Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Vũ Văn An
Bài Viết Của
Vũ Văn An
Antonio Rosmini, người của đức tin, lý trí và trái tim
Chiến dịch đem người Công Giáo trở về
Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II
Vatican và vấn đề tài liệu
Bốn Mươi Năm Sự Sống Con Người
Thờ Phượng Đích Thực Trong Tư Tưởng Thánh Phaolô
Gia Đình và Sự Sống
Khủng Hoảng Hôn Nhân và Gia Đình
Gia Tô Bí Lục Tân Thời
Thần học và thực hành mục vụ trong các thư của Thánh Phaolô
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa
Tính đáng tin cậy của Bộ Thánh Kinh
Kính Mừng Maria
Cầu nguyện theo lối chiêm niệm
Li dị và tái hôn trong các Phúc âm nhất lãm
Các nhà truyền giáo và kỹ nghệ tình dục
Từ Sydney tới Paris
Lộ Đức, sự hiện diện mênh mông của Mẹ
Bản Thể, Bản Tính
Thánh Phaolô, Nhà Truyền Giáo Vĩ Đại
Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
Cùng đi với Thánh Phaolô
Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội
Đức Bênêđíctô XVI: từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới hành trình đức tin trẻ em
THỜ PHƯỢNG ĐÍCH THỰC TRONG TƯ TƯỞNG THÁNH PHAOLÔ

Nhân dịp đầu năm dương lịch 2009, Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI, trong bài giáo lý thường lệ tại Sảnh Đường Phaolô VI, đã đề cập tới giáo huấn của Thánh Phaolô về việc thờ phượng. Đức Thánh Cha nói rằng trong quá khứ, người ta có khuynh hướng cho rằng Thánh Phaolô có thái độ chống thờ phượng qua việc “tâm linh hóa” ý niệm thờ phượng ấy. Nhưng nay ta hiểu rõ hơn rằng Thánh Phaolô nhìn ra một thay đổi có tính lịch sử nơi thập giá Chúa Kitô, một thay đổi làm biến đổi và canh tân tận gốc thực tại thờ phượng. Quan niệm mới mẻ ấy về thờ phượng đã được trình bầy qua ba đoạn văn nổi tiếng của Thư Gửi Tín Hữu Rôma

1. Trong Thư Rôma 3:25, sau khi đề cập đến ơn cứu chuộc do Chúa Giêsu Kitô đem lại, Thánh Phaolô tiếp tục trình bày một công thức đối với ta khá khó hiểu như sau: “Thiên Chúa đã đặt Người làm nơi xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin”. Với kiểu nói khá lạ lùng đối với chúng ta này, tức “dụng cụ xá tội”, Thánh Phaolô có ý nhắc tới điều được mệnh danh là tế vật bồi hoàn (propitiatory) nơi đền thờ xưa, hay chiếc nắp hòm bia giao ước, vốn được coi như điểm giao tiếp giữa Thiên Chúa và con người, điểm hiện diện mầu nhiệm của Thiên Chúa trong thế giới con người. Tế vật bồi hoàn ấy vào ngày hoà giải, tức lễ Yom Kippur, được rẩy bằng máu các vật hiến tế, một hành vi tượng trưng cho việc để tội lỗi của năm qua tiếp xúc với Thiên Chúa, nghĩa là hất tung tội lỗi con người vào lượng hải hà Thiên Chúa để tội lỗi ấy được sức mạnh của Thiên Chúa xóa tan, thắng vượt, tha thứ. Và cuộc sống trở lại như mới

Thánh Phaolô khi nhắc tới nghi thức trên đã muốn nói: nghi thức này bày tỏ ý nguyện rằng mọi tội lỗi của ta được đẩy xuống vực thẳm của lượng từ bi Chúa và nhờ thế chúng biến mất đi. Nhưng vì dùng máu vật, nên diễn trình kia không trọn vẹn. Do đó, cần một điểm giao tiếp chân thực hơn giữa tội lỗi con người và tình yêu Thiên Chúa. Điểm gặp gỡ đó đã xuất hiện với thập giá Chúa Kitô. Chúa Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đã trở nên con người thực sự, đã tự mang lấy mọi tội lỗi của chúng ta. Người chính là điểm giao tiếp giữa nỗi thống khổ của con người và lượng từ bi vô cùng của Thiên Chúa; trong trái tim Người, cái sứ nặng nghìn cân đáng buồn của tội lỗi mà nhân loại vốn “è cổ” gánh trên vai đã được tháo gỡ, và cuộc sống trở lại tươi mát.
Trình bày sự thay đổi ấy, Thánh Phaolô muốn nhắn nhủ chúng ta rằng: với thập giá Chúa Kitô, tức hành vi yêu thương tối thượng của Thiên Chúa được hoán chuyển thành tình yêu nhân bản, việc thờ phượng xưa với hy lễ xúc vật trong đền thánh Giêrusalem ngày nào đã chấm dứt rồi. Việc thờ phượng có tính biểu tượng, hay việc thờ phượng của ý nguyện, nay đã được thay thế hẳn bằng việc thờ phượng đích thực, tức tình yêu Thiên Chúa nhập thể nơi Chúa Kitô và được làm cho trọn trong cái chết của Người trên thập giá. Thành thử, đây đâu phải là chuyện tâm linh hóa việc thờ phượng chân thực, trái lại, đây là việc thờ phượng chân thực, đây là tình yêu nhân thần chân thực, thay thế hẳn cho việc thờ phượng có tính biểu tượng và tạm bợ. Thập giá Chúa Kitô, tình yêu bằng thịt và máu của Người, mới thực là thờ phượng chân thực, xứng hợp với thực tại Thiên Chúa và con người. Đối với Thánh Phaolô, ngay trước khi đền thờ bị phá hủy trên thực tế, thời đại của đền thờ và việc thờ phượng của nó thực sự đã chấm dứt rồi: ở đây, ta thấy Thánh Phaolô hoàn toàn nhất trí với lời lẽ của chính Chúa Giêsu, Đấng từng loan báo ngày tận cùng của đền thờ và công bố một đền thờ khác “không do bàn tay con người làm nên”, tức đền thờ của chính thân xác phục sinh của Người (xem Mc 14:58; Ga 2:19 tt).

2. Trong Thư Rôma 12:1, Thánh Phaolô dạy: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa xót thương chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người”.
Qua các lời trên, một nghịch lý biểu kiến đã được chứng nghiệm: trong khi quy phạm đòi hy lễ phải là cái chết của tế vật, thì Thánh Phaolô lại nhắc tới
đời sống người Kitô hữu. Kiểu nói “hãy hiến dâng thân mình” kết hợp với ý niệm “của lễ” liền sau đó đã nói lên sắc thái thờ phượng “hiến dâng làm hy lễ, hay dâng lễ”. Lời khuyên nhủ “hãy hiến dâng thân mình” có ý nói tới toàn bộ con người; thực vậy, trong Thư Rôma 6:13, Thánh Phaolô mời gọi ta hãy “hiến toàn thân cho Thiên Chúa”. Tuy nhiên, việc rõ ràng nhắc tới chiều kích thể lý của người Kitô hữu trùng hợp với lời mời gọi “hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em” (1Cor 6:20). Đây quả là vấn đề tôn vinh Thiên Chúa trong cuộc hiện sinh hàng ngày cách thụ thể nhất, một cuộc hiện sinh được cấu thành bằng tính hữu hình đầy tương quan và khả giác.

Tác phong trên được Thánh Phaolô miêu tả là “lễ hy sinh sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa”. Chính ở đây, ta thấy hạn từ “lễ hy sinh”. Trong cách dùng thịnh hành, hạn từ này là một phần trong ngữ cảnh thánh, dùng để chỉ việc cắt cổ một thú vật rồi thui một phần con vật đó dâng kính các thần minh còn các phần còn lại được các người dâng lễ tiêu thụ tiệc tùng. Nhưng thay cho việc ấy, Thánh Phaolô áp dụng hạn từ này vào cuộc sống người Kitô hữu. Thực vậy, ngài phân loại lễ hy sinh này bằng cách sử dụng ba tĩnh từ. Tĩnh từ thứ nhất là “sống động”, nói lên sinh khí của nó. Tĩnh từ thứ hai là “thánh thiện” làm ta nhớ tới quan niệm của Thánh Phaolô về sự thánh thiện, một quan niệm không dính dáng gì tới nơi chốn hay vật thể, nhưng tới chính con người của Kitô hữu. Tĩnh từ thứ ba là “đẹp lòng Thiên Chúa”, một tĩnh từ có lẽ nhắc đến kiểu nói chung của Thánh Kinh về lễ hy sinh mùi vị thơm tho (xem Lêvi 1:13, 17; 23:18; 26:31 v.v…)
Ngay sau đó, Thánh Phaolô định nghĩa lối sống mới trên như sau: “Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người”. Đây là lối dịch của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Thực ra, Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI sử dụng bản tiếng Ý, nên câu này được ngài viết là “spiritual worship” (thờ phượng trong tinh thần). Các nhà chú giải Thánh Kinh xưa nay vẫn coi kiểu nói trong tiếng Hy Lạp “tçn logikçn latreían” này rất khó phiên dịch. Bản Thánh Kinh bằng tiếng Latinh dịch nó là “rationabile obseqium”. Cũng m
ột hạn từ “rationabile” đã được dùng trong Kinh Nguyện Thánh Thể Thứ Nhất của Lễ Qui Rôma; Quam oblationem tu Deus in omnibus, quaesumus, benedictam, adscriptam, ratam, rationabilem, acceptabilemque facere digneris… mà bản tiếng Việt gần đây của Ủy Ban Phụng Tự của Hội Đồng Giám Mục Viêt Nam dịch là “hoàn hảo”. Đức Thánh Cha cho hay: kiểu  dịch cổ điển của Ý “Đó là cách thức thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần” (spiritual worship) không lột tả hết các chi tiết của bản Hy Lạp, và cả của bản La Tinh nữa. Tuy nhiên, lối dịch đó không kém phần diễn tả được việc thờ phượng chân thực hay chỉ là lối dịch có tính ẩn dụ, nhưng quả đã nói lên được lối thờ phượng cụ thể hơn và thực tiễn hơn, một lối thờ phượng trong đó con người trong tính toàn diện của mình như một hữu thể có lý trí đã biến dạng thành kẻ thờ lạy và tôn vinh Thiên Chúa hằng sống.
Công thức của Thánh Phaolô mà Kinh Nguyện Thánh Thể Rôma đã dùng lại là kết quả của một khai triển lâu dài kinh nghiệm tôn giáo trong nhiều thế kỷ trước Chúa Kitô. Trong kinh nghiệm này, ta thấy có nhiều khai triển thần học trong Cựu Ước và các trào lưu tư tưởng Hy lạp. Đức Thánh Cha, nhân dịp này, đã nhắc đến một vài yếu tố trong diễn trình khai triển ấy. Các tiên tri và nhiều thánh vịnh từng mạnh mẽ chỉ trích các hy lễ đẫm máu tại đền thờ. Thí dụ, Thánh Vịnh 50 (49) chẳng hạn, trong đó Thiên Chúa phán: “
Ta mà đói, Ta đâu cần nói ngươi hay, vì trái đất với mọi loài, chính Ta làm chủ. Thịt bò há là thức Ta ăn? Máu chiên há là đồ Ta uống? Hãy tiến dâng Thiên Chúa lời tạ ơn làm hy lễ, giữ trọn điều khấn nguyền cùng Ðấng Tối Cao (12-14).

Cũng theo chiều hướng ấy, Thánh Vịnh tiếp theo là Thánh Vịnh 51 (50) nói rằng: “Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm, con có thượng tiến lễ toàn thiêu, Ngài cũng không chấp nhận.  Lạy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát, một tấm lòng tan nát dày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê” (câu 18-19).

Trong sách Đanien, vào thời đền thờ bị chế độ Hy Lạp phá hủy (thế kỷ thứ Hai trước CN), ta thấy một buớc tiến mới trong cùng chiều hướng trên. Giữa đống lửa, nghĩa là giữa cơn bách hại và đau thương, Azariah đã cầu nguyện như sau: “Ngày nay chẳng còn vị thủ lãnh, chẳng còn bậc ngôn sứ, chẳng còn người chỉ huy. Lễ toàn thiêu, lễ hy sinh đã hết, lễ tiến, lễ hương cũng chẳng còn, chẳng còn nơi dâng của đầu mùa lên Chúa để chúng con được Chúa xót thương.  Nhưng xin nhận tâm hồn thống hối và tinh thần khiêm nhượng của chúng con, thay của lễ toàn thiêu chiên bò, và ngàn vạn cừu non béo tốt” (3:38-39).

Trong cảnh hoang tàn đổ nát của đền thánh và việc thờ phượng, trong trạng huống không còn dấu chỉ bề ngoài sự hiện diện của Chúa, tín hữu đương nhiên chỉ còn biết lấy trái tim thống hối, lòng thiết tha với Chúa làm của toàn thiêu chân thực.

Ta thấy đó quả là một khai triển quan trọng, tươi đẹp, tuy có nguy hiểm. Ở đấy có sự tâm linh hóa, một thứ tinh thần hóa nào đó về thờ phượng: thờ phượng trở nên chỉ là một điều gì đó của trái tim, của tinh thần. Thân xác hình như thiếu bóng, cả cộng đoàn cũng vậy. Thànhh thử phải hiểu rằng Thánh Vịnh 51 cũng như Sách Đanien, dù chỉ trích việc thờ phượng kia, vẫn mong muốn trở về với thời kỳ hy lễ. Nhưng đó là một thời canh tân, trong một tổng hợp vẫn còn rất xa xôi, mà người ta chưa dám nghĩ tới.

Ta hãy quay về với Thánh Phaolô. Ngài là người thừa hưởng các khai triển trên, nghĩa là lòng hoài mong việc thờ phượng chân thực, việc thờ phượng trong đó, chính con người trở nên vinh quang Thiên Chúa, sự thờ lạy sống động bằng cả hữu thể của mình. Trong chiều hướng ấy, thánh nhân nói với tín hữu Rôma: “Hãy dâng hiến thân mình làm của lễ sống động…để thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần”.

Như thế Thánh Phaolô chỉ nhắc lại điều ngài đã nói ở chương 3: thời hy lễ bằng xúc vật, tức hy lễ thay thế, đã chấm dứt hẳn. Thời thờ phượng chân thực đã tới rồi. Nhưng ở đây, ta cũng thấy có nguy hiểm hiểu lầm. Việc thờ phượng mới mẻ này rất dễ bị giải thích theo nghĩa duy luân lý: dâng con người chúng ta là ta đã thực hiện việc thờ phượng chân thực. Nếu thế thì việc thờ phượng bằng xúc vật đã được thay thế bằng việc thờ phượng của phe duy luân lý (moralism). Con người sẽ làm mọi sự cho chính mình bằng chính sức mạnh của riêng mình. Nhưng chắc chắn điều ấy không phải là ý định của Thánh Phaolô.
Câu hỏi dai dẳng vì thế vẫn là: phải giải thích ra sao kiểu nói “thờ phượng hợp lý trong tinh thần” (reasonable spiritual worship)? Thánh Phaolô luôn giả thiết rằng ta phải trở nên “một trong Chúa Giêsu Kitô” (Gl 3:28), và ta đã chết trong phép rửa (Rm 1) và nay đang sống với Chúa Kitô, nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Kitô. Trong sự nên một này, và chỉ cách này mà thôi, ta mới trở thành một lễ dâng sống động, mới có thể dâng lên việc thờ phượng chân thực. Nếu các xúc vật dùng làm hy lễ mà thay thế được con người, thay thế được việc con người tự hiến mình, thì hay biết bao, nhưng chúng đã không làm được việc ấy. Chúa Giêsu Kitô, khi hiến mình cho Chúa Cha và cho chúng ta, cũng không thay thế được, nhưng đúng hơn Người đã phải trở thành con người mang lấy tội lỗi và ước mong của ta; nhờ thế, Người mới thực sự đại diện cho ta, mới mặc lấy chúng ta trong chính Người. Chỉ trong hiệp thông với Chúa Kitô, thể hiện qua đức tin và các bí tích, ta mới biến ta thành lễ dâng sống động, bất chấp mọi thiếu sót của mình: việc thờ phượng chân thực đã nên trọn.
Việc tổng hợp trên là chiếc phông của Lễ Qui Rôma trong đó, ta cầu nguyện rằng của lễ này trở nên “hợp lý hợp lẽ” (rationabile) để việc tjờ phượng trong tinh thần được hoàn tất. Giáo Hội biết rằng trong Lễ Tạ Ơn Thánh Thiện này, việc tự hiến của Chúa Kitô, hy lễ chân thực của Người, đã trở nên hiện thực. Nhưng Giáo Hội vẫn cầu xin để cộng đoàn cử hành thực sự được kết hợp nên một với Chúa Kitô, được biến đổi; Giáo Hội cầu nguyện cho ta trở thành điều mà tự sức cố gắng của ta không bao giờ ta làm được: là trở thành lễ dâng “rationabile” (hợp lý hợp lẽ) làm đẹp lòng Chúa. Kinh nguyện Thánh Thể quả đã giải thích thoả đáng lời lẽ của Thánh Phaolô.
Thánh Augustinô làm sáng tỏ tất cả các điều trên một cách tuiyệt diệu trong sách thứ 10 cuốn Kinh Thành Thiên Chúa. Đức Thánh Cha trưng dẫn hai câu sau đây từ Cuốn Sách này: “Hy lễ của người Kitô hữu là đây: dù là số nhniều, chúng ta chỉ là một thân thể trong Chúa Kitô”… “Toàn bộ cộng đoàn được cứu chuộc (civitas), nghĩa là, hiệp đoàn và xã hội các thánh, được dâng lên cho Thiên Chúa qua tay Thầy Cả Thượng Phẩm là Đấng đã tự hiến mình” (10,6: CCL 47, 27 tt).

3. Sau cùng, trong chương 15, Thánh Phaolô viết về việc thờ phượng chân thực như sau: “Tôi viết thế là dựa vào ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi làm người phục vụ Đức Giê-su Ki-tô giữa các dân ngoại, lo việc tế tự là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, để các dân ngoại được Thánh Thần thánh hoá mà trở nên một lễ phẩm đẹp lòng Thiên Chúa” (câu 15-16). Đức Thánh Cha muốn nhấn mạnh 2 khía cạnh trong bản văn tuyệt diệu này cũng như lối dùng từ độc đáo của Thánh Phaolô. Trước nhất, Thánh Phaolô giải thích hành động truyền giáo của ngài giữa các dân tộc trên thế giới để xây dựng nên Giáo Hội phổ quát là một hành động tư tế. Công bố Phúc Âm để kết hợp mọi người trong hiệp thông với Chúa Kitô Phục Sinh là một hành động tư tế. Tông đồ của Phúc Âm là một tư tế đúng nghĩa; ngài quả đã làm điều vốn là trái tim của chức tư tế: chuẩn bị lễ dâng chân thực.
Khía cạnh thứ hai: mục tiêu của hành động truyền giáo, hay đúng hơn của nền phụng vụ có tính vũ trụ (cosmic liturgy) là: mọi dân tộc kết hợp trong Chúa Kitô, nghĩa là toàn bộ thế giới, trở thành vinh quang Thiên Chúa “lễ dâng đẹp lòng, được thánh hóa trong Chúa Thánh Thần”. Ở đây ta thấy khía cạnh hết sức năng động, khía cạnh hy vọng trong quan niện thờ phượng của Thánh Phaolô: việc tự hiến của Chúa Kitô hàm nghĩa một khuynh hướng lôi kéo mọi người vào hiệp thông trong thân xác Người, khuynh hhướng kết hợp toàn bộ thế giới. Chỉ trong hiệp thông với Chúa Kitô, con người điển hình, vốn là  một với Thiên Chúa, thế giới mới trở nên công chính như mọi người chúng ta mong muốn: một tấm gưoơg phản chiếu tình yêu Thiên Chúa. Tính năng động này luôn hiện diện trong Thánh Kinh; tính năng động ấy phải gợi hứng và đào luyện cuộc sống ta. Đức Thánh Cha cầu mong ta khởi đầu năm mới 2009 bằng tính năng động ấy.

Tác giả: Vũ Văn An
   dunglac@gmail.com