Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Vũ Văn An
Bài Viết Của
Vũ Văn An
Antonio Rosmini, người của đức tin, lý trí và trái tim
Chiến dịch đem người Công Giáo trở về
Đức Bênêđíctô XVI và Vatican II
Vatican và vấn đề tài liệu
Bốn Mươi Năm Sự Sống Con Người
Thờ Phượng Đích Thực Trong Tư Tưởng Thánh Phaolô
Gia Đình và Sự Sống
Khủng Hoảng Hôn Nhân và Gia Đình
Gia Tô Bí Lục Tân Thời
Thần học và thực hành mục vụ trong các thư của Thánh Phaolô
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời Chúa
Tính đáng tin cậy của Bộ Thánh Kinh
Kính Mừng Maria
Cầu nguyện theo lối chiêm niệm
Li dị và tái hôn trong các Phúc âm nhất lãm
Các nhà truyền giáo và kỹ nghệ tình dục
Từ Sydney tới Paris
Lộ Đức, sự hiện diện mênh mông của Mẹ
Bản Thể, Bản Tính
Thánh Phaolô, Nhà Truyền Giáo Vĩ Đại
Thánh Thể, Hiệp Thông và Liên Đới
Vài nét sử học về cuộc đời Thánh Phaolô
Cùng đi với Thánh Phaolô
Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội
Đức Bênêđíctô XVI: từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới hành trình đức tin trẻ em
VATICAN VÀ VẤN ĐỀ TÀI LIỆU

Trong bài “Gia Tô Bí Lục Tân Thời”, chúng tôi đã nhắc tới John Cornwell và tác phẩm “Giáo Hoàng Của Hitler”, trong đó ông lớn tiếng chỉ trích sự im lặng của Đức Piô XII trước cảnh Đức Quốc Xã tiêu diệt dân Do Thái.

Dường như Cornwell tin rằng với phát súng điếc tai của mình, Vatican sẽ làm hơn nữa  để mở tất cả các hồ sơ hiện có liên quan đến triều đại đức Piô XII. Như có lần đã đã nhắc tới, ông cho rằng Hocchuth có công vì nhờ Vị Ðại Diện, Vatican đã phải cho công bố bộ 11 tập hồ sơ ADSS  (1) về thời Thế Chiến II là thời trùng với phần đầu triều đại Đức Piô XII.

Thực ra, không hẳn như thế. Theo linh mục Blet, người sống sót duy nhất trong số bốn sử gia Dòng Tên có nhiệm vụ san định bộ tài liệu trên, lý do của việc công bố này xuất phát từ một hậu cảnh bao quát hơn nhiều. Linh mục Blet viết: “Sự quan tâm đặc biệt đối với các biến cố của Thế Chiến II và ý muốn viết lịch sử về nó dựa trên tài liệu, chứ không phải chỉ dựa trên những trình thuật hoặc chứng từ ít nhiều có tính gián tiếp, đã thuyết phục được các Nhà Nước có liên hệ đến cuộc tranh chấp bằng lòng cho công bố các tài liệu mà công chúng cho đến nay chưa được phép đọc”. Nghĩa là không phải do sức ép của  Vị Ðại Diện, mà là do nhu cầu chung được mọi quốc gia liên hệ đáp ứng.

Một công trình khó khăn

Việc công bố các tài liệu thời chiến của Vatican được trao cho ba linh mục dòng tên: Angelo Martini, chủ bút tờ La Civilta Cattolica, Burkhart Schneider và Pierre Blet, cả ba lúc ấy đang phụ trách môn Giáo Sử tại Ðại Học Gregoriana. Công việc bắt đầu tháng Giêng năm 1965, tại một văn phòng gần văn khố của Bộ Giáo Vụ Ðặc Biệt và Phân Bộ Thứ Nhất thuộc Phủ Quốc Vụ Khanh, là nơi lưu giữ các hồ sơ thời chiến. Nhiệm vụ san định này không đơn giản như người ta nghĩ. Bởi văn khố vốn không được mở cho công chúng, nên không có bản liệt kê theo hệ thống. Các tài liệu vốn lại không được xếp loại theo thứ tự thời gian cũng như khu vực địa dư. Các tài liệu chính trị, và do đó liên quan tới chiến tranh, đôi khi lại được xếp chung với các tài liệu có tính chất tôn giáo, giáo luật hoặc ngay cả cá nhân nữa, và được đựng trong các hộp tuy dễ xử lý nhưng đôi khi lại bao gồm quá nhiều các nội dung khác nhau. Tin tức về Anh có thể tìm thấy trong các tập hồ sơ về Pháp, nếu tin tức đó được gửi qua Sứ Thần tại Pháp. Cũng vậy, việc can thiệp cho các con tin Bỉ lại thấy trong các hộp thuộc Sứ Thần tại Berlin. Bởi thế cần phải xem sét từng hộp và căn cứ vào nội dung mà lựa ra các tài liệu thuộc chiến tranh.

Tuy nhiên công việc tìm tòi của ba linh mục đã được đơn giản hóa phần nào nhờ một qui luật của Phủ Quốc Vụ Khanh có từ đời đức Urbanô thứ 8 định rằng trong một bức thư, các sứ thần chỉ xử lý một vấn đề duy nhất mà thôi. Mặt khác, nhờ làm việc ngay tại văn phòng của Phủ Quốc Vụ Khanh và có ủy nhiệm đàng hoàng, nên ba linh mục không bị những hạn chế của các học giả công chúng bình thường. Các ngài được tự ý lấy các hộp khỏi giá đựng ở phòng lưu giữ. Một điểm thuận lợi nữa là các tài liệu phần lớn đều là những bản rời, được đánh máy đàng hoàng. Nhờ thế, ngay khi nhận dạng chúng nói về chiến tranh, thì chỉ cần lấy chúng ra, cho chụp bản sao và gửi bản sao đến nhà in với các ghi chú cần thiết.

Dù công việc tiến triển khả quan, mùa Ðông năm ấy, ba linh mục cũng đã yêu cầu sự trợ giúp của Cha Robert Leiber, đang hưu trí tại Học Viện Ðức sau khi làm thư ký riêng cho Đức Piô XII hơn 30 năm. Cha Leiber theo dõi sát nút các vụ việc liên quan đến Ðức và chính ngài phát giác sự hiện diện của bộ thư giữa đức Piô XII và các giám mục Ðức. Các thư này là nội dung của tập thứ hai trong bộ tài liệu, chúng là những tài liệu nói lên suy tư rõ nhất của đức Piô XII.

Các tập trong bộ tài liệu

Tập thứ nhất nói về 17 tháng đầu tiên trong triều đại đức Piô XII (tháng 3 năm 1939 đến tháng 7 năm 1940), phần lớn đề cập  đến các cố gắng tránh cho chiến tranh khỏi xẩy ra, đã được xuất bản tháng 12 năm 1965 và được mọi người chào đón. Năm 1966, giữa lúc đang cần một học giả rành tiếng Anh vì càng ngày ba linh mục càng khám phá ra nhiều tài liệu bằng tiếng Anh nói về các liên hệ giữa đức Piô XII và Roosevelt, thì cha Robert A. Graham, một cha Dòng Tên người Mỹ lúc ấy đang phụ trách tờ America, và là tác giả cuốn Vatican Diplomacy (Nền Ngoại Giao Vatican), đến tìm tài liệu về đúng thời kỳ ba linh mục đang nghiên cứu, nên ngài được mời tham gia nhóm. Và ngài bắt tay ngay vào việc chuẩn bị cho tập thứ ba đề cập tới Ba-Lan, dựa theo mô thức của tập hai. Sau ba tập ấy, các linh mục quyết định chia các tài liệu còn lại thành hai phần riêng biệt. Phần đầu nối tiếp tập thứ nhất bàn về các vấn đề ngoại giao mang tiêu đề chung là Le Saint-Siège et la guerre en Europe, Le Saint-Siège et la guerre mondiale (Tòa Thánh và Chiến Tranh tại Âu Châu, Tòa Thánh và Thế Chiến) gồm các tập IV, V, VII và XI. Phần thứ hai gồm các tài liệu xếp theo thứ tự thời gian nói về các cố gắng của Tòa Thánh trong việc giúp đỡ các nạn nhân thể xác cũng như tinh thần của chiến tranh mang tựa đề chung là Le Saint-Siège et les victimes de la guerre (Tòa Thánh và Các Nạn Nhân Chiến Tranh) , gồm các tập VI, VIII, IX và X. Công việc san định ấy kéo dài 15 năm. Trong khoảng thời gian ấy, các vị thay phiên nhau về chầu Chúa. Cha Leiber qua đời ngày 18 tháng 2 năm 1967. Cha Schneider, trong khi tiếp tục dạy môn sử hiện đại tại Ðại Học Gregoriana, sau khi xuất bản tập các thư gửi các giám mục Ðức, đã dành thì giờ cho phần nói về các nạn nhân chiến tranh và với sự trợ giúp của Cha Graham, đã chuẩn bị các tập VI, VIII và IX và đã hoàn tất chúng vào Lễ Giáng Sinh 1975; nhưng sau đó ngã bệnh và qua đời vào tháng 5 năm sau. Cha Martini, người làm việc toàn thời gian cho dự án này và hầu như tham dự vào tất cả các tập, đã không được diễm phúc thấy công trình hoàn tất. Ngài chỉ được thấy bản in nháp tập cuối cùng vào đầu mùa hè năm 1981 và sau đó cũng đã ra đi vĩnh viễn. Tập XI (tập cuối cùng của bộ tài liệu) được xuất bản cuối năm 1981 do cha Graham và cha Blet san định. Mặc dù lớn tuổi nhất trong số các vị chuyên viên, Cha Graham đã có thể làm việc cho đến khi bộ tài liệu hoàn tất và trong thời gian 15 năm này, còn đảm nhiệm nhiều cuộc nghiên cứu và xuất bản bổ túc phần lớn được công bố trên La Civilta Cattolica, cung cấp cho các sử gia nghiên cứu về Thế Chiến II nhiều nguồn tài liệu quí giá. Ngài rời Rome ngày 24 tháng 7 năm 1996 để trở về California và qua đời tại đó ngày 11 tháng 2 năm 1997.

Cuốn yếu lược bộ tài liệu

Ðầu năm 1982, còn lại một mình, và sau khi thấy ít người, kể cả các sử gia, biết đến bộ tài liệu trên, cha Blet xúc tiến việc biên soạn một cuốn yếu lược gồm những tài liệu và kết luận chủ yếu lấy từ bộ tài liệu trên. Ngài tin rằng nếu sử dụng khách quan bộ tài liệu này, người ta sẽ biết thực tại cụ thể về thái độ và cách hành xử của đức Piô XII trong Thế Chiến II và do đó những lời tố cáo chống ngài quả là vô căn cứ. Vì các tài liệu ấy cho ta thấy các cố gắng ngoại giao của ngài nhằm tránh cho chiến tranh khỏi xẩy ra. Sự kiện ngài thuyết phục Ðức đừng tấn công Ba-Lan và nước Ý của Mussolini đừng liên kết với Hitler là những việc làm có chứng cớ. Không có vết tích gì chứng tỏ điều được người ta gọi là thiên vị Ðức mà người ta cáo buộc là ngài đã phạm phải trong thời gian làm sứ thần tại nước đó. Các cố gắng của ngài phối hợp với Roosevelt giữ cho Ý khỏi tham dự vào cuộc tranh chấp, các điện tín ngày 10 tháng 5 năm 1940 tỏ bày tình liên đới với các nhà cai trị Bỉ, Hòa Lan và Luxembourg sau cuộc xâm lăng của quân Ðức, và lời khuyến cáo can đảm của ngài để Mussolini và Vua Victor Emmanuel III ký kết hoà ước riêng chắc chắn đi ngược hẳn lại những cáo buộc trên. Quả là nực cười khi nghĩ rằng với cái đội vệ binh Thụy Sĩ trang bị khiên giáo (halberds) và vạ tuyệt thông, ngài lại có thể ngăn chặn được đoàn quân Wehrmatch.

Ủy Ban Sử Học Công Giáo và Do Thái

Năm 1999, Toà Thánh, sau khi công bố tài liệu We Remember nhận lỗi về phần con cái mình trong biến  cố Diệt Chủng,  đã chứng tỏ một thiện chí vượt bực muốn làm sáng tỏ sự thật liên quan đến vai trò của đức Piô XII nói riêng và của Giáo Hội Công Giáo nói chung trong biến cố đau thương ấy, đã thiết lập ra Ủy Ban Sử Học Công Giáo Do Thái Quốc Tế (The International Catholic-Jewish Historical Commission), để duyệt xét bộ tài liệu ADSS. Ðây là một nhóm bao gồm ba học giả Do-Thái (Michael Marrus, Bernard Suchecky và Robert Wistrich) và ba học giả Công Giáo (Eva Fleischner, Gerald Fogarty và John Morley) được Ủy Ban Liên Lạc Tôn Giáo với Người Do-Thái của Toà Thánh cử nhiệm. Ủy Ban họp phiên đầu tại New York, tháng 12 năm 1999, rồi tại London tháng 5 năm 2000, tại Baltimore tháng 7 năm 2000 và tại New York tháng 9 cùng năm. Ðến tháng 10 năm 2000, nhóm đệ trình lên Đức Hồng Y Chủ Tịch, Edward I Cassidy, phúc trình sơ khởi tựa là The Vatican and the Holocaus (Vatican và Nạn Diệt Chủng). Cốt chính của phúc trình “bao gồm một tuyển lựa những câu hỏi phát sinh từ việc nghiên cứu của chúng tôi về các tài liệu, sau khi vắn tắt tóm lược các hoàn cảnh đưa đến việc thành lập ra Ủy Ban này”.

Còn về chính các tài liệu, Phúc Trình này cho hay: Các cuốn trong bộ ADSS cho thấy tính phức tạp và đa dạng trong các hoạt động do Toà Thánh theo đuổi nhân danh các nạn nhân chiến tranh. Một trong những đóng góp giá trị của chúng là minh hoạ các ưu tiên của Vatican trong thời tranh chấp này. Lúc đó, Tòa Thánh lưu tâm hàng đầu đến mục vụ bí tích của mình, đến các quyền lợi định chế và cả đến sự sống còn của chính Giáo Hội Công Giáo nữa, như đã được minh hoạ, tỷ dụ, qua chính sách ngoại giao dựa vào các tông hiệp (concordat).

Sự đa dạng của các tài liệu, và vấn đề luân lý phát sinh từ một số các tài liệu ấy đã nói lên các cố gắng nghiêm chỉnh của các nhà biên tập, và việc đưa vào tuyển tập các tài liệu mà lúc ấy cũng như sau này từng gây ra các vấn nạn  liên quan đến vai trò của Toà Thánh  cho thấy các cố gắng của họ nhằm khách quan tính.

Tuy nhiên, phúc trình cho hay tiếp, việc tìm hiểu cặn kẽ các cuốn tài liệu này của Vatican đã không giải quyết dứt điểm các vấn nạn quan trọng về vai trò của Vatican trong thời Diệt Chủng. Không một sử gia nghiêm chỉnh nào có thể chấp nhận rằng những cuốn tài liệu được công bố và biên tập này đã có thể đưa chúng ta đến hồi kết cuộc của câu truyện. Ðiều này không hẳn vì tính phức tạp cũng như khó khăn của chính các vấn nạn, cũng không phải do giá trị biên tập của các cuốn tài liệu. Ðúng hơn, nó phản ảnh sự kiện này là nhiều tài liệu có thể có nhiều cách giải thích khác nhau. Giải thích là điều không thể tránh được trong công trình của các sử gia; nó đặc biệt thích đáng (relevant) và nhậy cảm trong trường hợp này bởi vì Ủy Ban Sử Học đang xử lý với điều chính các nhà biên tập nhìn nhận chỉ là một phần trong các chứng từ hiện có. Một trong các mục tiêu của Ủy Ban là tìm hiểu các hành động của Đức Piô XII và Vatican trong Thế Chiến II, họ đã quyết định như thế nào trong các chính sách theo đuổi, và tại sao. Nhưng khả năng làm việc đó đã bị giới hạn bởi sự kiện này là Ủy Ban, và các học giả nói chung, chỉ được sử dụng một tuyển lựa các tài liệu của Vatican. Một trong các hậu quả tất yếu của việc hạn chế này là một số bình luận gia phải dựa vào những suy diễn, số khác dựa vào những chuyện giật gân.

Theo phúc trình này, các tài liệu công bố thường nêu lên những câu hỏi quan trọng mà không cung cấp câu trả lời. Nguyên sự hiện diện của một tài liệu mà thôi không cho thấy điều gì về việc nó đã được tiếp nhận ra sao, đã chú tâm theo dõi ra sao về việc tiếp nhận nó, hoặc nó đã được coi hoặc xử lý như thế nào trong các giới khác nhau của nền ngọai giao Vatican.  Hơn nữa, các nhà biên tập bộ ADSS, cũng như mọi học giả khác, đều đã thai nghén dự án của mình dưới một ánh sáng nào đó, và như thế Ủy Ban không những phải đối diện với trách vụ phân tích nội dung các cuốn sách, mà còn phải khảo sát mục tiêu và đích nhắm của các nhà biên tập.

Phúc trình cũng nhận định rằng nhiều câu hỏi có thể được trả lời bằng cách đọc những dẫn nhập dài kèm theo mỗi cuốn tài liệu, mà linh mục Blet đã cung cấp bản tóm lược, nhưng các câu hỏi khác vẫn còn đó. Trong các dẫn nhập, các nhà biên tập trích dẫn rất nhiều tài liệu, một số được công bố trong bộ tài liệu, số khác không được công bố. Thí dụ trong cuốn I, các nhà biên tập nhắc đến các lá thư do “các tâm hồn lo lắng”, mà tên tuổi không được nêu ra, gửi cho Ðức Giáo Hoàng xin ngài hành động cho hòa bình, đôi khi còn đề nghị cả phương án hành động nữa. Ấy thế nhưng chúng đã không được in trong chính phần thân tài liệu. Cũng vậy, trong phần dẫn nhập cuốn II, các nhà biên tập minh thị trích dẫn ở phần phụ chú (footnotes) một số các thư từ  hàng giáo phẩm Ðức gửi cho Đức Giáo Hoàng. Nhưng trong chính bản văn tài liệu, lại chỉ đăng những thư của Ðức Piô XII gửi cho các giám mục Ðức mà thôi.

Phúc trình thêm rằng chính các nhà biên tập nhìn nhận rằng họ sử dụng một số tiêu chuẩn trong việc tuyển lựa các tài liệu cho công bố. Trong Lời Nói Ðầu cuốn I, họ giải thích rằng Phủ Quốc Vụ Khanh tiếp nhận các phúc trình và gửi các chỉ thị có liên quan tới sinh hoạt nội bộ của Giáo Hội Công Giáo lẫn đời sống tôn giáo của các tín hữu, và những phúc trình và chỉ thị ấy không liên quan gì đến các liên hệ quốc tế. Ðây là lý do tại sao cuốn sách  hiện tại chỉ giới hạn vào việc công bố những tài liệu dùng để giải thích sự can dự của Tòa Thánh vào các vấn đề liên quan đến cuộc chiến 1939-1945. Các nhà biên tập cũng đưa ra nhận định tương tự trong cuốn II, khi họ ghi chú rằng ‘Ðức Giáo Hoàng xử lý với rất nhiều vấn đề hoàn toàn thuộc nội bộ giáo hội và liên quan đến sinh hoạt tôn giáo’. Nhưng Ủy Ban nghĩ rằng một thế hệ sau, các sử gia có thể nhận ra là có liên quan đến việc nghiên cứu của họ, tất các vấn đề trước đây xem ra như hoàn toàn thuộc nội bộ giáo hội hay có tính tôn giáo thuần túy. Và Ủy Ban đặt câu hỏi: “Như thế chúng tôi có thể đem lại được gì cho cuộc tranh luận mà những người khác không có? Chúng tôi không tự cho mình là chuyên gia về mọi chủ đề trong các cuốn tài liệu đã được công bố, dù tất cả chúng tôi đều là thành phần của một nghiên cứu và đối thoại liên tục chung quanh chủ đề Giáo Hội và Nạn Diệt Chủng. Mỗi người trong chúng tôi đến với Ủy Ban với những cái nhìn rõ rệt dựa trên các công trình trước đây của mình. Chúng tôi hy vọng cung cấp được một chiều kích đa dạng cho một phúc trình có thể phản ánh sự dị biệt và các ý kiến bác học ẩn tàng trong bất cứ cuộc nghiên cứu nào. Sự hợp tác của chúng tôi và việc duyệt xét chung các tài liệu công bố không những làm phong phú hỗ tương mà còn tạo ra một diễn đàn để tra cứu và đối thoại”.

Sau khi nêu ra 27 câu hỏi liên quan đến từng văn kiện riêng rẽ, 14 câu hỏi liên quan đến một hay hai cuốn tài liệu, và 6 câu hỏi tổng quát, Phúc Trình kết luận như sau: “Cuộc điều tra sơ khởi của chúng tôi về 11 cuốn tài liệu đã đưa lại nhiều câu hỏi có ý nghĩa. Những câu hỏi liệt kê trong tài liệu này chỉ là một tuyển lựa các câu hỏi có thể hỏi. Nêu những câu hỏi này lên không nhằm mục đích làm giảm giá trị công trình mấy thập niên đã qua của những người biên tập bộ tài liệu này. Không bộ tài liệu biên tập nào có thể giải quyết dứt điểm một vấn đề lịch sử quan trọng đến như thế. Cũng như mọi sử gia khi làm việc đều chọn nhấn mạnh sự kiện này chứ không sự kiện khác, giới thiệu nhân vật này chứ không nhân vật khác, kể ra biến cố này chứ không biến cố khác, công trình của các nhà biên tập (bộ tài liệu này) cũng đã dựa trên các lựa chọn của họ, hoặc trên căn bản cá nhân hoặc trên căn bản thành viên của cả nhóm…

“Trong việc lượng giá tính đầy đủ của 11 cuốn tài liệu để hiểu vai trò của Vatican trong thời Diệt Chủng, ta cần nên nhớ rằng không sách lịch sử nào về vai trò của bất cứ chính phủ nào trong một vấn đề quá rộng như Nạn Diệt Chủng lại có thể được thực hiện cách hiệu quả chỉ trên căn bản các trao đổi ngoại giao mà thôi, ngay cả khi có những phần phụ thêm, như bộ ADSS thỉnh thoảng có làm. Hơn nữa, các sử gia cần biết tài liệu nào không có trong bộ tài liệu này. Dù các Văn Khố của Toà Thánh không có bản danh mục (inventory), nhưng qua bộ ADSS, người ta thấy rõ ràng có những tài liệu quan trọng có tính lịch sử đã không có trong đó. Một số trong các tài liệu này ghi chép công việc quản trị ngày qua ngày của Giáo Hội và Tòa Thánh. Ðàng khác, có rất nhiều những công văn nội bộ mà nền hành chánh nào cũng để lại hậu thế - nhật ký, thông báo (memoranda), sổ đề cử, biên bản, dự thảo văn kiện, vân vân, là những thứ cho thấy chi tiết diễn trình đạt tới các quyết định của Vatican.

“Nhân nói đến sự hữu ích của việc có được những tài liệu bên ngoài các văn khố chính thức, tưởng thật là hữu dụng nếu được đọc các giấy tờ của những người nổi danh như Luigi Maglione, Amleto và Gaitano Cicognani, Giovanni Montini, Domenico Tardini, Alfredo Ottaviani, Valerio Valeri, Giuseppe Burzio, Angelo Rota, Eugene Tisserant, Filippo Bernardini và các viên chức Vatican khác sống thời bấy giờ.  Cũng thế,  thật là hữu dụng nếu đọc được các văn khố khác nhau của Dòng Tên, đặc biệt là các giấy tờ của Vlodimir Ledochowski, Robert Leiber, Pietro Tacchi-Venturi, Gustav Gundlach, và Robert Graham.

“Hơn 30 năm đã trôi qua kể từ lúc xuất hiện những cuốn đầu trong bộ tài liệu thời chiến của Vatican. Kể từ lúc đó, nhiều nếu không nói là tất cả các cá nhân sống lúc đó được nhắc đến trong các tài liệu này đã qua đời, nhờ thế đã loại bỏ một số hạn chế trong việc công bố vốn có thể có trong lúc các tài liệu này được tiết lộ lần đầu. Những hạn chế lúc đó chính đáng, nay không còn áp dụng nữa.

Chúng tôi nhận rằng dù được phép đọc hết các văn khố vẫn không nhất thiết giải quyết dứt điểm các câu hỏi vây quanh vai trò của Tòa Thánh và nạn Diệt Chủng. Dù thế, chúng tôi tin rằng đó sẽ là một bước tiến rất có ý nghĩa để phát huy việc hiểu biết thời kỳ này và gia tăng các liên hệ giữa hai cộng đồng Do-Thái và Công Giáo”.

Ủy Ban Sử Học không hoàn thành nhiệm vụ

Phúc trình chấm dứt ở đó. Nhưng không hiểu căn cứ vào đâu, Shira Schoenberg, trong Pope Pius XII and the Holocaust (Đức Giáo Hoàng Piô XII và Nạn Diệt Chủng), lại cho rằng, phúc trình trên đã phá đổ một số những bào chữa ước định dành cho Ðức Piô XII, trong đó có việc cho rằng ngài không biết tầm nghiêm trọng của số phận người Do-Thái tại Âu Châu trong lúc chiến tranh. Schoenberg cho rằng luận điểm đó bị phúc trình trên cho là hoàn toàn không chính xác, dựa vào bức thư của Đức Cha Konrad von Preysing, lúc đó là giám mục Berlin, gửi cho ngài tháng Giêng năm 1941. Schoenberg cũng nhắc lại nhận xét của một thành viên Do-Thái trong Ủy Ban, Tiến Sĩ Michael Marrus, Giáo Sư Sử Trường Ðại Học Toronto, cho rằng “Ủy Ban đụng phải bức tường gạch… thay vì được sự trợ giúp của Tòa Thánh trong vấn đề này”. Tác giả này cho biết thêm Ủy Ban đã chấm dứt nhiệm vụ của mình vào tháng 7 năm 2001, mà không đưa ra phúc trình sau cùng.

Phản ứng chính thức của Vatican được Hồng Y Walter Kasper, người kế nhiệm Hồng Y Edward Cassidy, công bố ngày 24 tháng 8 năm 2001. Theo đó, Toà Thánh lấy làm tiếc việc đình chỉ hoạt động của Ủy Ban, dù rất biết ơn sự đóng góp của các thành viên, nhất là các thành viên Công Giáo. Ðức Hồng Y nhắc lại nhiệm vụ của Ủy Ban là khảo sát 11 tập hồ sơ văn khố trong bộ ADSS của Toà Thánh và nêu lên những câu hỏi liên quan.  Về điểm này, như ta sẽ thấy, các thành viên Ủy Ban đã không chú trọng nhiều đến nhiệm vụ đầu bằng nhiệm vụ thứ hai. Nhưng đối với nhiệm vụ thứ hai, Ðức Hồng Y Kaspar cho hay, ngay từ đầu vì những hạn chế ngay trong trách nhiệm, các thành viên đều đã được thông báo rõ ràng rằng không phải câu hỏi nào cũng sẽ được trả lời thoả đáng, vì muốn thế, phải đợi đến lúc mọi văn khố được mở cửa. Khi nhận nhiệm vụ, các học giả đều biết rõ rằng họ sẽ không được sử dụng các văn khố sau 1922, vì chúng chưa được phép mở cho công chúng.

Ðức Hồng Y cho biết tiếp, sau khi Ủy Ban đệ nạp Phúc Trình Sơ Khởi với 47 câu hỏi đính kèm, một cuộc họp toàn bộ Ủy Ban Liên Lạc Quốc Tế Công Giáo Do-Thái tại New York từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 5 năm 2001 đã diễn ra để xét xem có nên tiếp tục công việc nghiên cứu của Ủy Ban nữa hay thôi. Kết quả: cả hai bên đều mong ước Ủy Ban tiếp tục công việc cho đến lúc có phúc trình sau cùng. Thế nhưng sau đó, vì không thể vượt qua được những giải thích khác nhau về nhiệm vụ và mục tiêu của Ủy Ban, mặt khác, phía Do-Thái không kín đáo và đã đưa ra nhiều bài viết gây tranh cãi càng khiến gia tăng cảm thức ngờ vực, nên công việc của Ủy Ban không tiếp tục được. Ngài cho hay: “Một công việc có tính khoa học như thế này chỉ có thể tiến hành được trên căn bản ngay thẳng, kính và tôn trọng lẫn nhau giữa những người đảm nhiệm. Ðiều kiện cần thiết như thế đã hoàn toàn không có do những mâu thuẫn tiếp sau việc đình chỉ công tác nghiên cứu và và những xúc phạm người ta nghi là đã có cùng với việc đình chỉ kia. Các thành viên Công Giáo vì vậy đã công khai tách mình ra khỏi các giải thích và lượng định mâu thuẫn ấy. Cho nên, hiện bây giờ và trên căn bản như thế, dường như không thể nào dự trù sẽ tái tục các cố gắng chung được nữa”.

Đối thoại vẫn tiếp tục

Tuy nhiên, nhân dịp này Ðức Hồng Y khẳng định rằng việc đối thoại giữa Công Giáo và Do-Thái Giáo là một diễn trình không thể nào thoái lui được và chắc chắn diễn trình ấy đòi một tìm kiếm lịch sử hẳn hoi. Do đó, nhu cầu đọc các nguồn tài liệu lịch sử là một nhu cầu tự nhiên, ý muốn của các sử gia được nghiên cứu các tài liệu văn khố thuộc thời các Ðức Piô XI (1922-1939) và Ðức Piô XII (1939-1958) là một ý muốn chính đáng.Và để tôn trọng sự thật, Toà Thánh sẽ cho mở các Văn Khố Vatican ngay khi công việc tái xắp xếp và lên danh mục (cataloguing) các nguồn tài liệu đang bàn được hoàn tất. Ðức Hồng Y khẳng định “Giáo Hội Công Giáo không sợ sự thật lịch sử”.

Không sợ sự thật lịch sử chưa mở văn khố là hai vấn đề khác nhau, không hề mâu thuẫn. Vì văn khố nào rồi cũng sẽ được mở cửa. Văn khố được coi như bí mật nhất mà David I. Kertzer, tác giả cuốn The Kidnapping of Edgardo Mortara (Bắt Cóc Edgardo Mortara), năm 1996, hoài nghi sẽ không bao giờ được mở cửa là Văn Khố của Inquisition, tiền thân Bộ Giáo Lý Ðức Tin, cũng đã được mở tung từ 1998 rồi, dù Văn Khố ấy cho thấy nhiều điều không đẹp trong quan điểm Công Giáo trước đây. Vấn đề chỉ là thời gian. Mà thời gian là tùy truyền thống mỗi định chế. Một định chế nhỏ như Thư Viện Kennedy tại Boston cũng chỉ mở các văn khố thuộc thời kỳ trước Thế Chiến II mới đây thôi (sau 60 năm), nhờ đó người ta đọc được các tài liệu ngoại giao của thân phụ Tổng thống là Ðại Sứ Joseph Kennedy lần đầu tiên.

Bẩy mươi năm sau khi vị giáo hoàng qua đời

Vatican, tuy là một quốc gia, nhưng là một quốc gia với sứ mệnh phục vụ một định chế nhân thần là Giáo Hội Công Giáo. Chủ điểm của Giáo Hội này là phần rỗi các thành viên của mình, tuy trong hành động có lúc đi trệch cái sứ mệnh ấy. Tất cả những gì Vatican có là để phục vụ cái chủ điểm này. Thời gian mở các văn khố cũng là vì cái chủ điểm ấy mà thôi. Như ai cũng biết, thời gian ấy là 70 năm sau khi vị giáo hoàng qua đời (xem Charles Collins, What the Vatican archives reveal about Pope Pius XII, Our Sunday Visitor, 20/07/2003). Thời gian ấy cần thiết để bảo vệ các cá nhân và các định chế với sự kín đáo thích đáng, như linh mục Sergio Pagano, giám đốc Văn Khố Bí Mật của Vatican, nhận định. Mặt khác, lấy thời điểm một giáo hoàng qua đời làm mốc tính 70 năm là giúp cho việc nghiên cứu về thời một giáo hoàng được trọn vẹn. Theo linh mục Pagano, chỉ mở một giai đoạn văn khố trong thời một giáo hoàng là không đúng cách trong việc nghiên cứu văn khố, vì một sử gia muốn nghiên cứu các thư từ trong các bang giao Vatican và Ðức từ 1922 đến 1933 sẽ lập tức thấy nhu cầu phải mở rộng việc nghiên cứu của mình bằng cách theo dõi,  qua các nguồn tài liệu khác của Tòa Thánh,  những móc nối và liên hệ mà ông thấy các tài liệu hiện có có nhắc đến nhưng chưa đuợc mở cho công chúng.

Và việc lên danh mục

Việc công bố các tài liệu văn khố liên quan đến Thế Chiến II là một ngoại lệ, bỏ qua qui luật 70 năm, như một thiện chí tối đa giúp công chúng tìm hiểu lịch sử. Nhưng ngoại lệ ấy đã tạo nên cái không đúng cách như cha Pagano vừa nhắc đến. Việc đòi hỏi các tài liệu liên quan vì thế là chính đáng. Nhưng thỏa mãn đòi hỏi ấy lại là vấn đề khác.  Hồng Y Jorge Maria Mejia, vị đứng đầu các Văn Khố và Thư Viện Vatican, cho hay: mở văn khố không phải như mở một tủ áo trong đó cái gì cũng sẵn sàng cả rồi. Ngài cho hay Toà Thánh có 46 thủ văn khố phụ trách 90 cây số văn  khố, và khoảng 90 thủ thư viện trông coi 50 cây số giá thư viện. Trong khi  Thư Viện Quốc Hội Mỹ có đến 4,500 nhân viên. Dù Tòa Thánh có muốn phá lệ, cũng không có khả năng lập tức mở mọi văn khố được. Các thủ văn khố làm việc tối đa (lên danh mục, đóng thành tập, làm mục lục),  cũng chỉ có thể mở môt phần các văn khố ấy trước thời hạn mà thôi. Tháng 2 năm 2002, Tòa Thánh công bố dù việc lên danh mục tất cả các tài liệu thuộc thời kỳ 1922 đến 1939 phải mấy năm nữa mới làm xong, nhưng một phần các văn khố ấy sẽ được mở cho công chúng đầu năm 2003, như một cử chỉ ngoại lệ, giúp chấm dứt những suy đoán bất công và bất đồng ý kiến.  Ðó là các văn khố liên quan đến Bavaria (1922-1939) khoảng 10 phong thư, Ðức (1922-1939) khoảng 100 phong thư, Sứ thần tại Munich (1922-1939) khoảng 430 phong thư, Sứ thần tại Berlin (1922-1939) khoảng 100 phong thư.

Vấn đề Toà Trong

Sở dĩ phải mất mấy năm mới mở được một phần văn khố, là vì như trên đã thưa, các văn khố có đó để phục vụ phần rỗi tín hữu. Công việc chuẩn bị mở chúng không thể hấp tấp được. Linh mục Pagano cho hay các tài liệu này cần sự hợp tác của các chuyên gia văn khố vì chúng đề cập đến những vấn đề thuộc tòa trong. Rất có thể những tài liệu này có liên quan đến những vấn đề các sử gia quan tâm, như nhận định của Ủy Ban Sử Học. Nhưng vì phần rỗi các tín hữu, Tòa Thánh không vì thế mà nhất đán mở được bây giờ. Ðiều ấy chắc chắn không có nghĩa Tòa Thánh cố ý giấu diếm tài liệu, nhưng công bố như thế là đi ngược lại với sứ vụ mình.

Vả lại, việc mở tất cả các văn khố dưới thời đức Piô XI cũng vẫn đang được xúc tiến và có thể xẩy ra trong ba năm nữa. Và khi các văn khố ấy đã được mở trọn vẹn cho công chúng, Toà Thánh sẽ ưu tiên mở các văn khố liên quan đến bang giao giữa Toà Thánh và Ðức dưới thời Ðức Piô XII (1939-1958). Cha Pagano khi công bố điều ấy, cho hay: Ðức Thánh Cha rất quan tâm đến việc mở các văn khố này, vì chính dưới thời đức Piô XII mà Thế Chiên II đã bùng nổ, và với nó là việc đầy ải người Do-Thái và thảm họa Shoah. Tòa Thánh không có chi phải sợ sự thật lịch sử. Bởi vì từ Vatican II trở đi, quan điểm và hành xử của Giáo Hội Công Giáo nhất khoát là nhớ đến gốc nguồn Do-Thái của mình, là chia sẻ gia tài chung của con cái Abraham trong đức tin, là coi dân tộc Do-Thái là dân Chúa chọn và yêu thương, là dân Giao Ước, một giao ước không bao giờ bị bẻ gẫy, cho nên vẫn sống động (Hồng Y Kaspar trong viễn văn khánh thành Trung Tâm Tài Liệu Do-Thái và Kitô giáo tại Ðại Học Gregoriana, đầu năm 2003). Rất tiếc, một số học giả Do-Thái lại không chia sẻ quan điểm và lối hành xử ấy kể cả Michael Marrus, người vốn được tiếng là khách quan. Tiến sĩ Margherita Marchione thuật lại lời Marrus nói với phóng viên Ý Paolo Mastrolilli, khi được đề cử vào Ủy Ban Sử Học rằng: “chúng ta không nên rơi vào lỗi lầm  đánh giá các biến cố xẩy ra hơn 50 năm trước bằng cái nhậy cảm của ngày hôm nay…Công Ðồng Vatican II đã thay đổi rất nhiều các liên hệ giữa người Do-thái-giáo và Công giáo, cho nên ngày nay ta thấy có nhiều thái độ xem ra như xa lạ. Dưới thời Ðức Piô XII, thực tế của thời đại có khác”. Trong thực tế, ông vẫn chưa ra khỏi được cái lỗi lầm chính ông khuyên người ta đừng mắc phải.

Tưởng có mà thực sự không có

Các tài liệu văn khố mới mở không những không ủng hộ những lời tố cáo chống Ðức Piô XII, trái lại, còn chứng tỏ năm 1933, khi làm quốc vụ khanh Tòa Thánh, ngài đã từng gửi thư cho toà sứ thần tại Ðức nhắc nhở phải chăm sóc người Do-Thái cũng như tờ trình năm 1923, ngài từ Ðức gửi về Vatican mô tả vụ đảo chính bất thành của Hitler, trong đó ngài tố cáo chủ trương bài Công giáo và bài Do-Thái của hắn. Thực ra như lời linh mục G. Fogarty, không làm gì có súng bốc khói trong các văn khố Vatican như các thành viên Do-Thái của Ủy Ban Sử Học vẫn thường nghĩ. Bởi có những văn kiện người ta chắc mẩm là có trong Văn Khố Vatican, mà thực ra không hề có. Linh mục Fogarty đơn cử vụ đức Piô XII bằng lòng làm trung gian cho một số sĩ quan cao cấp của Ðức liên lạc với phe Ðồng Minh trong mưu toan lật đổ Hitler. Văn khố Vatican không có một tài liệu nào đề cập đến việc đó. Các tài liệu ấy chỉ có trong Văn Khố Bộ Ngoại Giao Anh. Linh mục Peter Gumpel cũng xác nhận như thế và tin rằng việc mở một phần văn khố của Vatican gần đây cũng như trong tương lai không thêm gì cho việc hiểu biết về đức Piô XII. Ngài cho rằng ngài đã tìm tòi về đức Piô XII 40 năm nay, đã đọc cả 100,000 trang về vị giáo hoàng này, cho nên cuộc đời của vị giáo hoàng đã được khảo sát ngọn ngành.

Những chuyện hậu trường

Vì Phúc Trình Lâm Thời của Úy Ban Sử Học gây chấn động lớn trong dư luận quần chúng, tưởng nên lược qua những câu chuyện hậu trường liên quan đến việc họ đình chỉ hoạt động. Người ta biết rằng, các thành viên của Ủy Ban bao gồm cả những người từng có cái nhìn khá tiêu cực về Ðức Piô XII. Robert Wistrich, thuộc Ðại Học Hebrew, chẳng hạn, đã nói rằng :”Piô XII đã không thi hành nhiệm vụ theo phương cách đem lại tiếng tốt cho Vatican hay Giáo Hội Công Giáo…Sau cùng, Ông đã rơi vào vị thế đồng loã trong chính sách về Ðức”. Trầm trọng hơn nữa, theo giáo sư Roanld J. Rychlak, ngay từ buổi đầu, các thành viên Ủy Ban đã khước từ nhiệm vụ đọc tài liệu mà họ có nhiệm vụ duyệt xét. Ngược lại một mực nằng nặc đòi Vatican phải mở cửa toàn bộ các Văn Khố chứ không chịu chỉ duyệt xét các tài liệu đã được công bố, như nhiệm vụ được trao phó. Cho nên thay vì nhận định về chính bộ tài liệu, họ lại chỉ chú tâm nêu lên những câu hỏi mà họ biết chắc chưa ai trả lời được vì văn khố liên hệ chưa được mở cửa. Wistrich tuyên bố rằng đọc các tài liệu đã ấn hành mà không đọc các tài liệu khác là một trò hề. Còn Leon Feldman, Giáo Sư Thực Thụ Ðại Học Rutgers và là phối trí viên Do-Thái của Ủy Ban, thì cho rằng nhất định có súng còn bốc khói trong văn khố và đó là lý do khiến Vatican giấu chặt các tài liệu.

Vắng bóng chứng cớ là chứng cớ vắng bóng

Trên kia chúng tôi đã nhắc đến linh mục Fogarty và nhận định của ông về câu nói vừa rồi của Feldman. Cả Tiến sĩ Margherita Marchione lẫn Giáo sư Ronald J. Rychlak, nhân nói đến câu hỏi thứ 44 của Ủy Ban, đã nhận xét rằng các thành viên của Ủy Ban đã không chịu làm bài ở nhà  (home work) khi đảm nhiệm công việc. Vì cái tài liệu họ đòi hỏi liên quan đến một phúc trình được Toà Thánh ủy cho một số linh mục Dòng Tên soạn thảo để giải thích chính sách của mình đối với Ba-Lan đã đang nằm chình ình tại thư viện công của New York từ rất lâu. Dưới tựa đề Pope Pius and Poland, phúc trình này được The American Press công bố năm 1942 với dấu Imprimatur của Hồng Y Francis J. Spellman và được bán với giá 10 xu! Câu hỏi thứ 47 hỏi tại sao không thấy nhắc gì đến việc tàn sát người Do-Thái tại Auschwitz trong các thư từ của Tổng giám mục Krakow, Adam Sapieha, dù tử trại đó nằm trong lãnh thổ giáo phận ngài? Tại sao thì phải đi hỏi Sapieha, làm sao Tòa Thánh biết mà trả lời. Rychlak nhận định rằng đôi khi vắng bóng chứng cớ chính là chứng cớ vắng bóng!

Các thành viên Ủy Ban tỏ ra không hiểu biết hoàn cảnh của Vatican trong thời chiến tranh. Khi kinh thành bị quân Ðức bao vây tứ phía, giấy tờ hồ sơ ai mà giám tạo ra cho nhiều, mà có tạo ra thì cũng bố ai giám lưu giữ lâu. Cho nên nhiều tài liệu không có là vì thế. Vả lại, nếu có những tài liệu không có lợi cho Tòa Thánh, thì các học giả vẫn có thể kiểm chứng được từ những nguồn khác. Nhiều người dựa vào phúc trình của Reigner mà cho rằng: đó chứng cớ giấu tài liệu rành rành! Giấu thì tại sao còn đề cập đến nội dung của nó. Biết đâu tài liệu còn liên can đến những người còn sống khác, nên chưa được công bố toàn văn. Dựa vào một suy đoán để từ khước không tiếp tục nhiệm vụ được ủy thác là việc không đẹp.

Câu trả lời

Như sẽ thấy chi tiết sau này, Tòa Thánh đã nhờ linh mục Gumpel soạn tập hồ sơ  trả lời 47 câu hỏi do Ủy Ban đặt ra. Linh mục Gumpel coi trọng nhiệm vụ của mình, để ra 2 tuần lễ chuẩn bị các câu trả lời. Nhiều người xin tham gia việc này, nhưng bị ngài từ chối lấy lý do muốn giữ kín (confidential) các câu hỏi này. Trong cuộc họp tại Rome từ 23 đến 26 tháng 10 năm 2000, ngài hy vọng có dịp trình bày đầy đủ các câu trả lời. Nhưng ngài chỉ được gặp họ mấy tiếng đồng hồ và chỉ có dịp duyệt qua được 10 trong số 47 câu hỏi. Nhưng,  trong khi cuộc họp đang diễn tiến, thì Phúc Trình Lâm Thời của Ủy Ban được công bố trọn vẹn trên Trang Nhà của Hiệp Hội B’nai B’rith Quốc Tế. Sau đó có phúc trình cho rằng thành viên Bernard Suchecky, thuộc Ðại Học Tự Do Brussels, đã tiết lộ phúc trình cho Nhật báo Pháp Le Monde. Thông tấn xã Associated Press gọi phúc trình là nẩy lửa. Còn New York Times thì cho rằng 47 câu hỏi nói lên sự bất mãn của 6 thành viên Ủy Ban đối với thái độVatican. Báo Le Monde của Paris cho hay họ qui phần lỗi về Ðức Giáo Hoàng và Giáo Hội. Cha Gumpel rất buồn bởi Ủy Ban không những không cho ngài cơ hội trình bày các chứng cớ ngài đã khổ công soạn thảo, mà phúc trình họ công bố còn hoàn toàn giống hệt 47 câu hỏi họ đã gửi cho Tòa Thánh trước đó hai tuần. Nói các khác, họ không giữ đủ kín đáo như tư cách một học giả đòi hỏi.

Không đọc bộ tài liệu

Mặt khác, các thành viên Do-Thái cũng đã tỏ ra coi thường bộ tài liệu mà họ có nhiệm vụ phê phán: Rychlak cho hay không thành viên nào sở hữu cuốn nào trong bộ ADSS. Ðến khi bắt tay vào nghiên cứu, mỗi người lại chỉ chịu đọc có hai cuốn (riêng Wistrich yêu cầu được đọc cuốn thứ ba), thay vì phải đọc toàn bộ. Ðiều này dường như do việc không ai trong họ biết đọc chữ Ý là ngôn ngữ thường thấy nhất trong bộ tài liệu, nên phải dựa vào các phiên dịch viên. Tóm lại không ai từng đọc bộ này từ trước. Chẳng lạ gì Eva Fleischner cho hay: “Tôi muốn té ngửa khi đọc các tài liệu. Rõ ràng Tòa Thánh đã được thông tri về Holocaust rất sớm”. Việc chi phải té ngửa. Bất cứ ai quen thuộc với các tài liệu này đều biết Vatican đã được thông tri. Vấn đề là các phúc trình đầu tiên đã được tiếp nhận ra sao mà thôi. Nhiều nước Ðồng Minh coi nhẹ các phúc trình này. Ðiều rõ ràng là giáo sư Fleischner chưa đọc trước các tài liệu. Chỉ đọc hai, ba cuốn, lại không quen thuộc với các cuốn này, và vấn đề ngôn ngữ nữa, chẳng lạ gì Ủy Ban không nắm được vấn đề như ta đã thấy qua một số câu hỏi họ nêu lên. Nên lưu ý nhóm còn lẫn lộn luôn cả đức Piô XI và đức Piô XII khi họ vấn nạn về biến cố Ðêm Kính Bể (Kristallnacht) xẩy ra hồi tháng 11 năm 1938. Ðêm đó, Quốc Xã triệt hạ 1,400 hội đường và tiệm buôn Do-Thái tại Ðức và Áo. Biến cố ấy xẩy ra thời đức Piô XI, chứ đâu phải dưới thời đức Piô XII. Vả lại sự dã man của biến cố này từng được L’Osservatore Roma tường trình đầy đủ. Các học gỉa này đáng lý phải biết chuyện đó chứ.

Linh Mục Peter Gumpel, trong cuộc phỏng vấn dành cho Hãng Tin Zenit, ngày 26 tháng 7 năm 2001, cho hay: ngay từ đầu nhận công tác, một số - không phải tất cả - các thành viên của phía Do-Thái đã công khai phổ biến lòng ngờ vực là Tòa Thánh đang cố gắng  giấu các tài liệu, mà theo phán đoán của mình, có thể có nguy hại… Các người này sau đó liên tiếp tiết lộ những tin tức bóp méo và có thiên kiến phổ biến trên bao chí quốc tế.

Lý do ngưng hoạt động

Tưởng nên nhắc lại các biến cố chung quanh việc Ủy Ban ngưng hoạt động. Ngày 21 tháng 6 năm 2001, Hồng Y Walter Kaspar, Chủ Tịch Ủy Ban Giáo Hoàng về Các Liên Hệ Liên Tôn với Do-Thái Giáo gửi thư cho Ủy Ban yêu cầu các sử gia cho soạn phúc trình sau cùng, sau khi cho các học giả hay các văn khố của Vatican từ 1923 trở về sau chưa có thể mở cho các học giả được vì lý do kỹ thuật. Ngày 20 tháng 7, các thành viên Ủy Ban trả lời bằng cách cho đức hồng y thấy “không đáp ứng tích cực đối với yêu cầu kính cẩn của chúng tôi” được phép nghiên cứu các văn khố này, các kết luận của Ủy Ban không có giá trị gì. Cho nên họ xin đình chỉ nhiệm vụ.

Hãng tin Zenit cho hay Giáo sư Michael Marrus nhân dịp này phát biểu việc đó “không nhất thiết có nghĩa chúng tôi chấm dứt công việc. Tôi tin rằng chúng tôi phải tiếp tục ở một bình diện nào đó”. Eugene Fisher, phối trí viên của ủy Ban và là cố vấn của Hội Ðồng Giám Mục Hoa-Kỳ, cho hay hai thủ văn khố đang làm việc hết sức nhanh để lên danh mục các tài liệu sau 1922. Ông thêm: “vấn đề không phải là liệu các tài liệu có được công bố hay không mà là lúc nào thôi. Ðó chỉ là vấn đề thời gian”. Về phần mình, theo yêu cầu của Phủ Quốc Vụ Khanh, linh mục Peter Gumpel cho công bố một lời phát biểu trong đó ông tố cáo một số thành viên của Ủy Ban đã phản bội lòng tin tưởng đặt nơi họ, gồm cả việc tiết lộ những tin tức không chính xác. Ngài cũng đưa ra một vấn đề khác liên quan đến bộ ADSS: “mỗi thành viên trong nhóm khảo sát hai cuốn, nên mỗi thành viên đáng lẽ nên viết một phúc trình. Khi công việc sơ khởi chấm dứt, sự khác biệt trong phán đoán lớn đến độ Eugene Fisher, phối trí viên của nhóm, phải nói: ‘chúng khác nhau về hình thức cũng như chất lượng đến nỗi một phúc trình tóm lược chung thật rất khó mà viết được’. Chính lúc này, nhóm quyết định đưa ra và chuyển đến Tòa Thánh 47 câu hỏi, trong đó họ yêu cầu được phép khảo sát tất cả các tài liệu hiện lưu giữ tại Vatican và cho đến nay chưa được công bố. Nhóm này tới Rome tháng 10 năm 2000 và gặp Hồng Y Edward I. Cassidy, Hồng Y Pio Laghi, Ðức ông (nay là Hồng Y) Jorge María Mejía và linh mục Gumpel trong tư cách một chuyên viên do Hồng Y Cassidy cử nhiệm. Mục đích của buổi gặp gỡ là trả lời các câu hỏi đã được đặt ra và xác minh các biến cố lịch sử. Cha Gumpel gặp nhóm này ngày 24 tháng 10 năm 2000, sau khi soạn 47 tập hồ sơ (dossiers) để trả lời một cách đặc thù và trong chi tiết từng câu hỏi đã được gửi cho ngài 15 ngày trước cuộc gặp mặt. Với một nỗi thất vọng sắc cạnh, ngài nhận thấy việc đọc các cuốn sách trong bộ tài liệu đã được thực hiện một cách hời hợt, với những giải thích về ngày giờ và sự kiện hoàn toàn bị đảo ngược lại. Ngài cho rằng nếu chịu đọc các giải thích của ngài và các tài liệu đính kèm, các thành viên của nhóm sẽ không còn phản đối điều chi.

Cuối buổi gặp mặt, trong khi mới chỉ có dịp bàn qua 10 trong số 47 câu hỏi, linh mục Gumpel cho hay ý định tuyệt đối sẵn sàng tiếp tục cuộc thảo luận. Không may, đề nghị ấy không được chấp thuận, và cũng vì tiếp theo việc tiết lộ tin tức, thời gian còn lại đã được sử dụng để giải quyết các vấn đề khủng hoảng nội bộ. Vì hoàn cảnh ấy, mà cuộc tham khảo của hai thành viên trong nhóm với sử gia linh mục Blet cũng đã bị hủy bỏ.

Quả không đẹp tí nào khi, trong các tháng kế tiếp, một số thành viên Do-Thái của nhóm nghiên cứu đã phao tin tức một cách có hệ thống cho rằng họ không bao giờ nhận được câu trả lời nào cho các câu hỏi của họ. Hơn nữa, cho đến nay, nhóm chưa bao giờ đệ trình Phúc Trình chung quyết đối với công việc của họ và do đó chưa hoàn tất công việc được trao phó.

Thay vào đó họ quyết định ngưng công việc lấy lý do không được đọc một cách không hạn chế các văn khố của Vatican. Về phương diện này, người ta biết văn khố trưởng là đức hồng y Jorge María Mejía đã giải thích cặn kẽ cho nhóm này hay vì lý do kỹ thuật,  không thể coi các tài liệu sau 1922, vì do số lượng tài liệu quá  nhiều, hơn 3 triệu trang, không thể nào lên danh mục kịp.

Học giả nào cũng biết rằng không văn khố nào có thể tham khảo nếu các tài liệu chưa lên danh mục và xếp loại. Trong một công kích đáng khiếp mới đây chống lại Tòa Thánh, người ta còn nói rằng Tòa Thánh không có ý định mở các văn khố. Tin này rõ ràng là thất thiệt vì các thành viên của nhóm đã được thông báo rằng tất cả các tài liệu nhắc đến Thời giáo hoàng của Ðức Piô XII sẽ được mở, càng sớm càng tốt, không những cho riêng họ mà cho tất cả mọi học giả khác. Tòa Thánh không đặt để bất cứ giới hạn nào như thể lệ hiện hành của các văn khố khác, thí dụ văn khố Anh, Mỹ... Về phương diện này, một số cộng sự viên của cha Gumpel, vốn là các sử gia tăm tiếng, từng tham khảo các văn khố kia, cho rằng họ thường được các văn khố kia thông báo là các tài liệu họ yêu cầu đã hoặc bị dẹp bỏ hoặc còn đang bị cấm phổ  biến (embargo). Chính một thành viên trong nhóm trong một buổi gặp mặt tại Rome đã xác nhận một cách tuyệt đối hoàn cảnh nêu trên qua kinh nghiệm bản thân lúc ông tìm tòi nghiên cứu tại Văn Khố Mỹ.

Theo cha Gumpel, rõ ràng những tin tức thiên kiến phổ biến trong những ngày gần đây là không có cơ sở, mục tiêu rõ ràng là để quảng cáo (publicity) gây hại cho Tòa Thánh… Như thế sáng kiến từng nhằm để cải thiện các liên hệ giữa Giáo Hội Công Giáo và Cộng Ðồng Do-Thái đã thất bại, và đây là trách nhiệm của những người, bất chấp các qui phạm sơ đẳng nhất của khoa bảng và nhân văn, đã phạm cái lỗi vô trách nhiệm.

Qui luật biên soạn bộ ADSS

Trên đây, linh mục Gumpel có nhắc đến linh mục Blet, người duy nhất trong nhóm biên tập bộ ADSS hiện nay còn sống. Chúng tôi không có tài liệu gì về nhận định của Linh Mục Blet đối với công việc của Uỷ Ban. Nhưng năm 1998, ngài có đăng một bài trên tờ La Civilta Cattolica và sau đó trên L’Osservatore Romano tựa là  Thần Thoại đối đầu với Sự Kiện Lịch Sử, trong đó ngài diễn tả quá trình hình thành bộ ADSS. Ðiểm quan trọng ngài nêu ngay ở phần đầu bài báo là: “Những người được tín nhiệm trao phó cho nhiệm vụ này bị trói buộc bởi một số quy luật: không được cống bố những tài liệu nhắc đến những người còn đang sống hay những tài liệu, nếu tiết lộ, có thể cản trở các cuộc thương thảo hiện đang tiến hành. Các cuốn trong bộ Các Liên Hệ Ngoại Giao của Hoa Kỳ liên quan đến thập niên 1940 đã được công bố trên căn bản những tiêu chuẩn này, và cũng những tiêu chuẩn ấy đã được sử dụng trong việc công bố các tài liệu của Toà Thánh.

Linh mục Blet cũng cho hay rất tiếc, nhiều người đã không những không đọc bộ tài liệu trong tinh thần khách quan mà còn chỉ trích bộ tài liệu này không đầy đủ và trung thực. Linh mục Blet nhắc đến một bài trên tờ nhật báo Paris ngày 3 tháng 12 năm 1997 cho rằng: “bốn ông Dòng Tên kia đã sản xuất (!) ra các bản văn Actes et Documents để miễn trừ Piô XII khỏi tội quên sót mà ông từng bị tố cáo… Nhưng những tài liệu Actes et Documents kia còn xa mới đầy đủ”. Bài báo có ý cho rằng các nhà biên tập cố ý  bỏ qua các tài liệu có hại cho thanh danh của Ðức Piô XII và Toà Thánh.

Linh mục Blet cho hay: trước nhất, người ta không rõ làm thế nào việc bỏ qua một số tài liệu nào đó lại có thể miễn trừ Ðức Piô XII khỏi tội quên sót mà ngài từng bị tố cáo. Mặt khác, độc đoán cho rằng các công bố của Toà Thánh không đầy đủ, là dựa vào đâu mà nói được như thế?. Vì muốn nói được như thế,  cần phải so sánh các công bố của ADSS với các văn khố và chứng tỏ tài liệu nào trong văn khố đã không có trong ấn phẩm của ADSS. Nhưng các văn khố đối chiếu hiện chưa tới tay công chúng, thế mà họ vẫn cứ cho rằng mình có bằng chứng có sự thiếu sót trong bộ Actes et Documents. Làm như thế, họ chỉ cho thấy ý nghĩ nghèo nàn của họ về việc khai thác sâu sắc các tài liệu văn khố, mà một số được họ đòi phải mở ngay bây giờ.

Thư từ giữa Đức Piô XII và Hitler?

Nhắc lại nguyên văn tuyên bố của một tờ báo Roma ngày 11 tháng 9 năm 1997, bài báo được trích dẫn ngày 3 tháng 12 kia cho hay thư từ giữa Ðức Piô XII và Hitler đã không được công bố. Cha Blet cho hay: “Chúng tôi xin nói ngay rằng bức thư của Ðức Giáo Hoàng thông báo việc Ngài đắc cử cho người đứng đầu Reich (chính phủ liên bang Ðức) là tài liệu cuối cùng được đăng trong cuốn 2 bộ ADSS. Còn ngoài ra, nếu chúng tôi không công bố các thư từ của Ðức Piô XII với Hitler, thì chỉ là vì các thư từ ấy chỉ có trong trí tưởng tượng của nhà báo. Ông ta nhắc đến các tiếp xúc của Pacelli với Hitler lúc làm sứ thần tại Ðức, nhưng đáng lẽ ông ta nên kiểm soát ngày giờ mới đúng: Hitler lên cầm quyền năm 1933 và chắc chắn có gặp sứ thần Toà Thánh thì phải là sau niên biểu ấy. Nhưng tổng giám mục Pacelli đã trở về Rome từ tháng 12 năm 1929. Pius XI phong ngài làm hồng y ngày 16 tháng 12 và Quốc Vụ Khanh  ngày 16 tháng Giêng năm 1930. Hơn thế nữa, nếu việc thư từ kia có thật, thì các thư của Ðức Giáo Hoàng phải còn được lưu giữ trong các văn khố của Ðức chứ và cứ sự thường là phải được ghi chép trong các văn khố của Bộ Ngoại Giao Liên Bang. Các thư của Hitler có thể nằm tại Vatican đã đành, nhưng người ta phải thấy chúng được nhắc đến trong các chỉ thị gửi cho các đại sứ, Bergen rồi Weizsacker, là những người có nhiệm vụ chuyển giao chứ, và trong các phúc trình của họ họ phải ghi chú là họ đã chuyển giao các thư ấy cho Ðức Giáo Hoàng hay Quốc vụ khanh chứ! Ðàng này không hề có một dấu tích chuyện đó. Khi không có những ghi chú như thế, thì phải nói rằng sự nghiêm chỉnh trong các ấn phẩm của chúng tôi đã bị nghi vấn mà không hề có một chút chứng cớ nào”.

Những nhận xét về việc thư từ nói trên giữa Ðức Giáo Hoàng và Fuhrer cũng áp dụng đối với các tài liệu hiện có thực. Các tài liệu của Vatican thường được chứng thực  bởi các văn khố khác: thí dụ, các thư từ trao đổi giữa các đại sứ với nhau. Người ta có thể giả thiết rằng nhiều điện tín của Vatican đã bị đọc lén (intercepted) và giải mã bởi các sở tình báo của các bên lâm chiến và do đó các bản sao có thể tìm thấy trong các văn khố của họ. Bởi thế, nếu Toà Thánh cố tình giấu diếm một số tài liệu, người ta vẫn có thể biết được sự hiện diện của chúng và như thế mới có căn bản để nghi vấn tính nghiêm chỉnh trong các ấn phẩm của Toà Thánh.

Vàng Quốc Xã hay vàng Tòa Thánh

Cũng cùng bài của tờ nhật báo Paris kia, sau khi bịa ra các liên lạc giữa Hitler và Sứ Thần Pacelli, đã nhắc đến một bài báo trên tờ Sunday Telegraph số tháng 7 năm 1997 tố cáo Tòa Thánh  sử dụng số vàng của Quốc Xã trong việc giúp các tội phạm chiến tranh trốn qua Châu Mỹ Latinh, đặc biệt là Ante Pavelic, một người Croat: ‘Một số nghiên cứu cho thuyết này có giá trị [!]’. Quả là đáng lưu ý khi các nhà báo tự thoả mãn với việc tài liệu hóa chính các xác quyết của mình một cách dễ dàng đến như vậy. Các sử gia, có khi dành hàng giờ để kiểm tra các tham khảo của mình, chắc phải thèm thuồng sự dễ dàng ấy quá. Người ta có thể hiểu sự tin tưởng của một nhà báo đối với một đồng nghiệp của mình, nhất là khi tựa đề tiếng Anh của tờ báo đem lại cho nó một giáng dấp đáng kính nào đó. Tuy nhiên ở đây có hai xác quyết cần phải được khảo sát riêng rẽ: số vàng của Quốc Xã, hay chính xác hơn, số vàng của Do-Thái do Quốc Xã ăn cướp được ký thác vào chương mục Vatican, và sau đó được sử dụng để giúp các tội phạm chiến tranh Quốc Xã trốn qua Châu Mỹ Latinh.

Quả thực, một số báo chí Mỹ có đưa ra một tài liệu của Bộ Ngân Khố trong đó Bộ được thông báo là Vatican đã nhận số vàng của Quốc Xã có gốc gác Do-Thái qua ngả Croatia. Một ‘tài liệu từ Bộ Ngân Khố’ quả là đáng nể! Nhưng người ta đâu có chịu đọc những dòng ghi bên dưới cái tít lớn ấy để thấy rằng nó chỉ là một thư ngắn (note) từ ‘thông tin của một chỉ điểm viên đáng tin tại Rome. Những ai sẵn sàng tin những khẳng định trên là sự thật, thì nên đọc điều mà Cha Graham đã viết về xảo thuật của Scatolini, một chỉ điểm viên (informer), từng sống nhờ những tin tức anh ta tạo ra và chuyển đến các tòa đại sứ, gồm luôn cả Mỹ, và những tin tức ấy được chuyển nguyên vẹn tới Bộ Ngoại Giao. Trong khi nghiên cứu tại văn khố Phủ Quốc Vụ Khanh, các nhà biên tập bộ ADSS không thấy nhắc gì đến số vàng ăn cướp của người Do-Thái mà người ta cho là được ký thác trong chương mục Vatican. Rõ ràng những người xác quyết điều trên có bổn phận phải đưa ra các chứng cớ có tài liệu, thí dụ một biên nhận chẳng hạn. Một tài liệu như thế chắc chắn phải được lưu giữ tại văn khố Vatican, y như trường hợp các lá thư của Ðức Piô XII gửi cho Hitler. Ðiều thực sự được ghi chép chỉ là việc can thiệp nhanh chóng của Ðức Piô XII khi các cộng đồng Do-Thái tại Rome bị Công An Quốc Xã (SS) tống tiền 50 kí lô vàng. Dịp này, Ðại Ðạo Trưởng Do-Thái đã chạy tới Ðức Giáo Hoàng để yêu cầu giúp đỡ 15 kí lô mà họ còn thiếu, và Ðức Piô XII đã lập tức ra lệnh cho các viên chức của mình lo việc ấy. Các cuộc điều tra mới đây không phát hiện điều gì thêm.

Hơn nữa, phúc trình về việc cho rằng Vatican giúp các tội phạm Quốc Xã trốn qua Châu Mỹ Latinh là điều không mới. Hiển nhiên chúng tôi không loại bỏ sự kiện có những giáo sĩ  tại Rome lợi dụng chức vụ của mình giúp đỡ các tội phạm này trốn thoát. Những cảm tình của giám mục Hudal, viện trưởng nhà thờ quốc gia Ðức, dành cho Liên Bang Ðại Ðức, ai cũng biết; nhưng nếu dựa vào đấy để tưởng tượng ra rằng Vatican tổ chức một cuộc chạy trốn quy mô cho các viên chức Quốc Xã qua Châu Mỹ Latinh là đã gán một hành vi bác ái anh hùng cho các giáo sĩ Rome! Tại Rome, các kế hoạch của Quốc Xã đối với Giáo Hội và Tòa Thánh ai cũng biết. Ðức Piô XII nhắc đến các kế hoạch này trong diễn văn trước Mật Nghị Viện (consistory) ngày 2 tháng 6 năm 1945 rằng ‘một khi chiến thắng quân sự đã đạt được, họ sẽ tiêu diệt Giáo Hội mãi mãi’. Ấy thế mà các tác giả mà nhà báo nhắc đến lại có cái ý tưởng cao thượng về lòng tha thứ bởi những người bao quanh Giáo Hoàng, nếu họ tưởng tượng có một số Quốc Xã được Vatican che giấu, dẫn đường qua Argentina, được độc tài Peron che chở, rồi từ đó qua Brazil, Chile và Paraguay, để cứu vãn điều được coi là còn vớt vát được của Ðệ Tam Reich...

Ðộc giả chắc chắn sẽ hiểu rằng Văn Khố Vatican không có những thứ tài liệu như thế, ngay cả khi những chuyện kể có một phần sự thật. Nếu giám mục Hudal đã giúp một nhân vật Quốc Xã nổi tiếng nào đó trốn thoát, chắc chắn ông đã chẳng cần phải xin phép Ðức Giáo Hoàng. Mà nếu ông có thông báo cho Ðức Giáo Hoàng sau khi biến cố đã xẩy ra, chúng ta cũng chả biết gì về chuyện đó. Cha Blet cho hay: “Trong số những điều không bao giờ được các văn khố tiết lộ, ta phải nhớ những cuộc đàm thoại giữa Ðức Giáo Hoàng và các khách thăm viếng, ngoại trừ đối với các đại sứ khi họ phúc trình những cuộc đàm thoại ấy cho chính phủ của họ, hay đối với De Gaulle là người đã đề cập đến chúng trong Nhật Ký của ông ta”.

Nhân vụ đảo chính hụt

Nhân nói đến việc Ủy Ban đòi xem cho bằng được một số tài liệu mà họ cho rằng Vatican hiện giấu kín, Gerald Fogarty, thành viên Công giáo của Ủy Ban, nhận định rằng “Ủy Ban chưa vượt qua được cái huyền thoại phổ biến trong nền văn hóa Anglo-Saxon cứ tin là có những tài liệu quan trọng chưa được công bố trong các Văn Khố Vatican. Nếu những tài liệu ấy có thực, thì các chứng cớ khác về chúng phải được tìm thấy trong các nghiên cứu của tôi qua khắp các Văn Khố Âu Châu mới đúng chứ”. Ông đơn cử một trường hợp cho thấy có những biến cố thật quan trọng mà Văn Khố Vatican không hề có tài liệu nào nói đến. Ðó là vụ mùa Xuân 1940, một số sĩ quan cao cấp của Ðức nhờ đức Piô XII làm trung gian trong mưu toan lật đổ Hitler. Fogarty cho hay tài liệu về vụ này chỉ tìm thấy trong Văn Khố Bộ Ngoại Giao Anh, văn khố Vatican không có! …

Dĩ nhiên khi các sử gia nghiêm chỉnh muốn tự mình khảo sát các văn khố từng cung cấp các tài liệu ấn hành, không ai dám nói ý muốn của họ không chính đáng và đáng khen: dù theo thật chính xác một ấn phẩm bao nhiêu đi chăng nữa, thì việc tham khảo hay trực tiếp tiếp xúc với chính các tài liệu là điều rất hữu ích cho việc hiểu biết về lịch sử. Ở đây, có hai vấn đề khác nhau: nghi vấn về sự nghiêm chỉnh trong các tìm tòi của các nhà biên tập là một chuyện, mà thắc mắc không hiểu liệu họ có bỏ qua điều gì hay không lại là chuyện khác. Cha Blet cho hay: “chúng tôi không cố tình bỏ sót bất cứ tài liệu nào quan trọng hết, bởi chúng tôi coi việc đó gây hại cho hình ảnh của Ðức Giáo Hoàng và thanh danh của Giáo Hội. Nhưng trong khi đảm nhiệm loại công việc này, những người nghiên cứu là những người trước nhất tự hỏi mình là liệu mình có bỏ sót điều gì hay không. Không có Cha Leiber, sự hiện hữu các bức thư Ðức Piô XII gửi hàng giám mục Ðức rất có thể đã không được chúng tôi biết tới và do đó bộ tài liệu mất đi điều có thể được coi như những văn bản giá trị nhất để hiểu tâm tư của Ðức Cố Giáo Hoàng. Tuy nhiên, toàn bộ phần này không hề mâu thuẫn đối với điều các thư ngắn và các trao đổi ngoại giao từng cho ta biết. Trong các thư ấy, ta có ý niệm rõ hơn về sự quan tâm của Ðức Piô XII trong việc sử dụng các lời giảng dậy của các Giám Mục để canh chừng các tín hữu chống lại các phỉnh gạt của chủ nghĩa Quốc Xã, đã trở nên nguy hiểm hơn bao giờ hết trong thời chiến. Các thư từ này được công bố trong cuốn II bộ ADSS, đủ cho thấy Giáo Hội trì chí chống đối chủ nghĩa Quốc Xã;  nhưng những cảnh cáo đầu tiên từ các giám mục Ðức như Faulhaber, von Galen, từ nhiều tu sĩ và linh mục và, sau cùng, từ tông thư Mit brenneder Sorge, từng được đọc trong tất cả các nhà thờ tại Ðức trong Chúa Nhật Lễ Lá năm 1937 bất chấp Gestapo, thì mọi người đã biết”.

Như thế ta chỉ có thể coi là hoàn toàn dối trá không hơn không kém lời khẳng định cho rằng Giáo Hội ủng hộ Quốc Xã, như nhật báo tại Milan ngày 6 tháng Giêng năm 1998 đã viết. Thêm vào đấy, các văn bản đăng trong cuốn V bộ ADSS hoàn toàn bác bỏ ý niệm cho rằng Toà Thánh có thể đã ủng hộ Ðệ Tam Reich vì sợ Nga Sô Viết. Khi Roosevelt yêu cầu được Vatican giúp đỡ để vượt qua sự chống đối của người Công Giáo Mỹ đối với kế hoạch bắt tay với Nga của ông ta lúc đó đang lâm chiến chống lại Ðức, ông ta được trả lời là sự giúp đỡ ấy đã được đưa ra đối với Anh Quốc rồi. Phủ Quốc Vụ Khanh sau đó đã ra lệnh cho Sứ Thần Tòa Thánh tại Washington phải làm thế nào để các Giám Mục Mỹ giải thích cho giáo dân Mỹ biết tông thư Divini Redemptoris, một tông thư khuyên người công giáo không được ủng hộ các đảng cộng sản, không áp dụng trong hoàn cảnh hiện nay và do đó không ngăn cấm người công giáo Mỹ giúp đỡ nước Nga trong nỗ lực chiến tranh của họ chống Ðệ Tam Reich. Ðây là những kết luận không thể bác khước được.

Cha Blet kết luận như sau: “Chính vì thế, dù không muốn làm nản lòng những nhà nghiên cứu tương lai, tôi rất hoài nghi việc mở các văn khố Vatican liên quan đến thời chiến sẽ gia tăng sự hiểu biết của chúng ta về thời kỳ này. Như tôi đã giải thích trước đây, trong các văn khố này, các tài liệu ngoại giao và hành chánh được xếp chung với các tài liệu hoàn toàn có tính cách tư riêng; và điều này đòi hỏi một diễn trình dài hơn so với các văn khố của các bộ ngoại giao các nước. Những ai muốn đào sâu hơn lịch sử về giai đoạn nhiễu nhương này mà không muốn chờ đợi thêm nữa, họ có thể làm việc cách hũu hiệu tại các văn khố của Bộ Ngoại Giao Anh, Bộ Ngoại Giao Pháp, Bộ Ngoại Giao Mỹ và các Bộ Ngoại Giao khác vốn có đại diện tại Toà Thánh. Hơn hẳn các văn kiện của Phủ Quốc Vụ Khanh Vatican, các tường trình của Bộ Trưởng Anh Quốc Osborne đã làm sống lại hoàn cảnh của Toà Thánh, bị Phát Xít Rome bao vây, và sau đó sống dưới sự kiểm soát của quân đội và cảnh sát Ðức một cách sống động hơn nhiều. Chỉ khi nào chịu lao mình vào những nghiên cứu như thế thay vì đòi hỏi Văn Khố Vatican phải mở cửa trước thời hạn, họ mới chứng tỏ được là họ thực sự đi tìm sự thật.”

 

(1) Viết tắt của Actes et Documents du Saint Siège Relatifs à la Seconde Guerre Mondiale (Các Văn Kiện và Tài Liệu của Tòa Thánh Liên Quan Tới Thế Chiến Hai).

Tác giả: Vũ Văn An
   dunglac@gmail.com