc chế nhạo Ðức Piô XII. Ta hãy nghe ông nói về xác chết của Ngài: “Ông bác sĩ tốt lành (Galeazzi-Lisi) nhận nhiệm vụ tẩm liệm, muốn thử nghiệm phương pháp mới nên đã để cả ruột lại; kết quả, xác chết bắt đầu thối rữa ngay lập tức dưới cái nóng mùa thu. Khi xe tang dừng lại bên ngoài nhà thờ Thánh Gioan Lateran, một loạt hơi địt và ợ hơi khiếp đảm được nghe thấy phát ra từ quan tài, hậu quả rõ ràng do việc xình bụng nhanh chóng gây nên.Trong lúc quàn tại Ðền Thờ Thánh Phêrô, khuôn mặt của vị giáo hoàng quá cố biến qua mầu xám xanh rồi tím ngắt, và mùi hôi thối khủng khiếp xông lên đến độ các vệ binh đứng canh phải té xỉu. Một sự bất xứng cuối cùng là mũi của ngài biến qua mầu đen và rơi khỏi mặt trước lúc hạ huyệt” (tr.358) (4). Quả đúng như Rychlak nhận định: “Cornwell không biết một giới hạn nào trong nỗ lực phỉ báng (vilify) vị Giáo Hoàng đã chết. Nhà văn này khởi đầu bằng việc tuyên bố mình khởi sự các “tìm tòi” của mình với lòng ngưỡng mộ cao độ nhất đối với Ðức Piô XII và đã kết thúc bằng việc vi phạm phép lịch sự thông thường (common decency) qua việc nhạo báng tử thi người quá cố”. John F. Morley khi điểm sách của Cornwell nhận định rằng :”Suốt trong cuốn sách, Cornwell khư khư giải thích mọi quyết định và hành động của Pacelli một cách thù nghịch nhất đối với ông”.

Bom nổ chậm hay bom tịt ngòi

Thực ra là người công giáo hay không, điều ấy không quan trọng. Quan trọng là những điều viết ra có đúng sự thật lịch sử hay không về một con người lịch sử căn cứ vào những tài liệu lịch sử.  Về phương diện tài liệu, Cornwell vừa tự phóng đại vừa tự cho thấy khả năng yếu kém của  mình trong việc tra cứu tài liệu.

Thực vậy, trước khi tung ra thị trường tác phẩm của mình, Cornwell cho công chúng, qua tập san bán khiêu dâm Vanity Fair, hay “Trong nhiều tháng liên tiếp tôi lục lọi các hồ sơ về Pacelli, có từ những năm 1912, trong một ngục tối không cửa sổ bên dưới Tháp Borgia tại Kinh Thành Vatican…”. Ðúng là lối hành văn theo bước chân ông anh ruột John Le Carré. Ðộc giả hẳn nghĩ: Chà quả là mạo hiểm! Làm việc trong một ngục tối, điên người lục lọi các  hồ sơ mật chỉ mấy thước dưới căn phòng gia đình Borgia từng phạm những tội ác tầy trời! Sự thực chẳng có ngục tối nào hết mà chỉ là một nhà vòm dưới đất nơi lưu trữ hồ sơ, cũng chẳng làm chi có cảnh lục lọi một mình, bởi bên cạnh ông luôn có một thủ văn khố sẵn sàng cung cấp hồ sơ theo yêu cầu. Và khi ông nói các hồ sơ về Pacelli có từ năm 1912, ông quên không cho độc giả hay các hồ sơ chỉ là những hồ sơ từ năm 1912 đến năm 1922, những hồ sơ chẳng liên quan gì đến Hitler, Quốc Xã và Holocaust. Linh mục Gumpel Dòng Tên còn nhấn mạnh thêm: những tài liệu ấy cuối cùng không được chính Cornwell sử dụng! (xem Zenit Daily Dispatch, ngày 3-10-1999). Thời gian tại Văn Khố Vatican cũng được phóng đại, chẳng có chi nhiều tháng liên tiếp, bởi ông chỉ ở đó từ 12 tháng Năm 1997 đến 2 tháng Sáu cùng năm, nghĩa là khoảng 3 tuần lễ, và không phải ngày nào cũng đến mà có đến cũng chỉ trong thời gian ngắn như Thông Báo của Toà Thánh đăng trên L’Osservatore Romano ngày 13 tháng Mười năm 1999 đã chứng tỏ. Thông Báo này cũng bác bỏ lời khoác lác của Cornwell trên tờ The Sunday Times ngày 12 tháng Chín năm 1999 rằng ‘Tôi cố gắng viết một lượng giá đầu tiên có tính bác học và chân thực về đức Piô XII’. Thực ra, công luận biết rằng John Cornwell là một nhà báo,  không có văn bằng đại học nào về lịch sử, luật lệ hay thần học. Nên không ngạc nhiên gì  khi cuốn sách ông viết ra đã bị nhiều học giả nổi tiếng thế giới chỉ trích ở mọi góc cạnh. Cornwell cho rằng các tài liệu ông tìm thấy tại Vatican đã được giữ hoàn toàn bí mật cho đến khi ông tra cứu. Ông muốn nói đến bức thư ngày 18 tháng Tư năm 1919 do sứ thần toà thánh tại Bavaria, Tổng Giám Mục Pacelli, gửi cho Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, một tài liệu được dấu kín tại Văn Khố Vatican “như một trái bom nổ chậm” (time bomb). Thực ra trọn bộ bức thư này đã được công bố trong tác phẩm của E. Fattorini Germania e Santa Sede: Le nunziature di Pacelli tra la Grande Guerra e la Republica di Weimar (Ðức Quốc và Toà Thánh: Toà Khâm Sứ Thời Pacelli giữa Ðại Chiến và Cộng Hoà Weimar) xuất bản năm 1992 tại Bologna do nhà xuất bản Societa Editrice Il Mulino. Chắc chắn trái bom nổ chậm ấy đã nổ ít nhất 7 năm trước tác phẩm của Cornwell rồi! Ông cũng không phải là ‘học giả’ đầu tiên được tra cứu các tài liệu của Văn Khố Vatican, và nhất là cũng chẳng cần phải giả đò tỏ ra thân thiện mới được vào đó tra cứu. Cornwell lầm tưởng  cái số 1 thứ tự trên thẻ nhập Văn Khố của ông là cái số 1 trong suốt lịch sử của Văn Khố. Thực ra theo LM Gumpel, gần đây hình thức thẻ nhập Văn Khố có thay đổi và thẻ của Cornwell là thẻ đầu tiên trong loạt thẻ mới. Ðàng khác, theo tập san Inside the Vatican, bất cứ học giả chính hiệu (qualified) nào cũng được cấp thẻ vào Văn Khố để tra cứu, không cần phải qua một sát hạch xem họ có “ủng hộ” hay “không ủng hộ” một giáo hoàng hay một giáo sĩ nào, chỉ cần họ phúc trình chính xác điều họ tìm thấy.

Nói tóm lại, công trình nghiên cứu và giả đò thân thiện của Cornwell chẳng đem lại kết quả gì. Bởi ngoài Trái Bom Nổ Chậm mà chẳng nổ chậm chút nào trên kia, Cornwell không thêm được một tài liệu gì hết như nhận định của nhiều người. John S. Conway khi điểm sách của Cornwell trên Historian Spring, 2001 cho hay: “Kết quả là một làn sóng trống đánh suôi kèn thổi ngược mới chứ không có một tiết lộ lịch sử gì mới hết. Thực vậy, luận chứng chính của tác giả chống các Tông Hiệp là lấy từ The Churches and the Third Reich (1977) của Klaus Scholder. Ông không thêm được điều gì mới cho cuộc tranh luận, vì cả ông lẫn những người bênh vực Pacelli đều chưa đọc được các hồ sơ của Vatican, là cơ quan mới chỉ mở Văn Khố cho đến thời 1922 mà thôi”. Theo tập san Inside the Vatican, số tháng 10 năm 1999, Cornwell không trích dẫn được một tài liệu nào mới từ các văn khố về mối liên hệ của Ðức Piô XII và Hitler, vì một lý do đơn giản: Cornwell không được phép đọc bất cứ tài liệu văn khố nào sau năm 1922. Và lẽ đương nhiên, trước năm 1922, Hitler vẫn còn vô nghĩa về chính trị.

Ðàng khác, điều Cornwell cho là một trái bom, thực ra chẳng phải là bom chút nào, mà chỉ là một trái pháo tịt ngòi, vì nó chẳng xác nhận được điều chi về quan điểm của Ðức Piô XII đối với người Do-Thái. Trước nhất, ta không biết liệu có phải chính Ðức Piô XII viết bức thư đó hay không.  Chính Cornwell cho hay ngài không đích thân đi gặp nhóm Bolshevik, mà là phụ tá của ngài đi gặp. Ðiều ấy cho thấy bức thư kia có thể đã hoặc do vị phụ tá soạn và Ðức Piô XII chỉ ký thôi, hoặc chính ngài soạn căn cứ vào phúc trình hay tờ trình của vị phụ tá.

Nhận định về lá thư này, John T. Pawlikowski trên Christian Century (Feb 23,2000) cho hay lời phẩm bình ấy có thể không thích đáng, nhưng nhiều người Do-Thái thời ấy  còn nói nhiều điều tệ hơn thế về những người Do-Thái theo Bolshevik. Còn Linh Mục Peter Gumpel thì nhận định như sau: Cornwell chỉ thù nghịch trích dẫn có một giòng trong lá thư dài sáu trang. Trong bức thư này không có điều gì chống người Do-Thái cả. Ðiều duy nhất bức thư nói là Levien và người yêu của anh ta là người Do-Thái. Ðó chỉ là một quan sát trong một tài liệu có tính chất thông tin. Họ là người Do-Thái, cũng như họ có thể là Kitô hữu. Hơn nữa, ai cũng biết, vào thời ấy, hàng ngũ lãnh đạo cộng sản bao gồm nhiều người Do-Thái vô thần, họ từng bách hại bất cứ hình thức tôn giáo nào, kể cả Do-Thái Giáo. Ðưa văn bản này ra làm bằng chứng cho chủ nghĩa bài Do-Thái của đức Pacelli dường như là một bóp méo do một phân tích phe đảng và thiên vị gây ra. Cornwell không khám phá được điều chi mới cả; ông ta chỉ sao chép các tài liệu đã công bố và đã làm cho chúng ra sai dạng. Ða số các nguồn tài liệu của ông đều là đệ nhị đẳng, và việc chọn lựa cực kỳ thiên vị.

Michell Bard, thuộc The American-Israel Cooperation Enterprise, cho hay: những khám phá mà ông cung cấp tài liệu không biện minh được tựa đề giật gân của cuốn sách. Phần lớn cuốn sách không bàn gì đến người Do-Thái và Cuộc Diệt Chủng (Holocaust). Ðúng hơn nó mở mắt cho thấy những chạy vạy trong chính sách ngoại giao của Pacelli và các viên chức Vatican khác.

Ðối với Linh Mục Gumpel, công kích của Cornwell là một phát súng rẻ tiền chống lại Ðức Piô XII. Trước nhất nó chứng tỏ tác giả chỉ là một thứ học giả tầm thường. Bảng liệt kê các chữ viết tắt và các nguồn tài liệu văn khố tỏ ra hết sức ít ỏi, gồm luôn cả những nguồn thực chất không có tính văn khố chút nào. Khá nhiều tài liệu văn khố hoặc các công trình bác học đáng lẽ cần được tham khảo lại không có. Phần lớn các trích dẫn lại là những nguồn do người khác trích lại, mà ngay những trích dẫn ấy cũng có tính lựa lọc. Công trình cổ điển của Giáo sư Heinz Hftrten, Deutsche Katholiken 1918-1945 (Người Công Giáo Ðức 1918-1945), chỉ được trích dẫn có một lần, mà lại trích dẫn sai nữa. Trong số hơn 40 cuốn tài liệu được nhiều người khuyên nên dùng do Kommission fur Zeitgeschichte xuất bản, Cornwell chỉ nhắc đến một hoặc hai. Phần lớn, Cornwell nhắc đến các nguồn văn khố hay các nguồn khác như là đã được “trích dẫn bởi Scholder”, một sử gia người Ðức về giáo hội và là giáo sư tại Ðại Học Tubingen bên Ðức. Khi được người ta cho hay các ấn phẩm khác, như của Giáo sư Ludwig Volk chẳng hạn, đáng tin cậy hơn, Cornwell cho rằng: “danh tiếng của Scholder trong tư cách sử gia giáo hội không một ai trong giới bác học Ðức dám thách thức”. Một tuyên bố như thế cho thấy Cornwell không biết gì tới những cuộc tranh luận cao cấp trong đó công trình của Scholder từng bị chỉ trích nặng nề.

Trong số các công trình bác học đáng lẽ Cornwell nên tham khảo phải là công trình của tác giả Hung gia lợi gốc Do-Thái Jeno Levai, Hungarian Jewry and the Papacy (Bản tiếng Anh do Sands and Co xuất bản tại London năm 1968). Levai đã phụ đề cuốn sách một cách có nghĩa lý   “Giáo Hoàng Piô XII không giữ im lặng” và đã yêu cầu Tiến Sĩ Robert M.W. Kempner, trước đây vốn là phó công tố viên chính của Mỹ tại tòa án quốc tế Nuremberg, viết lời phi lộ và lời bạt. Kempner là người gốc Do-Thái và là một luật sư nổi tiếng của Bá Linh. Khi Quốc Xã lên cầm quyền, ông chạy qua Mỹ. Chính ông thân hành hỏi cung các tội phạm Quốc Xã cao cấp bị đem ra xử tại tòa án Nuremberg và do đó rất quen thuộc với các tài liệu của chế độ Hitler. Kempner bênh vực đức Piô XII trước những công kích từng được đưa ra trước đó, cho rằng  những phản kháng công khai chỉ vô ích, và không những gạt bỏ thẳng thừng kịch bản Vị Ðại Diện của Rolf Hochhuth, mà cả các sách của Guenter Lewry và Saul Friedlander, là những tác phẩm “không đưa ra được lý do nào khiến ông phải thay đổi quan điểm”.

Cornwell căn bản dựa vào Lewry (The Catholic Church and Nazi Germany-New York 1964) và Friedlander (Pius XII and the Third Reich-Paris 1964), cả hai tác giả từng bị nhiều chuyên gia, trong đó có nhà thần học Henri de Lubac, chỉ trích nặng nề. De Lubac nói rằng sách của Friedlander “đúng hơn thuộc lãnh vực văn chương lá cải (pamphleteer) mà một nhà phê bình đã cho rằng tác giả của chúng tuân theo một phương pháp không có gì khác hơn là đánh lạc sự thật lịch sử một cách phiến diện và vô trách nhiệm”.

 

3. CÁC CÁO BUỘC CỦA CORNWELL

 

Trở lại với Giáo Hoàng Hitler, ta thấy Cornwell đã đi khá sâu vào chi tiết trong việc kết án ngài là giáo hoàng của Hitler, không phải vì nhát gan thỏa hiệp hay những tính toán phàm trần trục lợi, mà do bẩm tính độc đoán và bài Do-Thái. Hai cái bẩm tính ấy đã dẫn ngài đi hết sai lầm này đến sai lầm khác mà sai lầm quan trọng nhất là đã tạo cơ hội để Hitler lên cầm quyền không người chống đối qua tông hiệp ký với hắn, và khi hắn lên cầm quyền rồi thì việc tàn sát người Do-Thái đã không được ngài lên tiếng chỉ trích công khai, mặc cho hắn sát hại 6 triệu người Do-Thái.

Tông hiệp (concordat)           

Trước nhất về các tông hiệp, Cornwell trình bày các tông hiệp của đức Piô XI và Piô XII dưới một cái nhìn hoàn toàn sai lạc. Ông ta nói đi nói lại rằng chúng được đưa ra để củng cố việc tập quyền trong Giáo Hội Công Giáo bằng cách tăng cường vị thế của giáo hoàng, bất kể đến hàng giáo phẩm địa phương. Thực ra, mục đích đệ nhất đẳng của các tông hiệp luôn luôn là để giữ an toàn và bảo vệ quyền tự do thờ phượng của các tín hữu (đặc biệt trong các xứ nơi người Công giáo là thiểu số và đang bị tấn công) cũng như các yếu tố chính yếu của đời sống Công giáo, như tính cách thánh thiêng của hôn nhân, giáo dục công giáo cho trẻ em, và tự do phát triển các hiệp hội Công giáo. Nếu có những điều khỏan qui định về việc bổ nhiệm các giám mục, thì tông hiệp cũng chỉ tuân hành các nguyên tắc chỉ đạo mà Công Ðồng Vatican I đã đúc kết và Bộ Giáo Luật 1917 đã phản ảnh mà thôi, không phải là đường lối riêng của Ðức Piô XI hoặc của các phụ tá của ngài như Pacelli.

Về Tông hiệp ký với Serbia và tác dụng của nó với Thế Chiến I, Cornwell cho rằng theo hiệp ước này, Serbia trao cho Vatican quyền kiểm soát tôn giáo  trong các khu vực mới thuộc vùng Balkan mà nước này đã dành được trong các cuộc chiến tranh tại đó, ngược với ước muốn của Áo-Hung muốn có quyền kiểm sóat ngoại giao đối với các quyền lợi công giáo bên trong Serbia. Ðiều này khiến người có tinh thần quốc gia Áo rất tức giận và đã “góp phần vào những căng thẳng dẫn chính phủ Áo tới chỗ phỗng tay trên” vào mùa hè 1914. Ở đây cần làm sáng tỏ hai điểm. Trước nhất, nếu Tông hiệp thoả mãn các đòi hỏi của Áo về quyền ngoại giao (extraterritorial powres) tại Serbia, thì điều ấy có hẳn sẽ không làm người có tinh thần quốc gia Áo khỏi nổi giận hay không?  Và điều chắc chắn là một cơ cấu trung lập, như Vatican,  để bảo vệ các quyền lợi công giáo tại Serbia hẳn phải là một giải pháp tiến bộ, có tính quốc tế cho cái thế lưỡng nan ấy. Thứ hai, các nguyên nhân làm bùng nổ Thế Chiến I thì có nhiều, bắt rễ từ nguồn hệ thống liên minh đã có từ 30 năm trước. Nó là một tranh chấp vùng leo thang thành một thảm họa thế giới vì tham vọng và nhận định sai lầm của tất cả các quốc gia Âu Châu. Thành thử hết sức hoài nghi nếu cho rằng Tông Hiệp ký với Serbia đóng một vai trò quan trọng gây ra Thế Chiến ấy. Như nước Anh chẳng hạn, không biết các lãnh tụ của họ có biết gì đến Tông Hiệp ấy hay không nữa. Mặt khác, như linh mục Gumpel nhận định, khi ký tông hiệp này, Pacelli lúc ấy chỉ giữ một chức vụ phụ thuộc. Mỗi giai đoạn thương thảo nhất nhất đều được cấp trên của ngài là hồng y Quốc Vụ khanh và chính đức Bênêđíctô giám sát.

Còn về  tông hiệp ký  với Hitler, ta biết Pacelli, trong tư cách Sứ Thần tại Ðức và sau này là Quốc Vụ Khanh, rất quan tâm kết thúc một tông hiệp với Ðức. Ngài đảm nhận việc này khi Ðức còn có một chính phủ dân chủ. Khi Hitler lên cầm quyền vào ngày 30 tháng Giêng năm 1933, Ngài không ủng hộ việc ký kết một thỏa ước như thế ngay với Hitler. Trước thái độ ấy, Hitler đưa ra nhiều tuyên bố trấn an cho rằng mình đoan hứa sẽ bảo vệ hai ngành Kitô giáo chính tại Ðức là các giáo hội Thệ Phản và Công giáo, nhưng Pacelli và nhiều vị khác không tin tưởng các tuyên bố ấy và muốn chờ xem liệu Hitler có ra lệnh chấm dứt những vụ bách hại người Công giáo đang xẩy ra ở nhiều nơi hay không.

Trong một chuyển hướng bất ngờ, Hitler tự ý đề nghị một tông hiệp hết sức có lợi cho Giáo Hội Công Giáo. Thử hỏi đức Piô XI và Quốc Vụ Khanh Pacelli của ngài có nên từ khước đề nghị ấy hay không? Nếu Giáo Hội từ khước, Hitler chỉ cần công bố các nhượng bộ của hắn và tuyên bố: “tôi đã chìa bàn tay hòa bình ra, nhưng người ta từ chối nó phũ phàng. Vậy thì nếu họ không muốn hòa bình, họ sẽ có chiến tranh”. Các cuộc thương thảo ngắn ngủi sau đó gặp nhiều khó khăn cho cả hai phía. Cuối cùng, Hitler, vì muốn các cuộc thương thảo này kết thúc sớm, nên đã đưa ra nhiều nhượng bộ đáng kể; bởi vì dù sao thì hắn cũng có tôn trọng tông hiệp đâu!

Cornwell cũng lầm lẫn khi chủ trương rằng trong tông hiệp có điều khỏan buộc người Công giáo phải từ bỏ các hoạt động chính trị và xã hội. Thực ra trong tông hiệp không có điều khoản nào như thế, cũng không có cả những thoả hiệp ngầm thuộc loại như vậy. Ðiều 32 của tông hiệp chỉ nói rằng các giáo sĩ và các tu sĩ không được làm thành viên các đảng chính trị hoặc tham gia các đảng chính trị. Không có điều nào qui định  như thế đối với giáo dân Công giáo. Cũng nên thêm một điều: ở phần Nghị Ðịnh Bổ Túc, điều 32 này nói như sau: (hai bên) hiểu rằng những qui định tương tự liên quan đến sinh hoạt trong các đảng phái chính trị sẽ được Chính Phủ Liên Bang đưa ra cho các thành viên các giáo hội không phải là Công Giáo. Việc hạn chế đã trở thành bắt buộc đối với hàng giáo sĩ và tu sĩ dòng tu tại Ðức chiếu theo điều 32 này sẽ không bao hàm bất cứ sự hạn chế nào trong lời giảng dạy và giải thích công khai và có tính qui luật (prescribed) các giáo huấn và nguyên tắc tín lý và luân lý của Giáo hội. Ðiều 31 bảo đảm sự tự do đầy đủ cho các hiệp hội Công giáo về tôn giáo, văn hoá và xã hội, cả các nghiệp đoàn nữa. Cornwell còn cho rằng Ðảng Trung Tâm, do áp lực của Pacelli, đã tự động giải tán. Ngoài nhiều nguồn tài liệu đáng tin khác, ta thấy bài báo của Giáo sư Robert Leiber, một cộng sự viên gần gũi nhất của Pacelli trong nhiều thập niên, đã chứng minh rằng Pacelli không bao giờ gây bất cứ ảnh hưởng nào đối với Ðảng Trung Tâm, trái lại rất không vui khi thấy nó tự giải tán và giải tán trước khi tông hiệp được ký kết. Thực ra, người không thích các đảng chính trị Công Giáo là đức Piô XI, chứ không hẳn đức Piô XII. Vì đức Piô XI lo phát triển Công Giáo Tiến Hành (ai cũng biết ngài muốn được người ta gọi là Giáo Hoàng của Công Giáo Tiến Hành), chứ không phải các đảng chính trị. Cho nên với hiệp ước Latran, mà việc thương thảo không có sự tham dự của Pacelli vì lúc đó ngài đang phục vụ tại Ðức, Ðảng Popular Party của Công Giáo Ý đã phải tự giải tán. Có lẽ Cornwell suy diễn từ biến cố này qua biến cố Center Party của Ðức chăng?

Một câu hỏi khác là đức Piô XI và đức Piô XII có tin rằng Hitler sẽ giữ các cam kết của mình hay không. Người ta biết rằng, chỉ vài tuần sau khi ký kết tông hiệp, Tùy Viên toà đại sứ Anh bên cạnh Tòa Thánh, Yvonne Kirkpatrick, có thảo luận vấn đề này với Hồng Y Pacelli. Kirkpatrick hỏi sau khi lên cầm quyền, liệu Hitler có tỏ ra hòa dịu (moderate) hơn không. Pacelli đáp lại rằng ngài không thấy có lý do gì biện minh cho một thứ lạc quan dễ dãi như thế. Ngài còn thêm: chắc chắn Hitler sẽ không tôn trọng tông hiệp, chỉ hy vọng ông ta không vi phạm tất cả mọi điều khỏan cùng một lúc. Theo Larry B. Stammer, Los Angeles Times, ngày 22 tháng 8 năm 2003, trong một phúc trình ngoại giao vừa được tìm thấy, gửi cho TT Roosevelt, một viên chức ngoại giao Mỹ  cho hay: từ 1937, Hồng Y Pacelli đã từng miêu tả Hitler  như “một tên vô lại không đáng tin” (an untrustworthy scoundrel) và là “một con người căn để độc ác”

Phản ứng đối với tông hiệp

Trái với lời tố cáo của  Cornwell, các giám mục Ðức rất thuận hảo và được tham khảo đầy đủ về dự án tông hiệp. Thực thế, hội nghị toàn thể các giám mục Ðức được tổ chức cuối tháng 5 đầu tháng 6 năm 1933, đã chuyên đề bàn về dự án này và sau đó lúc nào cũng được tham khảo. Việc này cũng được áp dụng đối với mọi tầng lớp lãnh đạo trong Giáo Hội Công Giáo Ðức. Tất cả đều hy vọng rằng ít ra Tông Hiệp cũng đem lại cho người Công Giáo Ðức một thời gian xả hơi và cho Giáo Hội Công Giáo nói chung một tài liệu hợp pháp, có giá trị trong lãnh vực luật quốc tế, để phản kháng các vi phạm sau này.  

Trên L’Osservatore Romano, trên đài phát thanh Vatican và từ hàng giám mục Ðức, đã có nhiều tuyên bố cho thấy bản Tông Hiệp này không hề ngụ hàm một phê chuẩn nào đối với ý thức hệ Quốc Xã, một ý thức hệ không được Giáo Hội chấp nhận và sẽ không bao giờ được chấp nhận. Nhiều sự việc như thế đã nói ngược lại các khẳng định của Cornwell cho rằng đối với người Công Giáo Ðức, không những Giáo Hội nhìn nhận ý thức hệ Quốc Xã, mà còn ngăn cấm họ không được bảo vệ Ðức Tin Công Giáo chống lại các công kích của Quốc Xã.

Xem ra các hiệu quả đầu tiên của Tông Hiệp khá tích cực. Hitler ban hành một số sắc lệnh qua đó các vi phạm trước đây chống lại quyền lợi của người Công Giáo được hủy bỏ. Tuy nhiên không bao lâu sau, những vi phạm đầu tiên đã xẩy ra đối với Tông Hiệp. Mỗi lần như thế, Giáo Hội đều lên tiếng phản đối, nhưng hầu như không có kết quả, đôi lúc còn không được phúc đáp. Ai cũng biết Pacelli không hề có thiện cảm với Hitler. Linh Mục Gumpel nhận xét rằng tựa đề giật gân trên sách của Cornwell đã và đang bị chỉ trích bởi ngay những người ít khắc nghiệt nhất đối với chủ đề của ông. Ông không chủ trương rằng đức Piô XII là bạn thân của Hitler nhưng cho rằng Hitler sẽ không kiếm đâu ra một giáo hoàng sẵn sàng hòa hoãn với hắn và chế độ của hắn hơn thế.

Điện văn lúc lên ngôi

Trong ngữ cảnh ấy, Cornwell nhắc đến thông điệp đức Piô XII gửi Hitler ngay sau khi được bầu vào ngôi giáo hoàng. Ông ta không biết rằng thủ tục ngoại giao đòi một giáo hoàng vừa được bầu phải gửi một thông điệp riêng cho tất cả các người đứng đầu các nước có liên hệ ngoại giao với Vatican. Thông điệp gửi cho Hitler đã được thảo luận chi tiết với các hồng y Ðức đang tham dự mật nghị lúc ấy. Không một chữ nào trong thông điệp ấy cho thấy ngài nhìn nhận những điều Hitler chủ trương. Chính chính phủ Ðức hiểu rất rõ điều ấy và họ rất thất vọng khi Pacelli được bầu. Báo chí do Quốc Xã kiểm soát đã đưa ra những lời bình luận tiêu cực về đức Piô XII, cho thấy trong tư cách quốc vụ khanh, ngài đã chứng tỏ đầy đủ lòng thù ghét đối với đảng Quốc Xã và những gì nó đại diện. Trong lễ đăng quang của đức Piô XII, ngược với các chính phủ khác, Ðức chỉ  cử đại sứ của mình bên cạnh Tóa Thánh tham dự. Báo chí quốc tế lúc ấy viết rằng điều này rõ ràng cho thấy mối liên hệ giữa Tòa Thánh và chính phủ Hitler đang ở một mức thấp nhất. Chính Cornwell cũng xác nhận trong lễ đăng quang này, Ðức là chính phủ duy nhất “không gửi một khuôn mặt quốc gia đáng kính nào đến, mà bằng lòng với sự hiện diện của đại sứ Diego von Bergen tại Vatican của mình” (tr.212).

Trong tông thư đầu tiên, Summi Pontificatus (1939), đức Piô XII lên án việc các nuớc lớn gây hấn chống các nước nhỏ, điều mà mọi người hiểu chỉ có ý ám chỉ sự xâm lấn của Nga đối với Phần Lan và của Ðức Quốc Xã đối với Ba-Lan. Bọn Quốc Xã ngăn cấm việc phổ biến tông thư này tại Ðức. Cornwell coi tông thư này loãng nhách (wishy-washy) và vô nghĩa. Nhưng nếu như thế, thì tại sao Ðồng Minh lại cho máy bay thả 88,000 bản tông thư này trên khắp nước Ðức? Ðầu tiên Cornwell không nhắc đến sự kiện này, mãi đến khi người ta đem chúng ra làm bằng chứng chống lại, ông ta mới hạ cấp các biến cố ấy, chỉ bởi vì chúng không ăn khớp với luận đề Giáo Hoàng  Hitler của ông ta.

Mưu toan đảo chánh

Sau khi chiếm đóng Ba-Lan, một nhóm các tướng lãnh cao cấp của Ðức, từng chống đối Hitler, đã liên lạc với Ðức Piô XII, yêu cầu ngài chuyển đến chính phủ Anh một thông điệp để hỏi nếu họ thành công trong việc lật đổ Hitler thì chính phủ Anh có sẵn sáng ký với họ một hòa ước danh dự không. Dù việc chuyển giao một thông điệp như thế trong danh nghĩa quốc trưởng một nước trung lập không những là một việc bất thường mà còn rất nguy hiểm nữa, nhưng Ðức Piô XII, trong hai dịp riêng rẽ, đã chuyển giao thông điệp ấy qua trung gian bộ trưởng Anh cạnh Tòa Thánh là Francis D’Arcy Osborne. Cornwell chỉ nhắc sơ đến việc này mà không đánh giá các hàm ý của nó. Ông ta cũng lầm lẫn khi nói rằng từ phía Ðức, đề nghị này do Ðại tá Hans Oster, trong khi thực sự do đại tướng (4 sao) Ludwig Beck. Lúc còn là sứ thần tại Berlin, Pacelli đích thân biết Beck và từng khen ngợi sự trung thực và liêm khiết của vị tướng này. Rất tiếc kế hoạch không diễn tiến khả quan. Tuy nhiên nhờ dịp này và qua trung gian của người môi giới là tiến sĩ Josef Muller, một luật sư người Bavaria, đức Piô XII bắt đầu nhận được các phúc trình đều đặn và chi tiết về các hành vi tàn ác của Quốc Xã tại Ba-Lan. Với những dữ liệu ấy, ngài khởi thảo một lá thư bí mật gửi các giám mục Âu Châu tựa đề là Opere et Caritate như đã đề cập ở phần trên đây.

Opere et caritate

Cornwell giải thích hành động của đức Piô XII trong vụ này một cách hết sức tùy tiện. Ông cho rằng hành động ấy chứng tỏ ngài không hề nhát gan như nhiều người thuờng nghĩ, và chính vì vậy việc ngài không lên tiếng chống lại Hitler trong chính sách tàn sát người Do-Thái có một nguyên nhân sâu xa hơn nhiều và mang tính tích cực, tích cực thù ghét người Do-Thái. Và sự thù ghét này có từ lúc còn nhỏ và xuất hiện rõ nhất trong biến cố tại Munich. Nhưng sao thù ghét mà lại dùng hết cách để cứu sống gần một triệu người Do-Thái? Nhiều người cho rằng việc cứu sống này không hẳn do các chỉ thị trực tiếp của Ðức Giáo Hoàng. Nghĩ như thế là họ đã quên không đọc hồi ký của Ðại Ðạo trưởng Do-Thái tại Rome hồi ấy là tiến sĩ Zolli, ông nhắc đến bức thư đức Piô XII gửi các giám mục Ý ra lệnh phải tạm ngưng thi hành luật Nhà Kín để mở cửa đón tiếp các nạn nhân Do-Thái. Mới đây, William Doino, một chuyên viên người Ý, khám phá ra hai tài liệu quan trọng cho thấy đức Piô XII trực tiếp can dự vào việc giúp đỡ các nạn nhân Do-Thái rất sớm. Tài liệu thứ nhất là thư ký tháng 10 năm 1940 gửi Giuseppe Palatucci, giám mục Campagna miền Nam nước Ý, chỉ thị ông trao tiền “để giúp đỡ các người Do-Thái bị giam giữ”, được ngài gọi là những người “đang đau khổ vì các lý do chủng tộc”. Vị giám mục này vốn đã can dự vào việc trợ giúp người Do-Thái qua người cháu của mình là Giovanni Palatucci, cảnh sát trưởng tại Fiume, miền Ðông Bắc Ý. Palatucci từng phân phối giấy căn cước giả cho 5,000 người Croatian gốc Do-Thái, giúp họ trốn khỏi các trại giam địa phương đến nơi tương đối an toàn hơn là điạ phận phía Nam Ý của ông chú, một công việc đã đem lại cái chết cho anh tại Dachau sau này. Một tháng sau, lại một bức thư khác ngài gửi cho vị giám mục này có kèm ngân phiếu 10,000 lire để “trợ giúp các người Do-Thái đang bị giam tại địa phận của Ðức Cha”

Với Nga Sô Cộng Sản

Người ta biết tháng 6 năm 1941, Hitler thình lình xâm lăng Nga. Thấy tình trạng cực kỳ nguy hiểm cho quân đội Nga lúc ấy, Hoa Kỳ quyết định cung cấp viện trợ quân sự cho Nga dưới hình thức tiếp liệu. Quyết định này khiến nhiều người công giáo Hoa Kỳ phản đối. Trong thông điệp Divini Redemptoris (1937), Ðức Piô XI đã nghiêm khắc ngăn cấm người công giáo không được hợp tác với chế độ cộng sản vô thần Nga, là chế độ thù nghịch với Giáo Hội Công Giáo. Cho nên hợp tác trong kỹ nghệ chiến tranh bằng cách cung cấp viện trợ quân sự cho Stalin là điều họ nghĩ không nên làm. Ðức Piô XII đã đích thân can thiệp và chỉ thị cho sứ thần Tòa Thánh tại Washington, Tổng Giám mục  Amleto Cicognani (sau này là hồng y quốc vụ khanh), liên lạc với các giám mục Hoa Kỳ và ra lệnh cho các ngài công bố những lời sau: “Thái độ của Tòa Thánh đối với học thuyết Cộng Sản trước sau vẫn như một. Tuy nhiên, Tòa Thánh không hề chống nhân dân Nga. Giờ đây, chính nhân dân Nga đang bị tấn công một cách bất công và đang đau khổ rất nhiều do hậu quả cuộc chiến bất chính này. Chính vì thế, người Công giáo không hề có bất cứ chống đối nào trong việc hợp tác với chính phủ Hiệp Chúng Quốc giúp đỡ nhân dân Nga trong tất cả các trợ giúp họ cần.”

Cornwell tuyệt đối im lặng đối với sự can thiệp hết sức quan trọng này của Ðức Piô XII. Nếu thực sự ngài là “Giáo Hoàng của Hitler” thì hiển nhiên ngài phải có chủ trương ngược hẳn lại hoặc ngay cả tuyên một thánh chiến chống Nga theo Stalin chứ!

Cứu 8000 người Do Thái tại Rome

Cornwell cũng không bao giờ tự hỏi tại sao kế hoạch truy nã 8,000 người Do-Thái tại Rome bỗng nhiên bị ngưng lại sau khi khoảng 1,000 người trong số ấy bị quân đội Hitler bắt giữ trong tháng 10 năm 1943. Ông ta đã trình bày sai lạc cuộc phỏng vấn xẩy ra ngay sau đó giữa quốc vụ khanh Maglione và đại sứ Ðức von Weizsacker, là người được mời vào Vatican theo yêu cầu khẩn cấp của Ðức Piô XII. Weizsacker sợ rằng một phản đối công khai của Vatican sẽ khiến Hitler nổi khùng, đã đưa ra một ấn tượng hơi quá nhẹ kí về thái độ của Tòa Thánh. Thái độ ấy đã được làm sáng tỏ tại tòa án Nuremberg, một tòa án mà Cornwell hoàn toàn làm ngơ (xem trên).

Theo lệnh của Ðức Piô XII, Thiếu tướng Rainer Stahel, tư lệnh quân sự Ðức tại Rome và là một sĩ quan Áo thuộc trường phái cũ,  đã được tiếp xúc. Vị tướng nhân đạo này đã gửi một điện tín trực tiếp cho Heinrich Himmler, thủ lãnh Gestapo, cho rằng chiến dịch bạo hành chống người Do-Thái tại Ý làm cản trở kế hoạch quân sự của ông trong việc tăng cường các sư đoàn Ðức hiện đang còn chiến đấu cách xa Rome và rất có thể tạo ra các vấn đề nghiêm trọng ngay tại Rome nữa. Ðiều ấy có thật nhưng không kém phần quan trọng là nỗi bất bình của ông về các hành động tàn ác của Gestapo và lòng cảm thương của ông đối với người Do-Thái.

Việc can thiệp của vị tướng này thành công – Himmler lập tức ngưng không trục xuất nữa. Hàng ngàn người Do-Thái, do lệnh của Ðức Piô XII, nhờ thế đã được dấu kín tại Vatican và trong hơn 150 cơ sở tại Rome. Dĩ nhiên Cornwell hoàn toàn bỏ qua những sự việc ấy hoặc làm giảm tầm quan trọng của chúng.

Giải pháp chung cụộc

Liệu Ðức Piô XII có biết rõ mức độ tàn sát người Do-Thái hay không? Ngài có nhận được một vài tin tức đáng ngại về việc trục xuất người Do-Thái và các tội ác phạm đến họ. Trong số đó, có phúc trình của Gerhard Riegner. Trong hồi ký Ðừng Bao Giờ Thất Vọng (Ne Jamais Desespérer), ông này cho rằng bộ tài liệu ADSS của Toà Thánh  đã bỏ không đăng một văn kiện chủ yếu chính ông trao cho sứ thần Toà Thánh, Filipe Bernadini, tại Berne nhờ chuyển giao về Vatican ngày 18 Tháng Ba năm 1942.  Riegner viết rằng: “văn kiện này tiết lộ hoàn cảnh bi đát của người Do-Thái tại một số các quốc gia Công Giáo, hoặc tại một số quốc gia có đông người Công Giáo, như Pháp, Romania, Poland, Slovakia, Croatia…. Các hoàn cảnh ấy được trình bầy chi tiết theo từng quốc gia. Chúng tôi đã có thể miêu tả các biện pháp Quốc Xã xử dụng để tiêu diệt toàn bộ dân tôc Do-Thái”.  Hàm ý của cả Riegner lẫn Cornwell trong vụ này là đức Piô XII biết rất rõ nội dung của “Giải Pháp Chung Cuộc”. Thực ra vấn đề không hẳn như thế. Vì đã từ lâu, không thể nào kiểm chứng được sự thật khách quan của rất nhiều tin tức hoặc tuyên bố. Chắc chắn đến tận cuối Thế Chiến II, ngài mới biết rõ những tội ác rùng rợn nhằm vào hàng triệu người Do-Thái. Thực thế, thời chiến, tin đồn rất nhiều và đôi khi những tin đồn ấy hoặc thiếu nền tảng hoặc ít nhất cũng phần lớn phóng đại. Một thí dụ điển hình là trường hợp trong đó, Lord Selborne, bộ trưởng kinh tế chiến tranh và quản trị viên các chiến dịch đặc biệt, đã nói với một kháng chiến quân Ba-Lan năm 1943 như sau: “Trong Thế Chiến I, tin đồn loan truyền khắp Âu Châu cho rằng lính Ðức khoái trá giữ chân các trẻ nhỏ và đùa dỡn đập đầu các trẻ nhỏ này. Dĩ nhiên chúng tôi biết những tin đồn ấy không đúng sự thật, nhưng chúng tôi đâu có làm gì để nói ngược lại. Những tin đồn ấy quá tốt đối với tinh thần dân chúng chúng tôi”. Như trên đã trình bày, chính các nhà lãnh đạo cộng đồng Do-Thái tại Ðức cũng không lượng giá được các tin đồn ấy, nên số lớn đồng đạo của họ sau khi trốn thoát khỏi Ðức, đã quay trở lại để rồi bị chết thảm.

Giảm cấp hay không giảm cấp nạn Diệt Chủng

Cornwell cho rằng đức Piô XII im hơi lặng tiếng trước hoạ Diệt Chủng Do Thái. Tuy nhiên, ngài liên tiếp lên tiếng kết án những kẻ bất công bách hại và giết người chỉ nguyên vì lý do họ thuộc về một quốc gia hay một tộc người nào đó. Tộc người nào được đức Piô XII nói đến đây nếu không phải là Do-Thái? Ðiều ấy được cả thế giới tự do lúc ấy hiểu nên đã có rất nhiều bài báo ca ngợi đức giáo hoàng vì những gì ngài nói cho người Do-Thái cũng như những gì ngài nói về bọn Quốc Xã. Bọn chúng điên cuồng công kích nội dung ngài nói trong diễn văn Giáng Sinh năm 1942. Chúng phát biểu có ghi chép như sau: ‘Ở đây, ông ta (đức giáo hoàng) kết án mọi điều chúng ta chủ trương và ông ta đã biến mình thành cái loa tuyên truyền cho bọn Do-Thái con buôn chiến tranh’. Sở dĩ trong bài diễn văn này, đức Piô XII nói về “hàng trăm ngàn” nạn nhân, là vì lúc ấy không có chứng cớ gì là con số nạn nhân sẽ lên đến, hay sắp sửa lên đến, hàng triệu người. Cornwell kết tội ngài giảm cấp nạn Diệt Chủng. Ông ta đâu có xét đến điều người ta biết lúc ấy.

Ðức giáo hoàng không nhắc đích danh người Do-Thái vì những lý do rất đúng. Sau khi công bố tông thư Mit brennender Sorge, trong đó chủ nghĩa chủng tộc một lần nữa bị kết án (nó đã từng bị Thánh Bộ Tín lý ra nghị định kết án năm 1928: “Giáo Hội lên án gắt gao điều ngày nay được mệnh danh là chủ nghĩa bài Do-Thái”), việc bách hại người Do-Thái không những không bị ngưng mà còn gia tăng. Khi các giám mục Hòa Lan công khai phản đối vào tháng 7 năm 1942 việc trục xuất các công dân Do-Thái của họ, thì việc trục xuất ấy được tăng nhịp độ và nới rộng đến những người Do-Thái đã trở lại đạo Công Giáo. Khi giám mục Munster, Clemens August von Galen, muốn lên tiếng chống lại việc bách hại người Do-Thái tại Ðức, các trưởng lão Do-Thái trong địa phận ngài khẩn khoản xin ngài đừng làm như thế bởi điều ấy chỉ tổ gây hại cho họ. Một số hội đồng giám mục, mà trước hết là hội đồng giám mục Ba-Lan khẩn trương yêu cầu đức Piô XII đừng công khai kết án việc bách hại người Ba-Lan và người Do-Thái vì điều ấy không cứu được mạng ai mà còn gia tăng việc bách hại.

Những hoàn cảnh ấy cần phải được lưu ý khi phê phán trung thực tác phong của đức Piô XII. Ngài có cùng một chủ trương như Hồng Thập Tự Quốc Tế: to tiếng phản đối chẳng thực hiện được gì và chỉ gây hại. Hội Ðồng Ðại Kết các Giáo Hội vừa được khai sinh lúc ấy, đặt trụ sở tại Thụy Sĩ, cũng đạt tới một kết luận như thế. Phương thế duy nhất cứu được người Do-Thái, vì vậy, phải là bí mật nhưng có hiệu quả cho họ nơi nương náu, cung cấp thực phẩm và quần áo, và di chuyển họ tới các nước trung lập. Ðức Piô XII đã làm việc ấy một các không chính phủ nào hay tổ chức nào có thể sánh được, như chính nhiều giới chức và cá nhân Do-Thái đã chứng thực.

Hoàn cảnh cụ thể

Ðứng trên quan điểm tra cứu lịch sử cách khoa học, quả là một lỗi lầm nghiêm trọng khi không làm mình quen thuộc với hoàn cảnh cụ thể trong đó người ta sinh sống lúc đó mà lại đưa ra những phán quyết về họ như thể họ sống trong những hoàn cảnh hoàn toàn khác thế. John Morley, khi điểm sách của Cornwell trên Commonweal ngày 5 tháng 11 năm 1999, nhận định rằng lầm lỗi lớn nhất của Cornwell có lẽ là sự thiếu khả năng hay thiện ý hiểu cái ông gọi là sitz-im-leben, hay hoàn cảnh sống thực của các nhân vật lịch sử. Ðánh giá quá khứ bằng cái nhìn từ thời sau (hindsight) quả không có tính sử học chút nào và không phải của người trí thức.Cornwell không bao giờ hiểu được phải sống và phải xử sự ra sao trong hoàn cảnh Thế Chiến II. Ông nên đọc giáo sư Michael Novak, người giữ ghế George Frederick Jewett tại American Enterprise Institute trên First Things số tháng 8-9 năm 2000. Theo Novak, đức Piô XII kêu gọi tổ chức một hội nghị hòa bình lần chót vào mùa Hè năm 1939, không ai thèm để ý đến lời kêu gọi ấy, cũng không ai thèm phúc đáp, cả phe Trục lẫn phe Ðồng Minh. Ðó là lấn chót, ngài được tự do xử dụng phương tiện truyền thông tới khắp thế giới. Khi chiến tranh khởi sự, Mussolini khóa kín ngài tại Vatican và bất cứ phương tiện liên lạc nào ngài có cũng đều bị kiểm duyệt – thư từ, Ðài Phát Thanh Vatican, báo L’Osservatore Romano. Bốn cơ quan tình báo Ðức, cùng với nhiều cơ quan tình báo giả dạng khác của Ý, xâm nhập Vatican. Rất dễ đe dọa các gia đình có thân nhân làm việc cho Vatican, bởi hầu hết sống ở ngoài và phải hàng ngày ra vào Vatican làm việc. Mặt khác, Toà Thánh hoàn toàn lệ thuộc chính phủ Ý về mọi dịch vụ thiết yếu: nước, cống rãnh, điện, điện thoại, điện tín, và thực phẩm. Cộng thêm tất cả những điều này, Hitler bất mãn với đức Piô XII đến độ hai lần ra lệnh phải soạn thảo kế hoạch chiếm đóng Vatican, theo đó, nhẩy dù sẽ bất thần tấn kích và “lôi cổ” giáo hoàng về Ðức. Cả hai lần, lệnh của hắn không thi hành được là do mưu kế của các tư lệnh địa phương, xử dụng chiến thuật trì hoãn cho đến khi hắn bận lo việc khác (một tư lệnh trình với hắn là còn đang kiếm chuyên gia tiếng Latinh và Hylạp để quyết định xem nên cướp thứ văn khố nào đem về Ðức, và việc này đòi 6 tuần lễ). Novak chua chát nhận xét: “Khi đức Giáo Hoàng có tiếng nói đầy đủ thì chả ai thèm nghe. Liệu ta có thể tin được rằng khi không ai còn có thể nghe được ngài ngoại trừ những kẻ giam giữ ngài để tiếng nói của ngài lọt ra ngoài, thì lúc ấy thế giới sẽ lắng nghe ngài hay sao? Ðối với phần đông người Công Giáo, lối suy nghĩ ấy khó mà hiểu được. Thí dụ điển hình, trong 15 năm qua, không thiếu những lời tuyên bố thảm não của đức Gioan Phaolô II (và của Mẹ Têrêxa) – đôi khi ngay trước mặt các lãnh tụ thế giới, và trước mặt đông đảo thính giả truyền hình thế giới - chống lại việc phá thai và giết người êm ái (euthanasia) có hệ thống cũng như chống thứ  “văn hoá chết chót” mà họ đại biểu. Có ai nghe không! Tại sao thính giả lại nghe những năm 1942, 1943! Phe Ðồng Minh rất lưu tâm khi đức Giáo Hoàng tuyên truyền có lợi cho phe mình. Nhưng họ không muốn ngài chỉ trích những tàn ác của Cộng Sản, bởi Stalin là đồng minh của họ; họ không muốn ngài chỉ trích việc không kích giải thảm của Ðồng Minh trên các thị trấn Ðức và Ý. Nhưng họ muốn ngài kết án Ðức oanh kích giải thảm London và Coventry. Họ nổi xùng khi ngài im lặng. Bị cầm tù trong Vatican, đức Piô XII im lặng về nhiều chuyện, nhưng im lặng vì nguyên tắc chứ không phải vì sợ sệt. Tổng giám mục Sapieha của Krakow công khai yêu cầu ngài đừng lên tiếng cuối năm 1939 và 1940 bởi các lãnh tụ trí thức của Giáo Hội Ba-Lan, kể cả giáo sĩ lẫn giáo dân, đang bị bách hại hàng ngàn, bị đánh đập, giết hại, tống vào các trại tập trung. Sau này Sapieha vẫn nhìn nhận rằng xử dụng những ngôn từ tâm lý chiến công khai chẳng ích lợi gì, chỉ tổ đổ dầu vào lửa. Ông nhìn nhận đã học được nơi đức Piô XII tính bình thản (coolness) và xử dụng nó trong đường lối lãnh đạo riêng của mình. Ông vốn là người che chở và hướng dẫn Karol Wojtyla, vị giáo hoàng tương lai của chúng ta.

Trò cút bắt (game of wits)

Ta biết đức Piô XII biết rõ ngôi vị giáo hoàng từng bị các thế lực trần gian đối xử tàn bạo: Piô VI rồi Piô VII từng bị Napoleon lôi về Paris làm nhục, thủ tướng của Piô IX từng bị ám sát ngay trước dinh sở của mình và chính Piô IX phải trốn khỏi Rome mới toàn mạng, cả Lêô XIII cũng từng đi tỵ nạn vào cuối thế kỷ 19. Ấy thế nhưng ngài vẫn nói thẳng vào mặt Goebbels rằng ngài không sợ chi hết và nhất định không chịu rời khỏi Rome. Thường được người ta mô tả là xa cách và có óc phân tích, đức Piô XII cũng tỏ ra có một thứ cột sống cứng như thép. Vốn có tài đọc tâm tư người khác, ngài từng thận trọng bắt mạch cả Hitler (được ngài nhận định là dễ lao mình vào những trận điên giận) lẫn Mussolini (hợp lý hơn và dù sao vẫn là người Ý). Ngài biết rằng ít nhất trong một vài vấn đề lớn, cuối cùng ngài sẽ có thể thuyết phục được Mussolini – như giữ cho Rome vẫn là một thành phố tự do chẳng hạn. Nhưng ngài biết rằng ngài phải lao mình vào trò chơi cút bắt (game of wits) với Hitler, trong đó quyết tâm sắt đá không bị dụ khị ra khỏi tư cách trung lập chính thức nhất định sẽ thắng được mọi bất trắc khác. Dù mọi sự tỏ ra có vẻ bi đát trong khỏang 1939 tới 1943, đức Piô XII vẫn phán đoán rằng lạnh lùng trước lửa sẽ giúp ngài hướng được càng nhiều nghị lực càng tốt vào việc làm giảm đau khổ.

Nhiều người chung quanh đức giáo hoàng xin ngài lên tiếng mạnh  mẽ hơn. Họ là các đại sứ của Anh, của Brazil, của Pháp, vốn vì chiến tranh phải tù túng trong các căn phòng chật hẹp của Vatican. Ðức giáo hoàng cho họ thấy ngài đã đang lên tiếng rồi, lên tiếng một cách mạnh mẽ, nêu lên những nguyên tắc rõ ràng và không lầm lẫn được. Hơn một lần, ngài vẽ ra bức chân dung đôi ủng bạo tàn của chủ nghĩa chủng tộc, sự bạo hành không biện minh, và cuộc tàn sát người vô tội vạ. Tất nhiên ngài không chỉ rõ bức chân dung ấy chỉ thế lực nào. Nhưng chẳng cần khó khăn bao nhiêu cũng tìm ra điều đó; các tuyên truyền viên tại đài BBC biết ngay lập tức cách đặt những lời kết án của đức giáo hoàng dưới chân Hitler, và họ làm điều đó chỉ trong vòng mấy giờ đồng hồ. Các phân tích gia điên cuồng của Hitler cũng thấy rất nhanh đức giáo hoàng đã cố ý xử dụng ngôn từ của mình ra sao mà vẫn khôn khéo duy trì được thế trung lập của mình. Tệ hơn nữa, há miệng mắc quai, nếu bọn Quốc Xã công kích các điều ngài nói, chúng vô tình xác nhận đài BBC chính xác!

Không ai lớn tiếng bằng

Trong suốt thời gian chiến tranh, không một lãnh tụ thế giới nào bị phe Trục vây hãm bằng đức Piô XII. Nhưng không một ai lớn tiếng bằng ngài và đã cung cấp cho báo chí thế giới nhiều tin tức sinh tử như ngài. Ngài cũng đã cứu rất nhiều sinh mạng Do-Thái qua việc mở cửa các tu viện, kể cả các đan viện, làm nơi trú ẩn lén lút, và đem đồ cứu trợ đến tận tay tận mặt hàng triệu người tỵ nạn. Ðức Piô XII đưa ra chiến lược của mình rất sớm, biết cách điều chỉnh các chiến thuật của mình và chưa bao giờ nghe được một lý do thuyết phục nào – dù được nghe rất nhiều lý do - để phải làm khác đi. Ngài vừa vững vàng và can đảm vừa bình thản và biết phân tích. Ngài biết nếu hành động cách kém kỷ luật hơn, ngài sẽ rơi vào thế đối đầu khiêu khích (confrontational). Mà đối đầu khiêu khích thì những nhân tài ưu tú nhất, có khả năng nhất và can đảm nhất chắc chắn sẽ là những người bị giết hoặc cầm tù trước nhất. Tất cả chỉ còn lại cảnh nô lệ lặng câm. Giáo hoàng có thể sống sót, nhưng đó là một giáo hoàng vô vọng, cô lập, sống trong tình trạng mất trí (demented) như Piô VII dưới thời Napoleon! Nhưng hàng ngàn người khác sẽ chết, mà chẳng đưa lại lợi lộc nào. Hitler vốn chờ mong đối đầu khiêu khích. Những đầu óc tỉnh hơn, dù dưới quyền uy của hắn, với viễn ảnh tương lai, chẳng dại gì mà rơi vào chiến thuật của hắn.

Ðối với một số nhà phê bình, chiến thuật của Ðức Piô XII quá mềm yếu (subtle). Từ thời sau nhìn lại, họ đòi phải có một kết án thẳng thừng, không hãm còi từ đức giáo hoàng chống lại tội ác có một không hai ấy. Họ chẳng đề nghị được chi ngoài một suy đoán về điều có thể xấy ra sau lời kết án ấy. Thực vậy, theo sức mạnh của điều họ lý luận, họ đã gán cho ngôi vị giáo hoàng một sức thuyết phục bằng lời lớn hơn các lý thuyết tân thời của phong trào tục hóa cao độ của Âu Châu cho phép nữa. Liệu những nhà sử học ấy có bảo đảm rằng họ sẽ nghe theo những lời tuyên bố long trọng của một giáo hoàng ngày nay hay không, dù những lời tuyên bố ấy đi ngược lại với niềm tin và quyền lợi của họ? Mà nếu họ không nghe theo, tại sao những người thời ấy lại phải nghe theo?

 Hành hình tinh thần  

Nói về các văn kiện (actes) trong việc phong chân phước và phong thánh cho đức Piô XII, người ta thấy chẳng có chi bí mật. Cornwell không chịu nói sự thật khi cho rằng ông là người đầu tiên và duy nhất xưa nay được đọc các văn kiện ấy. Ðiều ngược lại mới đúng. Nhiều người đã đọc chúng và tuyệt đối trong chúng không hề có điều gì “đáng phê phán nẩy lửa” (explosively critical) liên quan đến dự án này. Cornwell phạm sai lầm về sự kiện, như khi nói đến 76 nhân chứng, trong khi thực ra có đến 98 người, hay khi xấc sược cho rằng những văn kiện ấy ‘phần lớn chỉ chứa những tài liệu nhằm khen ngợi Pacelli’. Các nhân chứng rất trung thực và hiểu biết đã đưa ra các phát biểu có tuyên thệ. Sự kiện các nhận định của họ thẩy đều tích cực đối với cuộc đời, sinh hoạt và các nhân đức của đức Piô XII đã không ăn khớp được với các ý nghĩ đầy thiên kiến của ông mà thôi.

Ðối với Linh Mục Gumpel,  sách của Cornwell là một mưu toan xấu xa nhằm hành hình người khác về phương diện tinh thần (moral lynching) và quả là một cuộc sát phạt nhân vật thực sự. Ðức Piô XII thực sự không phải là “Giáo hoàng của Hitler”. Bức chân dung của Cornwell về ngài là một bức hí họa kinh tởm về một con người cao thượng và thánh thiện” (Cornwell’s Cheap Shot at Pius XII, Crisis 17, no.11 - December 1999)

Trong một bài báo khác viết cho Zenit Daily Dispatch, tựa là Cornwell’s Pope: a Nasty Caricature of a Noble and Saintly Man, linh mục Gumpel nhận định về từng chủ điểm chính trong sách của Cornwell. Về thái độ của Pacelli đối với Hitler, trong danh sách các tác phẩm mà Cornwell cho là mình có tham chiếu, ông ta có nhắc đến một cuốn trong đó rõ ràng có đoạn viết rằng năm 1929, tức 4 năm trước khi Hitler lên cầm quyền (30 tháng Giêng  năm 1933), Pacelli đã nghiêm khắc cảnh giác về Hitler và cho hay không thể hiểu tại sao ngay đến những nhà trí thức cao cấp Ðức cũng không chia sẻ các phán đoán hoàn toàn tiêu cực của ngài. Cornwell bỏ qua đoạn đó. Một là ông không đọc cuốn sách, hai là ông cố tình bỏ qua đoạn đó và cả những đoạn rất dễ xác minh tương tự như thế về Pacelli, chỉ vì những đoạn như thế không ăn khớp với các khuynh hướng phá hoại của ông. Về việc nhắc đến nguồn gốc Do-Thái của Levien, thì đó là sự kiện lịch sử. Không phải chỉ riêng có Levien tại Munich, mà còn có Karl Liebknecht và Rosa Luxemburg tại Berlin, và Bela Kun tại Hungary, tất cả đều là Do-Thái do Nga gửi tới. Nhắc đến những sự kiện đó tuyệt đối không có liên quan gì đến chủ nghĩa bài Do-Thái hết, như Cornwell lầm xiên sỏ. Cần phải nhắc đến những tên khủng bố tại Munich là ai để các bề trên của Pacelli hiểu kế hoạch của Cộng Sản Nga trong nỗ lực bành trướng quyền lực qua các nuớc Tây Phương.

Về thái độ của Pacelli với Hitler, Văn Khố thời 1922-1939 vừa được Tòa Thánh cho mở cửa tháng 2 vừa qua cho người ta thấy một bức thư Sứ Thần Pacelli gửi Quốc Vụ Khanh Toà Thánh. Tập San Inside The Vatican , số ngày 4 tháng 3 năm 2003, có cho đăng bức thư này. Bức thư đề ngày 14 tháng 11 năm 1923 viết gửi Hồng y Pietro Gaspari, quốc vụ khanh Tòa Thánh thời Ðức Piô XI, vài ngày sau vụ Quốc Xã mưu tính tiếm quyền địa phương tại Munich. Bức thư có nhắc đến biến cố ấy và lên án phong trào Quốc Xã, coi nó như một đe dọa chống Công Giáo, đồng thời ghi chú rằng Hồng Y của Munich đã từng lên án các hành động bách hại người Do-Thái tại Bavaria. Bức thư có đoạn như sau: “Các sự kiện bao quanh vụ nổi dậy của Quốc Xã… Ðức Hồng Y đã rõ qua báo chí Ý; con không muốn nhắc lại trong phúc trình này. Tuy nhiên… con nghĩ cần phải thông tri để Ðức Hồng Y rõ thêm một vài chi tiết khác, liên quan đến những cuộc biểu tình có tính chất chống Công Giáo đi kèm với vụ nổi dậy này, một tính chất không có chi đáng ngạc nhiên đối với những ai từng theo dõi việc ấn hành các tờ báo của phe cực hữu, như các tờ Volkischer Beobachter (Người Quan Sát Folkish) và Heimatland (Quê Hương). Tính chất này trên hết được tỏ lộ trong những vụ công kích có hệ thống nhằm hàng giáo sĩ Công giáo. Với những công kích này các đồ đệ của Hitler và Ludendorf đã xúi giục được quần chúng, nhất là trong các buổi diễn thuyết ngoài phố, mạ lỵ và hành hung các giáo sĩ. Những công kích này đặc biệt chú mục vào Hồng Y Tổng Giám Mục đầy uyên bác và nhiệt thành, người mới đây trong một bài giảng tại Duomo vào ngày mồng 4 tháng này và trong một bức thư gửi cho Thủ Tướng Liên Bang công bố trên Thông Tấn Xã Wolf ngày mồng 7, đã lên án các vụ bách hại người Do-Thái.’

Cuộc Nổi Dậy (putsch) của Quốc Xã năm 1923

Tưởng cũng nên nhắc lại những biến cố lịch sử bao quanh vấn đề này. Ngày 8 tháng 11 năm 1923, chính phủ Bavaria tổ chức một cuộc tập họp cho khoảng 3,000 viên chức. Trong lúc Gustav von Kahr, thủ tướng Bavaria, đang diễn thuyết, thì Adolf Hitler và đội quân xung phong có vũ trang của hắn xông vào toà nhà. Hitler nhẩy lên một chiếc bàn, bắn chỉ thiên hai phát súng và nói cho cử tọa hay Cuộc Nổi Dậy (putsch) của Munich đã xẩy ra và Cách Mạng Toàn Quốc đã khởi đầu. Ðể Hermann Goering và nhóm SA ở lại canh chừng 3,000 viên chức, Hilter dẫn Gustav von Kahr, Otto von Lossow, tư lệnh lục quân Bavaria và Hans von Lossow, chỉ huy Cảnh Sát Bang Bavaria qua một phòng kế bên. Hitler cho nhóm người này hay anh ta sẽ là tân lãnh tụ của nước Ðức và hứa sẽ bổ nhiệm họ vào các chức vụ trong chính phủ mới. Biết rằng đây là một hành vi phản quốc, 3 người khởi đầu ngần ngại không chịu nhận đề nghị trên. Adolf Hitler nổi giận và đe dọa sẽ bắn họ rồi tự sát: “thưa quí vị, tôi có 3 viên đạn cho quí vị, và một viên cho tôi!”. Ba  người đành tuân theo. Chẳng bao lâu sau, Eric Ludendorff tới. Ludendorff vốn là lãnh tụ của lục quân Ðức vào cuối Thế Chiến I, nên thấy chủ trương của Hitler cho rằng cuộc chiến ấy không phải mất do lục quân mà là do người Do-Thái, do bọn Xã Hội, bọn Cộng Sản và chính phủ Ðức là một chủ trương hấp dẫn, hắn trở thành ủng hộ viên nhiệt thành của Quốc Xã. Ludendorff đồng ý nhận chức tư lệnh lục quân Ðức trong chính phủ Hitler. Trong khi Adolf Hitler đang bận thành lập tân chính phủ, thì Ernst Roehm, cầm đầu một nhóm cảm tử quân, tiến chiếm Bộ Chiến Tranh, còn Rudolf Hess thì lo sắp xếp việc lùng bắt người Do-Thái và các lãnh tụ chính trị phe tả của Bavaria. Giờ đây Hitler dự tính tiến về Berlin để lật đổ chính phủ quốc gia. Không may cho hắn, hắn quên không cho cảm tử quân chiếm các đài phát thanh và các sở viễn thông. Nhờ thế chính phủ Berlin chẳng mấy chốc đã nghe biết đầy đủ về vụ nổi dậy của Hitler, nên đã ra lệnh dập tắt nó. Ngày hôm sau, Adolf Hitler, Eric Ludendorff, Hermann Goering và 3,000 ủng hộ viên có vũ trang thuộc Ðảng Quốc Xã tiến qua Munich trong mưu mô bắt tay với các lực lượng của Roehm tại Bộ Chiến Tranh. Tại Odensplatz, họ bị chặn đứng bởi cảnh sát Munich. Vì không chịu dừng lại, cảnh sát đã nổ súng xuống đất ngay trước mặt đoàn người. Các cảm tử quân bắn trả đũa và trong ít phút sau đó, 21 người bị tử thương và hàng trăm người khác bị thương, trong đó có Goering. Khi cuộc bắn nhau bắt đầu, Adolf Hitler lao mình xuống đất khiến trật bả vai, rồi chạy tới một chiếc xe chờ sẵn. Và mặc dù cảnh sát có quân số  ít hơn, bọn Quốc Xã cũng đành theo gương lãnh tụ mà bỏ chạy. Chỉ duy có Eric Ludendorff và các thuộc hạ vẫn tiếp tục tiến về phía cảnh sát. Các sử gia Quốc Xã sau này cho biết lý do khiến Hitler rời hiện trường nhanh như trên là để cấp tốc đưa một thanh niên bị thương tới bệnh viện địa phương. Sau khi trốn tại nhà một người bạn ít ngày, Hitler bị bắt và bị xử vì vai trò của mình trong cuộc Nổi Dậy Tại Bóp Bia. Nếu có tội, Hitler sẽ lãnh án tử hình. Tuy nhiên các cảm tình viên Quốc Xã trong chính phủ Bavaria cố gắng vận động làm nhẹ bản án dành cho Hitler. Hắn chỉ bị kết tội tổ chức biểu tình chính trị, do đó chỉ bị kết án 5 năm tù. Các đảng viên Quốc Xã khác cũng chịu một bản án nhẹ, riêng Eric Ludendorff thì được tha bổng.

Phúc trình Riegner    

Về nhận định của Quốc Xã đối với Giáo Hội Công Giáo, Cornwell không bao giờ đề cập đến những báo cáo của Gestapo cho hay bao lâu Giáo Hội này còn có ảnh hưởng trên dân chúng, thì ý thức hệ Quốc Xã sẽ không bao giờ được nhân dân Ðức chấp nhận. Tác phẩm cổ điển của Boberach công bố các báo cáo nội bộ của Gestapo đã không bao giờ được Cornwell nhắc tới, âu cũng là điều dễ hiểu. Cornwell có nhắc đến việc phúc trình của Riegner từ Thụy Sĩ gửi cho Rome không được công bố trong ADSS. Riegner trao phúc trình này cho sứ thần Tòa Thánh tại Thụy Sĩ vào tháng 3 năm 1942, ít tháng sau Hội Nghị Worms (20/01/1942) nhưng chỉ tới Rome vào tháng 10 năm đó như đã rõ qua báo cáo của sứ thần được đăng trong ADSS, trong đó có nhắc đến phúc trình này. Tuy nhiên vào thời điểm ấy có rất nhiều những phúc trình như thế và không ai có thể kiểm tra xem chúng có đúng sự thật khách quan hay không. Chính Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng tỏ ra hoài nghi đối với các phúc trình loại này và đã từng hỏi ý kiến Vatican có nên xác nhận chúng hay không. Sự kiện thứ hai liên quan đến cuộc đàm đạo giữa nhà ngoại giao Mỹ, ông Tillerman, và đức Piô XII. Cornwell làm rùm beng vụ này. Ông cho rằng cuộc đàm đạo ấy diễn ra ngày 18 tháng 10 năm 1943, vài ngày sau khi 1,000 người Do-Thái tại Rome bị vây bắt. Ông tố cáo Ðức Piô XII không quan tâm bao nhiêu tới số phận người Do-Thái, thậm chí còn không nhắc gì đến họ. Ðiều ấy không đúng. Vì thực sự báo cáo do Tillerman gửi đi trong đó ông cho hay ông gặp đức Piô XII “hôm nay” được đề ngày 19 tháng 10, chứ không phải 18 tháng 10. Mà “19” cũng sai luôn. Cuộc đàm đạo ấy xẩy ra ngày 14 tháng 10, như đã được ghi chép chính xác trong danh sách các cuộc đàm đạo được đức Piô XII đồng ý dành cho các nhà ngoại giao. Sự kiện cuộc đàm đạo trên xẩy ra ngày 14 tháng 10 đã được ghi trong hai cuốn khác nhau của bộ ADSS mà Cornwell có nhắc đến trong danh sách văn khố nghèo nàn của mình nhưng hiển nhiên không đọc một cách chính xác, sợ không đọc nữa là đàng khác.

Con người tham vọng?

Về cá tính đức Piô XII, Cornwell cho rằng ngài là  người tham vọng và bóng gió cho rằng ngài ham chức nghiệp. Ðiều này không đúng. Khi còn tráng niên, Pacelli tiến nhanh trong chức nghiệp vì ngài thông minh, tận tâm và cần mẫn. Không có mảy may chứng cớ nào cho thấy một lý do khác khiến ngài tiến nhanh như thế, huống hồ là ngài tìm cách mua chuộc chức nghiệp của mình. Linh mục trẻ Pacelli chỉ muốn đi làm việc mục vụ theo nghĩa trực tiếp của nó giống như mọi linh mục khác. Nhưng chỉ vì đức vâng lời đối với các bậc bề trên mà ngài đã bước chân vào ngành ngoại giao phục vụ Tòa Thánh. Năm 1929, khi nhiệm vụ sứ thần chấm dứt, ngài muốn được làm giám mục địa phận để thi hành nhiệm vụ mục tử của mình. Lúc được bầu làm giáo hoàng, ngài không nhận ngay lập tức, mà yêu cầu các hồng y bỏ phiếu một lần nữa. Ðến khi phiếu ủng hộ vẫn như cũ, ngài mới chấp nhận việc bầu ấy như dấu chỉ ý Chúa muốn trao thánh giá cho mình (in signum crucis). Cornwell cũng nói đến tính ‘tự yêu mình” thái quá (narcissism). Người ta không hiểu làm thế nào ông ta có thể biện minh cho câu phán đoán ấy. Ðức Piô XII ghét bị chụp hình nhưng phải chiều theo vì nhiều người muốn có hình kỷ niệm về ngài…

Nguồn tài liệu

Về các nguồn tài liệu, Cornwell hầu như không biết gì đến bộ tài liệu do Ủy Ban Lịch Sử (Kommission fur Zeitgeschichte) ấn hành, hiện nay vượt quá 40 cuốn. Cornwell chắc chắn biết tác phẩm của Jeno Levai, một người Hung gia lợi gốc Do-Thái, do tiến sĩ Robert Kempner, phụ tá trưởng Công tố viên của Mỹ tại toà án Nuremberg đề tựa và viết lời bạt, nhưng không nhắc gì tới những bênh vực của Kempner đối với đức Piô XII. Rất nhiều lần, ta đọc thấy cụm từ “được trích dẫn bởi…” (quoted by…) cho thấy tài liệu gốc không được Cornwell tham khảo, mà chỉ là những  nguồn tài liệu đệ nhị đẳng. Ðấy không phải là thủ tục của khoa bảng (academic), huống hồ là một thủ tục hợp tiêu chuẩn đối với một tác phẩm cỡ như sách của Cornwell. Cái cụm từ ấy rất thường được áp dụng đối với công trình của Klaus Scholder, là công trình từng bị nhiều phê phán gay gắt. Trong các nghiên cứu về Tông Hiệp, Scholder thua xa  các công trình tiêu chuẩn của Volk về tông hiệp với Bavaria và Ðức Quốc Xã (20 tháng 7 năm 1933). Ấy thế mà dù biết điều ấy, Cornwell vẫn thích Scholder hơn Volk, hiển nhiên vì Scholder ăn khớp hơn với luận đề tiêu cực của mình đối với Pacelli Sứ Thần và sau này Pacelli Quốc Vụ Khanh.

Xem ra Cornwell tin tưởng mù quáng vào điều được công bố trong hồi ký của Bác Sĩ Bruning. Ông này vốn là thủ tướng của Ðức trong các năm 1930-1932 trong một tình thế tuyệt vọng ( sau “Thứ Sáu Ðen” - thị trường chứng khóan New York tuột dốc – các chính phủ ngoại quốc đòi nợ, hàng triệu người thất nghiệp, và nhiều ngân hàng cũng như thương vụ phá sản). Bruning ráng hết sức làm được gì thì làm, nhưng ông cũng mắc nhiều lỗi lầm trầm trọng về kinh tế. Năm 1932, nội các của ông xụp đổ và điều này ám ảnh ông suốt quãng đời còn lại. Ông đổ cho đức cha Kaas đồng trách nhiệm trong việc hạ bệ ông, và vì Kaas làm việc cho Pacelli, cho nên ác cảm bệnh hoạn của ông được nối dài qua cả Pacelli nữa. Lúc còn làm thủ tướng, Bruning từng làm việc quá độ và rơi vào tình huống khủng hỏang thần kinh cao độ cũng như chính ông thuật lại từng có một cuộc gặp mặt đầy sóng gío với Pacelli. Cho nên những năm sau này khi ông viết hồi ký, nhân cách ông là một nhân cách cay đắng và thất vọng. Về chủ quan, sự trung thực của ông không ai nghi vấn, nhưng các chuyên gia cao cấp từng thách thức đúng đắn về sự thật khách quan trong các hồi ký ấy. Cornwell trích dẫn các hồi ký này mà không phê phán chi cả.

Cornwell cho rằng mình đã nghiên cứu tất cả các văn kiện trong cuộc điều tra theo giáo luật về việc phong chân phước cho đức Piô XII. Tuy nhiên ông lại bỏ qua hầu như 100% các phán quyết tích cực của mọi nhân chứng; điều này không trung thực. Ông tỏ ra tin tưởng mù quáng vào lời khai của người em gái đức Piô XII là người chỉ biết khen anh trai mình, mà lại thù nghịch đối với Mẹ Pascalina. Bất cứ thẩm phán khách quan nào cũng hiểu là người em gái ấy ganh tị với Pascalina là người hàng ngày tiếp xúc với Pacelli, lúc còn là Quốc vụ khanh và sau này là Giáo hoàng, trong khi bà chỉ họa hiếm mới được thấy anh trai. Lời bà tố cáo rằng Pascalina từ Berlin tới Rome không do lời yêu cầu của Pacelli và cả không có phép của bề trên riêng đương nhiên là lời tố cáo vô lý, ấy thế mà Cornwell lại một lần nữa, do những lý do ai cũng thấy, đã chấp nhận lời tố cáo không một chút dè dặt.

Cornwell cũng bỏ qua không nhắc gì tới những công bố của hồng y Montini trong lá thư gửi The Tablet ngay sau khi Hochhuth cho trình diễn vở Vị Ðại Diện của mình, cũng như những bênh vực của đức Gioan XXIII và Gioan Phaolô II. Hoặc có nhắc cũng chỉ nhắc cho qua lần chiếu lệ. Rồi còn tài liệu We Remember mới đây nữa trong đó có cả một phần ghi chú dài bênh vực đức Piô XII, Cornwell cũng coi thường. Những lời xưng tụng của Thống Chế Montgomery đối với đức Piô XII trên Sunday Times ngày 12 tháng 10 năm 1958 có lẽ dưới con mắt của Cornwell chỉ là những lời ngoại giao vô nghĩa. Nhưng Cornwell đâu ngờ là ở đầu giường vị thống chế Anh giáo này luôn luôn có hai tấm hình, một của thân phụ ông và hai của đức Piô XII.

Nói về vấn đề tài liệu, Cornwell tỏ ra không biết gì tới mặt trận chiến tranh chính trị đặc biệt do Anh chủ xướng nhằm tung ra những phúc trình giả về những bài truyền thanh của đài Vatican và các đài khác. Ông ta xem ra cũng không hay gì về những vụ giả mạo (forgeries) của Scattolini mà nhiều người tin như thật. Sau chiến tranh, Scattolini bị cảnh sát Ý bắt giữ mới chịu khai ra rằng các phúc trình đó (vào khỏang 1000 hết thẩy) là hoàn toàn do hắn bịa ra mục đích để kiếm tiền. Cornwell không bao giờ chịu kiểm chứng là mình có là nạn nhân và là nạn nhân đến bao nhiêu của anh chàng bị toà án Ý kết án và bỏ tù này… Chỉ còn một kết luận là không hiểu điều gì đã xúi giục con người này viết ra một cuốn sách kém chất lượng, phiến diện và hoàn toàn không đáng tin một chút nào như thế.

Chiến dịch mạ lỵ        

Trên đây chúng tôi có nhắc đến William D. Rubinstein và các con số của ông cho thấy số người Do-Thái bị Quốc Xã giết tại các nuớc Công giáo thí ít hơn con số tại các nước không công giáo. Nhận xét vế tác giả Hitler’s Pope, Rubinstein cho rằng mặc dù chân dung đức Piô do Cornwell vẽ có phức tạp hơn chân dung do Hochhuth vẽ, nhưng rõ ràng đã được vẽ trong cùng một tinh thần. Vì thẩy đều là những chiến dịch quái ác nhằm mạ lỵ và ám hại danh thơm tiếng tốt người khác. Tác giả sách ấy nhất đán đọc sai và hiểu sai cả các hành động của Pacelli lẫn ngữ cảnh (context) trong đó các hành động kia xẩy ra. Cornwell đơn cử hai trường hợp để lên án đức Piô XII: đó là việc ngài án binh bất động trước việc đầy 2,000 người Do-Thái Rôma đi Auschwitz  trong hai tháng 9 và 10 năm 1943, và việc ngài không có hành động cương quyết đối với vụ đầy hàng loạt người Do-Thái Hung gia lợi đi Auschwitz trong các tháng 5,6 và 7 năm 1944, đợt diệt chủng cuối cùng của Quốc Xã. Tuy nhiên, nếu nhìn vào chi tiết, câu chuyện sẽ ra khác.

Người ta biết rằng năm 1938, có tất cả 12,800 người Do-Thái tại Rome. Ðầu năm 1943, con số ấy là 12,000 người. Ðến tháng 9 năm đó, nhiều người trong số ấy đã trốn đi, chỉ còn vào khoảng 8,000 người ở lại. Trong tháng ấy, khỏang 1,000 bị bắt, và tháng sau, 1,000 người khác bị bắt. Chính Cornwell khẳng định rằng: “một số không rõ người Do-Thái còn ở lại đã thoát khỏi bị bắt nhờ đi trốn tại các cơ sở tôn giáo có qui chế ngoại giao do Vatican bảo vệ tại Rome, gồm luôn chính Kinh Thành Vatican”. Con số ấy hiện nay ai cũng rõ: vào khoảng 5,000 trong số 8,000 người kia đã được che chở kiểu này. Nói cách khác, vào khoảng 5/6 tổng số người Do-Thái tại Rome trước chiến tranh đã sống còn chủ yếu do sự giúp đỡ của công giáo. Còn tại Hung gia lợi, mấy trăm ngàn người Do-Thái bị đầy vào chỗ chết trong một khoảng thời gian ngắn ngủi không thể tin được tức trong khoảng từ 15 tháng 5 đến 8 tháng 7 năm 1944. Vụ diệt chủng được tổ chức với độ chính xác kiểu dây chuyền này là do chính hung thần Adolf Eichmann chỉ huy. Mặc dù nhìn nhận rằng “các sáng kiến của Pacelli tại Hung cũng như tại các nơi khác chắc chắn có góp phần vào các cố gắng cứu người của Công Giáo”, nhưng “việc phản kháng của ngài quá chậm không ngăn cản được vụ đầy ải gần nửa triệu người Do-Thái khỏi các vùng tỉnh” (chỉ tại các vùng nông thôn Hung gia lợi mà thôi, người Do-Thái tại Budapest không bị đầy ải). Tuy nhiên, sự thật có khác thế. Trước nhất, Cornwell nói lầm rằng nhà cai trị Hung lúc đó, Ðô Ðốc Miklos Horthy (1868-1957), là một người Công giáo. Ðúng ra ông theo giáo phái Calvin. Không cần nói cũng đủ thấy Horthy không coi đức Piô XII là đại diện đức Kitô trên trần gian. Thứ hai, ngày 25 tháng 6 năm 1944, Pacelli có kêu gọi Horthy ngưng vụ đầy ải. Horthy đồng ý với lệnh trực tiếp từ Hitler phải đầy người Do-Thái dưới chiêu bài đưa họ đi lao động chân tay tại các nhà máy ở Ðức. Tuy nhiên, một loạt các nguồn tin ngoại quốc cũng như Hung gia lợi liên tiếp cho ông biết sự thật giữa các tháng 3 và 7 năm 1944 và thúc giục ông chấm dứt các vụ đầy ải. Một số các thúc giục này có trước các thúc giục của Pacelli, một số có sau. Nếu những thúc giục ấy có ‘quá trễ’ thì chúng vẫn còn sớm hơn so với các thúc giục của Franklin Roosevelt, của Hồng Thập Tự Quốc Tế, của Quốc Vương Gustaf của Thụy Ðiển, và của Văn Phòng Do-Thái tại Palestine (do David Ben-Gurion cầm đầu). Cuối cùng Horthy ngưng các vụ đầy ải vào ngày 8 tháng 7. Ðiều quan trọng hơn nữa, là nếu Horthy hành động sớm hơn, Quốc Xã có thể không những không đếm xỉa đến quyết định của ông mà chắc chắn còn đảo chính lật đổ ông để đưa ra một chính phủ cực đoan thân Quốc Xã thay thế. Thực tế chuyện ấy đã xẩy ra thật vì giữa tháng 10, Ðức đã dàn dựng cuộc đảo chính đưa Ferenc Szalasi, một lãnh tụ thân Quốc Xã của Arrow Cross, lên làm thủ tướng. Thật rất khó mà thấy được Pacelli đã có thể làm được gì để xoay chiều các biến cố bi thảm trên. Một sự kiện mà chính Cornwell cũng phải thừa nhận là các đại diện Công giáo tại Hung, nhất là Angelo Rotta, sứ thần Tòa Thánh, đã tỏ ra hết sức tích cực nhân danh người Do-Thái.

Đánh lạc chú ý

Ðiểm chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là thế này: uy quyền của đức Giáo hoàng, hay của Roosevelt hay của bất cứ ai khác trong việc gián chỉ Hitler khỏi nạn diệt chủng rất có giới hạn, vì lúc ấy hắn đã nắm được quyền bá chủ Âu Châu. Chỉ chú mục vào các hành động của đức Giáo Hoàng hay của Ðồng Minh mà thôi là quên mất sự kiện luân lý chính yếu này là chính Hitler và bọn Quốc Xã đã thi hành Nạn Diệt Chủng, chính bọn chúng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với những gì đã xẩy ra. Ðối với quá nhiều sử gia, trong vụ Diệt Chủng, bọn Quốc Xã xuất hiện như một lực lượng tự nhiên không giải thích được và sức mạnh tàn diệt của nó có tra vấn cũng bằng thừa, trong khi phê phán lại chú mục vào những thiếu sót đổ trên đầu những ai không có khả năng ngăn cản được cuộc sát nhân của chúng. Cái điều hoàn toàn bất công ấy đáng ra phải là hiển nhiên, ấy vậy mà các kệ sách vẫn đầy các công trình về “các thất bại” của Ðồng Minh cũng như những sách chỉ trích Pacelli. Nhẹ nhất, những sách đó đã có công dụng đánh lạc chú ý khỏi các thủ phạm thực sự; nặng hơn, chúng hàm nghĩa một đồng cân luân lý (moral equivalence) giữa những tên sát nhân hàng loạt và những người, dù hữu hiệu hay không, đã cố gắng chận đứng bàn tay tội ác của chúng lại.

Cũng cần nhấn mạnh một khía cạnh bất công khác: tại sao lại chỉ chú mục vào Công Giáo mà thôi? Tiến sĩ Margherita Marchione, một chuyên gia về Vatican, nhân khi đề cập đến Ủy Ban Sử Học Hỗn Hợp giữa Công Giáo và Do-Thái, có nhắc lại một sự việc liên quan đến vụ Kristallnacht (Ðêm Kính Bể) trong đó Quốc Xã triệt hạ 1,400 hội đường và cửa hàng Do-Thái tại Ðức và Áo. Mấy ngày sau, báo chí Ðức đăng tải các lời tuyên bố của các thần học gia Lutheran là những người, thay vì kết án hành vi bạo ngược trên, đã tỏ ra hài lòng vì cuộc bách hại ấy đã khởi sự đúng vào ngày sinh nhật của Martin Luther. Theo Andrea Tornielli, trên tờ Il Giornale ngày 13 tháng 11 năm 1998, các đồ đệ của Hitler khi thi hành kế hoạch bách hại trên đã tìm thấy kế hoạch đó ngay trong chính cuốn Von den Juden und ihren Lugen của Luther viết năm 1543 được Justus Jonas dịch từ tiếng Ðức qua tiếng Latinh. Năm 1936, cuốn này được lưu hành với lời biên tập của nhà thần học tin lành, tiến sĩ Linden. Ấn bản tiếng Ý, với lời bình luận của Attilio Agnoletto, được ấn hành năm 1997. Trong cuốn sách này, Luther khuyên rằng: “các Ðạo Trưởng (Do-Thái) không được phép dạy học và người Do-Thái phải bị công chúng không tin tưởng và cấp giấy thông hành”. Ông cũng cho rằng: “phải áp đặt mọi thanh niên và người tráng kiện Do-Thái, cả đàn ông lẫn đàn bà, phải làm việc, để tự họ kiếm lấy miếng ăn bằng chính mồ hôi của họ”. Khỏi nói ai cũng thấy, bọn Quốc Xã đã dùng những lời ấy để biện hộ cho các trại tập trung của chúng ra sao. Ấy thế mà trong các buổi tưởng niệm Ðêm Kính Bể, người ta chỉ tố cáo đức Piô XII, mà không nhắc gì đến những nhà thần học  từng vỗ tay và cho in lại những luận điệu phỉ báng người Do-Thái!

4. THÔNG ÐIỆP DẤU KÍN

Ðạo trưởng Melanie Aron, trong bài Edith Stein – Jewish Saint? mà chúng tôi giới thiệu trên đây cho rằng năm 1938, Edith Stein có thỉnh cầu đức Piô XI viết một tông thư bênh vực người Do-Thái. Ðạo trưởng cho hay: “theo tài liệu chính thức của Công giáo, thỉnh cầu trên không được thỏa mãn lúc ấy, phần lớn do việc xử lý nó một cách thiếu sót”. Cũng theo ông, “Năm 1986, tuyên bố của Chủ Tịch Đại Học Thánh Giá giải thích rằng Ðức Giáo Hoàng có ủy nhiệm cho hai linh mục Dòng Tên soạn thảo một tài liệu lên án việc bách hại vì lý do chủng tộc. Việc bùng nổ Thế Chiến II và cái chết của Ðức Giáo Hoàng đã ngăn cản việc công bố các cố gắng ấy”.

Nữ Thánh Edith Stein

Ở đây, ta thấy một điều đáng lưu ý. Dù Ðạo Trưởng Aron đã có nhiều tiếp xúc với Công Giáo qua các cố gắng đối thoại của ông, nhưng khi nói về Công Giáo và lịch sử của Giáo Hội này, ông tỏ ra không thành thạo bao nhiêu, và do đó, người ta rất hoài nghi phẩm chất các điều ông viết. Tỉ như khi ông đề cập đến Chủ Tịch Đại Học Thánh Giá, người ta không hiểu ông nói về ai. Mặt khác, ai cũng biết bức thư Edith Stein thỉnh cầu đức Piô XI lên tiếng phê phán Quốc Xã được viết và gửi cho ngài ngày 12 tháng 4 năm 1933, chứ không phải năm 1938. Bức thư này được tìm thấy trong các Văn Khố của thời 1922-1939 vừa được Tòa Thánh mở cho công chúng. Bà viết như sau: “Với tư cách một đứa con của dân tộc Do-Thái, người nhờ ơn Chúa, trong 11 năm qua cũng là một đứa con của Giáo Hội Công Giáo, con xin mạo muội thưa với người Cha của thế giới Kitô giáo về điều đang áp chế hàng triệu người Ðức. Ðã mấy tuần nay, chúng con nhìn thấy nhiều tội ác tại Ðức đang chế nhạo bất cứ cảm thức nào về công lý và nhân đạo, chứ đừng nói chi đến lòng yêu người lân cận. Ðã nhiều năm nay, các lãnh tụ của chủ nghĩa Quốc Xã từng rao giảng lòng thù hận đối với người Do-Thái. Giờ đây khi đã nắm được chính quyền và đã trang bị vũ khí cho các kẻ ủng hộ, trong đó nhiều thành phần là tội phạm có chứng cớ, cái hạt giống thù ghét kia đã nẩy mầm. Vừa mới đây, chính phủ nhìn nhận có những quá trớn đã xẩy ra. Ðến mức nào, chúng con không thể nói được, vì công luận hiện đang bị bịt miệng. Tuy nhiên, xét theo những gì con đã học được qua các liên hệ bản thân, đó không hề chỉ là những ngoại lệ đặc thù. Dưới áp lực của phản ứng ngoại quốc, chính phủ phải quay về với những phương pháp dịu nhẹ hơn. Khẩu hiệu của Chính phủ hiện nay là không một người Do-Thái nào bị hại dù chỉ là một sợi tóc. Nhưng qua các biện pháp tẩy chay - cướp kế sinh nhai, các danh dự dân chính và cả quê cha đất tổ nữa – chính phủ đã đưa nhiều người đến chỗ tuyệt vọng; chỉ trong vòng tuần qua, qua các báo cáo tư, con được thông báo về 5 trường hợp tự tử do hậu quả các vụ thù nghịch trên. Con xác tín rằng đây là tình trạng phổ quát sẽ còn liên lụy đến nhiều nạn nhân khác. Người ta có thể lấy làm tiếc những người bất hạnh kia đã không đủ sức mạnh nội tâm thâm hậu hơn để chịu đựng nỗi bất hạnh của mình. Nhưng dù gì thì trách nhiệm cũng phải đổ lên đầu những kẻ đẩy họ tới điểm tuyệt vọng ấy và cũng đổ trên đầu những ai im hơi lặng tiếng trước những việc xẩy ra như vậy.

“Mọi chuyện đã xẩy ra và đang tiếp tục xẩy ra trên căn bản hàng ngày từ một chính phủ tự mệnh danh là “Kitô giáo”. Nhiều tuần rồi, không những người Do-Thái mà cả hàng ngàn tín hữu Công giáo tại Ðức, và con tin, khắp thế giới nữa, đang chờ đợi và hy vọng Giáo Hội đức Kitô sẽ gióng lên tiếng nói của mình để chặn đứng sự lạm dụng nhân danh đức Kitô này. Há việc ngẫu tượng hóa chủng tộc và quyền lực nhà nước đang được truyền thanh rót vào ý thức quần chúng không phải là một rối đạo (heresy) công khai hay sao? Há các cố gắng tiêu diệt máu huyết Do-Thái không phải là một xúc phạm đến nhân tính thánh thiêng nhất của Chúa Cứu Thế chúng ta, của đức Nữ Trinh chí thánh và của các Tông Ðồ đó sao? Há điều đó không 180 độ đi ngược lại hành xử của Chúa và Ðấng Cứu Thế chúng ta, đấng, ngay trên Thập Giá vẫn còn cầu nguyện cho những kẻ bách hại đó sao? Và há điều này lại không là một vết đen đối với hồ sơ Năm Thánh vốn được hoạch định như là một năm của hòa bình và hoà giải hay sao?

“Chúng con hết thẩy, là con cái trung thành của Giáo Hội và là những người nhìn thấy các điều kiện tại Ðức bằng con mắt rộng mở, sợ rằng nếu sự im lặng còn tiếp tục lâu hơn, thì uy tín của Giáo hội sẽ tệ hại hơn nữa. Chúng con xác tín rằng về lâu về dài sự im lặng này không thể mua được hòa bình với chính phủ hiện nay của Ðức. Vì hiện nay, cuộc đấu tranh chống Công Giáo đang được tiến hành thầm lặng và ít tàn bạo hơn so với người Do-Thái, nhưng cũng không kém phần hệ thống hơn. Chẳng bao lâu nữa, không còn một người Công Giáo nào có thể còn giữ được chức vụ tại Ðức trừ khi vô điều kiện hiến mình cho diễn trình hành động mới.”

Lời tiên đoán của Edith Stein thật đúng. Nhưng không hẳn đúng vì sự im lặng của Giáo Hội Công Giáo, cho bằng đúng vì đó là chiến thuật giai đoạn của Quốc Xã. Chẳng phải một sớm một chiều Quốc Xã có chủ trương diệt Do-Thái và diệt bất cứ ai chống đối lại đường lối của nó, trong đó có Công Giáo. Chủ trương ấy đã có từ lâu từ cả chục năm trước khi chúng nắm quyền. Giáo hội Công giáo biết rõ kế hoạch của Quốc Xã: một khi tiêu diệt được các lực lượng đối kháng về quân sự, họ sẽ tính tội giáo hội Công Giáo, như trên kia ta đã thấy. Sự im lặng mà Edith Stein nhắc đến như một tín hữu, Giáo Hội, như một định chế, đã xem sét và đã có đáp ứng mà Giáo Hội cho là thích hợp.

Tông thư Mit brennender Sorge

Trái với điều Ðạo Trưởng Aron viết trên kia, đức Piô XI đã đáp ứng thư thỉnh cầu của Edith Stein (cũng như nguyện vọng của nhiều người, như chính Edith Stein nhìn nhận) qua việc công bố tông thư Mit brennender Sorge và cho đọc trong mọi nhà thờ Ðức, Chúa nhật Lễ Lá năm 1937. Cornwell không nhắc gì đến đóng góp của Edith Stein mà cho rằng công lớn nhất trong việc công bố tông thư là của phái đoàn đại diện các giám mục Ðức do 3 hồng y dẫn đầu gồm Bertram, Faulhaber và Schulte tới Rome trung tuần tháng Giêng năm 1937. Trước phái đoàn hùng hậu này, “Pacelli không còn lựa chọn nào khác hơn là phải liên lụy đến Ðức Thánh Cha”. Ngài đưa phái đoàn đến gặp đức Piô XI lúc đó đang đau nặng. Nghe lời trình bầy của phái đoàn, đức Piô XI đồng ý ban hành một tông thư. Faulhaber bèn lập tức viết dự thảo đầu tiên và trao cho văn phòng Quốc Vụ Khanh vào sáng ngày 21 tháng 1. Pacelli hiệu đính dự thảo và thêm các tư liệu về lịch sử của tông hiệp. Tông thư gửi toàn thể giám mục hoàn cầu này là tài liệu duy nhất thuộc chuyên loại được viết bằng tiếng Ðức. Như thế để mọi người thấy rõ tài liệu ấy lo lắng đến hoàn cảnh nào và nước nào. Trong Tông thư này, đức Piô XI cho hay trong nhiều năm qua, phía ký tông hiệp với Giáo Hội đã “gieo cỏ lùng của ngờ vực, bất hòa, thù hận, vu khống, hận thù tận gốc công khai và giấu ẩn chống lại Ðức Kitô và Giáo Hội Người, được nuôi dưỡng bằng hàng ngàn gốc nguồn khác nhau và xử dụng bất cứ phương tiện nào có được”. Thay thế cho niềm tin đích thực vào Thiên Chúa, ngài cho hay, họ đã thần thánh hóa chủng tộc, dân tộc và nhà nước. Ngài cảnh giác các giám mục phải canh chừng những thực hành  độc hại tất yếu phải phát sinh từ những chủ trương trên và ngài kêu gọi phải nhìn nhận luật tự nhiên.

Cornwell nhìn nhận rằng dù với lối văn nói quanh (circumlocution) quen thuộc của một vị giáo hoàng, tông thư này “chứa những ngôn từ mạnh mẽ. Bọn Quốc Xã coi tông thư như một hành vi phá hoại chế độ. Các cơ sở nhận in tài liệu này bị trưng thu và nhiều nhân viên của các cơ sở này bị bỏ tù; khi hồng y Bertram và tổng giám mục Orsenigo phản kháng, họ nhận được lời phản công gay gắt từ bộ ngoại giao Ðức và bộ Giáo Vụ của Kerrl. Heydrich ra lệnh trưng thu mọi ấn bản của tài liệu. Kerrl gửi các giám mục Ðức một bức thư cho rằng tông thư “nguyên tuyền đi ngược lại tinh thần tông hiệp… đầy những vụ tấn kích chống lại phúc lợi và lợi ích của quốc Gia Ðức”. Hitler giận đến độ công kích tông thư này trong diễn văn ngày Quốc Tế Lao Ðộng mồng 1 tháng 5. Nhân khi kêu gọi các công dân phải vâng lệnh, hắn cảnh giác mọi người phải “khuất phục nếu không sẽ bị nghiền nát”, cho hay: nhà nước không bao giờ khoan thứ bất cứ cuộc thách thức nào phạm đến uy quyền của mình. Ðối với các giáo hội cũng thế “Khi họ dùng đủ mọi cách – tác phẩm, tông thư, v.v…- với ý đồ đảm nhiệm những quyền lợi vốn chỉ thuộc nhà nước, chúng ta sẽ đẩy họ trở lại các sinh hoạt thiêng liêng đặc trưng của họ”. (Hitler’s Pope, tr.183).

Không phải chỉ riêng bọn Quốc Xã nhìn ra bản chất tông thư duy nhất nhằm vào chúng. Theo Cornwell, bản chất tông thư này cũng được nhiều người Công Giáo cũng như không Công giáo coi như “biểu tượng cho việc lên tiếng đầy can đảm của ngôi vị giáo hoàng”. Chỉ có điều mặc dù nhìn nhận phần đóng góp quan trọng của Pacelli trong bản văn cuối cùng cũng như trong việc dàn xếp khéo léo để tông thư được công bố tại Ðức, Cornwell hàm ý cho rằng vì Pacelli, “tông thư đã tới trễ và không đích danh lên án chủ nghĩa Quốc Xã và Hitler”. Thử hỏi liệu nêu đích danh Quốc Xã và Hitler, tông thư có xoay chiều được bọn chúng hay không. Hãy đọc phản ứng của Hitler trên đây hoặc nhận định của Goebbels về việc chúng chỉ chịu rời các phủ bộ trong bộ áo quan!

Humani Generis Unitas

Hình như Ðạo Trưởng Aron liên hệ sai hai tài liệu khi cho rằng Vatican không thỏa mãn thỉnh cầu của Edith Stein. Quả thế,  ngoài tông thư Mit brenneder Sorge, đức Piô XI còn nghĩ đến việc công bố một tông thư khác mà có người cho là nhằm đả kích chủ nghĩa bài Do-Thái. Tông thư này được soạn cho ngài ít ngày trước khi ngài qua đời vào năm 1939 nhưng sau đó người ta cho rằng đã bị đấng kế vị là Piô XII dẹp bỏ, và việc dẹp bỏ này, như trên đã nói, được nêu lên như một yếu tố tố cáo khuynh hướng bài Do-Thái của đức Piô XII. Bây giờ, bản thảo tông thư ấy đã được công bố qua cuốn The Hidden Encyclical of Pius XI, do Georges Passelecq và Bernard Suchecky biên tập, Harcourt Brace xuất bản. Cornwell gọi bản thảo tông thư này là “Tông Thư Thất Lạc” (the Lost Encyclical). Ông cho hay dự án soạn thảo được trao cho Bề Trên Dòng Tên, người Ba-Lan, tên là Wladimir Ledochowski. Vị này ủy dự án cho ba linh mục thuộc Dòng mình là Gustav Gundlach (Ðức), Gustav Desbuquois (Pháp) và John LaFarge (Mỹ). LaFarge đã từng tham dự chiến dịch chống chủ nghĩa chủng tộc tại Mỹ và là tác giả cuốn Inter-Racial Justice mà đức Piô XI, một ‘con mọt sách’, có đọc. Ðối với LaFarge, Giáo Hội Công Giáo phải coi việc thực hiện sự bình đẳng chủng tộc như mục tiêu hàng đầu trong thế kỷ 20. Còn Gundlach vốn là tác giả một mục chống chủ nghĩa bài Do-Thái trong ấn bản năm 1930 của bộ Lexikon fur Theologie und Kirche trong đó ông chủ trương chủ nghĩa bài Do-Thái về sắc cũng như chủng tộc là phản Kitô-giáo.

Trước khi đề cập thêm về diễn trình soạn thảo, Cornwell cho biết rằng không chắc đức Piô XI có đọc dự thảo đệ trình hay không vì lúc đó ngài bệnh nặng, chỉ sống thêm ít lâu nữa mà thôi. Cũng không có bằng chứng gì về phản ứng của Ngài đối với dự thảo tông thư.  Càng không có bằng chứng gì về chỉ thị công bố dự thảo ấy, nhưng “có bằng chứng chắc chắn là giữa lúc đức Piô XI qua đời và mật nghị viện hồng y, Pacelli đã cho dẹp bỏ bản tông thư đó” (Hitler’s Pope, tr.191). Bằng chứng như thế nào, Cornwell không nói thêm.

Cả Cornwell lẫn George Sim Johnston, trong bài Pius XI’s “Hidden Encyclical” on Anti-Semitism: An Appraisal, cho hay dự thảo trên được hoàn thành tại Paris và qua Thu năm 1938 được trình cho Vatican. Nếu điều này đúng, thì rất có thể đức Piô XI đã đọc dự thảo này và phản ứng của Ngài là một phản ứng đau buồn. Thực vậy, Cornwell kể lại câu chuyện chung quanh diễn trình soạn thảo này như sau: đức Piô XI tiếp John LaFarge tại biệt thự mùa hè Castel Gandolfo ngày 22 tháng 6 năm 1938, ngài nói với ông: “Con hãy nói điều con phải nói nếu con là giáo hoàng”. Với lời tâm huyết ấy, đương nhiên ngài hy vọng LaFarge tiếp nối tinh thần tông thư Mit brennender Sorge. Nhưng như ta sẽ thấy, dự thảo tông thư do LaFarge lãnh trách nhiệm soạn thảo đã không làm được như vậy. Và đó có thể là lý do khiến ngày 6 tháng 9, đức Piô XI vừa khóc vừa nhắc đến thân phận người Do-Thái tại Âu Châu. Cornwell tiếp tục câu chuyện như sau: “Một nhóm hành hương Bỉ tặng ngài cuốn sách lễ cổ. Mở đến lời cầu nguyện thứ hai sau khi nâng Mình Thánh lên trong Thánh Lễ, đức Giáo Hoàng đọc to đoạn trong đó Thiên Chúa được cầu xin chấp nhận lễ vật dâng hiến như đã nhận lễ vật của Abraham. Ngài nói: Mỗi lần Ta đọc những lời: của lễ của tổ phụ Abraham chúng con, Ta không khỏi xúc động sâu xa. Các con nhớ kỹ: chúng ta gọi Abraham là tổ phụ chúng ta, là tổ tiên chúng ta. Chủ nghĩa bài Do-Thái như thế không thể dung hợp với ý niệm cao vời này, với cái thực tại cao thượng mà lời cầu nguyện này diễn tả. Rồi vừa khóc, ngài vừa nhắc đến thân phận người Do-Thái tại Âu-Châu. Ngài nói: Kitô hữu không thể tham gia chủ nghĩa bài Do-Thái. Chúng ta nhìn nhận rằng mỗi người có quyền tự vệ và có quyền xử dụng những phương thế cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Nhưng chủ nghĩa bài Do-Thái không chấp nhận được. Về phương diện thiêng liêng, tất cả chúng ta đều là Do-Thái” (Hitler’s Pope, tr.190).

Trên đây là trích đoạn từ Hitler’s Pope, không phải từ đâu khác. Tháng 9 là gì nếu không là “qua Thu”, mà “qua Thu” thì dự thảo trên đã được đệ trình cho Vatican. Với Một Lo Lắng Nẫu Lòng (dịch thoáng Mit brenneder Sorge), hẳn đức Piô XI phải đòi đọc cho bằng được dự thảo chính ngài ra lệnh soạn thảo, để nếu được thì cho công bố ngay, vì ngày giờ của ngài kể như là gần lắm rồi. Nhưng không ngờ, dự thảo tông thư không đáp ứng nguyện vọng của Ngài. Thực thế, đọc nó người ta mới thấy tại sao nó đã không được công bố: bởi nó chỉ là một bước thụt lùi trong liên hệ giữa Giáo Hội và cộng đồng Do-Thái. Có một điều nghịch lý là nhà xuất bản Harcourt Brace, khi cho công bố tài liệu trên, có mục đích tố giác Vatican. Họ nhờ Gary Wills, một nhà văn chống Vatican hàng đầu, viết dẫn nhập. Nhưng ngay cả Gary Wills cũng không tránh khỏi kết luận là không nên cho công bố thông điệp này vào lúc đó. Dù ý định của họ có là gì đi nữa, hai người chủ biên là Georges Passelecq và Bernard Suchecky đã mang lại cho ta câu chuyện về hành động của Chúa Thánh Thần trong việc gìn giữ Giáo Hội khỏi mắc một lỗi lầm tai hại.

Thực thế, bản thảo Humani Generis Unitas (tên của tông thư) khởi đầu rất hay, đưa ra nhiều luận chứng vững chắc chống chủ nghĩa chủng tộc dựa trên tính ‘đơn nhất’ của loài người. Các soạn giả nói rất hay về phẩm giá của nhân vị và việc các nền triết học duy chủng tộc tân thời đã phá hoại cái phẩm giá ấy ra sao. Nhưng khi bàn đến chủ đề đặc thù về các mối liên hệ của Giáo Hội với Do-Thái Giáo (Judaism) , các soạn giả không còn nhắc gì đến nhân phẩm nữa mà gần như coi người Do-Thái là một thứ pariah (đẳng cấp thấp nhất theo quan điểm Ấn Ðộ) về tôn giáo và xã hội. Bởi họ cho rằng việc người Do-Thái từ khước Ðức Kitô ‘là căn bản chính đáng cho việc phân biệt người Do-Thái ra khỏi toàn bộ nhân loại về phương diện xã hội’, và ‘tiếp xúc với người Do-Thái có thể dẫn tới những nguy hiểm thiêng liêng cho linh hồn’. Tóm lại, các soạn giả rất đúng trong nỗ lực kết án chủ nghĩa bài Do-Thái về chủng tộc, nhưng họ sai lầm khi ủng hộ chủ nghĩa bài Do-Thái về tôn giáo. Họ vẫn còn duy trì ý niệm lỗi thời cho rằng người Do-Thái bị chúc dữ lịch sử đổ lên họ, một chúc dữ khiến họ trở thành kẻ bị ruồng bỏ của nhân loại. Cái ý niệm này vẫn chưa ra khỏi đầu óc lớn như LaFarge, một phần vì người Công giáo lúc ấy vẫn còn sợ người Do-Thái “chuyên chở” mầm độc tân thời. Phải chăng cái dai dẳng thành kiến này  khiến đức Piô XI đau buồn chăng và chính ngài quyết định không cho công bố dự thảo tông thư. Thành ra, việc không cho công bố tài liệu ấy là một may mắn, chứ không phải bất hạnh như Cornwell chủ trương.

Lạ một điều chính Cornwell cũng phải nhận đây là một bản văn thiếu sót. Nó “chứa đầy tính chất bài Do-Thái cổ truyền của Công giáo. Tông thư cho rằng người Do-Thái phải chịu trách nhiệm về chính số phận họ. Thiên Chúa đã chọn họ để dọn đường cho công cuộc cứu chuộc của đức Kitô nhưng họ đã khước từ và hạ sát Người. Thì nay, mù quáng vì giấc mộng chiếm hữu trần gian và thành công vật chất, họ đáng bị nạn huỷ diệt trần đời và thiêng liêng mà họ đã tự chuốc lấy cho chính họ. Trong một phần khác, bản văn nhắc đến những nguy hiểm thiêng liêng do việc tiếp xúc với người Do-Thái gây ra, bao lâu việc thiếu lòng tin và lòng thù nghịch đối với Kitô giáo của họ còn tiếp tục. Do đó, theo dự thảo, Giáo Hội Công Giáo buộc phải cảnh cáo và giúp đỡ những ai bị đe dọa bởi các phong trào cách mạng mà những người Do-Thái bất hạnh và bị hướng dẫn sai lạc kia tham gia với quan điểm lật đổ trật tự xã hội” (Hitler’s Pope, tr.191).

Cornwell cũng trích nhiều đoạn khác để chỉ trích dự thảo tông thư này, như đoạn nói Giáo hội không nên tham dự vào các sinh hoạt thuần túy chính trị. Bản văn chỉ ra cái nguy hiểm của việc “Giáo hội có thể tự hại mình trong việc bênh vực các nguyên tắc Kitô giáo và nhân đạo bằng cách tự để mình bị kéo vào những nền chính trị hoàn toàn của trần đời”. Theo Cornwell, cái ý niệm nhiêu khê diễn tả trong mấy giòng trên đã được triển khai thêm ở phần cuối bản văn như sau: “Giáo hội chỉ quan tâm đến việc giữ gìn gia tài chân lý của mình… Những vấn đề hoàn toàn thế tục, trong đó dân tộc Do-Thái có thể thấy mình đang can dự vào, không phải là các quan tâm của Giáo Hội”.

Dù thế, Cornwell vẫn đặt câu hỏi: “Tại sao tông thư đã không được hoàn tất đúng thì giờ và trao cho Ðức Giáo Hoàng?”. Ông tự trả lời như sau: “Chúng ta không biết. Vì tất cả những thiếu sót trong tư cách một bản kết án toàn bộ chủ nghĩa bài Do-Thái, dường như các linh mục Dòng Tên và có lẽ cả Pacelli nữa, người có ảnh hưởng chủ yếu suốt thời bệnh hoạn của đức Piô XI, đã không muốn đổ dầu thêm cho Quốc Xã qua việc công bố tài liệu này” (Hitler’s Pope, tr.192). Nếu thế thì đây là một cái công chứ đâu phải là một cái tội! Thật đúng như linh mục Pierre Blet từng nói với các phóng viên Ý: Cornwell có những cái nhìn hết sức lộn xộn về lịch sử.

 

Chú Thích

 

1) Về tờ New York Times, ta thấy Kenneth L. Woodward, trên tờ Newsweek số 30 tháng 3 năm 1998, trích lại hai bài xã luận. Một của ngày 25 tháng 12 năm 1941: “Tiếng nói của đức Piô XII là một tiếng nói đơn độc trong cái thinh lặng và tối tăm bao phủ Âu Châu mùa Giáng Sinh này… Ngài có lẽ là nhà cai trị duy nhất còn lại của Lục Ðịa Âu Châu dám dóng tiếng lên phản đối”. Hai của ngày 18 tháng 3 năm 1998, một vài ngày sau khi Vatican công bố tài liệu We Remember: “Người ta cần một khảo sát đầy đủ về các hành xử của Giáo Hoàng Piô… Giờ đây trách nhiệm trên vai Gioan Phaolô và các vị kế nhiệm là phải đưa ra những bước kế tiếp để hoàn toàn nhìn nhận sự thất bại của Vatican không dám chân phương chống lại tội ác từng tác quái khắp Âu Châu”.

Quả thế, trước đây, nghĩa là trong chính Thế Chiến II và cả thời gian sau này, New York Times luôn ca ngợi nghĩa cử của đức Piô XII đối với người Do-Thái. Ðến nỗi Ðức Ông Stephen DiGiovanni, một sử gia Giáo Hội và chánh xứ một họ đạo thuộc giáo phận Bridgeport, CT, đã thu thập và in ra một cuốn tài liệu trích đăng lại các bài tường thuật của New York Times, tựa là Pius XII and the Jews as Reported by the New York Times.

2) Tờ New York Times, số Chúa Nhật 17 tháng 10 năm 1999, trên trang nhất, có báo động độc giả về việc bắt giam 13 người Iran gốc Do-Thái bị kết tội làm gián điệp cho Israel. Cái viễn tượng những phiên tòa trình diễn nhằm khích động các cảm quan chống Do-Thái của đa số quần chúng Hồi Giáo tại Iran sẽ gây họa lớn cho cộng đồng Do-Thái tuy nhỏ bé nhưng rất đáng kính tại đây. Tờ báo này phúc trình rằng: “Các nhóm nhân quyền bên ngoài Iran cho hay các lời kết tội đã được thổi phồng vì lý do chính trị. Còn tại Iran, các phát ngôn viên của các tổ chức Do-Thái phần lớn tránh không muốn thảo luận đến trường hợp này, họ nói rằng các phản kháng của người Do-Thái, ở đây cũng như ở ngoại quốc, chỉ tổ làm vấn đề ra xấu hơn”. Bề ngoài mà xét, thật khó mà chọn lựa thái độ. Nếu những người Iran gốc Do-Thái kia bị kết án về các tội danh thổi phồng và bị toà án “cách mạng” của Iran xử treo cổ, những người lên tiếng phản kháng việc bắt giữ họ có thể bị mang tội đã làm cho số phận họ ra tệ hơn lắm ạ. Mặt khác, nếu những thương thảo im lặng của cộng đồng Do-Thái tại Iran cứu được mạng của 13 người kia, thì sự khôn ngoan trong việc thể hiện thận trọng và theo đuổi đường lối ngoại giao trước một kẻ tử thù hẳn sẽ được khen ngợi. Tuy nhiên nếu hành động ngoại giao ấy thất bại, những người chủ xướng nó hẳn sẽ bị kết tội đồng loã hoặc tệ hơn nữa phạm tội chống quốc gia (Commonweal, Nov 5, 1999)

3) Ý tưởng cho rằng Vatican, hay người công giáo Ðức không chịu ảnh hưởng tai hại của Vatican, có thể ngăn cản được Hitler, sau khi hắn được bổ nhiệm làm thủ tướng năm 1933, là một cách đọc lịch sử vừa theo lối tiểu thuyết vừa sai lạc.Hãy nghe lời ghi của Joseph Goebbels trong nhật ký của hắn: “Một khi chúng tôi đã nắm được quyền, chúng tôi sẽ không bao giờ từ bỏ nó. Họ sẽ phải kéo xác chết của chúng tôi ra khỏi các phủ bộ”. Ðã đành không một định chế quan trọng nào tại Ðức, kể cả Giáo Hội Công Giáo, thoát được trách nhiệm về sự xụp đổ của Cộng Hòa Weimar. Nhưng nếu đặt trách nhiệm cuối cùng của việc Hitler nắm quyền lên đôi vai khổ hạnh của đức Piô XII thì quả là một cách đọc các biến cố một cách quá đơn giản đến thành vô lý. Như chính nhà kiểm sách, John Morley, đã nhận xét, Cornwell vừa khuếch đại uy quyền và ảnh hưởng của đức Piô XII (cả dám tố cáo ngài đã góp tay khởi đầu Thế Chiến I) vừa không chịu ngữ cảnh hóa theo lịch sử các chọn lựa Pacelli phải đối đầu trong tư cách Quốc Vụ Khanh và sau đó trong tư cách Giáo Hoàng. Những sai lầm tê dại này, tuy thế, vẫn không ngăn cản được James Carroll khỏi công bố một điểm sách không phê phán về cuốn Giáo Hoàng Hitler trên Atlantic Monthly (October 1999) và cũng không ngăn cản được người điểm sách của New York Times (26/9/1999) nuốt trửng luôn từ lưỡi câu, cần câu đến phao câu  cuốn niên biểu đầy những điểm gây tranh luận của Cornwell. Một lần nữa, cái khôn ngoan ước lệ xem ra rất khoái coi đạo công giáo và chủ nghĩa phát xít đồng nghĩa với nhau. Cái bản năng lại giống (atavistic instinct) này liều mình chỉnh bệnh sai các căn bệnh hiện nay của Công Giáo trong khi tầm thường hóa cả bản chất căn để của chủ nghĩa Quốc Xã lẫn những khủng khiếp đáng tởm của Nạn Diệt Chủng. (Commonweal, Nov 5, 1999)

4) Không riêng gì đức Piô XII, cả các vị tiền nhiệm của ngài cũng không thoát khỏi ngọn bút bất kính của Cornwell. Hãy nghe ông nói về đám tang của đức Piô IX: “Khi đoàn xe tang tới gần sông Tiber, một bọn phản giáo sĩ người Roma đe dọa liệng quan tài của ngài xuống sông. Chỉ nhờ có một toán dân quân xuất hiện, xác của Piô Thứ Chín mới thoát cơn xỉ nhục cuối cùng” (tr.15). Và về đám tang của đức Lêô XIII: “Xác ngài chỉ được tẩm liệm vào ngày hôm sau, và vì nóng bức, nghi thức hôn chân trần vị giáo hoàng quá cố đã được bỏ qua trong dịp này. Sau nghi thức an táng theo tập tục, nhân viên chôn cất buộc phải dùng chân đá vào quan tài mới xô được xác ngài vào vị trí. Biến cố này lọt vào mắt Giuseppe Sarto, Thượng phụ Venise, khiến ngài khiếp đảm nhận xét như sau với một đồng nghiệp: ‘Xem kìa. Các Giáo Hoàng kết liễu như thế kià!” (tr.34)

5) Các văn khố sau khi triều đại của Ðức Piô XI bắt đầu hiện vẫn còn niêm phong. Thông báo mới nhất của Văn Khố cho hay theo quyết định của Ðức Thánh Cha, các văn khố ngoại giao thuộc Toà Khâm Sứ tại Munich và Berlin cũng như thuộc Phân Bộ Thứ Hai của Phủ Quốc Vụ Khanh - trước đây gọi là Giáo Vụ Ðặc Biệt, {Extraordinary Ecclesiatical Business}, sẽ chỉ được mở cho các học giả từ tháng 2 năm 2003

6) Không chỗ nào cho thấy Cornwell dựa vào các công trình bác học lớn về đức Piô XII do các nhà nghiên cứu quan trọng thuộc cả hai phía Do-Thái và Kitô giáo biên soạn như Micahel Marrus, John Morley, John Conway và Owen Chadwick. Một số tác phẩm của họ tuy có được liệt kê trong thư mục của Cornwell nhưng xem ra ông không xử dụng chút nào. Ông còn không thừa nhận công trình lớn lao của Marrus trong lãnh vực này. Ông cũng không xử lý một cách tổng hợp và đầy đủ các tài liệu văn khố đã được Vatican công bố (John T. Pawlikowski, Christian Century,  Feb 23, 2000).

7) Cornwell, trong lời bạt, viết như sau về Scholder: “Món nợ lớn nhất của tôi và cũng là lời tán dương (homage) của tôi xin dành cho công trình bác học bậc thầy  của cố văn hào Klaus Scholder với công trình của ông về Tông Hiệp Liên Bang của Pacelli với Hitler và các hậu quả của nó đối với giáo hội Công giáo tại Ðức đã đưa lại một tiêu điểm mới trên sự thất bại của Công Giáo chống lại việc lên cầm quyền cuả Hitler và bọn Quốc Xã” (tr. 373).

8) Ở chương cuối cùng của Sách, Cornwell có nhắc đến phúc trình này như một bằng chứng cho thấy bộ tài liệu ADSS của Tòa Thánh không đầy đủ và do đó Tòa Thánh vẫn chưa nói hết về đức Piô XII và trách nhiệm của ngài đối với Holocaust. Trong hồi ký Ne Jamais Desespérer (đừng bao giờ thất vọng) xuất bản tại Paris năm 1998, Riegner có cho hay: “phúc trình của chúng tôi tiết lộ hoàn cảnh bi thảm của người Do-Thái tại một số các quốc gia Công Giáo, hoặc tại một số quốc gia có đông người Công Giáo, như Pháp, Romania, Poland, Slovakia, Croatia…. Các hoàn cảnh ấy được trình bầy chi tiết theo từng quốc gia. Chúng tôi đã có thể miêu tả các biện pháp Quốc Xã xử dụng để tiêu diệt toàn bộ dân tộc Do-Thái”. Bộ ADSS cho thấy Quốc Vụ Viện Tòa Thánh có nhận được phúc trình trên của Riegner và đồng nghiệp của ông là Richard Lichtheim, và tài liệu đó vẫn còn thuộc sở hữu của Toà Thánh, vì trong cuốn thứ 8, trong phần phụ chú (footnote) có nhắc đầy đủ đến nội dung văn kiện này về những biện pháp bài Do-Thái. Nhưng chính phúc trình  thì không được in trọn trong bộ tài liệu này.

9) Ðiều óai oăm, là chính thái độ của Riegner. Robert A. Graham S.J, một trong bốn thành viên trong ban ấn hành bộ tài liệu thời chiến của Vatican, khi nhận định về chiến dịch công kích đức Piô XII, cho biết Hội Ðồng Các Giáo Hội Thế Giới, dưới sự lãnh đạo của Tổng thư ký Visser’t Hooft, đã quyết định không công khai lên án Quốc Xã, nhưng âm thầm triển khai các kế hoạch giúp người Do-Thái của mình. Hội Hồng thập tự Quốc tế có trụ sở tại Geneva cũng thế: Nhiều thành viên muốn có lời kết án công khai trước các tàn ác dã man của Quốc Xã, nhưng Hội đã đi đến kết luận rằng một phản đối công khai a) sẽ không đem lại hiệu quả nào, và b) nó còn phương hại đến các điều lợi mà Hội đang thực hiện cho các người bị giam giữ. Không ai ngày nay đi tra vấn sự hợp lý của các quyết định trên. Nhưng lại chĩa mũi dùi công kích vào đức Piô XII là người có cùng một quyết định. Trong phản ứng riêng của mình đối với quyết định tiêu cực (không công khai phản đối) của Hồng Thập Tự, chính đại diện tại Geneva của Tổng Hội Do-Thái Thế Giới (World Jewich Congress), Gerhart Riegner, đã chấp nhận tính cách hợp lý thích đáng của nó. Nếu có điều cần làm để cứu các người Do-Thái đang bị đe dọa, thì điều đó cần được theo dõi, thay vì phản đối: ‘Tôi tin rằng – ông ta (Carl Burckhardt) nói với Ðại diện Ủy Ban - phản đối chỉ cần trong trường hợp thực sự không còn  gì khác phải làm trong lúc ấy. Nhưng nếu ai đó vẫn còn có thể có  một chút ảnh hưởng nào đó và họ muốn tự chế không muốn phản đối, thì điều cần là phải hành động chứ không phải tự mãn  với việc thụ động ghi chép những tin tức về người bị đầy ải’. Quan điểm của Riegner, chuộng hành động hơn lời nói, quả trái ngược với ám ảnh trổi vượt hiện nay muốn có những phản kháng công khai, như thể những phản kháng ấy là những mục đích tự tại không bằng.”(How to Manufacture a Legend: The Controversy over the Alleged Silence of Pope XII in World War II). Ấy thế mà nay, Riegner đang góp phần vào chiến dịch công kích đức Piô XII một cách khá mạnh mẽ (xem thêm nhận định của ông nhân dịp công bố tài liệu We Remember của Tòa Thánh).

 

Tác giả: Vũ Văn An
   dunglac@gmail.com