Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Đinh Quang Thịnh, Lm.
Bài Viết Của
Đinh Quang Thịnh, Lm.
TUẦN SAU CN IV MÙA CHAY

Đinh Quang Thịnh, Lm.


o0o


THỨ BẢY SAU CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

THỨ SÁU SAU CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

THỨ NĂM SAU CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

THỨ TƯ SAU CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

THỨ BA SAU CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

THỨ HAI SAU CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY


o0o


THỨ BẢY SAU CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY

Gr 11,18-20 ; Ga 7,40-53

BÀI ĐỌC : Gr 11,18-20

18 Đức Chúa đã báo cho tôi và tôi đã biết. Bấy giờ Người cho tôi thấy âm mưu của chúng.19 Phần con, con khác nào con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt, con đâu biết chúng đang mưu tính hại con. Chúng bảo nhau: "Cây đương sức, nào ta chặt nó đi, loại nó ra khỏi đất dành cho kẻ sống, để không còn ai nhớ đến tên tuổi nó nữa! " 20 Nhưng, lạy Đức Chúa các đạo binh, Ngài công minh khi xét xử, Ngài thấu suốt tâm can từng gang tấc, con thấy Ngài trị tội chúng thật là đích đáng, vì con đã giãi bày cơ sự cùng Ngài.

ĐÁP CA : Tv 7

Đ. Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con ẩn náu bên Ngài. (c 2a)

2 Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con ẩn náu bên Ngài. Xin cứu vớt và giải thoát con khỏi tay mọi người đang đuổi bắt, 3 kẻo họ vồ lấy con, xé nát như sư tử, mà không người giải thoát.

9 Xin Chúa xử cho con, vì con công chính và vô tội. 10 Lạy Thiên Chúa công minh, Chúa dò thấu lòng dạ con người, xin làm cho bọn ác nhân hết đường tác hại và cho người công chính được vững vàng.

11 Khiên mộc che chở tôi là Thiên Chúa, Đấng cứu độ những ai có lòng ngay thẳng. 12 Thiên Chúa là thẩm phán công minh, ngày ngày Chúa đe doạ.

TUNG HÔ TIN MỪNG : x Lc 8,15

Hạnh phúc thay người thành tâm thiện chí, hằng ấp ủ Lời Chúa trong lòng, nhờ kiên nhẫn mà sinh hoa kết quả.

TIN MỪNG : Ga 7,40-53

40 Khi ấy, Đức Giê-su giảng dạy tại đền thờ Giê-ru-sa-lem. Trong dân chúng, có những người nghe các lời ấy thì nói: "Ông này thật là vị ngôn sứ."41 Kẻ khác rằng: "Ông này là Đấng Ki-tô." Nhưng có kẻ lại nói: "Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao?42 Nào Kinh Thánh đã chẳng nói: Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít và từ Bê-lem, làng của vua Đa-vít sao? "43 Vậy, vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ.44 Một số trong bọn họ muốn bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt.

45 Các vệ binh trở về với các thượng tế và người Pha-ri-sêu. Họ liền hỏi chúng: "Tại sao các anh không điệu ông ấy về đây? "46 Các vệ binh trả lời: "Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy! "47 Người Pha-ri-sêu liền nói với chúng: "Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao?48 Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu?49 Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa! "50 Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, trước đây đã đến gặp Đức Giê-su; ông nói với họ:51 "Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không? "52 Họ đáp: "Cả ông nữa, ông cũng là người Ga-li-lê sao? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy: không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả."53 Sau đó, ai nấy trở về nhà mình.


HÃY ĐẾN MÀ XEM !

Có hai tiêu chuẩn để đánh giá một đối tượng :

    • Nhìn bề ngoài.
    • Xem bên trong.

Giới hạn khả năng tự nhiên của con người thường chỉ nhìn bề ngoài mà đánh giá một đối tượng, thì rất là nguy hiểm. Đan cử : ngày nay bao nhiêu người ra chợ mua trái cây, ai cũng xúm vào quầy trái cây trông rất hấp dẫn, nhiều khi giá còn rẻ, nên khuyến khích móc tiền mua về ăn, ăn rồi vội vàng nhập viện cấp cứu. Sau khi được Hội Đồng Y Khoa xét nghiệm mới biết là bị ngộ độc vì thực phẩm. Lúc đó mới ngộ ra trái cây trông hấp dẫn vì được tẩm hóa chất, cho nên bề ngoài ai cũng thích, nhưng bên trong nó là độc dược.

Như thế, để biết thực sự giá trị về một đối tượng, ta cần phải lắng nghe người chuyên môn trong ngành nói cho biết. Cũng thế, nhiều người chưa gặp Đức Giê-su để đối thoại, họ chỉ nhìn bề ngoài mà đánh giá thì khác với lúc họ gặp được Ngài. Cụ thể :

Ông Nathanael nghe ông Philip nói về Đấng Mêsia mà ông đã gặp, tên là Giêsu người Nazareth, thì ông Nathanael nói ngay : “Tự Nazareth thì có thể nảy ra gì tốt được ?” (Ga 1,46).

Nhưng khi ông đến gặp Đức Giê-su mới nghe Ngài nói một câu, ông thưa lại ngay : “Thưa Thầy, Thầy là Con Thiên Chúa là Vua Israel” (Ga 1,49).

Cũng thế, ông Nicôđêmô sau khi đàm thoại với Đức Giê-su suốt một đêm, xem ra ông chưa hiểu giáo lý của Ngài (x Ga 3), nhưng trong phiên họp thượng hội đồng Do-thái, ai cũng nặng lời kết án Đức Giê-su, thì ông lên tiếng bênh vực : “Lề luật của chúng ta có cho phép kết án ai trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì hay không ?” (Ga 7,51).

Một phụ nữ người xứ Samari, khi mới gặp Đức Giê-su chị tỏ ra ngại ngùng không muốn nói chuyện với người đàn ông xa lạ vẫn đi lễ ở Giê-ru-sa-lem, khác với chị thì Chúa phải ở đền thờ Garizim. Vả lại người Samari vẫn bị người Do-thái kết án là lạc đạo, hai dân tộc này đã có mối thù truyền kiếp từ thời sau lưu đày Babylon, bởi lẽ người Samari không muốn cho người Do-thái về xây Đền Thờ ở Giê-ru-sa-lem, còn người Do-thái đã có lần đến đập phá Đền Thờ của người Samari ở Garizim. Thế mà người phụ nữ này được Đức Giê-su nhẫn nại nói chuyện với chị về nước hằng sống mà Ngài sẽ ban cho những ai tin theo Ngài, và ngay sau đó chị đã trở thành ngôn sứ đầu tiên trong Tin Mừng Gioan đi loan báo Đấng Mêsia chị đã gặp cho toàn thành Samari,và mọi người trong thành khi gặp Đức Giê-su họ tin ngay Ngài là Đấng Mêsia, không phải vì lời chị kia nói, mà do chính Đức Giê-su nói với họ (x Ga 4).

Bọn thủ hạ của nhóm đầu mục Do-thái sai đi bắt Đức Giê-su. Nhưng những kẻ được sai đến trở về tay không và nói : "Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy! " (Ga 7,46 : Tin Mừng).

Như vậy bất cứ ai đến gặp Đức Giê-su, dù ý ngay lành hay ý xấu đều được Ngài làm cho họ nhận ra chân lý và hết sức thán phục Ngài, trái lại biết bao nhiêu người trí thức trong dân Do-thái chỉ nhìn Đức Giê-su bề ngoài để khinh dể, để kết án, bởi lẽ họ chỉ biết Đức Giê-su là con ông Giuse, họ tưởng ông Giuse là cha đẻ (x Lc 4,22), làm nghề thợ mộc (x Mt 13,54), họ đâu có biết ông Giuse chỉ là Đấng Bảo Trợ, Cha thật của Ngài ở trên trời, như Ngài đã nói : “Ai thấy tôi là thấy Cha tôi” (Ga 14,9) ; “Tôi và Cha tôi là một” (Ga 10,30).

Chính vì những người chỉ biết Đức Giê-su bề ngoài, đã biến tâm hồn họ thành gian ác, tìm cách giết Đức Giê-su. Như thế Đức Giê-su đã trở nên ứng nghiệm đời sống chứng tá của ngôn sứ Giêrêmia : bị mọi người đòi lấy mạng cũng chỉ vì họ nhìn bề ngoài mà kết án ông là kẻ đến quấy rối, đến làm nhụt ý chí phấn đấu của dân tộc đang đương đầu với đế quốc Babylon. Họ nói : “Cây đương sức, nào ta chặt nó đi, loại nó ra khỏi đất dành cho kẻ sống, để không còn ai nhớ đến tên tuổi nó nữa!” (Gr 11,19b : Bài đọc). Ngôn sứ Giêrêmia thấy mình dồn vào ngõ cụt, nên ông thưa với Chúa : “Lạy Đức Chúa các đạo binh, Ngài công minh khi xét xử, Ngài thấu suốt tâm can từng gang tấc, con thấy Ngài trị tội chúng thật là đích đáng, vì con đã giãi bày cơ sự cùng Ngài” (Gr 11,20 : Bài đọc).

Chắc chắn tâm tư này phản ánh tâm tư của Đức Giê-su trước giờ bị bắt, lúc Ngài vào vườn Ghetsêmani để cầu nguyện với Chúa Cha. Ta hãy bắt chước Đức Giê-su, Ngài đã đến với Cha để được ơn nâng đỡ, thì ta hãy đến với Chúa Giê-su để được Ngài chia sẻ sự nâng đỡ này, như Ngài nói :  Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28), vì “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con ẩn náu bên Ngài, xin cứu vớt và giải thoát con khỏi tay mọi người đang đuổi bắt, kẻo họ vồ lấy con, xé nát như sư tử, mà không người giải thoát” (Tv 7,2-3 : Đáp ca).

Đại tướng Lew Wallace, một đảng viên cao cấp của đảng cộng sản vô thần. Lần kia ông nói với người bạn của ông rằng : “Bọn Công giáo thật ngu đần, chúng tôn thờ một tử tội bị treo trên thập giá là ông Giê-su! Chúng lại mê đọc sách của bọn vô học thức là Nhóm 12 môn đệ của ông Giê-su (x Cv 4,13). Sách này toàn là chuyện mê tín, trái khoa học ! Tôi sẽ để ra 5 năm đọc sách ấy, và tôi quyết mở mắt cho bọn Công giáo khỏi bị mù quáng, để chúng được sáng suốt như tôi !” Thế nhưng, sau 5 năm nghiên cứu Thánh Kinh, kết quả ngược lại, thay vì ông mở mắt cho người Công giáo, thì chính ông lại được Chúa mở mắt cho,ông nhìn thấy lúc Chúa bị đâm, nước và máu từ cạnh sườn dốc ra hết, lúc ấy một trận mưa rào trút nước, chuyển tải máu Đức Giê-su từ đỉnh đồi Sọ chảy xuống thung lũng có những người cùi ra tắm mưa, ai đằm mình trong nước đó đều được lành mạnh. Chuyện này đã được đóng thành phim có tựa đề “Benhur” rất nổi tiếng! Ông Lew Wallace trở thành chứng nhân cho Đức Giê-su : chỉ có Ngài mới thực là Đấng cứu độ !

Đây cũng là chứng từ một người có ý xấu đi tìm ý Chúa để phản đối, thì lại được Chúa hoán cải nên chứng nhân sống động cho Tin Mừng.

THUỘC LÒNG

Lề Luật của chúng ta không cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì (Ga 7,51). Vậy hãy đến mà xem (Ga 1,46)


o0o

THỨ SÁU SAU CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY

Kn 2,1a.12-22 ; Ga 7,1-2.10.25-30

BÀI ĐỌC : Kn 2,1a.12-22

1a Quân vô đạo suy tính sai lầm, chúng bảo nhau : 12 “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo. 13 Nó tự hào là mình biết Thiên Chúa, xưng mình là con của Đức Chúa. 14 Nó như kẻ luôn chê trách tâm tưởng của ta, thấy mặt nó thôi là ta chịu không nổi. 15 Vì nó sống thật chẳng giống ai, lối cư xử của nó hoàn toàn lập dị. 16 Nó coi ta như bọn lọc lừa, tránh đường ta đi như tránh đồ dơ bẩn. Nó tuyên bố rằng thật lắm phúc nhiều may, hậu vận của người công chính. Nó huênh hoang vì có Thiên Chúa là Cha.17 Ta hãy coi những lời nó nói có thật không, và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào. 18 Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. 19 Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó,để biết nó hiền hoà làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào. 20 Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm." Sai lầm của phường vô đạo 21 Chúng suy tính như vậy thật sai lầm, vì ác độc mà chúng ra mù quáng. 22 Chúng không biết những bí nhiệm của Thiên Chúa, chẳng trông chờ người thánh thiện sẽ được thưởng công, cũng không tin kẻ tinh tuyền sẽ được ân thưởng.

ĐÁP CA : Tv 33

Đ. Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ. (c 19a)

17 Chúa đối đầu với quân gian ác, xoá nhoà tên tuổi chúng trên đời, 16 nhưng để mắt nhìn người chính trực và lắng tai nghe tiếng họ kêu. 18 Họ kêu xin, và Chúa đã nhận lời, giải thoát khỏi mọi cơn nguy khốn.

19 Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm thần thất vọng ê chề. 20 Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi.

21 Xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn, dầu một khúc cũng không giập gãy.23 Chúa cứu mạng các người tôi tớ,ai ẩn thân bên Chúa không bị phạt bao giờ.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Mt 4,4b

Người  ta sống không chỉ nhờ cơm bánh,nhưng còn nhờ mọi Lời miệng Thiên Chúa phán ra.

TIN MỪNG : Ga 7,1-2.10.25-30

1 Bấy giờ, Đức Giê-su thường đi lại trong miền Ga-li-lê; thật vậy, Người không muốn đi lại trong miền Giu-đê, vì người Do-thái tìm giết Người.2 Lễ Lều của người Do-thái gần tới. 10 Tuy nhiên, khi anh em Người đã lên dự lễ, thì chính Người cũng lên, nhưng không công khai và hầu như bí mật. 25 Bấy giờ có những người ở Giê-ru-sa-lem nói: "Ông này không phải là người họ đang tìm giết đó sao?26 Kìa, ông ta ăn nói công khai mà họ chẳng bảo gì cả. Phải chăng các nhà hữu trách đã thực sự nhìn nhận ông là Đấng Ki-tô?27 Ông ấy, chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi; còn Đấng Ki-tô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu cả."28 Lúc giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su nói lớn tiếng rằng: "Các ông biết tôi ư? Các ông biết tôi xuất thân từ đâu ư? Tôi đâu có tự mình mà đến. Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật. Các ông, các ông không biết Người.29 Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi." 30 Bấy giờ họ tìm cách bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ của Người chưa đến.

SỰ THẬT DỄ MẤT LÒNG !

Ai không biết thực hư ra sao mà dám nói, đó là kẻ xạo ! Trái lại, ai biết sự thật là điều có lợi cho mọi người mà im lặng, đó là kẻ ác ! Ví dụ : Tôi không biết gì về chiến trường giữa Việt-Mỹ mà tôi nổi hứng nói : “12 giờ trưa ngày mai Mỹ sẽ bỏ bom nguyên tử xuống thành phố Saigon”, tôi là tên xạo, làm nhiều người tưởng thật phải chạy trốn, gây mất an ninh trật tự ! Trái lại, tôi biết chắc 12 giờ đêm ngày mai Mỹ bỏ bom nguyên tử giữa thủ đô Saigon, nhưng tôi sợ tiết lộ bí mật là tôi bị thủ tiêu, nên phải im lặng chạy trốn một mình, để mọi người phải chết, tôi là kẻ ác ! Chỉ khi tôi can đảm nói sự thật, một sự thật có lợi cho mọi người mà tôi chấp nhận chết, tôi mới là một vĩ nhân, là đấng thánh. Đức Giê-su dám nói, dám làm sự thật, đem lại sự sống dồi dào cho mọi người, Ngài biết trước vì sự thật Ngài công bố người ta sẽ tìm cách giết Ngài, để mọi người nhận biết Ngài thật là Thiên Chúa vĩ đại, thật là Đấng Thánh, thật là Tình Yêu.

Đúng thế, ta đọc Tin Mừng Gioan trong hai chương 5 và 6, ta thấy Đức Giê-su nói và làm những điều minh chứng Ngài đem sự sống đến cho loài người, vì Ngài là Thiên Chúa yêu thương, thì từ bấy giờ lòng thù ghét nơi những người Do-thái càng ngày càng gia tăng :

1/ Ngòi châm sự thù ghét Đức Giê-su khởi đi từ việc Ngài chữa lành cho người bất toại ở hồ Bêthesda vào ngày thứ bảy, dân chúng nhất là những đầu mục Do-thái kịch liệt phản đối Ngài, kết án Ngài đã vi phạm Luật nghỉ của ngày sabat mà ông Mô-sê đã ban hành. Đây là Luật Thánh, người ta phải cẩn thủ giữ đến nỗi ngày sabat không ai được ra khỏi nhà, thế mà Đức Giê-su dám bảo người bất toại vác chõng mà về. Đức Giê-su thấy mọi người chống đối Ngài, thì Ngài lên tiếng giải thích : ngày thứ bảy các ông có con bò sa xuống hố, các ông vẫn được phép kéo nó lên, hoặc phải cắt bì cho ai muốn gia nhập quốc tịch Do-thái mà không bị kết án là lỗi luật ngày sabat. Nhất là Ngài mạc khải cho họ biết Ngài với Chúa Cha là một, Ngài làm việc của Cha Ngài làm, trong khi họ chỉ biết Ngài là người quê Nazareth, do đó họ kết án Ngài nói phạm thượng, phải ném đá cho chết. Ngài chấp nhận bản án này, bởi vì khi chúng giết Ngài, Ngài trở thành Của Lễ mới dâng lên Chúa Cha ưa thích, thay thế cho lễ tế chiên cừu bò lừa người Do-thái vẫn dâng. Mà sứ mệnh chính của Đức Giê-su vào đời là canh tân và làm hoàn hảo Phụng Vụ Do-thái, hầu những ai tin và tham dự thì được cứu độ (x Ga 5).

2/ Cao điểm Phụng Vụ Đức Giê-su thiết lập chính là Bí tích Thánh Thể, đây là nguồn sống tối ư quan trọng, trở thành duy nhất cho những ai muốn được sống đời đời. Để chứng minh chân lý này, Đức Giê-su đã vất vả giảng một bài dài nhất trong các bài giảng của Ngài, để bằng mọi cách thuyết phục mọi người : ăn Thịt, Máu Ngài là ăn lương thực không bao giờ hư nát, một của ăn làm cho thân xác người ta dù chết cách nào cũng được vinh hiển với Ngài. Nhưng tiếc thay, dân chúng nghe bài giảng này, họ quyết liệt phản đối, chê bai Ngài ăn nói thiếu văn hóa, nghe chói tai không ai chịu nổi. Thế là toàn dân dù đã lũ lượt theo Ngài ba ngày để được ăn no, trong số đó có cả nhiều môn đệ đã từng theo Ngài, tất cả đều quay gót ra đi ! Chỉ còn lại Nhóm Mười Hai, nhưng trong Nhóm này lại có một kẻ là quỷ sứ (Giuda), hắn ở lại không phải vì tin yêu Thầy Giêsu, nhưng để tìm dịp thuận tiện nộp Thầy cho kẻ chống đối giết đi (x Ga 6).

3/ Sang chương 7, thánh sử Gioan cho thấy những kẻ đã bỏ Đức Giê-su ra đi, họ bắt đầu chia rẽ nhau, người thì ngăn cản, kẻ thì động viên phải diệt được Giêsu ! Thậm chí cả đến những người thân yêu của Ngài cũng không tin vào Ngài nữa (x Ga 7,5). Vì thế họ đã kết án Ngài là kẻ điên khùng (x Mc 3,21). Bởi đó, trong dịp lễ Lều Trại, một số người còn ham danh thì động viên Đức Giê-su phải lên Giê-ru-sa-lem làm những việc lẫy lừng, tỏ uy quyền cho họ được thơm lây, nhưng Ngài không ủng hộ chương trình ấy, Ngài nói với họ : “Tôi không đi”, nghĩa là không đi để tỏ vinh quang như họ muốn, mà Ngài đi lên Giê-ru-sa-lem cách chùng lén không muốn khiêu khích ai, miễn là Ngài lọt vào trong Đền Thờ để lớn tiếng công khai giảng dạy cho mọi người, cũng chỉ vì một mục đích : cố gắng thuyết phục những kẻ chống đối hãy tin vào Ngài để khỏi bị tiêu diệt ! Dù Đức Giê-su biết lúc ấy các đối thủ gia tăng quyền lực để bắt Ngài mà giết đi, nhưng chưa đến giờ Ngài cho phép, thì chúng không thể ra tay (x Ga 7,1-30 : Tin Mừng).

Khi Đức Giê-su cho phép kẻ ác tra tay trên Ngài, vì Ngài làm ứng nghiệm Lời Kinh Thánh đã nói về số phận của Ngài, để hy vọng người ta nhận ta Ngài là Thiên Chúa đến cứu độ loài người:

Ta hãy gài bẫy hại tên công chính,vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm,trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo. Nó tự hào là mình biết Thiên Chúa,xưng mình là con của Đức Chúa. Vì nó sống thật chẳng giống ai, lối cư xử của nó hoàn toàn lập dị. . Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hoà làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào. Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm." Sai lầm của phường vô đạo” (Kn 2,12-13.15.18-20 : Bài đọc).

Quả thật, tác giả sách Khôn ngoan đã diễn tả cách sống đạo của Đức Giê-su như một kẻ điên khùng : Chết vì chân lý. Đó là dấu ấn chắc chắn cho giá trị Lời Ngài nói, việc Ngài làm đem lại sự sống cho loài người.Đây là một nguồn sống duy nhất, phong phú, người ta không thể tìm được nơi đâu ngoài Chúa Giê-su Phục Sinh. Thánh Gioan nói : “Ai nói mình ở lại trong Chúa, thì phải đi trên con đường Đức Giê-su đã đi” (1Ga 2,6), có nghĩa là sống một lối sống mà thế gian cho là lập dị. Đúng như lời triết gia Kierkegaad nói : “Làm một Ki-tô hữu mà không có chút điên khùng thì không phải là Ki-tô hữu chính danh”. Phải sống đạo “điên khùng” như Đức Giê-su, mà những kẻ chủ mưu giết Ngài đã nói tiên tri : “Thà giết người này (Đức Giê-su) để cho mọi người được sống, chẳng thà mọi người phải chết” (Ga 11,50).

Khi ta phải đối đầu với những kẻ gian ác, để được thêm nghị lực ta chỉ có cách nhìn lên Đức Giê-su thập giá mà cầu xin : “Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm thần thất vọng ê chề. Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi. Xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn, dầu một khúc cũng không giập gãy.Chúa cứu mạng các người tôi tớ,ai ẩn thân bên Chúa không bị phạt bao giờ” (Tv 34/33,19-23 : Đáp ca).

Trong một xứ đạo kia, có thằng Tèo bản tính thích chọc ghẹo người khác lấy làm đắc thắng. Lần kia, nó thấy một bà đi chợ về ngang qua Nhà Thờ, bà có thói quen ghé vào viếng Chúa và cầu khẩn trước tượng Đức Mẹ. Tèo thấy bà chăm chú cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ, nó cũng rón rén bước vào đứng đằng sau mà bà không hay biết, đang lúc bà lẩm bẩm cầu xin khấn vái. Tèo lớn tiếng gọi giật :

    • Bà kìa, bà kìa, nhìn đi, Đức Mẹ đang cười với bà đó. Đó, đó…

    Bà kia quay lại hỏi :

    • Đâu cậu ?
    • Đó đó, bà nhìn kìa, Đức Mẹ đang cười đó, ô bà thật là người có phúc.

    Bà kia gật đầu :

    • Ờ ờ, đúng rồi, đúng rồi, con cám ơn Mẹ.

Thế là bà chạy về loan báo tin vui ấy cho cả xứ biết, mọi người ùn ùn kéo nhau đến Nhà Thờ để được chứng kiến phép lạ ! Cha Sở thấy người ta kéo đến Nhà Thờ quá đông, ngài tìm hiểu, và biết được chính thằng Tèo loan báo tin đó đầu tiên. Ngài gọi Tèo đến và tra hỏi :

    • Con thấy Đức Mẹ cười trước hay bà kia ?
    • Thưa, cả hai người cùng thấy.

    Cha Sở cho gọi người đàn bà đó vào và hỏi :

    • Bà thấy phép lạ trước hay thằng Tèo ?
    • Dạ thưa cha, thằng Tèo thấy trước nó bảo con.

Thế là cha Sở hiểu ngay rằng thằng Tèo vẫn bày trò chọc ghẹo người ta, nên ngài nói với Tèo :

    • Bây giờ con theo cha ra Nhà Thờ, cha để cuốn Sách Thánh trên bàn thờ, trước mặt Chúa có cha chứng kiến, con phải đặt tay trên Sách Thánh thề điều con đã chứng kiến là sự thật. Nếu con thề gian, Chúa sẽ phạt con chết gục ngay dưới bàn thờ !

    Tèo phải theo cha Sở ra Nhà Thờ, sau khi ngài mặc áo các Phép, đặt cuốn Sách Thánh lên bàn thờ và đốt nến đặt hai bên, rồi ngài nói :

    • Bây giờ con đặt tay lên và thề.

Tèo tái mặt lại và thưa :

    • Dạ con xin lỗi cha Sở, con nói xạo để chọc bà cụ đó thôi !

    Rõ ràng kẻ sợ chết là đứa nói láo !

THUỘC LÒNG

Thà một người phải chết để cho mọi người được sống, chẳng thà mọi người phải chết (Ga 11,50).

o0o


THỨ NĂM SAU CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY

Xh 32,7-14 ; Ga 5,31-47

BÀI ĐỌC : Xh 32,7-14

7 Ngày ấy, Đức Chúa phán với ông Mô-sê: "Hãy đi xuống, vì dân ngươi đã hư hỏng rồi, dân mà ngươi đã đưa lên từ đất Ai-cập.8 Chúng đã vội đi ra ngoài con đường Ta truyền cho chúng đi. Chúng đã đúc một con bê, rồi sụp xuống lạy nó, tế nó và nói: "Hỡi Ít-ra-en, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập."9 Đức Chúa lại phán với ông Mô-sê: "Ta đã thấy dân này rồi, đó là một dân cứng đầu cứng cổ.10 Bây giờ cứ để mặc Ta, cứ để cơn thịnh nộ của Ta bừng lên phạt chúng, và Ta sẽ tiêu diệt chúng. Nhưng Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn."

11 Ông Mô-sê cố làm cho nét mặt Đức Chúa, Thiên Chúa của ông, dịu lại. Ông thưa: "Lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại bừng bừng nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra khỏi đất Ai-cập?12 Tại sao người Ai-cập lại có thể rêu rao: Chính vì ác tâm mà Người đã đưa chúng ra, để giết chúng trong miền núi và tiêu diệt chúng khỏi mặt đất? Xin Ngài nguôi cơn thịnh nộ và xin Ngài thương đừng hại dân Ngài.13 Xin Ngài nhớ đến các tôi tớ Ngài là Áp-ra-ham, I-xa-ác và Ít-ra-en; Ngài đã lấy chính danh Ngài mà thề với các vị ấy rằng: Ta sẽ làm cho dòng dõi các ngươi đông đúc như sao trên trời, và sẽ ban cho dòng dõi các ngươi tất cả miền đất ấy, là miền đất Ta đã hứa; chúng sẽ được thừa hưởng miền đất ấy đến muôn đời."14 Đức Chúa đã thương, không giáng phạt dân Người như Người đã đe.

ĐÁP CA : Tv 105

Đ. Lạy Chúa, xin Ngài nhớ đến con, bởi lòng thương dân Ngài. (c 4a)

19 Tại Khô-rếp, họ đúc một con bê, rồi phủ phục tôn thờ tượng đó. 20 Họ đổi Chúa vinh quang lấy hình bò ăn cỏ.

21 Họ quên Thiên Chúa là Vị Cứu Tinh từng làm việc lớn lao bên miền Ai-cập, 22 việc diệu kỳ trong cõi đất Kham,việc khiếp kinh giữa lòng Biển Đỏ.

23 Chúa tính chuyện sẽ tiêu diệt họ, nếu người Chúa chọn là Mô-sê chẳng đem thân cản lối, ở ngay trước mặt Người, hầu ngăn cơn thịnh nộ, kẻo Chúa diệt trừ dân.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Ga 3,16

Thiên Chúa yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì được sống muôn đời.

TIN MỪNG : Ga 5,31-47

31 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái : “Nếu tôi làm chứng về chính mình, thì lời chứng của tôi không thật.32 Có Đấng khác làm chứng về tôi, và tôi biết: lời Người làm chứng về tôi là lời chứng thật.33 Chính các ông đã cử người đến gặp ông Gio-an, và ông ấy đã làm chứng cho sự thật.34 Phần tôi, tôi không cần lời chứng của một phàm nhân, nhưng tôi nói ra những điều này để các ông được cứu độ.35 Ông Gio-an là ngọn đèn cháy sáng, và các ông đã muốn vui hưởng ánh sáng của ông trong một thời gian.36 Nhưng phần tôi, tôi có một lời chứng lớn hơn lời chứng của ông Gio-an: đó là những việc Chúa Cha đã giao cho tôi để tôi hoàn thành; chính những việc tôi làm đó làm chứng cho tôi rằng Chúa Cha đã sai tôi.37 Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, chính Người cũng đã làm chứng cho tôi. Các ông đã không bao giờ nghe tiếng Người, cũng chẳng bao giờ thấy tôn nhan Người.38 Các ông đã không để cho lời Người ở mãi trong lòng, bởi vì chính các ông không tin vào Đấng Người đã sai đến.39 Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời. Mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về tôi.40 Các ông không muốn đến cùng tôi để được sự sống.

41 “Tôi không cần người đời tôn vinh.42 Nhưng tôi biết: các ông không có lòng yêu mến Thiên Chúa.43 Tôi đã đến nhân danh Cha tôi, nhưng các ông không đón nhận. Nếu có ai khác nhân danh mình mà đến, thì các ông lại đón nhận.44 Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?

45 “Các ông đừng tưởng là tôi sẽ tố cáo các ông với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ông chính là ông Mô-sê, người mà các ông tin cậy.46 Vì nếu các ông tin ông Mô-sê, thì hẳn các ông cũng tin tôi, bởi lẽ ông ấy đã viết về tôi.47 Nhưng nếu điều ông ấy viết mà các ông không tin, thì làm sao tin được lời tôi nói?”

CHÚA GIÊSU LÀ

ĐƯỜNG SỰ THẬT ĐẾN SỰ SỐNG

Đức Giê-su nói : “Ta là đường và là sự thật, sự sống” (Ga 14,6).

Ta lưu ý chữ “và” trong câu này không đặt trước “sự sống” mà phải đặt trước “sự thật”. bởi vì nếu chữ “và” đặt trước sự sống, thì đó là một liên từ báo trước chấm dứt một câu văn. Nhưng trong ngôn ngữ Hy-lạp, chữ “và” dùng nhấn mạnh về một điều quan trọng. Thí dụ : Ba Ngôi Thiên Chúa quan trọng bằng nhau, nên phải đọc “nhân Cha và Con và Thánh Thần” (hai chữ “và”), thế thì chữ “và” trong Ga 14,6 có ý nhấn mạnh rằng : Con đường thì không có gì quan trọng, bởi vì có con đường đưa đến sự chết : đi đường tội lỗi ; có con đường dẫn đến sự sống : đi đường công chính. Bởi thế, Đức Giê-su xác tín cho chúng ta rằng : Ngài là con đường, con đường này quan trọng vì là đường sự thật dẫn đến sự sống.

Đức Giê-su đã nói với người Do-thái về sự thật : “Ai thấy Ta là thấy Cha Ta” (Ga 14,9) ; “Ta và Cha Ta là một” (Ga 10,30). Sự thật này đem lại sự sống cho loài người, thế mà người Do-thái uất ức về sự thật Đức Giê-su xác nhận Ngài là Thiên Chúa, nên họ tìm cách giết Ngài (x Ga 5,18).Vì thế Đức Giê-su phải lên tiếng chứng minh về sự thật này, Ngài không cần ai phải đứng ra minh chứng cho giá trị Lời Ngài đã tuyên bố (x Ga 5,34 : Tin Mừng), kể cả ông Gioan được mọi người tín nhiệm đến nỗi có người tưởng ông là Đấng thiên sai (Mêsia) mà Thiên Chúa đã hứa trước, nay đến để giải phóng dân thoát nô lệ đế quốc Roma (x Ga 1,20-25). Đức Giê-su nói cho họ biết : “Ông Gioan chỉ là ngọn đèn cháy sáng, các ông đã muốn vui hưởng ánh sáng nơi ông trong một thời gian” (Ga 5,35 : Tin Mừng). Như thế ông Gioan thua xa Đức Giê-su, vì “Đức Giê-su Mặt Trời Công Chính soi vào thế gian” (x Lc 1,78). Bởi thế Đức Giê-su không cần dựa vào lời chứng của ông Gioan, mà Ngài dựa vào ba chứng vô cùng xác thực.

1- DỰA VÀO VIỆC NGÀI LÀM.

Đức Giê-su nói : “Việc Chúa Cha đã giao cho tôi để tôi hoàn thành, chính những việc tôi làm đó làm chứng cho tôi là Chúa Cha sai tôi” (Ga 5,36 : Tin Mừng).

Và Đức Giê-su cũng đã xác định : “Sự khôn ngoan được biện chính nơi công việc mình làm” (Mt 11,19b).

2- DỰA VÀO CHÚA CHA.

Đức Giê-su nói : “Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, chính Người cũng đã làm chứng cho tôi. Các ông đã không bao giờ nghe tiếng Người, cũng chẳng bao giờ thấy tôn nhan Người. Các ông đã không để cho Lời Người ở mãi trong lòng, bởi vì chính các ông không tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 5,37-38 : Tin Mừng).

Đức Giê-su nại vào thân thế của Chúa Cha để làm chứng cho Ngài, đây là lời thề dựa vào Thiên Chúa theo Luật Mô-sê là một điều rất quan trọng, cho nên phải là xác thực, và buộc mọi lời thề đã dựa vào Thiên Chúa thì phải thực hành đúng như thế (x Mt 5,33).

3- DỰA VÀO KINH THÁNH.

Đức Giê-su nói : “Các ông nghiên cứu Thánh Kinh vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời. Mà chính Thánh Kinh lại làm chứng về tôi” (Ga 5,39 : Tin Mừng).

Đối với người Do-thái, hoặc là người ta dựa vào Thiên Chúa để chứng minh một sự thật, hoặc là người ta dựa vào Thánh Kinh để xác quyết, để diễn giải giá trị của lời chứng. Đan cử : Ông phú hộ xin Abraham cho Laradô hiện về báo cho năm anh em trong gia đình đừng bắt chước lối sống của ông kẻo phải khốn, thì ông Abraham trả lời : “Chúng đã có Mô-sê và các ngôn sứ” (Lc 16,29). Đức Giê-su khi minh chứng về sự Phục Sinh của Ngài, Ngài cũng dựa vào Thánh Kinh để cắt nghĩa cho các môn đệ đang u sầu thất vọng vì Thầy Giêsu đã chết (x Lc 24,25).

Sau khi Đức Giê-su dựa vào ba chứng lý xác thực trên để minh chứng Ngài thực là Thiên Chúa từ Cha trên trời gởi đến để cứu muôn dân, mà ai không tin thì tự lên án mình, vậy Đức Giê-su kết luận về những kẻ chống đối Ngài :

a/ Kẻ không tin vào tôi vì nó cần sự đời này hơn là cần Thiên Chúa : Đức Giê-su nói : “Tôi biết: các ông không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Tôi đã đến nhân danh Cha tôi, nhưng các ông không đón nhận. Nếu có ai khác nhân danh mình mà đến, thì các ông lại đón nhận.Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?” (Ga 5,42-44 : Tin Mừng).

Tội ấy đã di căn từ thời tổ tiên dân Do-thái. Thực vậy, cha ông họ đã chứng kiến Thiên Chúa dùng ông Mô-sê làm bao nhiêu việc lạ lùng chưa từng có trên đời, để đưa dân tộc họ thoát nô lệ Ai-cập, thế mà chúng đã ra mù quáng, tưởng sự lạ lùng ấy là do “thần bò vàng” dẫn đưa họ ! Vì họ tin như thế, nên cần có vàng bạc châu ngọc là họ được hạnh phúc. Đó là lý do họ bỏ Thiên Chúa, dùng vàng đúc tượng bò để thờ ! (x Xh 32,8 : Bài đọc). Rõ ràng kẻ bỏ Thiên Chúa thì ngu hơn bò !

b/ Người Do-thái vô phương cứu mình : Đức Giê-su nói : “Các ông đừng tưởng là tôi sẽ tố cáo các ông với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ông chính là ông Mô-sê, người mà các ông tin cậy. Vì nếu các ông tin ông Mô-sê, thì hẳn các ông cũng tin tôi, bởi lẽ ông ấy đã viết về tôi” (Ga 5,45-46 : Tin Mừng).

Xưa kia người Do-thái bỏ Chúa mà thờ bò vàng còn được ông Mô-sê bầu cử trước mặt Chúa, ông thưa : “Lạy Chúa, xin nhớ lại Lời Chúa đã hứa với tổ phụ chúng con : là cho dòng dõi chúng con đông như sao trời như cát biển. Nếu Chúa diệt dân vì tội họ, thì bọn Ai-cập cười chê, đắc thắng mà nói : thần của chúng đã dụ chúng vào sa mạc để giết. Xin vì danh dự của Ngài, mà nguôi cơn thịnh nộ. Nhờ có ông Mô-sê cầu nguyện như thế nên Chúa đã tha phạt dân” (Xh 32,11-14 : Bài đọc).

Vậy xưa dân Do-thái phạm tội còn được ông Mô-sê cần khẩn cho ; trái lại ngày nay, ai không tin vào Con Một Thiên Chúa sai đến, mà lại xin ông Mô-sê bầu cử, thì ông Mô-sê sẽ đứng ra tố tội họ trước mặt Thiên Chúa (x Ga 5,45 : Tin Mừng).

Nhưng Đức Giêsu hơn hẳn ông Mô-sê, vì Ngài đã cầu nguyện cho kẻ ác đã giết Ngài : “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng lầm không biết việc chúng làm” (Lc 23,34), rồi Ngài tiến thẳng vào cung thánh trên trời : “Ví thể neo thần chắc chắn và bền vững của tâm hồn ta, cắm vào tận bên trong bức màn cung thánh. Đó là nơi Đức Giê-su đã vào như người tiền phong mở đường cho chúng ta sau khi trở thành vị Thượng Tế đời đời theo phẩm trật Melkisedek” (Dt 6,19-20). Và Ngài hằng khẩn cầu cho ta trước mặt Chúa Cha (x Dt 7,23-27). Ơn huệ này, Đức Giê-su truyền cho Hội Thánh làm hiện tại hóa Hy Tế mới Hội Thánh dâng mỗi ngày. Nhưng liệu chúng ta có mau mắn đến tham dự, hầu được lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác (x Ga 1,16) do lời cầu khẩn của Đức Giê-su qua Hy Tế Hội Thánh dâng hay không ? Chỉ khi nào ta được hưởng nhờ ơn huệ do lời bầu cử của Chúa Giê-su qua Phụng Vụ, ta mới thưa cùng Ngài : “Lạy Chúa, xin nhớ đến chúng con bởi lòng thương dân Ngài” (Tv 106/105, 4a : Đáp ca).

Thực tế ngày hôm nay, cả những người Công Giáo vẫn chưa có việc làm cụ thể để biểu lộ đức tin tìm đến với Đức Giê-su là nguồn sống dồi dào (x Ga 10,10). Bởi đó họ để hết tâm lực thời giờ đi tìm kiếm những thực tại trong thế gian, vì coi đó là thần hộ mạng, thì họ cũng chẳng khôn hơn người Do-thái thờ bò vàng !

Một tu sĩ hằng cầu nguyện thiết tha đêm ngày với Chúa: “Lạy Chúa, con chỉ ước được nhìn thấy Chúa”, mãi lâu sau Chúa mới chiều ý thầy : Thầy tận mắt nhìn thấy Ngài vô cùng sáng láng vinh hiển, đang lúc thầy ngây ngất chiêm ngưỡng tôn nhan Chúa, Chúa lên tiếng hỏi :

    • Con có muốn theo Cha không ?
    • Dạ nếu được, thì còn gì sung sướng hơn.

    Thầy theo Chúa đi một quãng xa, Ngài nói :

    • Cha khát nước quá, con kiếm đâu được nước ?
    • Dạ con đi ngay.

Sau một ngày thầy đi tìm nước mà chưa thấy dòng suối nào hay dòng sông nào, nhưng thầy vẫn kiên nhẫn, ba ngày sau thầy gặp được một dòng sông nước trong vắt, thầy vui mừng múc nước vào bình để đưa về hầu Chúa. Đang lúc đó, một thiếu nữ rất xinh đẹp trong vùng cùng tới chỗ thầy để lấy nước, thầy bắt chuyện, lát sau cô nàng mời thầy về nhà dùng bữa, thầy quá sung sướng nên ngỏ lời với cha mẹ cô xin cưới cô làm vợ. Ba mươi năm sau, có dịp ông đưa vợ con đi dạo gặp thấy Chúa Giê-su đang ngồi bên vệ đường được thầy chùa cho uống nước, thấy thế ông hối hận đến xin lỗi Chúa. Chúa trả lời :

    • Cha đã chờ con quá lâu, tưởng chết khát, may có người ngoại giáo này giúp Cha. Còn con, con đã kiếm được vợ đẹp hấp dẫn hơn Cha, thì con cứ trung thành với người con yêu cho đến chết !

Nếu thầy đã từng mơ ước được gặp Chúa, dù thầy có gặp được người yêu, sao thầy không đưa cô nàng đến gặp Chúa ngay, cùng với hai bình nước của chàng và nàng, chắc chắn Chúa vui lắm ! Tiếc thay, thầy đã quên Chúa mà chọn cô ấy !

THUỘC LÒNG

Chúa Giêsu nói : “Tôi đã đến nhân danh Cha tôi, nhưng các ông không đón nhận. Nếu có ai khác nhân danh mình mà đến, thì các ông lại đón nhận. Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?” (Ga 5,43-44).



o0o


THỨ TƯ SAU CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY

Is 49,8-15 ; Ga 5,17-30

BÀI ĐỌC : Is 49,8-15

8 Đức Chúa phán thế này: “Ta đã nhận lời ngươi vào thời Ta thi ân, phù trợ ngươi trong ngày Ta cứu độ. Ta đã gìn giữ ngươi, đặt ngươi làm giao ước giữa Ta với dân, để phục hồi xứ sở, để chia lại những gia sản đã bị tàn phá, 9 để nói với người tù: "Hãy đi ra", với những kẻ ngồi trong bóng tối: "Hãy ra ngoài."Như bầy chiên, chúng sẽ được nuôi ăn trên các nẻo đường, sẽ gặp được đồng cỏ trên mọi đồi hoang.10 Chúng sẽ không phải đói phải khát, không bị khí nóng và mặt trời hành hạ, vì Đấng thương xót chúng sẽ hướng dẫn và đưa chúng đến những suối nước tuôn trào. 11 Mọi núi non của Ta, Ta sẽ biến thành đường sá, những con lộ của Ta, Ta sẽ đắp cao. 12 Kìa chúng đang từ xa đến, người từ phía bắc, phía tây, kẻ từ miền đất Xi-nim. 13 Trời hãy hò reo, đất hãy nhảy múa, núi non hãy bật tiếng hò reo,vì Đức Chúa ủi an dân Người đã chọn và chạnh lòng thương những kẻ nghèo khổ của Người. 14 Xi-on từng nói : " Đức Chúa đã bỏ tôi, Chúa Thượng tôi đã quên tôi rồi! " 15 Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ.”

ĐÁP CA : Tv 144

Đ. Chúa là Đấng từ bi nhân hậu. (c 8a)

8 Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. 9 Chúa nhân ái đối với mọi người,tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên.

13cd Chúa thành tín trong mọi lời Chúa phán, đầy yêu thương trong mọi việc Người làm. 14 Ai quỵ ngã, Chúa đều nâng dậy, kẻ bị đè nén, Người cho đứng thẳng lên.

17 Chúa công minh trong mọi đường lối Chúa, đầy yêu thương trong mọi việc Người làm. 18 Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa, mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Ga 11,25a.16a

Chúa nói : Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống ; ai tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết.

TIN MỪNG : Ga 5,17-30

17 Sau khi chữa lành một người bệnh trong ngày sa-bat, Đức Giê-su tuyên bố với người Do-thái rằng : "Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc."18 Bởi vậy, người Do-thái lại càng tìm cách giết Đức Giê-su, vì không những Người phá luật sa-bát, lại còn nói Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa.

19 Đức Giê-su lên tiếng nói với họ rằng: "Thật, tôi bảo thật các ông: người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy.20 Quả thật, Chúa Cha yêu người Con và cho người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn cho người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc.21 Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý.22 Quả thật, Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử,23 để ai nấy đều tôn kính người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con, thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con.24 Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.

25 “Thật, tôi bảo thật các ông: giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa; ai nghe thì sẽ được sống.26 Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy,27 lại ban cho người Con được quyền xét xử, vì người Con là Con Người.28 Các ông chớ ngạc nhiên về điều này, vì giờ đã đến, giờ mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng người Con29 và sẽ ra khỏi đó: ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án.

30 “Tôi không thể tự ý mình làm gì. Tôi xét xử theo như tôi được nghe, và phán quyết của tôi thật công minh, vì tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi.”

CHÚA GIÊSU LÀ NGUỒN SỐNG

Ngôn sứ Isaia đã báo trước về ngày Thiên Chúa thi ân cứu độ, cũng có nghĩa là ngày Đấng Mêsia mà Thiên Chúa đã hứa cho dân được gởi tới chăm sóc loài người, Ngài có sứ mệnh giải phóng con người thoát nô lệ tội lỗi, đặc biệt là thoát nô lệ satan và thần chết, Ngài chăm sóc dân như mục tử chăm sóc đoàn chiên, dẫn đến đồng cỏ xanh tươi và suối nước trong lành, đồi núi Ngài bạt xuống thành con đường phẳng lỳ, để dân Ngài bước đi nhờ ánh sáng cứu độ. Niềm vui này cả đến vật vô tri như núi non cũng bật lên tiếng reo hò, vì Chúa là Đấng an ủi dân Ngài, Ngài chăm sóc ta hơn tất cả tình người mẹ chăm sóc con, dù người mẹ ưu ái chăm sóc đứa con mình cưu mang, nhưng cũng có người mẹ quên con mình, trái lại nơi Thiên Chúa, Ngài không bao giờ quên những ai biết gọi Ngài là Cha (x Is 49,8-15 : Bài đọc).

Đoạn Tin Mừng trong Thánh Lễ hôm nay minh chứng Đức Giê-su đến làm ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia đã loan báo như trên.

1- NGÀI LÀ SỰ SỐNG VÀ LÀ SỰ SỐNG LẠI (x Ga 11,25).

Đức Giê-su nói : “Chúa Cha làm cho kẻ chết sống lại và tác sinh thế nào, thì cũng vậy Con được tác sinh cho ai tùy ý” (Ga 5,21).

Quyền tác sinh này Chúa Giê-su cũng thông ban cho Hội Thánh. Đan cử như ông Phê-rô có quyền rút sự sống nơi vợ chồng Hananya và Saphira gian dối (x Cv 5,1-11) ; đồng thời ông cũng làm cho bà Linh Dương đã chết được sống lại (x Cv 9,36t) ; cả ông Phao-lô nhờ tin tưởng vào việc giảng Lời Chúa làm cho cậu Êutykhô nhào đầu từ lầu ba xuống đất đã chết, vẫn được sống lại mạnh khỏe (x Cv 20,7t).

2- QUYỀN XÉT XỬ.

Đức Giê-su nói : “Chúa Cha không xử án ai, nhưng mọi việc xử án Cha đã ban cho Con” (Ga 5,22).

Chúng ta biết quyền này Đức Giê-su không giáng phạt trên những kẻ tội lỗi,Ngài chỉ ban ơn cho họ có khả năng trở về với Ngài để được sống. Kẻ nào không đón nhận ơn Ngài, thì tự lao mình xuống vực thẳm sự chết (x Hiến Chế Vui Mừng Và Hy Vọng số 17)!

Quyền này Chúa cũng thông ban cho những người Ngài tuyển chọn, như Ngài nói với ông Phê-rô, vị Giáo hoàng tiên khởi : “Thầy trao cho con chìa khóa Nước Trời, sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc, sự gì con tháo cởi dưới đất, trên trời cũng tháo cởi” (Mt 16,19). Đồng thời Ngài cũng ban cho tất cả môn đệ Ngài tuyển chọn. Đan cử : sau khi Đức Giê-su từ cõi chết sống lại, Ngài đến với các môn đệ đang ngồi run trong căn nhà vì sợ người Do-thái, Ngài lên tiếng : “Bình an cho các con”, nói thế rồi Ngài thổi hơi vào các ông và nói : “Chúng con hãy nhận lấy Thánh Thần, chúng con tha tội cho ai thì người đó được tha, chúng con cầm buộc tội ai thì tội người đó bị cầm buộc” (Ga 20,22-23).

3- UY DANH CỦA CHÚA GIÊSU.

Đức Giê-su nói : “Hết thảy mọi người phải tôn kính Người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính Người Con thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai Người Con” (Ga 5,23 : Tin Mừng). Tôn kính Chúa Cha và Chúa Con đồng nghĩa với tùng phục Lời của Cha trên trời mà Chúa Con đã trao ban.

Đức Giê-su cũng đòi buộc mọi người phải nghe lời các môn đệ Ngài giảng dạy. Như Ngài nói : “Ai nghe lời các môn đệ của Ta và hết thảy ai bỏ các môn đệ là bỏ Ta và cũng là bỏ Đấng đã sai Ta” (Lc 10,16).

4- CHỈ CÓ CHÚA CON MỚI BAN NGUỒN SỐNG CHO NHÂN LOẠI.

Đức Giê-su nói : “Ai nghe Lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi thì có sự sống đời đời và khỏi phải đến tòa phán xét, nhưng đã qua cõi chết bước vào cõi sống. Ngay bây giờ kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa, ai nghe thì được sống. Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào thì cũng ban cho Người Con được có sự sống nơi mình như vậy” (Ga 5,24-29 : Tin Mừng).

Như vậy cuộc phán xét thế gian xảy ra ngay khi người ta còn sống trên đời này :

    • Ai nghe Lời Chúa Con và tin vào Đấng đã sai Ngài, thì được tha thứ mọi tội lỗi, có chết cách nào cũng được phục sinh vinh hiển.
    • Ai không nghe Lời Chúa Con và không tin vào Đấng đã sai Ngài, thì không được Ngài chăm sóc mà ai không được Ngài chăm sóc, thì không thể có sự sống thật (x Ga 10,27-28).

Chúng ta biết ai thuộc về Chúa Giêsu thì luôn luôn được Ngài thanh tẩy và ban lương thực không bao giờ hư nát.

a- Chúa Giê-su nguồn ơn thanh tẩy.

Để được Chúa Giê-su thanh tẩy:

    • Ta sám hối tội mình, xin Chúa thương xót giống anh trộm lành (x Lc 23,43)
    • Ta có tấm lòng nghe Lời Chúa như Đức Giê-su đã nói : “Chúng con được sạch nhờ Lời Thầy nói với chúng con” (Ga 15,3). Thực vậy ông Nathanael ngồi dưới gốc cây vả say sưa đọc Lời Chúa, khi ông đến với Đức Giê-su,được Ngài xác nhận ngay : “Đây là người Israel nơi ông không có gì gian dối” (Ga 1,47).
    • Ta làm việc lành diễn tả Đức Ái. Thánh Phê-rô nói : “Đức ái phủ lấp muôn vàn tội lỗi” (1Pr 4,8).
    • Ta lãnh các Bí tích : Bí tích Thánh Tẩy, Bí tích Giao Hòa, Bí tích Xức Dầu, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể.

b- Chúa Giê-su ban lương thực không hư nát. Cụ thể :

    • Sống nhờ đức tin. Thánh Phao-lô nói : “Người công chính nhờ tin vào Chúa sẽ được sống” (Rm 1,17).
    • Sống nhờ Lời Chúa. Đức Giê-su nói : “Người ta sống không nguyên bởi bánh mà bởi mọi Lời miệng Thiên Chúa phán ra” (x Mt 4,4).
    • Sống nhờ ăn Chúa Giê-su Phục Sinh. Đức Giê-su nói : “Ai ăn tôi nó sống nhờ tôi, như tôi sống nhờ Cha tôi” (x Ga 6,57).
    • Sống nhờ thực hành Lời Chúa. Đức Giê-su nói : “Lương thực của tôi là làm theo ý Thiên Chúa sai” (x Ga 4,34).
    • Sống nhờ của cải vật chất không thừa không thiếu (x Cn 30,8-9).

Bốn điều Đức Giê-su mạc khải cho mọi người trên đây được đóng khung trong cơ cấu Tin Mừng hôm nay :

Mở đầu Đức Giê-su nói : “Con không thể làm điều gì tự mình, nhưng mọi sự đều vì đã trông thấy Cha làm : điều gì Người làm thì Con cũng làm như thế” (Ga 5,19).

Và kết thúc Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su nói : “Ta không thể làm điều gì tự mình Ta. Nghe sao Ta xử vậy, và án Ta xử thật công minh, vì Ta không tìm kiếm ý của Ta, mà ý của Đấng đã sai Ta” (Ga 5,30).

Những việc Đức Giê-su làm khiến nhiều người kinh ngạc (x Ga 5,20) và Ngài còn thông ban cho những kẻ thuộc về Ngài làm được những việc vinh hiển hơn Ngài, như Ngài đã nói : “Ai tin vào tôi thì các việc tôi làm kẻ ấy cũng sẽ làm và sẽ còn làm được những việc lớn lao hơn thế nữa” (Ga 14,12). Đây quả là một điều ngạc nhiên, làm sao con người có khả năng làm được những việc lớn lao hơn Thiên Chúa ? Nhưng nhờ Chúa Giê-su đã từ cõi chết sống lại và về với Cha Ngài, Ngài ban Thánh Thần xuống trên những người Ngài tuyển chọn để họ làm được những việc hơn Con Thiên Chúa khi mang kiếp người. Thực vậy cả cuộc đời Đức Giê-su nhắm phục vụ đưa loài người về với Chúa Cha, nhưng mãi cuối đời, Ngài mới đưa một tên trộm biết sám hối tội và xin theo Ngài vào Thiên Đàng (x Lc 23,43). Thế mà :

Ta chưa hoàn tất cuộc đời mình, nếu gặp người anh em nguy tử muốn xin được lãnh Bí tích Thánh Tẩy, ta cử hành cho họ, sau đó họ tắt thở, thì họ lên Thiên Đàng ngay, trong khi ta vẫn còn là tội nhân sống trên đời.

Mỗi khi ta đến hiệp dâng Thánh Lễ, ta cầu nguyện cho những người đã qua đời mà chưa được giải thoát. Chắc chắn nhờ hiệu quả Thánh Lễ làm cho rất nhiều linh hồn thoát luyện ngục được về hưởng hạnh phúc với Chúa, trong khi đó không biết sau này ta có được vào Thiên Đàng hay không, nếu ta cứ nán trong tội lỗi ?!

Đối với những ai tin và sống những điều Chúa Giê-su xác định như trên, người ấy mới cảm thấy “Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, bởi vì Ngài nhân ái đối với hết mọi người, Ngài chậm giận và giàu lòng thương xót, tỏ lòng nhận hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên. Ai quỵ ngã Chúa đều nâng dậy, kẻ bị đè nén Người cho đứng thẳng lên” (Tv 145/144,8-9.14 : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

Chúa Giê-su hứa : “Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống. (Ga 5,24)


o0o


THỨ BA SAU CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY

Ed 47,1-9.12 ; Ga 5,1-3a.5-16

BÀI ĐỌC : Ed 47,1-9.12

1 Khi ấy, thiên sứ dẫn tôi trở lại phía cửa Đền Thờ, và này: có nước vọt ra từ dưới ngưỡng cửa Đền Thờ và chảy về phía đông, vì mặt tiền Đền Thờ quay về phía Đông. Nước từ phía dưới bên phải Đền Thờ chảy xuống phía nam bàn thờ.2 Người ấy đưa tôi ra theo lối cổng bắc và dẫn tôi đi vòng quanh theo lối bên ngoài, đến cổng ngoài quay mặt về phía đông, và này: nước từ phía bên phải chảy ra.3 Người ấy đi ra phía đông, tay cầm dây đo, đo 1.000 xích rồi dẫn tôi đi qua nước: nước ngập đến mắt cá chân.4 Người ấy đo 1.000 xích nữa rồi dẫn tôi đi qua nước: nước ngập đến đầu gối. Người ấy lại đo 1.000 xích nữa rồi dẫn tôi đi qua nước: nước ngập đến ngang lưng.5 Người ấy còn đo 1.000 xích nữa: đó là một con sông, tôi không thể đi qua được vì nước đã dâng cao, khiến không thể đi qua mà chỉ bơi mới được thôi.6 Người ấy bảo tôi: "Ngươi có thấy không, hỡi con người? " Rồi người ấy dẫn tôi trở lại bờ sông.7 Khi tôi trở lại, thì này: có rất nhiều cây cối ở hai bên bờ sông.8 Người ấy bảo tôi: "Nước này chảy về miền đất phía đông, xuống vùng A-ra-ba, rồi đổ ra biển Chết và làm cho nước biển hoá lành.9 Sông chảy đến đâu thì mọi sinh vật lúc nhúc ở đó sẽ được sống. Sẽ có rất nhiều cá, vì nước này chảy tới đâu, thì nó chữa lành; sông này chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống.12 Trên hai bờ sông sẽ mọc lên mọi giống cây ăn trái, lá không bao giờ tàn, trái không bao giờ hết: mỗi tháng các cây đó sẽ sinh trái mới nhờ có nước chảy ra từ thánh điện. Trái dùng làm lương thực còn lá để làm thuốc."

ĐÁP CA : Tv 45

Đ. Chính Chúa Tể càn khôn ở cùng ta luôn mãi,

Thiên Chúa nhà Giacob là thành bảo vệ ta. (c 8)

2 Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta.Người luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta phải ngặt nghèo.3 Nên dầu cho địa cầu chuyển động, núi đồi có sập xuống biển sâu,

5 Một dòng sông chảy ra bao nhánh đem niềm vui cho thành của Chúa Trời: đây chính là đền thánh Đấng Tối Cao. 6 Thiên Chúa ngự giữa thành, thành không lay chuyển; ngay từ rạng đông, Thiên Chúa thương trợ giúp.

8 Chính Chúa Tể càn khôn ở cùng ta luôn mãi, Thiên Chúa nhà Gia-cóp là thành bảo vệ ta. 9a Đến mà xem công trình của Chúa, Đấng gieo kinh hãi trên mặt địa cầu.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Tv 50,12a.14a

Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ.

TIN MỪNG : Ga 5,1-3a.5-16

1 Nhân một dịp lễ của người Do-thái, Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem.2 Tại Giê-ru-sa-lem, gần Cửa Chiên, có một hồ nước, tiếng Híp-ri gọi là Bết-da-tha. Hồ này có năm hành lang.3 Nhiều người đau ốm, đui mù, què quặt, bất toại nằm la liệt. 5 Ở đó, có một người đau ốm đã ba mươi tám năm.6 Đức Giê-su thấy anh ta nằm đấy và biết anh sống trong tình trạng đó đã lâu, thì nói: "Anh có muốn khỏi bệnh không? "7 Bệnh nhân đáp: "Thưa Ngài, khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ. Lúc tôi tới đó, thì đã có người khác xuống trước mất rồi! "8 Đức Giê-su bảo: "Anh hãy trỗi dậy, vác chõng mà đi! "9 Người ấy liền được khỏi bệnh, vác chõng và đi được.

Hôm đó lại là ngày sa-bát. 10 Người Do-thái mới nói với kẻ được khỏi bệnh: "Hôm nay là ngày sa-bát, anh không được phép vác chõng! "11 Nhưng anh đáp: "Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi: "Anh hãy vác chõng mà đi! "12 Họ hỏi anh: "Ai là người đã bảo anh: "Vác chõng mà đi"? "13 Nhưng người đã được khỏi bệnh không biết là ai. Quả thế, Đức Giê-su đã lánh đi, vì có đám đông ở đấy.14 Sau đó, Đức Giê-su gặp người ấy trong Đền Thờ và nói: "Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước! "15 Anh ta đi nói với người Do-thái: Đức Giê-su là người đã chữa anh khỏi bệnh.16 Do đó, người Do-thái chống đối Đức Giê-su, vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát.

GIÁ TRỊ PHỤNG VỤ CHÚA GIÊSU THIẾT LẬP

Ta biết rằng trung tâm ơn cứu độ khơi nguồn từ mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Giê-su, đó chính là Phụng Vụ mới Chúa Giê-su thiết lập. Theo Tin Mừng Gioan, ông chỉ ghi lại bảy việc lạ Đức Giê-su làm, ông không gọi là phép lạ mà gọi là dấu lạ. Dấu lạ đó báo trước giá trị Phụng Vụ của Đức Giê-su được hoàn tất vào ngày thứ nhất trong tuần (Phục Sinh). Bảy dấu lạ Đức Giê-su thực hiện là dấu cuộc tạo dựng mới, hay tái tạo nên hoàn hảo hơn, mà Chúa Cha đã khởi sự từ thuở ban đầu, nhất là sau này do tội lỗi con người làm hư hoại công trình tạo dựng của Chúa Cha, thì Đức Giê-su chuộc lại nơi Chúa Cha tất cả những gì tội lỗi con người đã làm mất. Qua bảy phép lạ Đức Giê-su làm :

    • Ngài nước hóa thành rượu nho (x Ga 2,1-12).
    • Ngài cứu sống con ông sĩ quan Roma (x Ga 4,43t).
    • Ngài chữa lành người bất toại ở nơi ao cừu (x Ga 5,1t).
    • Ngài hóa bánh nuôi dân ăn no (x Ga 6,1t).
    • Ngài đi trên sóng gió biển đến với thuyền các Tông Đồ (x Ga 6,16t).
    • Ngài chữa lành người mù từ thuở mới sinh (x Ga 9,1t).
    • Ngài cứu Ladarô đã chết bốn ngày được sống lại (x Ga 11).

Bởi thế, ta muốn hiểu giá trị việc Đức Giê-su cứu người bất toại 38 năm trong Tin Mừng hôm nay, thì ta phải tìm hiểu những ý nghĩa của những biểu tượng sau :

A. TÌM HIỂU

I. BÀI ĐỌC Ed 47,1-9.12 :

  • Thiên sứ dẫn ông Êzekiel đến phía cửa Đền Thờ (Ed 47,1a) : báo trước Đức Giê-su là Đền Thờ bị người ta phá hủy vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng ba ngày sau Ngài sống lại (x Ga 2,19-21).
  • Nước từ dưới ngưỡng Đền Thờ chảy về phía Đông (Ed 47,1b) : phía Đông là hướng về Đức Giê-su. Ông Zacarya đã xác định Đức Giê-su là Vầng Đông viếng thăm loài người (Lc 1,78).
  • Nước chảy xuống phía nam bàn thờ (Ed 47,1c) : báo trước hành trình của Đức Giê-su khởi sự từ miền bắc xuống miền nam và bị giết ở đây.
  • Nước từ bên phải Đền Thờ chảy ra thành một nguồn suối (Ed 47,2) : bên phải thuộc về những người được Chúa cứu độ (Mt 25,34), nhờ nước và máu từ trái tim Ngài dốc ra khi bị đâm (Ga 19,34) : đã trở thành nguồn suối cứu độ.
  • Thiên sứ dẫn Êzekiel lội xuống suối bốn lần đo mỗi lần đều được 1.000 xích (Ed 47,3) : Số ngàn là thời điểm Chúa ban dư tràn ân phúc đối với những ai tuân giữ Lời Chúa (x Xh 20,6 ; Gr 32,18a) ; số 4 là khắp bốn phương trời, nói cách khác là bao phủ cả trái đất.
  • Thiên sứ dẫn Êzekiel lội suối nước đo ba lần trên thân thể Êzekiel: lần I tới mắt cá : đo 1.000 xích ; lần II tới đầu gối : đo 1.000 xích ; lần III tới ngang thắt lưng (ngực) : cũng đo 1.000 xích (x Ed 47,3-5), đây là dấu chỉ trên thân thể Đức Giê-su :
      • Đo tới mắt cá : dấu đinh ở chân Đức Giê-su.
      • Đo tới đầu gối : dấu chỉ lúc Đức Giê-su được an táng, hai tay Ngài xuôi xuống tới đầu gối. Vậy đây là dấu chỉ thương tích tay của Đức Giê-su.
      • Đo tới ngực : dấu chỉ Đức Giê-su bị đâm ngang cạnh sườn thấu tim.
  • Con suối nước dâng cao ông Êzekiel không thể lội qua được (Ed 47,5b) : dấu chỉ ơn cứu độ nhờ Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giê-su không suy thấu, không ai kín múc hết được : ơn cứu độ phong phú và dồi dào cho hết mọi người tin nhận Đức Giê-su là Cứu Chúa.
  • Thiên sứ dẫn ông Êzekiel trở lại hai bên bờ suối có nhiều cây ăn trái lá không bao tàn, trái không bao giờ hết, lúc nào cũng có trái mới nhờ nước từ Thánh Điện chảy ra. Trái dùng làm lương thực, lá dùng làm thuốc (Ed 47,6.12) : dấu chỉ nguồn cứu độ phát xuất từ Đức Giê-su làm no thỏa khát vọng con người được cứu độ và tha thứ mọi tội lỗi.
  • Nước chảy tới đâu sinh vật lúc nhúc, có rất nhiều cá (Ed 47,9) : dấu chỉ ơn cứu độ của Đức Giê-su ban đem lại sự sống dồi dào cho mọi người (Ga 10,10).
  • Nước chảy ra biển chết, nước biển hóa lành (Ed 47,8) : biển là sào huyệt của ma quỷ, nên Đức Giê-su cho phép quỷ xuất khỏi một người nhập vào đàn heo và lao xuống biển (x Mt 8, 31-32). Bởi đó thánh Gioan nói về ngày cánh chung không còn sự dữ hay quỷ không còn làm hại con người, lúc đó biển không còn nữa (x Kh 21,1), cũng là nhờ hiệu quả ơn cứu độ Đức Giê-su thực hiện qua Phụng Vụ Ngài thiết lập, khi Ngài từ cõi chết sống lại.

II. TIN MỪNG Ga 5,1-3a.5-16

- Hồ nước ở Giê-ru-sa-lem tên là Bêthesđa (Ga 5,2b), tiếng Do-thái có nghĩa là “nhà có nhiều hồng ân”.

- Nơi Ao Cừu (Ga 5,1a),dấu chỉ nói về Đức Giê-su trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, Ngài như con cừu bị dẫn đến lò sát sinh, như chiên mẹ ngậm câm không mở miệng (x Is 53,7).

- Hồ này có năm dãy hành lang (Ga 5,2b) : đó là hình cuốn sách được mở ra : có bốn cạnh và gáy giữa. Là dấu nói về ngày Thiên Chúa thực hiện ơn cứu độ như lời thánh Gioan diễn tả trong sách Khải huyền : “Một cuốn sách không ai có thể mở trừ Con Chiên, Ngài đến lãnh lấy sách và mở ra, tức thì có bốn Sinh Vật cùng với hai mươi bốn Lão Công phủ phục trước Con Chiên (bốn Sinh Vật đó chính là bốn tác giả Tin Mừng ; 24 Lão Công là dân Israel cũ và Israel mới), tay cầm bình hương dâng lời cầu nguyện và hát xướng bài ca mới : Ngài đáng lãnh lấy sách và mở ấn : vì Ngài đã chịu tế sát và đã mua chuộc cho Thiên Chúa bằng máu Ngài, người thuộc mọi dòng họ, tiếng nói và mọi dân mọi nước” (x Kh 5,1-9).

- Một người đã mắc bệnh 38 năm được Đức Giê-su chữa lành (Ga 5,5.9) : con số này làm ta lưu ý đến con số 40 trong Kinh Thánh, nhằm diễn tả thời gian chay tịnh và thanh luyện để hưởng ơn cứu độ : Lụt Hồng thủy 40 ngày (x St 7,4) ; dân bỏ Ai-cập về đất Chúa Hứa 40 năm (x Ds 14,34) ; ông Mô-sê lên núi Sinai sau 40 được Chúa ban Luật để trao lại cho dân (x Xh 24,18) ; Đavid cai trị Giê-ru-sa-lem 40 năm (x 2Sm 5,4) ; Đức Giê-su chay tịnh 40 đêm ngày (x Mc 1,13) ; Chúa Giê-su Phục Sinh ở với các môn đệ 40 ngày (x Cv 1,13). Như vậy, người được Đức Giê-su chữa lành xảy ra vào đầu cuộc đời công khai của Ngài. Thực vậy, sau tiệc cưới Cana, Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem đánh đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền Thờ (x Ga 2). Thì lần đầu tiên Ngài lên Đền Thờ vào dịp lễ này của người Do-thái, Ngài gặp người bệnh đã 38 năm,và Ngài đã chữa lành, nêu dấu chỉ còn hai năm nữa Ngài sẽ bị giết chết, sau đó Ngài phục sinh hoàn tất ơn cứu độ, nêu giá trị con số 40 mà Kinh Thánh đã đề cập như trên.

- Đức Giê-su ra lệnh cho người bất toại vác chõng mà đi (Ga 5,8) : báo trước việc Đức Giê-su vác thập giá lên đồi Sọ vì tội nhân loại (x Ga 19,17).

- Đức Giê-su chữa lành bệnh nhân vào ngày thứ bảy làm cho người Do-thái bất mãn (Ga 5,9-10) : ngày Hưu Lễ là ngày thánh thuộc Luật Phụng Vụ buộc phải nghỉ, đến nỗi không ra khỏi nhà (x Xh 16,29 ; 31,12-17). Nhưng Đức Giê-su chủ đích làm việc trong ngày Hưu Lễ, Ngài giải thích rằng : “Cha Ta hằng làm việc, Ta cũng thế” (Ga 5,17). Có nghĩa là nếu một giây phút nào Thiên Chúa ngưng làm việc, thì thế giới này sẽ ra tro bụi. Sách Sáng thế ghi : sau 6 ngày Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, ngày thứ 7 Ngài nghỉ ngơi (x St 2,2), thì đó là dấu báo trước Đức Giê-su được an táng trong mộ ngày thứ 7.

Vậy Đức Giê-su cùng với Cha Ngài luôn luôn làm việc là để hoàn tất công trình tạo dựng của Ngài, đặc biệt ở nơi con người, mà Đức Giê-su đã thi hành đúng ý Cha trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày thứ bảy Ngài “nghỉ” trong mộ, và ngày Chúa nhật (ngày thứ tám), ngày thứ nhất trong tuần, Ngài từ cõi chết sống lại, lúc đó Ngài làm hoàn hảo ý nghĩa giá trị Phụng Vụ ngày thứ bảy của người Do-thái, như ông Mô-sê đã truyền cho dân phải tuân giữ vì ba lý do :

    • Phải nghỉ việc ngày thứ bảy để mừng công trình tạo dựng Chúa đã hoàn tất (x Xh 20,8-11 ; 31,7) : Chúa Giê-su sống lại hoàn tất công trình tạo dựng, đặc biệt con người được trở nên giống Thiên Chúa trong Chúa Giê-su Phục Sinh (vào ngày Chúa nhật).
    • Phải nghỉ việc ngày thứ bảy để tạ ơn Chúa đã cứu dân thoát nô lệ Ai-cập (x Dnl 5,12-15) : Nhờ mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Giê-su cứu những ai tin vào Ngài được thoát nô lệ satan, thoát tội lỗi, thoát thần chết (vào ngày Chúa nhật).
    • Phải nghỉ việc ngày thứ bảy để tạ ơn Chúa đã ban Luật cho dân qua ông Mô-sê ở núi Sinai (x Xh 24,16) : Chúa không chỉ ban Luật cho dân Do-thái mà Ngài còn ban Luật ghi trên thân xác và linh hồn của mọi Ki-tô hữu trong ngày lễ Ngũ Tuần vào ngày Chúa nhật (x Cv 2),

B. GIÁO HUẤN

Qua các Bài đọc trong Phụng Vụ hôm nay, Hội Thánh muốn chúng ta hiểu và sống những điểm giáo lý sau đây :

1/ Thời Đức Giê-su biết bao nhiêu bệnh nhân muốn được lành bệnh, họ cần có người đưa xuống hồ đầu tiên khi Thiên thần đến khuấy động nước. Như vậy, người bị liệt 38 năm, vì quá yếu, lại không có người đưa xuống hồ mỗi khi có nước động, nên bệnh nhân càng đau khổ khi người khác xuống trước được lành bệnh.

Hôm nay, bất cứ tội nhân nào nghe lời Hội Thánh dẫn đến Nhà Thờ dự Phụng Vụ, thì đều được lành mạnh cả hồn xác, được sống đời đời hơn những bệnh nhân nằm bên bờ hồ Bêthesđa, chỉ có một người xuống hồ trước nhất khi có nước động mới được lành bệnh.

2/ Hồ Ao Cừu, tên Bêthesđa, có năm dãy hành lang, những ý nghĩa chúng ta đã tìm hiểu như trên, thì chúng ta phải đi đến xác quyết rằng : Mỗi khi ta dự Phụng Vụ, Hội Thánh lại mở Sách Thánh công bố Lời hằng sống cho ta và ta được ăn “thịt cừu” (rước lễ). Đây chính là “nhà có nhiều hồng ân” (Bêthesđa).

3/ Người được lành bệnh bắt đầu chưa biết tên người cứu mình. Chỉ khi người ấy vào Đền Thờ mới được biết vị chữa lành bệnh cho chính là Đức Giê-su (x Ga 5,12-14). Cũng thế, khi ta được ơn Chúa ban, ta muốn được biết rõ về Thiên Chúa, Đấng yêu ta, ta phải đến Nhà Thờ dự Phụng Vụ mới gặp chính Chúa Giê-su Phục Sinh qua Bí tích Thánh Thể, và Ngài bảo ta như Ngài đã nói với người được chửa lành : “Từ nay con đừng phạm tội nữa, kẻo khốn hơn trước” (Ga 5,14).

4/ Đi dự Phụng Vụ là ta hưởng trọn vẹn nguồn ơn cứu độ đã khơi nguồn từ “Đền Thờ Giêsu” bị đâm trên thập giá, đã tuôn trào nguồn suối cứu độ, đem lại sự sống cho muôn sinh vật, mà trí con người không ai suy thấu, cũng như không ai kín cạn nguồn ơn cứu độ đã được báo trước qua thị kiến của ngôn sứ Êzekiel trong Bài đọc.

Vậy ta hãy tạ ơn Chúa, vì “Ngài là nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta. Người luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta phải ngặt nghèo. Chính Chúa Tể càn khôn ở cùng ta luôn mãi, Thiên Chúa nhà Giacob là thành bảo vệ ta” (Tv 46/45,2.8 : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

Ta đến cho chiên Ta được sống và sống cách dồi dào (Ga 10,10).


o0o


THỨ HAI SAU CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

Is 65,17-21 ; Ga 4,43-54

BÀI ĐỌC : Is 65,17-21

17 Đức Chúa phán như sau : “Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới, không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa. 18 Nhưng thiên hạ sẽ vui mừng và luôn mãi hỷ hoan vì những gì chính Ta sáng tạo. Phải, này đây Ta sẽ tạo Giê-ru-sa-lem nên nguồn hoan hỷ và dân ở đó thành nỗi vui mừng. 19 Vì Giê-ru-sa-lem, Ta sẽ hoan hỷ, vì dân Ta, Ta sẽ nhảy mừng. Nơi đây, sẽ không còn nghe thấy tiếng than khóc kêu la. 20 Nơi đây, sẽ không còn trẻ sơ sinh chết yểu và người già tuổi thọ không tròn; vì trăm tuổi mà chết là chết trẻ, và chưa tròn trăm tuổi mà chết là bị nguyền rủa. 21 Người ta sẽ xây nhà và được ở, sẽ trồng nho và được ăn trái”.

ĐÁP CA : Tv 29

Đ. Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt. (c 2a)

2 Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt, không để quân thù đắc chí nhạo cười con.4 Lạy Chúa, từ âm phủ Ngài đã kéo con lên, tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống.

5 Hỡi những kẻ tín trung, hãy đàn ca mừng Chúa, cảm tạ thánh danh Người. 6 Người nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời. Lệ có rơi khi màn đêm buông xuống, hừng đông về đã vọng tiếng hò reo.

11 Lạy Chúa, xin lắng nghe và xót thương con, lạy Chúa, xin phù trì nâng đỡ. 12a Khúc ai ca, Chúa đổi thành vũ điệu, 13b Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, xin tạ ơn Ngài mãi mãi ngàn thu.

TUNG HÔ TIN MỪNG : x Am 5,14

Hãy tìm điều lành chứ đừng tìm điều dữ, rồi anh em sẽ được sống ; và Chúa sẽ ở cùng anh em.

TIN MỪNG : Ga 4,43-54

43 Sau hai ngày lưu lại lưu lại Samari, Đức Giê-su bỏ nơi đó đi Ga-li-lê.44 Chính Người đã quả quyết: ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình.45 Khi Người đến Ga-li-lê, dân chúng trong miền đón tiếp Người, vì đã được chứng kiến tất cả những gì Người làm tại Giê-ru-sa-lem trong dịp lễ, bởi lẽ chính họ cũng đã đi dự lễ.

46 Vậy Đức Giê-su trở lại Ca-na miền Ga-li-lê, là nơi Người đã làm cho nước hoá thành rượu. Bấy giờ có một sĩ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Ca-phác-na-um.47 Khi nghe tin Đức Giê-su từ Giu-đê đến Ga-li-lê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp chết.48 Đức Giê-su nói với ông: "Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu! "49 Viên sĩ quan nói: "Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất! "50 Đức Giê-su bảo: "Ông cứ về đi, con ông sống." Ông tin vào lời Đức Giê-su nói với mình, và ra về.51 Ông còn đang đi xuống, thì gia nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi.52 Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu khá hơn vào giờ nào. Họ đáp: "Hôm qua, vào lúc một giờ trưa (giờ thứ bảy) thì cậu hết sốt." 53 Người cha nhận ra là vào đúng giờ đó, Đức Giê-su đã nói với mình: "Con ông sống", nên ông và cả nhà đều tin.54 Đó là dấu lạ thứ hai Đức Giê-su đã làm, khi Người từ miền Giu-đê đến miền Ga-li-lê.

ƠN CỨU ĐỘ

BỞI CỘNG ĐOÀN TIN VÀO CHÚA GIÊSU

Ngoài Ki-tô giáo, hầu hết các tôn giáo khác, nhất là Phật giáo người ta tin rằng mỗi người được cứu độ là do tự sức mình diệt tham sân si, riêng Ki-tô giáo ơn cứu độ quan trọng nhất là do công nghiệp, tình thương, ý muốn cứu độ của Chúa Giê-su, sau đó là đức tin của cộng đoàn liên hệ dựa vào Chúa Giê-su, cuối cùng mới là đức tin và công nghiệp của người được Chúa cứu độ.

Thực vậy, vị sĩ quan Roma có đứa con sắp chết được Đức Giê-su cứu sống là nhờ đức tin tuyệt vời của người cha xin Đức Giê-su cứu con ông. Ta biết trong Tin Mừng Gioan, đức tin của vị sĩ quan ngoại giáo này tuyệt vời, vì ông là người thứ ba được gặp Đức Giê-su trong lộ trình truyền giáo của Ngài :

  • Người đầu tiên được nghe Đức Giê-su giảng dạy đó là ông Ni-cô-đê-mô, vị đầu mục Do-thái ở Giê-ru-sa-lem, ông này đại diện cho giới trí thức cao cấp nhất trong Do-thái giáo, ông không dám gặp Đức Giê-su ban ngày, vì sợ người Do-thái nhìn thấy, nên ông đã tìm đến Ngài vào ban đêm, Đức Giê-su đã phải vất vả dạy giáo lý cho ông suốt đêm, mà xem ra không thuyết phục được ông về ơn tái sinh. Khi trời hừng sáng, vì sợ người khác biết, nên ông vội vàng từ biệt Đức Giê-su (x Ga 3, 1-21).
  • Sau cuộc đàm thoại với ông Ni-cô-đê-mô, Đức Giê-su và các môn đệ lên đường tiến về miền Samari, một thành bị người Do-thái kết án là lạc đạo. Đức Giê-su thấm mệt và đói khát đến nỗi ngồi bệt bờ giếng Giacob, cùng lúc ấy có người phụ nữ Samari ra kín nước, Ngài xin chị nước giếng uống. Bắt đầu chị khước từ vì người Do-thái không gần gũi với người Samari, kỵ hơn nữa là không thể nào một người đàn ông Do-thái xa lạ lại chuyện trò với phụ nữ dân ngoại một cách công khai. Thế nhưng chỉ một lúc sau, Đức Giê-su đã khéo léo làm cho chị tin vào Ngài ban nước hằng sống, và chị vui mừng chạy về thành loan báo tin vui này, thế là cả thành Samari kéo ra gặp Đức Giê-su, nhờ lời người phụ nữ chứng thực : “Ông ấy đã nói được với tôi tất cả mọi sự tôi đã làm”. Vậy khi những người Samari đến gặp Ngài, họ đã xin Ngài lưu lại với họ. Và Ngài đã lưu lại ở đó hai ngày. Và có nhiều người hơn nữa đã tin vì Lời Ngài ; và họ nói với người phụ nữ : “Không phải vì câu chuyện của chị mà chúng tôi tin, vì chính chúng tôi đã nghe và chúng tôi biết : thật Ngài là Đấng Cứu Thế” (x Ga 4,1-42).
  • Sau hai ngày Đức Giê-su lưu lại vùng đất dân lạc đạo, vào ngày thứ ba Ngài tiếp tục lên đường tiến về miền Bắc Galilê, vừa đặt chân đến miền đất này, thì vị sĩ quan ngoại giáo Roma nghe tin Đức Giê-su tới, ông vội chạy ra đón Ngài và thưa : “Xin Ngài xuống chữa con tôi vì nó sắp chết”. Đức Giê-su nói cùng ông : “Nếu các ngươi không thấy dấu lạ điềm thiêng, ắt các ngươi sẽ không tin”. Vị sĩ quan nói cùng Ngài : “Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, trước khi con tôi chết”. Đức Giê-su bảo ông : “Ông hãy đi, con ông sống đấy”. Người ấy đã tin vào Lời Đức Giê-su nói với mình và đi về. Khi ông đi xuống thì người nhà đến đón gặp ông và nói : “Con ông sống rồi”. Ông hỏi họ : “Hồi mấy giờ nó đã khá lại ?” Họ nói : “Hôm qua, vào giờ thứ bảy, cậu đã qua được cơn sốt”. Người cha nhận ra chính vào giờ ấy Đức Giê-su đã nói với mình : “Con ông sống” ; nên ông đã tin làm một với tất cả gia đình ông. Đó là dấu lạ thứ hai Đức Giê-su đã làm khi Ngài bỏ Giu-đê mà mà Ga-li-lê (x Ga 4,43-54 : Tin Mừng).

Ta biết Đức Giê-su bị lên án tử vào giờ thứ sáu tức là 12 giờ trưa (x Ga 19,14-16) ; giờ thứ bảy Ngài bị treo trên thập giá, cũng chính là lúc bắt đầu Ngài dâng Hy Lễ mới lên Cha Ngài, thay thế cho lễ tế Do-thái giáo dâng chiên cừu bò lừa. Nhờ Hy Lễ mới này, ai tin vào Ngài qua lời rao giảng của Hội Thánh (x Lc 10,16),cũng là trực tiếp được nghe Lời Chúa Giê-su giảng dạy (x Dt 1,1-2), thì thoát tay tử thần và được sống đời đời. Do đó, dấu lạ thứ hai Đức Giê-su làm tại miền Ga-li-lê cứu con ông sĩ quan ngoại giáo thoát chết vào ngày thứ ba, sau khi Ngài rời vùng Samari, trở thành dấu chứng cho giá trị Hy Tế của Đức Giêsu thiết lập bắt đầu khai diễn vào ngày thứ ba, sau khi Ngài từ cõi chết sống lại, đối với những ai nhờ nước Thánh Tẩy mà được tái sinh nên chi thể của Chúa Giê-su là cây nho thật, chân lý này được báo trước qua dấu lạ thứ nhất Đức Giê-su làm trong tiệc cưới tại Cana : nước (Bí tích Thánh Tẩy) hóa thành rượu nho (Bí tích Thánh Thể) (x Ga 2,1-11).

Như thế, đức tin của viên sĩ quan ngoại giáo đúng là tuyệt vời, vì dân Samari tin vào Đức Giê-su đã trổi vượt hơn ông Ni-cô-đê-mô, đầu mục Do-thái ở Giê-ru-sa-lem (từng dâng lễ tại Đền Thờ), nhưng vẫn còn thua xa đức tin của vị sĩ quan này, ông chưa cần đến Đức Giê-su lên tiếng, ông chỉ tin rằng nếu Đức Giê-su gặp con ông là nó thoát chết. Sau cùng, dù Đức Giê-su không đến nhà ông, ông đã tin vào Lời Ngài nói : “Ông về đi con ông sống đó”. Quả thật, trên đường về, người nhà đã chạy ra báo tin: “Con ông đã mạnh khỏe rồi”, ông hỏi lại : “Lúc mấy giờ?” Họ đáp : “Vào giờ thứ bảy”. Ông nhớ đúng vào giờ thứ bảy Đức Giê-su đã nói với ông : “Con ông sống đó”. Và tuyệt vời hơn nữa, chẳng những Đức Giê-su cứu con ông khỏi chết mà qua dấu lạ này, cả nhà ông đã tin vào Đức Giê-su, thì được sống đời đời.

Như vậy, nhờ người cha đã tin vào Lời Đức Giê-su, đặc biệt qua dấu chỉ giờ thứ bảy là giờ Ngài dâng Lễ trên thập giá làm cho con ông được sống. Tin mừng này phải được nhân lên nơi tất cả những người làm cha mẹ không được thua đức tin của ông sĩ quan ngoại giáo, nên phải siêng năng và mau mắn đến tham dự Phụng Vụ, đặc biệt là Thánh Lễ, để nhờ đức tin của người thủ lãnh trong cộng đoàn mà người thuộc về mình được ơn cứu độ.

Chân lý trên đã được Chúa báo trước qua miệng ngôn sứ Isaia : “Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới, không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa. Nhưng thiên hạ sẽ vui mừng và luôn mãi hỷ hoan, vì những gì chính Ta sáng tạo. Phải, này đây Ta sẽ tạo Giê-ru-sa-lem (Phụng Vụ mới Hội Thánh cử hành), nên nguồn hoan hỷ và dân ở đó thành nỗi vui mừng. Tại Giê-ru-sa-lem (ai đến dự Phụng Vụ của Hội Thánh) Ta sẽ hoan hỷ, vì dân Ta, Ta sẽ nhảy mừng. Nơi đây, sẽ không còn nghe tiếng than khóc kêu la, nơi đây không còn ai chết yểu, mọi người đều sống thọ trên trăm tuổi, là dấu chỉ họ được hạnh phúc viên mãn nhờ tin vào Chúa Giê-su, để người ta sẽ được sống yên ổn, công việc làm ăn được thành công” (x Is 65,17-21 : Bài đọc).

Vậy chỉ những ai được tham dự Thánh Lễ với tất cả lòng tin tưởng nơi Chúa giống vị sĩ quan ngoại giáo Roma, thì họ đều cất tiếng ngợi khen : “Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài vì đã thương cứu vớt” (Tv 30.29,2a : Đáp ca).

Nhằm nêu cao bậc sống gia đình trong năm “Quốc Tế Gia Đình – 1994, vào ngày lễ Chúa Chiên Lành – 24/04/1994, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã phong chân phước cho bà Ê-li-sa-be-ta Cal-no-ri-mo-ra.

Bà Cal-no-ri-mo-ra sinh ngày 21 tháng 11 năm 1774, tại Ro-ma, bà thuộc gia đình giàu có, và được cha mẹ giáo dục đức tin rất chu đáo. Năm 22 tuổi, bà lập gia đình với một luật sư, và đã có với chồng hai cô con gái. Vài năm sau đó, bà phát hiện ra chồng ngoại tình, hay lấy trộm tiền của vợ đi nuôi bồ nhí! Bà đã khuyên lơn nhiều lần, nhưng bù lại bà bị chồng đánh đập tàn nhẫn, đến nỗi người ta phải đưa vào bệnh viện cấp cứu. Bác sĩ chê vì ông đã quá tay đối với bà, bác sĩ khuyên đưa bà về để gặp con trước khi chết ! Nhưng Chúa thương cho bà bình phục, từ bấy giờ ông chồng ở luôn với vợ bé! Bà phải một mình làm việc cần cù nuôi hai con gái. Năm 1801, bà mắc một căn bệnh hiểm nghèo lúc mới 27 tuổi, nhưng Chúa lại cho bà được bình phục, sau đó bà gia nhập tu hội đời thuộc Dòng Chúa Ba Ngôi. Nhà bà biến thành nơi cầu nguyện cho những người đau khổ. Hằng ngày bà đều xin mọi người cầu nguyện cho chồng bà biết sám hối trở về đường ngay nẻo chính, và bà cũng giúp đỡ nhiều người về đời sống vật chất cũng như tinh thần.

Ngày 05 tháng 02 năm 1825 Chúa đã cất bà ra khỏi thế gian, hưởng dương 51 tuổi. Ông chồng lúc này mới thương vợ thương con mãnh liệt, ông sám hối và trở về phục tang vợ, nhiều người thấy ông, ai cũng chế nhạo : “Nước mắt cá sấu!” Ông cam phận chịu đựng để một phần nào đền tội mình! Sau ngày an táng vợ xong, ông trù liệu tiền bạc nuôi hai con chính thức và các con ngoại hôn, rồi ông xin gia nhập Dòng Chúa Ba Ngôi, và trở thành linh mục sống rất gương mẫu.

Thật là có lý khi Chúa dạy : “Phải cầu nguyện luôn, đừng nhàm chán !” (Lc 18,1); Khi cầu nguyện phải hết lòng tin tưởng và phó thác, vì “Thiên Chúa toàn năng sẽ làm cho ta được hơn ngàn trùng những điều ta cầu xin hay mơ ước!” (Ep 3,20). Và như vậy, nhờ đức tin của vợ đã cứu cả gia đình bớt nỗi khổ đau, đặc biệt là chồng trở thành một Linh mục rất nhiệt thành và thánh thiện.

THUỘC LÒNG

Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống (Ga 5,24).


Tác giả: Đinh Quang Thịnh, Lm.
   dunglac@gmail.com