Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Đinh Quang Thịnh, Lm.
Bài Viết Của
Đinh Quang Thịnh, Lm.
TUẦN SAU CN V MÙA CHAY

Đinh Quang Thịnh, Lm.


o0o


THỨ BẢY SAU CHÚA NHẬT V MÙA CHAY

THỨ SÁU SAU CHÚA NHẬT V MÙA CHAY

THỨ NĂM SAU CHÚA NHẬT V MÙA CHAY

THỨ TƯ SAU CHÚA NHẬT V MÙA CHAY

THỨ BA SAU CHÚA NHẬT V MÙA CHAY

THỨ HAI SAU CHÚA NHẬT V MÙA CHAY


o0o


THỨ BẢY SAU CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY

Ed 37,21-28 ; Ga 11,45-57

BÀI ĐỌC : Ed 37,21-28

21 Đức Chúa là Thiên Chúa phán như sau: Này chính Ta sẽ lấy con cái Ít-ra-en từ giữa các dân tộc chúng đã đi tới. Ta sẽ quy tụ chúng lại từ bốn phương và đưa chúng về đất của chúng.22 Ta sẽ làm cho chúng thành một dân tộc duy nhất trong xứ, trên các núi Ít-ra-en; tất cả chúng chỉ có một vua duy nhất; chúng sẽ không còn là hai dân tộc, không còn chia thành hai vương quốc.23 Chúng sẽ không còn ra ô uế vì những ngẫu tượng, những đồ gớm ghiếc và mọi tội ác của chúng nữa. Ta sẽ cứu chúng thoát khỏi mọi nơi chúng đã ở và đã phạm tội; Ta sẽ thanh tẩy chúng. Chúng sẽ là dân của Ta; còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng.24 Đa-vít, tôi tớ Ta, sẽ làm vua cai trị chúng; sẽ chỉ có một mục tử duy nhất cho chúng hết thảy. Chúng sẽ sống theo các phán quyết của Ta, sẽ tuân giữ các thánh chỉ của Ta và đem ra thực hành.25 Chúng sẽ định cư trên đất Ta đã ban cho tôi tớ Ta là Gia-cóp, phần đất mà tổ tiên các ngươi đã cư ngụ. Chính chúng và con cháu chúng sẽ định cư mãi mãi trên đó. Đa-vít, tôi tớ Ta, sẽ là ông hoàng lãnh đạo chúng cho đến muôn đời.26 Ta sẽ lập với chúng một giao ước bình an; đó sẽ là giao ước vĩnh cửu đối với chúng, Ta sẽ định cư chúng, cho chúng sinh sôi nảy nở ra nhiều và đặt thánh điện của Ta ở giữa chúng cho đến muôn đời.27 Nhà của Ta sẽ ở giữa chúng; Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng và chúng sẽ là dân của Ta.28 Bấy giờ, các dân tộc sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, Đấng thánh hoá Ít-ra-en, khi Ta đặt thánh điện của Ta ở giữa chúng cho đến muôn đời.

ĐÁP CA : Gr 31

Đ. Chúa canh giữ chúng ta, như mục tử canh giữ đàn chiên. (c 10d)

10 Muôn dân hỡi, lắng nghe lời Đức Chúa và loan đi các đảo xa vời, rằng Đấng đã phân tán Ít-ra-en, cũng chính Người sẽ thâu tập lại, canh giữ họ như mục tử canh giữ đàn chiên.

11 Vì Đức Chúa đã cứu chuộc nhà Gia-cóp, giải thoát họ khỏi tay kẻ mạnh hơn nhiều. 12ab Họ sẽ reo mừng đi tới đỉnh Xi-on, lũ lượt kéo nhau về hưởng ân lộc Chúa.

13 Thiếu nữ bấy giờ vui nhảy múa, trẻ già cùng mở hội tưng bừng. Tang tóc họ, Ta biến thành hoan hỷ,và sau cảnh sầu thương, sẽ cho họ được an ủi vui mừng.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Ed 18,31

Đức Chúa phán : Hãy quẳng khỏi các ngươi mọi tội phản nghịch các ngươi đã phạm. hãy tạo cho mình một trái tim mới và một thần khí mới.

TIN MỪNG : Ga 11,45-57

45 Sau khi ông La-da-rô sống lại ra khỏi mồ, trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người.46 Nhưng lại có những người đi gặp nhóm Pha-ri-sêu và kể cho họ những gì Đức Giê-su đã làm.47 Vậy các thượng tế và các người Pha-ri-sêu triệu tập Thượng Hội Đồng và nói: "Chúng ta phải làm gì đây? Người này làm nhiều dấu lạ.48 Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rô-ma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta."49 Một người trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha, làm thượng tế năm ấy, nói rằng: "Các ông không hiểu gì cả,50 các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt."51 Điều đó, ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giê-su sắp phải chết thay cho dân,52 và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối.53 Từ ngày đó, họ quyết định giết Đức Giê-su.54 Vậy Đức Giê-su không đi lại công khai giữa người Do-thái nữa; nhưng từ nơi ấy, Người đến một vùng gần hoang địa, tới một thành gọi là Ép-ra-im. Người ở lại đó với các môn đệ.

55 Khi ấy sắp đến lễ Vượt Qua của người Do-thái. Từ miền quê, nhiều người lên Giê-ru-sa-lem để cử hành các nghi thức thanh tẩy dọn mình mừng lễ.56 Họ tìm Đức Giê-su và đứng trong Đền Thờ bàn tán với nhau: "Có thể ông ấy sẽ không lên dự lễ, các ông có nghĩ thế không? "57 Còn các thượng tế và người Pha-ri-sêu thì ra lệnh: ai biết được ông ấy ở đâu thì phải báo cho họ đến bắt.

MỤC TỬ GIÊSU CHĂM SÓC TA

TRONG PHỤNG VỤ

Các Bài đọc trong Thánh Lễ hôm qua (thứ sáu sau CN 5 mùa Chay) lộ ra lý do chính người Do-thái đòi giết Đức Giê-su vì Ngài tự xưng mình là Thiên Chúa, là Con Cha trên trời. Tuy nhiên có người đồng ý, có người chống đối. Nhưng Bài Tin Mừng Ga 11,45-57 hôm nay cho ta thấy các đầu mục Do-thái nhất trí với thượng tế Caipha : “Cái lợi cho các ông hẳn là chỉ một người chết thay vì cả dân chứ đừng để toàn dân bị tru diệt” (Ga 11,50 : Tin Mừng). Thánh sử Gioan cắt nghĩa ngay quyết định này : “Điều ấy thượng tế Caipha nói ra không phải tự mình nhưng vì là thượng tế năm ấy, ông đã nói tiên tri là Đức Giê-su sẽ phải chết thay cho cả dân tộc, và không chỉ thay cho dân tộc mà thôi, nhưng còn để thâu họp con cái Thiên Chúa tản mác về lại làm một” (Ga 11,51-52 : Tin Mừng).

Xưa kia, tên Shêba âm mưu giết vua Đavid. Vì thế tướng Gioap rượt hắn chạy vào trong thành. Gioap đem quân bao vây thành, và cho đào tường thành sập xuống để lính của ông ồ ạt tràn vào giết tất cả mọi người trong thành không sót một ai, dĩ nhiên là để chắc ăn giết được Shêba. Một phụ nữ trong thành ấy nghe tin này, bà đã gặp ông Gioap và thương lượng : “Để chúng tôi cắt đầu Shêba đưa cho ngài, vì không lẽ mọi người vô tội trong thành này phải chết vì một người có tội với vua sao ?” Thế là bà trở lại thành xúi mọi người tìm được Shêba để cắt đầu hắn, rồi quăng đầu hắn ra khỏi tường thành cho Gioap. Ông Gioap liền cho rút quân để mọi người trong thành khỏi bị giết (x 2Sm 20).

Như thế, theo luật công bằng kẻ có tội phải chết cho mọi người vô tội được sống, điều ấy đã là mừng, nhưng trong vụ án Đức Giê-su, Đấng vô tội – Đức Giê-su – lại bị giết chết, vì Thiên Chúa muốn cho cả loài người tội lỗi khỏi phải chết nhờ tin vào Ngài.

Thực vậy, sau khi Đức Giê-su bị giết chết, Ngài đã phục sinh vinh hiển, Ngài trở nên vị Vua chăm sóc đoàn dân đã tuyển chọn (Israel mới) theo dòng vua Đavid mà ngôn sứ Ezekiel đã báo trước : “Chúa phán : này Ta sẽ kéo con cái Israel ra khỏi các dân. Ta sẽ thâu họp chúng lại từ khắp tứ phía. Ta sẽ đem chúng về lại thửa đất của chúng. Ta sẽ làm cho chúng nên một dân tộc. Chúng sẽ không còn là hai dân tộc. Chúng sẽ không để mình ra nhơ uế bởi các thần dơ dáy. Ta sẽ giải thoát chúng khỏi mọi tội chúng đã phạm, và chúng sẽ là dân của Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng. Đavid tôi tớ Ta sẽ làm vua trên chúng. Chúng hết thảy sẽ chỉ có một mục tử mà thôi. Chúng sẽ đi theo các phán quyết của Ta. Chúng sẽ cư ngụ trên đất Ta đã ban cho Giacob tôi tớ của Ta. Đavid tôi tớ của Ta sẽ là lãnh tụ của chúng cho đến muôn đời. Ta sẽ cho chúng nên đông đảo. Ta sẽ đặt Thánh Điện của Ta giữa chúng cho đến đời đời” (Ed 37,21-28 : Bài đọc).

Vậy Chúa Giê-su Phục Sinh đã làm ứng nghiệm lời ngôn sứ Ezekiel trong Phụng Vụ mới Ngài thiết lập. Đó là lý do lời kết của Tin Mừng hôm nay nói đến việc người ta dứt khoát giết Đức Giê-su vào dịp lễ Vượt Qua của người Do-thái (x Ga 11,55-57 : Tin Mừng). Có nghĩa là lúc người Do-thái giết chiên tế lễ Đức Chúa lúc 12 giờ trưa tại Đền Thờ, thì cũng chính là lúc tổng trấn Philato trao Đức Giê-su cho người ta giết (x Ga 19,14t). Khi Đức Giê-su tắt thở trên thập giá, màn trong Đền Thờ bị xé ra từ trên xuống dưới, đất động và đá nẻ ra, mồ mả mở toang, và xác của nhiều thánh đã yên nghỉ được sống lại. Họ ra khỏi mồ sau khi Ngài sống lại mà vào thành và hiện ra cho nhiều người (x Mt 27,51-53). Thánh sử Mattheu ghi nhận sự kiện này để xác quyết rằng : Từ lúc Đức Giê-su bị giết, Phụng Vụ Do-thái bị phế bỏ : xưa bức màn chắn ngang cung thánh, vào giờ dâng lễ chỉ một người trúng thăm mới được qua bức màn đó vào cung thánh để dâng chiên Vượt Qua tế lễ Thiên Chúa (x Lc 1,9). Nay bức màn ấy bị xé ra, tức là Phụng Vụ Do-thái bị phế bỏ, để không phải chỉ có một người trúng thăm mới được vào cung thánh dâng của vật chất lên Thiên Chúa, mà mọi người đã thuộc về dân Thiên Chúa qua Bí tích Thánh Tẩy, đều được vào tận cung thánh cùng với Chủ Tế mới là Chúa Giê-su Phục Sinh, Ngài cũng là Bàn Thờ và Lễ Vật dâng lên Chúa Cha, vì Chúa Giê-su Phục Sinh đã cho người chết trong ơn nghĩa Chúa được tung mồ bước ra, khởi đi từ lúc Ngài dâng Lễ trên đồi Sọ. Như vậy tại nơi đây người Công Giáo mới tạ ơn Chúa Cha trong Thần Khí và Sự Thật được Ngài chấp nhận (x Ga 4,23), và như thế việc dâng Lễ của người Công Giáo hôm nay mới chính là tạ ơn Thiên Chúa, vì Ngài đã không tha cho chính Con Một của Ngài nhưng đã trao nộp vì chúng ta hết thảy, làm sao Ngài lại không gia ân vạn sự cho ta làm một với Ngài (Rm 8,32) mà cứu chúng ta thoát chết vì tội đã phạm, để chúng ta được hân hoan dâng lời ca tụng Chúa : “Chúa canh giữ chúng ta như mục tử canh giữ đoàn chiên” (Gr 31, 10d : Đáp ca).

Hồi đệ nhị thế chiến, một trại tù của Đức Quốc xã có lệnh : “Các tù nhân có nhiệm vụ coi lẫn nhau. Nếu một tù nhân nào trốn trại, thì sẽ có 10 tù nhân khác thế mạng!”

Một buổi sáng kia, khi kiểm điểm các tù nhân, viên cai tù phát giác thiếu một người! Thế là tất cả các tù nhân hôm ấy phải đứng hàng giờ phơi nắng ngoài sân! Mãi đến chiều, người sĩ quan Đức có trách nhiệm nhà tù xuất hiện với bộ dạng giận dữ, tay chắp sau lưng, bước chân chậm rãi trên đôi giày bốt-đờ-xô nện trên nền đá nghe “cộp, cộp!” Mắt ông trừng trừng nhìn thẳng vào mặt từng người tù, thỉnh thoảng ông dừng lại chỉ vào một người và buông lời cộc lốc : “Mày phải thế mạng!” Cứ như thế ông đã chỉ đến người thứ 9, khi ông dừng lại người tù xấu số thứ 10, thì anh tù bật khóc nức nở! Trong số tù nhân có Linh mục Maximiliano Kolbe liền giơ tay xin phát biểu :

- Xin ông cho tôi được chết thay cho người này!

     

Viên sĩ quan quát :

- Con heo Ba-lan kia, mày có điên không?

Cha Maximiliano Kolbe ôn tồn đáp :

- Thưa không, tôi là Linh mục chỉ có một mình, anh này còn vợ con, cần được sống.

Trước sức mạnh của tình thương, viên sĩ quan đứng lặng người trong giây lát, rồi buông lời :

- Thuận.

     

Thế là cả 10 người “được chọn” bị đẩy vào hầm cho chết đói! Trong hầm, cha Maximiliano Kolbe luôn ca hát và cầu nguyện, cha đã cảm hóa được 9 người kia xin theo đạo. Sau một tháng người ta mở cửa ngục ra xem, thấy cha Maximiliano Kolbe vẫn sống bình an, và vui vẻ. Thấy vậy họ đã chích cho ngài mũi thuốc kết thúc cuộc đời…!

Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đã phong thánh cho ngài ngày 14-10-1982. Hôm đó cũng có gia đình anh tù được chết thay cũng có mặt.

Quả thực : “Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người đã hy sinh mạng sống vì bạn hữu của mình !” (Ga 15,13).

Vì cha Maximiliano Kolbe còn muốn nối dài và mở rộng Lời Kinh Thánh nói : “Thà một người chịu chết cho mọi người được sống, chứ đừng để mọi người bị tru diệt” (Ga 11,50).

THUỘC LÒNG

Thà một người chịu chết cho mọi người được sống, chứ đừng để mọi người bị tru diệt (Ga 11,50).


o0o


THỨ SÁU SAU CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY

Gr 20,10-13 ; Ga 10,31-42

BÀI ĐỌC : Gr 20,10-13

10 Con nghe biết bao người vu cáo: "Kìa, lão "Tứ phía kinh hoàng! , hãy tố cáo, hãy tố cáo nó đi! " Tất cả những bạn bè thân thích đều rình xem con vấp ngã. Họ nói: "Biết đâu nó chẳng mắc lừa, rồi chúng ta sẽ thắng và trả thù được nó! " 11 Nhưng Đức Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng. Vì thế những kẻ từng hại con sẽ thất điên bát đảo, sẽ không thắng nổi con. Chúng sẽ phải thất bại, và nhục nhã ê chề: đó là một nỗi nhục muôn đời không thể quên. 12 Lạy Đức Chúa các đạo binh, Đấng dò xét người công chính, Đấng thấu suốt tâm can, con sẽ thấy Ngài trị tội chúng đích đáng, vì con đã giãi bày cơ sự cùng Ngài. 13 Hãy ca tụng Đức Chúa, hãy ngợi khen Đức Chúa, vì Người đã giải thoát kẻ cơ bần khỏi tay phường hung bạo.

ĐÁP CA : Tv 17

Đ. Lúc ngặt nghèo tôi kêu cầu Chúa : Người đã nghe tiếng tôi. (x c 7)

2 Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con; 3a lạy Chúa là núi đá, là thành luỹ, là Đấng giải thoát con;

3bc Lạy Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn, là khiên mộc, là Đấng cứu độ quyền năng, là thành trì bảo vệ. 4 Tôi kêu cầu Chúa là Đấng xứng muôn lời ngợi khen, và tôi được cứu thoát khỏi quân thù.

5 Sóng tử thần dồn dập chung quanh, thác diệt vong làm tôi kinh hãi, 6 màng lưới âm ty bủa vây tứ phía,bẫy tử thần ập xuống trên tôi.

7 Lúc ngặt nghèo tôi kêu cầu Chúa, kêu lên Người là Thiên Chúa của tôi. Từ thánh điện, Người đã nghe tiếng tôi cầu cứu, lời tôi khấn nguyện vọng đến tai Người.

TUNG HÔ TIN MỪNG : x Ga 6,63c.68c

Lạy Chúa, Lời Chúa là Thần Khí và là Sự Sống ; Chúa có những Lời đem lại sự sống đời đời.

TIN MỪNG : Ga 10,31-42

31 Khi ấy, người Do-thái lấy đá để ném Đức Giê-su. 32 Người bảo họ: "Tôi đã cho các ông thấy nhiều việc tốt đẹp Chúa Cha đã giao cho tôi làm; vì việc nào mà các ông ném đá tôi? "33 Người Do-thái đáp: "Chúng tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp, nhưng vì một lời nói phạm thượng: ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa."34 Đức Giê-su bảo họ: "Trong Lề Luật các ông, đã chẳng có chép lời này sao: "Ta đã phán: các ngươi là những bậc thần thánh""?35 Nếu Lề Luật gọi những kẻ được Thiên Chúa ngỏ lời là những bậc thần thánh, mà lời Kinh Thánh không thể bị huỷ bỏ,36 thì tôi là người Chúa Cha đã thánh hiến và sai đến thế gian, làm sao các ông lại bảo tôi: "Ông nói phạm thượng! vì tôi đã nói: "Tôi là Con Thiên Chúa"?37 Nếu tôi không làm các việc của Cha tôi, thì các ông đừng tin tôi.38 Còn nếu tôi làm các việc đó, thì dù các ông không tin tôi, ít ra cũng hãy tin các việc đó. Như vậy, các ông sẽ biết và ngày càng biết thêm rằng: Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha." 39Bấy giờ họ lại tìm cách bắt Người, nhưng Người đã thoát khỏi tay họ.

40 Đức Giê-su lại ra đi, sang bên kia sông Gio-đan, đến chỗ trước kia ông Gio-an đã làm phép rửa, và Người ở lại đó.41 Nhiều người đến gặp Đức Giê-su. Họ bảo nhau: "Ông Gio-an đã không làm một dấu lạ nào cả, nhưng mọi điều ông ấy nói về người này đều đúng."42 Ở đó, nhiều người đã tin vào Đức Giê-su.

CHÂN LÝ ĐƯỢC ĐÓNG ẤN BẰNG MÁU

Đức Giê-su cũng như các ngôn sứ đều chung một số phận hẩm hiu, vì tất cả phải khổ, bị bách hại đến mất cả mạng sống, chỉ vì loan báo một chân lý có lợi cho mọi người. điển hình như ngôn sứ Giêrêmia cũng chỉ vì trung thành loan báo Lời của Chúa cho dân mà ông phải rên lên khi lặp lại tâm địa kẻ ác đang bao vây ám hại ông : “Tứ phía kinh hoàng ! Tố cáo đi ! Ta hãy tố cáo nó đi ! Mọi kẻ thân tín của tôi đều dòm ngó chờ tôi sảy ngã. Biết đâu nó sẽ mắc hớ và ta sẽ thắng được nó, và ta sẽ báo thù được nó” (Gr 20,10 : Bài đọc).

Đức Giê-su còn bị nhiều người căm thù hơn các ngôn sứ chỉ vì Ngài công bố một chân lý : “Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha” (Ga 10,38 : Tin Mừng). Đây là một chân lý cần thiết cho sự sống mọi người, nhưng người ta vẫn quyết liệt phủ nhận chân lý này, nên Ngài phải phân minh : “Tại sao các ông bảo tôi nói phạm thượng vì tôi đã nói tôi là Con Thiên Chúa? Nếu tôi không làm các việc Cha tôi, thì các ông đừng tin tôi ! Còn nếu tôi làm, cho đi các ông không tin chính mình tôi, thì hãy tin vào các việc tôi làm, ngõ hầu các ông biết và cầm chắc luôn rằng Chúa Cha ở trong tôi, tôi và Cha tôi là một” (Ga 10,30.36-38 : Tin Mừng).

Người ta phải tin vào Đức Giê-su là Thiên Chúa, đồng bản tính với Đức Chúa Cha để đem lại sự sống dồi dào như thế nào cho loài người ? Dựa vào Kinh Thánh cho chúng ta xác quyết rằng nhờ niềm tin này ta được

    • Tái sinh thành tạo vật mới.
    • Ta được Chúa tha hết mọi tội và gìn giữ ta không phạm tội.
    • Ta được đồng hóa với Chúa trong Chúa Giê-su Phục Sinh.
    • Ta được Chúa cho làm những việc hơn Đức Giê-su để tồn tại muôn đời mà tôn vinh Chua.
    • Ta được lãnh nhận trọn vẹn ơn Chúa cứu độ.

1. TÁI SINH THÀNH TẠO VẬT MỚI.

* Thánh Gioan nói :

  •   Ga 1,12-13 : Ai đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa (Chúa Giê-su), thì Ngài đã ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa, ấy là cho những kẻ tin vào Danh Ngài. Họ không do máu huyết mà sinh ra, cũng không phải do ý của xác thịt, cũng không phải do ý của nam nhân, nhưng là do bởi Thiên Chúa mà ta được sinh ra.
  •   1Ga 3,2 : Ta là con Thiên Chúa, Người thế nào chúng ta sẽ thấy y như vậy.
  •   Ga 15,8 : Ta là môn đệ của Đức Ki-tô làm vinh hiển Thiên Chúa. Đức Giê-su nói : “Nơi điều này Cha Ta được vinh hiển là hệ tại các con sai hoa kết trái và trở nên môn đệ của Ta”.
  •   Ga 15,14 : Ta là bạn của Đức Giê-su Ki-tô nếu ta làm điều Ngài dạy.

* Thánh Phê-rô nói :

  •   Cv 2,38 : Hãy hối cải và mỗi người hãy chịu thanh tẩy nhân danh Đức Giê-su Ki-tô để được ơn tha tội và các ngươi sẽ được lãnh ơn Thánh Thần.

* Thánh Matthêu ghi lại Lời Đức Giê-su nói :

  •   Mt 12,50 : Ta thuộc về gia tộc của Thiên Chúa. Đức Giê-su chỉ vào những người đang nghe Lời Ngài và nói : “Đây là mẹ tôi và anh em tôi, vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người là anh chị em và là mẹ tôi”.

* Thánh Luca nói :

  •   Lc 12,35-38 : Ta là quản lý trung tín của Thiên Chúa, đến nỗi Ngài tự thắt lưng đặt ta vào bàn để hầu hạ.

* Thánh Phao-lô nói :

  •   2 Cr 5,17 : Ai ở trong Đức Ki-tô, kẻ ấy là tạo thành mới : cũ đã qua đi, và này mới đã thành sự.
  •   2Cr 11,2 : Tôi đã đính hôn anh em với một người độc nhất là Đức Ki-tô, để tiến dâng anh em cho Người như một trinh nữ thanh khiết.
  •   1Cr 6,15 : Ta là chi thể của Đức Ki-tô Giê-su Phục Sinh.
  •   1Cr 3,16 : Ta là Đền Thờ đích thực của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô nói : “Anh em không biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần ngự trong anh em”.
  •   2Cr 3,3 : Ta là Bức Thư của Đức Ki-tô. Thánh Phao-lô nói : “Anh em là Bức thư của Đức Ki-tô do tay các Tông Đồ soạn ra không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia lòng bia thịt”.
  •   1Cr 3,9 : Ta là cánh đồng của Thiên Chúa.
  •   2Cr 2,15: Ta là hương thơm của Chúa Ki-tô dâng kính Thiên Chúa, tỏa ra giữa những người được cứu độ cũng như những kẻ bị hư mất !

2. TA ĐƯỢC CHÚA THA HẾT MỌI TỘI VÀ GÌN GIỮ TA KHÔNG PHẠM TỘI.

* Thánh Phao-lô nói :

  •   Rm 8,1 : Ai ở trong Đức Ki-tô, thì không còn bị lên án nữa.
  •   Rm 8,10 : Nếu Đức Ki-tô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính.

* Thánh Gioan nói :

  •   1Ga 3,9 : Phàm ai sinh bởi Thiên Chúa thì không làm sự tội, vì mầm giống của Người lưu lại trong kẻ ấy ; và kẻ ấy không thể phạm tội, bởi chưng đã được sinh bởi Thiên Chúa.

3. TA ĐƯỢC ĐỒNG HÓA VỚI CHÚA TRONG CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH.

* Thánh Gioan ghi lại Lời Đức Giê-su :

  •   Ga 10,34-35 : Ta được đồng danh với Thiên Chúa. Đức Giê-su nói : “Ta bảo các ngươi: các ngươi là thần, vì các ngươi được Lời Thiên Chúa xảy đến,vả lại không thể hủy bỏ Lời Kinh Thánh.

Danh “thần” ở đây tiếng Hy-lạp viết là Theos (số ít) có nghĩa là Thiên Chúa ; chữ này ở số nhiều viết là Theol, có nghĩa là các thần minh. Rõ ràng những người có Lời Chúa được đồng danh với Thiên Chúa.

  •   Ga 6,57 : Ta được thông hiệp cùng sự sống với Thiên Chúa. Đức Giê-su xác quyết : “Ai ăn tôi nó sống nhờ tôi, như tôi sống nhờ Cha tôi”.

* Thánh Phao-lô nói :

  •   Dt 2,11.14 : Đấng tác thánh và những người được thánh hóa cùng một nguồn gốc, cùng chung một máu thịt với nhau, vì thế Đức Ki-tô không gượng gọi ta là anh em của Ngài.
  •   Gl 3,27 : Ta được mặc lấy Chúa Ki-tô hơn xưa Chúa thấy Adam, Eva lấy lá vả làm khố không ổn (St 3,7), Ngài giết chiên lột da may áo mặc cho họ (St 3,21).
  •   Gl 2,20 : Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là Chúa Ki-tô sống trong tôi.

4. TA ĐƯỢC CHÚA CHO LÀM NHỮNG VIỆC HƠN ĐỨC GIÊ-SU ĐỂ TỒN TẠI MUÔN ĐỜI MÀ TÔN VINH CHUA.

* Thánh Gioan ghi lại Lời Đức Giê-su :

  •   Ga 14,12 : Ai tin vào tôi thì các việc tôi làm kẻ ấy cũng sẽ làm, và sẽ làm được những việc lớn lao hơn thế nữa, vì tôi về cùng Chúa Cha.

Đức Giê-su nói như thế không phải tự con người có quyền năng hơn Thiên Chúa, nhưng vì qua mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh, Ngài về với Cha và ban Thánh Thần cho những ai thuộc về Ngài, để họ tiếp nối sứ mệnh của Ngài. Mục đích Con Thiên Chúa vào đời là để tẩy rửa tội lỗi mà đưa họ vào Thiên Đàng. Thế mà mãi cuối đời Đức Giê-su, Ngài mới đưa được một tên trộm biết sám hối xin theo Ngài vào Nước Trời ; trong khi ta còn là phàm nhân tội lỗi, ta giảng Lời cho đồng loài, ta cử hành các Bí tích cho anh em, ta cầu nguyện cho những người đã qua đời, ta đã đưa biết bao nhiêu người về với Chúa, đó là lễ vật Chúa ưa thích nhất (x Rm 15,16).

  •   Rm 11,36 : Chỉ có Chúa Giê-su giúp ta làm việc, việc đó mới tôn vinh Thiên Chúa.Thánh Phao-lô nói : “Vì muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người. Xin tôn vinh Thiên Chúa đến muôn đời! A-men.”
  •   Cv 5,38-39 : Nhờ ta thuộc về Chúa Ki-tô, công việc của ta mới có giá trị cứu độ và tồn tại muôn đời. Lời Kinh Thánh nói : Nếu việc làm tự loài người, thì dù có tốt cũng là nhân bản, không phải là Đức Ái, không có giá trị cứu độ, trước sau ra tro bụi ; trái lại việc nào được làm trong Chúa Giê-su, đó mới là Đức Ái Ki-tô giáo, có giá trị bền vững muôn đời, không ai phá hủy được.

5. TA ĐƯỢC LÃNH NHẬN TRỌN VẸN ƠN CHÚA CỨU ĐỘ.

* Thánh Gioan ghi lại Lời Đức Giê-su nói :

  •   Ga 17,3 : Sự sống đời đời đó là nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô.
  •   Ga 6,54 : Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết.

Vậy chỉ những ai sống nhờ Chúa Giê-su, với Chúa Giê-su, trong Chúa Giê-su mới cảm nghiệm được “Chúa là sức mạnh của con, là núi đá, là thành lũy, là Đấng giải thoát con” (Tv 18/17,2-3 : Đáp ca).

Vào năm 1970, một câu chuyện làm cho nhiều người tại Saigon chú ý nhất:

Ông Bô-cát-xa là Tổng thống Nam Phi, vào năm 1950 ông là lính đánh thuê của Pháp tại Việt Nam, tại đây ông có ăn ở với một phụ nữ và sinh một bé gái, da vừa vàng vừa đen, người ta thường gọi là cô Ba Xí. Sau này tình thế tạo anh hùng, ông được làm Tổng thống, ông nhớ lại tình xưa nghĩa cũ ở VN, ông nhờ Bộ ngoại giao liên lạc với mẹ con cô Ba Xí để ông đón về xum họp. Lúc ấy, có rất nhiều bà dẫn con đến tòa Đại sứ Nam Phi nhận là vợ - con ông Bô-cát-xa. Nhưng nhờ khoa học người ta đã xác định ai là con thật của vị Tổng thống này. Đó là mẹ con bà bán hàng rong bên Khánh Hội. Thế là mẹ con bà từ kiếp sống bần cùng, xã hội không ai quan tâm, nghiễm nhiên trở thành hoàng hậu và công chúa. Khi cô Ba Xí được đón sang Nam Phi, một người giàu có đến cầu hôn, trong đám cưới ấy, VN phải cử đại diện sang chúc mừng.

Truyện này không thể so sánh với chúng ta là phàm nhân tội lỗi lại được Chúa thương nhận làm dưỡng tử, làm Hiền thê, ngôn sứ Isaia đã báo trước niềm vui này : “Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi đã cưới ngươi về, như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 62,4-5).

THUỘC LÒNG

Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi đã cưới ngươi về, như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ (Is 62,4-5).


o0o


THỨ NĂM SAU CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY

St 17,3-9 ; Ga 8,51-59

BÀI ĐỌC : St 17,3-9

3 Khi ấy, ông Áp-ram cúi rạp xuống. Thiên Chúa phán với ông rằng: 4 "Phần Ta, đây là giao ước của Ta với ngươi: ngươi sẽ làm cha của vô số dân tộc.5 Người ta sẽ không còn gọi tên ngươi là Áp-ram nữa, nhưng là Áp-ra-ham, vì Ta đặt ngươi làm cha của vô số dân tộc.6 Ta sẽ cho ngươi sinh ra nhiều, thật nhiều: Ta sẽ làm cho ngươi thành những dân tộc, và vua chúa sẽ phát xuất từ ngươi.7 Ta sẽ lập giao ước của Ta giữa Ta với ngươi và với dòng dõi ngươi sau này, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đây sẽ là giao ước vĩnh cửu, do đó Ta sẽ là Thiên Chúa của ngươi và của dòng dõi ngươi sau này.8 Ta sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi sau này miền đất ngươi đang trú ngụ, tức là tất cả đất Ca-na-an, làm sở hữu vĩnh viễn; và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng."

9 Thiên Chúa phán với ông Áp-ra-ham: "Phần ngươi, hãy giữ giao ước của Ta, ngươi và dòng dõi ngươi sau này, từ thế hệ này qua thế hệ khác.

ĐÁP CA : Tv 104

Đ. Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi. (c 8a)

4 Hãy tìm Chúa và sức mạnh của Người, chẳng khi ngừng tìm kiếm Thánh Nhan. 5 Hãy nhớ lại những kỳ công Người thực hiện, những dấu lạ và những quyết định Người phán ra,

6 Hỡi anh em, dòng dõi Áp-ra-ham tôi tớ Chúa, con cháu Gia-cóp được Người tuyển chọn!7 Chính Đức Chúa là Thiên Chúa chúng ta, những điều Người quyết định là luật chung cho cả địa cầu.

8 Giao ước lập ra, muôn đời Người nhớ mãi, nhớ lời đã cam kết đến ngàn thế hệ! 9 Đó là điều đã giao ước cùng Áp-ra-ham, đã đoan thệ cùng I-xa-ác.

TUNG HÔ TIN MỪNG :

Ngày hôm nay, anh em chớ cứng lòng, nhưng hãy nghe tiếng Chúa.

TIN MỪNG : Ga 8,51-59

51 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái : “Thật, tôi bảo thật các ông: ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết." 52 Người Do-thái liền nói: "Bây giờ, chúng tôi biết chắc là ông bị quỷ ám. Ông Áp-ra-ham đã chết, các ngôn sứ cũng vậy; thế mà ông lại nói: "Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết.

53 Chẳng lẽ ông lại cao trọng hơn cha chúng tôi là ông Áp-ra-ham sao? Người đã chết, các ngôn sứ cũng đã chết. Ông tự coi mình là ai? "54 Đức Giê-su đáp: "Nếu tôi tôn vinh chính mình, vinh quang của tôi chẳng là gì cả. Đấng tôn vinh tôi chính là Cha tôi, Đấng mà các ông gọi là Thiên Chúa của các ông.55 Các ông không biết Người; còn tôi, tôi biết Người. Nếu tôi nói là tôi không biết Người, thì tôi cũng là kẻ nói dối như các ông. Nhưng tôi biết Người và giữ lời Người.56 Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi. Ông đã thấy và đã mừng rỡ."

57 Người Do-thái nói: "Ông chưa được năm mươi tuổi mà đã thấy ông Áp-ra-ham! "58 Đức Giê-su đáp: "Thật, tôi bảo thật các ông: trước khi có ông Áp-ra-ham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu! "

59 Họ liền lượm đá để ném Người. Nhưng Đức Giê-su lánh đi và ra khỏi Đền Thờ.

LỜI CHÚA XUA ĐUỔI THẦN CHẾT

Tại sao Đức Giê-su khẳng định : “Ai giữ Lời Ta thì đời đời không thấy sự chết”? Lời nói này không chỉ làm cho những người Do-thái kết án Đức Giê-su là người bị quỷ ám, mà có lẽ nhiều người trong chúng ta hôm nay cũng không thể chấp nhận được lời khẳng định của Đức Giê-su như thế. Người Do-thái nói với Đức Giê-su rằng : “Abraham cha chúng tôi đã chết và các ngôn sứ cũng đã chết, thế mà ông dám nói : ai giữ Lời
tôi thì đời đời không phải chết ?” (Ga 8,51-53 : Tin Mừng)

Chúng ta muốn hiểu được lời Đức Giê-su xác định như trên, thì trước nhất, ta phải biết rằng cái chết thể lý, do Chúa đã ấn định nơi các sinh vật, đặc biệt nơi con người, ai Chúa cũng cho chết, Ngài gọi đó chỉ là giấc ngủ. Cụ thể như con gái ông Giairo đã chết, Đức Giê-su thấy người ta thổi kèn đánh trống và khóc lóc inh ỏi, Ngài lên tiếng bảo họ : “Con bé đâu có chết, nó ngủ đó thôi”, người ta vội cười rộ chế nhạo ! (x Mc 5,39)

Đối với Chúa cái chết thực sự là do tội con người gây ra, bởi vì ai chết vì tội, thì cho dù ngày cánh chung họ có sống lại, họ còn khổ hơn thần chết đến chịt cổ họ ! Thánh Phao-lô nói : “Lương bổng của tội là sự chết” (Rm 6,23), và tác giả sách Khôn ngoan nói : “Đừng mãi sống lầm lạc mà lao vào chỗ chết, chớ có làm chuyện gì để mình phải diệt vong. Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong” (Kn 1,12-13).

Vậy Lời Đức Giê-su khẳng định : “Ai giữ Lời tôi thì đời đời không thấy sự chết”, ta phải hiểu theo ba nghĩa :

1/ AI SỐNG LỜI CHÚA, THÌ CHÚA GÌN GIỮ HỌ THOÁT TAY TỬ THẦN.

Cụ thể

  • Ba chú bé không chịu thờ thần của vua, nên vua đã cho đốt lò lửa nóng gấp 7 lần, trói các chú lại và quăng vào đó. Thế mà lửa chỉ làm đứt dây trói các chú, chứ một sợi tóc trên đầu các chú không bị lửa tèm, bởi vì lúc ấy một thần sứ của Thiên Chúa đến sinh hoạt với các chú trong lò lửa, reo vui tạ ơn Thiên Chúa. Vua thấy thế, từ bất giờ chẳng những không bắt các chú phải thờ thần vua, mà lại ra sắc chỉ trên toàn đế quốc Babylon phải tôn thờ Giavê, Thần của ba chú (x Dn 3).
  • Đức Giê-su vì chu toàn sứ mệnh loan báo và thực thi Lời Chúa Cha, nên đã nhiều phen bị người Do-thái ném đá hoặc tra tay bắt Ngài. Nhưng chúng chẳng làm gì được Ngài, bởi vì Ngài chưa cho phép chúng (x Ga 7,30 ; 8,59 ; 10,39).
  • Ông Phao-lô hết lòng rao giảng Lời Thiên Chúa, ông bị người ta ném đá cho chết, họ đã lôi xác ông ra khỏi thành và bỏ đi. Thế mà ông lại chỗi dậy tiếp tục đi rao giảng, không chút sợ hãi ! (x Cv 14,19-20).
  • Anh Eutykho được nghe ông Phao-lô giảng đến quá nửa đêm, anh buồn ngủ chúc đầu từ lầu ba xuống đất, mọi người thấy anh đã chết ! Thế mà sau bài giảng của ông Phao-lô, anh sống lại ra về vui vẻ với mọi người ! (x Cv 20,7t)

2/ NHỜ NGHE LỜI CHÚA, TA KHÁM PHÁ RA TỘI MÌNH MÀ BIẾT SÁM HỐI XIN CHÚA THƯƠNG XÓT.

Thực vậy,

Lời Chúa như tấm gương soi mặt linh hồn (x Gc 1,23), nghĩa là ngang qua Lời Chúa,ta biết mình có tội (x Rm 7,7), do đó sinh lòng sám hối xin Chúa thương xót, thì lại được Chúa làm cho nên công chính hơn người làm nhiều điều tốt mà không biết sám hối, có đến khoe công đức với Chúa, Ngài cũng đuổi về tay không ! (x Lc 18,9-14). Nhưng ai thành tâm sám hối tội mình, thì lại được Chúa ban ơn đặc biệt, cụ thể như :

  • Ông Phê-rô là một trong số 12 môn đệ Đức Giê-su chọn, chỉ có ông đã nhận tội mình trước mặt Đức Giê-su, không dám xin Ngài đến gần (x Lc 5,8). Chính vì nhân đức này, mà Đức Giê-su đã chọn ông làm Giáo hoàng tiên khởi, có quyền đóng, mở cửa Nước Trời tùy ý ông (x Mt 16,18-19).
  • Tên trộm biết sám hối tội mình chấp nhận bị đóng đinh như dịp để đền tội, và anh xin Đức Giê-su thương cho anh được theo Ngài, khi Ngài về Nước của Ngài. Thế là Đức Giê-su đã cho anh vào Thiên Đàng ngay, xem ra anh còn được vào Thiên Đàng trước những người đầy nhân đức ! (x Lc 23,40-43).

3/ NHỜ TIN VÀ SỐNG LỜI CHÚA MÀ TA ĐƯỢC THAM DỰ VÀO SỰ SỐNG VINH QUANG CỦA CHÚA GIÊSU PHỤC SINH.

Cụ thể

Thiên Chúa đã hứa cho tổ phụ Abraham được đông con nhiều cháu, đếm không xuể,vì dòng giống ông nhiều như sao trời, như cát bãi biển, và Chúa còn hứa ban cho dòng giống ông được cư ngụ trên toàn cõi đất Canaan làm sở hữu vạn đại (x St 17,3-9 : Bài đọc). Nếu ta hiểu lời chúc phúc này đóng khung trong cuộc sống dương thế, thì thật là vô lý, vì

Lịch sử loài người không có người phụ nữ nào sinh được trên 100 người con! Mà nếu đông con nhiều cháu, chắc gì hạnh phúc,có khi lại là tai họa !

Nhưng nhờ mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Giê-su, Ngài đã mở cửa Trời cho ông Abraham vào, cùng với những người đã nhờ đức tin của ông mà tái sinh qua Bí tích Thánh Tẩy, hoặc đang sống đức ái trên dương thế, hoặc đã hoàn tất cuộc đời này về hưởng hạnh phúc, sống vinh quang muôn đời trên trời, và đang xum họp bên tổ phụ Abraham. Như thế, dù ông Abraham đã chết, nhưng ông vẫn còn tiếp tục sinh con nhờ đức tin của ông cho đến ngày cánh chung, thì dòng giống của ông đông không kể xiết. Quả thật, dòng giống ông đúng là đông hơn sao trời, nhiều hơn cát biển (x Kh 7).

Vậy “ hãy tạ ơn Chúa, cầu khẩn danh Người, vĩ nghiệp của Người loan báo giữa muôn dân. Hát lên đi, đàn ca mừng Chúa, và suy gẫm mọi kỳ công của Người” (Tv 105/104,1-2 : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

Đức Giê-su hứa :

  • Ai giữ Lời Ta thì đời đời không thấy sự chết (Ga 8,51).
  • Ai nghe Lời Ta và tin vào Đấng đã sai Ta thì có sự sống đời, và không phải đến tòa phán xét, nhưng đã ngang qua sự chết mà vào cõi sống (Ga 5,24).

 

o0o


THỨ TƯ SAU CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY

Dn 3,14-20.24-25.28 ; Ga 8,31-42

BÀI ĐỌC : Dn 3,14-20.24-25.28

14 Ngày ấy, vua Na-bu-cô-đô-nô-xo cất tiếng nói với họ: "Này Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô, các ngươi không phụng sự các thần của ta và không thờ lạy pho tượng vàng ta đã dựng nên, có đúng như vậy không?15 Bây giờ khi nghe tiếng tù và, tiếng sáo, tiếng đàn giây, đàn sắt, đàn cầm, tiếng kèn và đủ thứ nhạc cụ, các ngươi có sẵn sàng sấp mình thờ lạy pho tượng ta đã làm không? Nếu các ngươi không thờ lạy thì tức khắc các ngươi sẽ bị ném vào lò lửa đang cháy phừng phực, liệu có Thiên Chúa nào cứu được các ngươi khỏi tay ta chăng? "16 Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô trả lời vua Na-bu-cô-đô-nô-xo rằng: "Chúng tôi không cần trả lời ngài về chuyện này.17 Nếu Thiên Chúa chúng tôi thờ có sức cứu chúng tôi thì tâu đức vua, Người sẽ cứu chúng tôi khỏi lò lửa đang cháy phừng phực và khỏi tay ngài.18 Còn nếu Người không cứu, thì xin đức vua biết cho rằng chúng tôi cũng không phụng sự các thần của ngài, và cũng không thờ lạy pho tượng vàng ngài đã dựng đâu! "19 Bấy giờ vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đổi sắt mặt, nổi cơn lôi đình với Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô. Vua lên tiếng truyền đốt lò lửa mạnh hơn mọi khi gấp bảy lần.20 Rồi vua ra lệnh cho những người lực lưỡng nhất trong quân đội của vua trói Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô và quăng họ vào lò lửa đang cháy phừng phực.

24 Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo ngạc nhiên đứng bật dậy và cất tiếng nói với các quan cố vấn: "Chẳng phải chúng ta đã quăng ba người bị trói vào lửa sao? " Họ đáp rằng: "Tâu đức vua, đúng thế! "25 Vua cất tiếng nói: "Nhưng ta thấy có bốn người đang tự do đi lại trong lò lửa mà không hề hấn gì, và dáng vẻ người thứ tư giống như con của thần minh." 

28 Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo cất tiếng nói: "Chúc tụng Thiên Chúa của Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô, Người đã sai thiên sứ đến giải thoát các tôi tớ của Người là những kẻ đã tin tưởng vào Người. Họ đã cưỡng lại lời vua, hy sinh tính mạng để khỏi phụng sự và thờ lạy một thần nào khác ngoài Thiên Chúa của họ”.

ĐÁP CA : Tc Dn

Đ. Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời. (c 52b)

(52) "Lạy Chúa, chúc tụng Ngài là Thiên Chúa tổ tiên chúng con, xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời. Chúc tụng danh thánh Ngài vinh hiển, xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.

(53) Chúc tụng Chúa trong thánh điện vinh quang, xin dâng lời ca tụng tôn vinh muôn đời. (54) Chúc tụng Chúa trên ngôi báu cửu trùng, xin dâng lời ca tụng suy tôn muôn đời.

(55) Chúc tụng Chúa, Đấng ngự trên các thần hộ giá mà thấu nhìn vực thẳm, xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.(56) Chúc tụng Chúa trên vòm trời tận chốn cao xanh, xin dâng lời ca tụng tôn vinh muôn đời.

TUNG HÔ TIN MỪNG : x Lc 8,15

Hạnh phúc thay người thành tâm thiện chí, hằng ấp ủ Lời Chúa trong lòng, nhờ kiên nhẫn mà sinh hoa kết quả.

TIN MỪNG : Ga 8,31-42

31 Khi ấy, Đức Giê-su nói với những người Do-thái đã tin Người: "Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi;32 các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông."33 Họ đáp: "Chúng tôi là dòng dõi ông Áp-ra-ham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ. Làm sao ông lại nói: các ông sẽ được tự do? "34 Đức Giê-su trả lời: "Thật, tôi bảo thật các ông: hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội.35 Mà kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi.36 Vậy, nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do.37 Tôi biết các ông là dòng dõi ông Áp-ra-ham, nhưng các ông tìm cách giết tôi, vì lời tôi không thấm vào lòng các ông.38 Phần tôi, tôi nói những điều đã thấy nơi Cha tôi; còn các ông, các ông làm những gì đã nghe cha các ông nói."39 Họ đáp: "Cha chúng tôi là ông Áp-ra-ham." Đức Giê-su nói: "Giả như các ông là con cái ông Áp-ra-ham, hẳn các ông phải làm những việc ông Áp-ra-ham đã làm.40 Thế mà bây giờ các ông lại tìm giết tôi, là người đã nói cho các ông sự thật mà tôi đã nghe biết từ Thiên Chúa. Điều đó, ông Áp-ra-ham đã không làm.41 Còn các ông, các ông làm những việc cha các ông làm."

Họ mới nói : “Chúng tôi đâu phải là con hoang. Chúng tôi chỉ có một cha : đó là Thiên Chúa 42 Đức Giê-su bảo họ: "Giả như Thiên Chúa là Cha các ông, hẳn các ông phải yêu mến tôi, vì tôi phát xuất từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến. Thật thế, tôi không tự mình mà đến, nhưng chính Người đã sai tôi.

TA ĐƯỢC TỰ DO CHỈ NHỜ LỜI CHÚA

Đức Giê-su nói : “Nếu Người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do” (Ga 8,36 : Tin Mừng). bởi vì tất cả mọi loại Lề Luật, kể cả Luật “Kinh Thánh cũng giam người ta trong tội, Kinh Thánh chỉ có giá trị như một quản giáo dẫn ta đến gặp Đức Giê-su, để Ngài giải phóng ta thoát án phạt của Lề Luật” (x Gl 3,22.24). Thánh Phao-lô xác quyết như thế vì bản thân ông trước đó là một Biệt phái triệt để cẩn thủ giữ Luật Mô-sê, ông tưởng mình đã là người công chính, nhưng sau khi ông thuộc về Chúa Ki-tô, ông mới khám phá ra rằng : Luật nào cũng giam người ta trong tội, vì mọi Luật đều nhằm hai mục đích :

    • Điều xấu cấm ta không được làm.
    • Điều tốt buộc ta phải làm.

Trong thực tế, không ai có thể nói : mọi điều xấu tôi tránh được hết, nhưng ít hay nhiều đã vi phạm hoặc nặng hoặc nhẹ ; điều tốt cũng chẳng ai có thể chu toàn, bởi vì khi làm, khi bỏ, hoặc làm thiếu chu đáo. Chỉ duy Đức Giê-su, Ngài mang bản tính loài người như tất cả mọi người, ngoại trừ tội lỗi (x Dt 7,26). Lý do Ngài là Chủ Lề Luật, Ngài có quyền ra Luật, thì Ngài cũng có quyền thay đổi Luật. Thí dụ : ngay từ lúc nhập thể, Ngài được sinh ra mà không cần dựa vào Luật trống mái, chỉ một mình Đức Ma-ri-a sinh Ngài làm người tuyệt hảo không ai sánh bằng (x Lc 1,26t) ; Luật chữa bệnh cần phải giữ vệ sinh và cho thuốc, thế mà Đức Giê-su chữa lành cho một người mù từ thuở mới sinh, Ngài nhổ nước miếng xuống đất trộn thành bùn, và bôi vào mắt anh rồi bảo đi rửa ở ao Siloam là được sáng mắt (x Ga 9) ; Luật buộc phải nghỉ việc ngày sabat, vì đó là ngày thánh, nhưng Đức Giê-su lại chữa lành bệnh nhân vào ngày này, vậy mà ai cũng phải tấm tắc khen ngợi : “Ngài làm mọi việc tốt đẹp” (Mc 3,1-6 ; 7,37). Đặc biệt nhất là không ai thắng được Luật phải chết, nhưng Đức Giê-su chỉ bị giết và được an táng trong mồ ba ngày sau là Ngài sống lại tiến vào vinh quang vĩnh cửu (x Ga 20).

Bởi thế, chỉ mình Đức Giê-su có quyền chia cho chúng ta sự chiến thắng Lề Luật, đó là lý do Ngài đã nói : “Ta cho các ngươi tự do thì các ngươi mới đích thực là được tự do” (Ga 8,36 : Tin Mừng). Đức Giê-su đã khẳng định trước tòa án Do-thái : “Tôi đến để làm chứng cho sự thật, ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37), và trước đó Ngài đã nói với người Do-thái : “Nếu các ông lưu lại trong Lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ của tôi, các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông” (Ga 8,31-32 : Tin Mừng). Mà ta chỉ thực sự lãnh nhận trọn vẹn Lời Đức Giê-su một cách trực tiếp qua Phụng Vụ (x Dt 1,1-2), và được hiệp thông với Thịt Máu Chúa Giê-su Phục Sinh, nên Lời đã trở thành xương thịt ta, có thế “chúng ta mới được lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Vì Luật được ban qua Mô-sê, nhưng ơn nghĩa và sự thật, thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có. Nhờ Lời Chúa, chúng ta được tái sinh làm con Thiên Chúa không do ý muốn của nam nhân nhưng do bởi Thiên Chúa, để chúng ta được trở thành con Thiên Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô” (x Ga 1,1-18).

Đức Giê-su nói : “Kẻ tìm giết tôi nó là con cái satan hay nô lệ cho tội lỗi, vì Lời tôi không thấm vào lòng nó” (Ga 8,37 : Tin Mừng). Mà “nô lệ thì không được ở trong nhà Cha, con mới được” (Ga 8,35 : Tin Mừng).

Để minh họa Lời Chúa (chân lý), ai nắm giữ thì người đó được ơn giải phóng. Đan cử : Ba chú bé Sát-rác, Mê-sắc, A-vết Nơ-gô không chịu thờ thần của vua Babylon đúc ra, nên vua đã cho đốt lò lửa nóng gấp bảy lần rồi quăng các chú vào đó. Lạ thay, trong lò lửa vua không chỉ thấy ba chú mà còn có một người thứ tư dáng vẻ xinh đẹp như Con Thiên Chúa, đang khoác tay ba chú nhảy nhót chúc tụng Thiên Chúa. Điều ấy làm vua ngạc nhiên, ông cho lôi các chú ra, thì chỉ thấy có ba, vì các chú nắm giữ Lề Luật của ông Mô-sê, không sợ quyền lực của vua, nhất quyết không tuân lệnh vua, nên các chú đã nói : “Thiên Chúa có cứu chúng tôi khỏi tay độc ác của vua hay không, đó là việc của Chúa, còn chúng tôi chỉ tuân giữ Luật Mô-sê chỉ duy thờ một mình Chúa, chứ không thể thờ thần của vua”. Vua chứng kiến phép lạ này liền ban sắc chỉ cho toàn đế quốc Babylon: “Ở dưới gầm trời này không có thần nào cao cả bằng Thần của người Do-thái, và từ nay ai xúc phạm đến vị Thần này, dòng tộc của nó sẽ bị tru diệt” (x Dn 3,14-28 : Bài đọc).

Như thế ba chú bé chỉ được một vị thần dáng dấp Con Thiên Chúa đến nắm lấy tay các chú, gìn giữ các chú an toàn trong lò lửa nóng bỏng chưa từng thấy, vẫn thua xa ngày hôm nay, mỗi khi ta dự Thánh Lễ cách trọn vẹn nghe Lời và rước lễ, ta được thông hiệp cùng một sự sống với Ba Ngôi Thiên Chúa (x Ga 6,57), cùng một nguồn gốc cùng một xương thịt với Đức Ki-tô Giê-su (x Dt 2,11.14), đến nỗi Đức Giê-su cho ta quyền năng hơn Ngài so với lúc Ngài còn trên dương thế, bởi lẽ Ngài đã về với Cha (x Ga 14,12), và vì ta được đồng hóa với Đức Ki-tô Giê-su (x Gl 2,20).

Đảng cộng sản vô thần khai sinh tháng 10 năm 1917, nhưng đã tự “thắt cổ” ngày 25 tháng 12 năm 1991, mới thọ được 74 tuổi, chưa tới tuổi hưu (75) đã chết một cách nhục nhã. Sự cố thê lương này đã được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II tiên báo 15 tháng trước đó: vào tháng 9 năm 1990, dịp Đại Hội Quốc Tế Giới Trẻ tại Pháp, trong một bữa tiệc thân mật, ông André Frossard thuộc Hàn Lâm Viện Pháp đặt câu hỏi với Đức Giáo hoàng :

    • Thưa ngài, nếu ngài chỉ muốn dùng một Lời Kinh Thánh để nói với thế giới hôm nay, thì ngài dùng câu nào ?

Câu hỏi đó đặt ra thì ai cũng đoán trước thế nào Đức Giáo hoàng cũng lấy Lời Đức Giê-su dạy : “Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy yêu thương anh em” (Ga 13,34).

Thế nhưng Đức Giáo hoàng nói :

    • Tôi chỉ muốn nhắc lại với thế giới hôm nay Lời Đức Giê-su đã nói : “Các ngươi sẽ biết sự thật (Lời Chúa) và sự thật sẽ giải phóng các ngươi” (Ga 8,32).

Ngờ đâu vào đúng ngày lễ Chúa Giáng Sinh (25-12-1991), Tổng Bí Thư của Đảng cộng sản quốc tế là ông Gorbachev tuyên bố từ chức và giải tán Đảng cộng sản. Tức khắc cả khối cộng sản Đông Âu sụp đổ. Đúng như lời Đức Giáo hoàng đã nói : “Sự thật đã giải phóng con người”.

Thật những ai lưu lại trong Lời Chúa Giê-su, như Lời đã lưu lại trong tâm hồn ông Gorbachev xứng đáng là môn đệ của Chúa Giê-su, đem ơn giải phóng đến cho mọi người thoát ách độc quyền Đảng trị của cộng sản vô thần, để cùng lớn tiếng tung hô Chúa : “Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời” (Dn 3,52b : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

Chúa Giê-su nói : “Ai lưu lại trong Lời của tôi, người ấy thực là môn đệ của tôi, Lời sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,31-32).


o0o


THỨ BA SAU CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY

Ds 21,4-9 ; Ga 8,21-30

BÀI ĐỌC : Ds 21,4-9

4 Hồi đó, từ núi Ho, họ lên đường theo đường Biển Sậy, vòng qua lãnh thổ Ê-đôm; trong cuộc hành trình qua sa mạc, dân Ít-ra-en mất kiên nhẫn.5 Họ kêu trách Thiên Chúa và ông Mô-sê rằng: "Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai-cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống? Chúng tôi đã chán ngấy thứ đồ ăn vô vị này."

6 Bấy giờ Đức Chúa cho rắn độc đến hại dân. Chúng cắn họ, khiến nhiều người Ít-ra-en phải chết.7 Dân đến nói với ông Mô-sê: "Chúng tôi đã phạm tội, vì đã kêu trách Đức Chúa và kêu trách ông. Xin ông khẩn cầu Đức Chúa để Người xua đuổi rắn xa chúng tôi." Ông Mô-sê khẩn cầu cho dân.8 Đức Chúa liền nói với ông: "Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống."9 Ông Mô-sê bèn làm một con rắn bằng đồng và treo lên một cây cột. Và hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống.

ĐÁP CA : Tv 101

Đ. Lạy Chúa, xin nghe lời con cầu khẩn,

tiếng con kêu, mong được thấu tới Ngài. (c 2)

2 Lạy Chúa, xin nghe lời con cầu khẩn,tiếng con kêu, mong được thấu tới Ngài. 3 Buổi con gặp gian truân, xin Ngài đừng ẩn mặt,trong ngày con cầu cứu, xin Ngài lắng tai nghe và mau mau đáp lời.

16 Bấy giờ chư dân sẽ sợ uy danh Chúa, mọi đế vương hoàn cầu uý kính Ngài vinh hiển. 17 Vì Chúa sẽ xây dựng lại Xi-on, sẽ xuất hiện quang vinh rực rỡ. 18 Người đoái nghe dân bị bóc lột kêu cầu, chẳng khinh thường lời họ nguyện xin.

19 Điều này phải ghi lại cho đời sau được biết, dân hậu sinh phải ca tụng Chúa Trời 20 Vì Chúa đưa mắt từ toà cao thánh điện, từ trời xanh đã nhìn xuống cõi trần, 21 để nghe kẻ tù đày rên siết thở than
và phóng thích những người mang án tử.

TUNG HÔ TIN MỪNG :

Hạt giống là Lời Thiên Chúa, người gieo giống là Đức Ki-tô. Ai tuân giữ Lời Người sẽ muôn đời tồn tại.

TIN MỪNG : Ga 8,21-30

21 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : "Tôi ra đi, các ông sẽ tìm tôi, và các ông sẽ mang tội mình mà chết. Nơi tôi đi, các ông không thể đến được."22 Người Do-thái mới nói: "Ông ấy sẽ tự tử hay sao mà lại nói: "Nơi tôi đi, các ông không thể đến được"? "23 Người bảo họ: "Các ông bởi hạ giới; còn tôi, tôi bởi thượng giới. Các ông thuộc về thế gian này; còn tôi, tôi không thuộc về thế gian này.24 Tôi đã nói với các ông là các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết. Thật vậy, nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết."25 Họ liền hỏi Người: "Ông là ai? " Đức Giê-su đáp: "Hoàn toàn đúng như tôi vừa nói với các ông đó.26 Tôi còn có nhiều điều phải nói và xét đoán về các ông. Nhưng Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật; còn tôi, tôi nói lại cho thế gian những điều tôi đã nghe Người nói."27 Họ không hiểu là Đức Giê-su nói với họ về Chúa Cha.28 Người bảo họ: "Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy.29 Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi; Người không để tôi cô độc, vì tôi hằng làm những điều đẹp ý Người."30 Khi Đức Giê-su nói thế, thì có nhiều kẻ tin vào Người.

CHÚA GIÊSU LÀ MANNA THẬT

Người Do-thái từ lúc thoát nô lệ Ai-cập, suốt 40 năm họ đi trong sa mạc tiến về miền đất chảy sữa và mật Chúa hứa ban, chỉ khi nào họ chiếm được miền đất ấy mới được an cư lạc nghiệp, còn trong những ngày tháng đi trên sa mạc họ không có nghề nghiệp, không có kho lẫm, hằng ngày Chúa mưa manna và cho chim cút bay đến, sáng nào dân cũng lượm về nấu ăn (x Xh 16) và nước trong lành từ tảng đá chảy ra cho dân uống thỏa thuê (x Xh 17). Lương thực của họ đơn giản chỉ có thế thôi, mà ai ăn cũng khỏe mạnh, đi hoài mà không biết mỏi, chạy mà không biết mệt (x Is 40,29-31) ; họ mạnh đến nỗi kẻ thù nào cũng đánh thắng, vì Thiên Chúa là cờ trận của họ (x Xh 14,25 ; 17,8-16). Nhưng vì dân chỉ có manna và chim cút ăn mãi cũng chán, nên thèm củ hành củ tỏi trên đất Ai-cập đã từng sống kiếp nô lệ. Bởi thế dân phản đối ông Mô-sê, họ cho ông đã lầm dẫn họ ra khỏi Ai-cập, bây giờ mới thấy tránh vỏ dưa (thoát nô lệ Ai-cập) lại gặp vỏ dừa (chán ngấy manna), thế là họ hùa nhau ném đá ông Mô-sê ! Bởi thế Chúa cho rắn trong rừng bò ra cắn chết bọn họ nội trong một ngày 23.000 người (x 1Cr 10,8 ; Ds 21,4-9 : Bài đọc).

Manana ấy là hình bóng Thịt Máu Chúa Giê-su Phục Sinh, mà Đức Giê-su biết trước dân Do-thái quyết tâm giết được Ngài, vì Ngài tỏ mình ra cho họ biết “Ngài là Đấng hằng hữu, là Thiên Chúa” (Ga 8,24 : Tin Mừng). Đấng đã sai ông Mô-sê dẫn dắt cha ông họ chiếm miền đất chảy sũa và mật. Thế mà tổ phụ của họ lại đòi ném đá ông Mô-sê, nhưng ông Mô-sê được Chúa che chở thoát nạn. Nay cũng dòng giống lỳ lợm và độc ác này, họ đòi giết Đấng được Chúa Cha sai đến để lãnh đạo chăm sóc dân, hơn xưa Chúa đã sai ông Mô-sê dẫn dân thoát ách nô lệ Ai-cập (x Ga 8,21-30 : Tin Mừng).

Nhưng sức mạnh tình thương tuyệt hảo của Thiên Chúa không chịu bó tay trước tội lỗi loài người,chúng giết Con Một Thiên Chúa, thì chỉ ba ngày sau Ngài đánh gục thần chết và sống lại vinh quang, để nên Thần Lương cho những ai tin hưởng dùng thì được sống dồi dào (x Ga 10,10). Thậm chí “dù thân xác họ đã chết vì tội đã phạm, Thánh Thần cũng làm cho họ được sống,vì họ đã được trở nên công chính trong Chúa Giê-su” (Rm 8,10), họ có chết cách nào cũng được phục sinh vinh hiển giống như Ngài (x Ga 6,54 ; 1Ga 3,2).

Thế mà ngày nay nhiều người không chịu hiểu, họ cũng giống như dân Do-thái thời Đức Giê-su. Người ta không hiểu Lời Đức Giê-su nói vì : “Người ta thuộc hạ giới, thuộc về thế gian này” (Ga 8,23a : Tin Mừng), nên chỉ ham muốn, chỉ tìm kiếm những điều có giá trị nơi trần thế, như thích ăn trên ngồi trốc, thích thân xác cường tráng, thích dư dật tiền của... Nói chung thích tìm những gì làm thỏa mãn nhu cầu thân xác mà thôi ! Loại người này thánh Phao-lô nói : “Họ đã lấy cái bụng làm chúa, vinh quang đặt nơi điều đáng xấu hổ” (Pl 3,19).

Trái lại, “Đức Giê-su thuộc thượng giới, không thuộc về thế gian này” (Ga 8,23b : Tin Mừng), nên Đức Giê-su nói về giá trị thuộc về thượng giới mới làm cho thân xác và linh hồn người ta được sống sung mãn. Vì thế Đức Giê-su đã từng kêu gọi : “Hãy tìm kiếm lương thực không bao giờ hư nát, lưu lại mãi đến sự sống đời đời, mà Con Thiên Chúa sẽ ban cho loài người, vì chính Ngài là Đấng Cha và là Thiên Chúa đã niêm ấn. đó là công việc của Thiên Chúa, tức là người ta phải tin vào Đấng Chúa Cha sai đến, thì có đủ sức tiến về Thiên Đàng, hơn xưa người Do-thái ăn manna và chim cút làm cho mạnh sức tiến vào miền đất chảy sữa và mật. Bởi vì xưa kia tổ phụ người Do-thái đã ăn manna, nhưng đều đã phải chết. Lý doì manna ấy chỉ là hình bóng báo trước manna đích thực là Máu Thịt Chúa Giê-su Phục Sinh, mới thật là Bánh từ trời Chúa Cha ban tặng cho loài người, ai ăn Ngài thì được thông hiệp cùng một sự sống với Thiên Chúa, nên dù họ có chết cách nào cũng được sống lại vinh hiển” (x Ga 6,27t).

Đức Giê-su chỉ thực sự ban Manna hằng sống này, khi kẻ ác giết Ngài, nhưng chỉ ba ngày sau Ngài phục sinh vinh hiển về với Chúa Cha, để từ trời Ngài sai Hội Thánh cử hành Phụng Vụ, ai đến tham dự, thì họ tìm kiếm được Bánh trường sinh. Nhưng khi Ngài đã về Trời người ta cứ còn tiếp tục tìm kiếm Chúa chỉ vì muốn có bánh no bụng, thì họ sẽ phải chết ! Đó là ý nghĩa Lời Ngài nói với họ : “Ta ra đi, các ngươi sẽ tìm kiếm Ta và các ngươi sẽ chết trong tội của các ngươi. Ta đi đâu các ngươi không thể đến được” (x Ga 8,21 : Tin Mừng).

Ngày nay, đa số những người mang danh là dân Thiên Chúa, nhưng họ vẫn sống đạo theo kiểu Do-thái giáo, vì họ chỉ dừng lại niềm xác tín “có thực mới vực được đạo”, nên họ dốc toàn lực đi tìm kiếm những giá trị ở đời này, mà coi nhẹ hay gạt bỏ Lời Chúa dạy :

    • Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước và sự công chính của Ngài, còn các sự khác Ngài ban thêm cho (Mt 6,33).
    • Hãy ra công làm việc đừng vì lương thực hư nát, nhưng vì lương thực lưu lại đến sự sống đời đời (Ga 6,27).
    • Của ăn nuôi sống con người không phải chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ thi hành mọi Lời Thiên Chúa phán (Mt 4,4 ; Ga 4,34).

Ai không nhớ thực hành những lời trên, dù họ có ra công làm việc, họ vẫn bỏ của vào túi thủng.

Vậy xưa kia dân Do-thái, khi còn đi trong sa mạc, ai bị rắn cắn muốn thoát chết, họ phải nhìn lên con rắn đồng ông Mô-sê treo lên cột cờ theo lệnh Chúa truyền (x Ds 21,4-9 : Bài đọc). Đó là dấu chỉ ngày nay ta muốn thoát chết vì tội đã phạm, ta phải nhìn lên Chúa Giê-su Thập Giá nghe tiếng Ngài rên lên : “Ta khát” (Ga 19,28), Ngài khát khao ta đến ăn lễ Vượt Qua của Ngài là tiệc Thánh Thể (x Lc 22,15), nên lúc Ngài lập Bí tích Thánh Thể, Ngài nói với các môn đệ : “Các ngươi hãy làm việc này mà NHỚ đến Thầy” (1Cr 11,23-25). Làm gì để thỏa lòng nhớ ai, đó là hành động của tình yêu năng nổ nhất. Vì ta yêu ai, thì ta ấp ủ người đó trong lòng, còn nhớ ai thì không thể khoan giãn chần chừ, nhưng hết sức mau mắn chộp lấy người yêu, không thể vuột khỏi tay, không thể xa vắng người yêu. Vậy ta đã làm gì để thể hiện ta nhớ Chúa Giê-su nhất, yêu Ngài nhất, nếu không phải là ta vượt mọi rào cản mau mắn đến dự tiệc Thánh Thể. Đây là bữa tiệc Chúa thiết đãi dân Ngài vào ngày Chúa cứu độ như ngôn sứ Isaia đã loan báo : “Ngày ấy, trên núi này,Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế. Trên núi này, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn che phủ mọi dân, và tấm màn trùm lên muôn nước.Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần. Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người, và trên toàn cõi đất, Người sẽ xoá sạch nỗi ô nhục của dân Người. Đức Chúa phán như vậy. Ngày ấy, người ta sẽ nói : "Đây là Thiên Chúa chúng ta, chúng ta từng trông đợi Người, và đã được Người thương cứu độ. Chính Người là Đức Chúa chúng ta từng đợi trông.Nào ta cùng hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ." (Is 25,6-9). Ta có dự tiệc này thì lời cầu nguyện của ta mới chắc được Chúa nhậm lời, vì Chúa : “Chúa đưa mắt từ toà cao thánh điện,từ trời xanh đã nhìn xuống cõi trần, để nghe kẻ tù đày rên siết thở than và phóng thích những người mang án tử” (Tv 102/101, 20-21 : Đáp ca).

Bà Rober người Pháp khi được 26 tuổi bị bại liệt toàn thân, không thể ăn uống được gì từ năm 1930 tới năm 1981. Suốt 51 năm bị bệnh như vậy, mỗi ngày bà chỉ được rước mấy giọt Máu Thánh (rượu nho đã được truyền phép). Vậy mà bà đã sống tới 77 tuổi mới qua đời !

Bà kể lại cho mọi người nghe :

Khi tôi được rước Chúa vào lòng, như có một sức sống mới lưu truyền tăng thêm nghị lực trong tâm hồn tôi, tôi không thể diễn tả cho ai hiểu được, vì đó là cảm nghiệm đặc biệt Chúa chỉ tỏ mình cho tôi !”

Xưa kia người Do-Thái hằng ngày phải lượm man-na ăn, mới đủ sức về đất Chúa hứa ; thua xa nay người Ki-tô hữu mỗi ngày được rước Mình Máu Thánh Chúa làm cho xác hồn sống về tới Thiên Đàng! (x Xh 16 ; Ga 6).

THUỘC LÒNG

Ai ăn Ta nó sống nhờ Ta, như Ta sống nhờ Cha Ta (Ga 6,57).

Đấng tác thánh là Đức Giê-su và những người được thánh hóa cùng một nguồn gốc cùng một xương thịt, vì thế Ngài không hổ thẹn gọi ta là anh em (Dt 2,11.14).


o0o


THỨ HAI SAU CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY

Dn 13,1-9.15-17.19-30.33-62 (hoặc bài ngắn : Dn 13,41c-62)

Ga 8,1-11

BÀI ĐỌC : Dn 13,41c-62

41c Khi ấy, người ta kết án tử hình bà Su-san-na. 42 Nhưng bà Su-san-na kêu lớn tiếng rằng: "Lạy Thiên Chúa hằng hữu, Đấng am tường những điều bí ẩn và thấy hết mọi sự trước khi chúng xảy ra,43 Ngài biết là họ đã làm chứng gian hại con. Này con phải chết, tuy chẳng làm điều gì trong những điều họ đã vu cho con."

 44 Chúa đã nghe tiếng bà kêu.45 Trong lúc bà bị điệu đi hành hình, Thiên Chúa đã đánh động tâm trí thánh thiện của một thiếu niên tên là Đa-ni-en.46 Thiếu niên đó kêu lớn tiếng rằng: "Tôi vô can trong vụ đổ máu người phụ nữ này! "47 Toàn dân đều quay về phía cậu thiếu niên và hỏi: "Lời cậu vừa nói có nghĩa gì? "48 Cậu đứng giữa họ và nói: "Các người ngu xuẩn đến thế sao, hỡi con cái Ít-ra-en? Các người đã lên án một người con gái Ít-ra-en mà không xét hỏi và cũng không biết rõ sự việc ra sao!49 Hãy trở lại nơi xét xử, vì những người kia đã làm chứng gian để hại người phụ nữ này."

 50 Toàn dân vội vàng trở lại đó, và các kỳ mục nói với Đa-ni-en: "Đến đây, hãy ngồi giữa chúng tôi và cho chúng tôi biết ý kiến, vì Thiên Chúa đã cho cậu được khôn ngoan như bậc lão thành."51 Đa-ni-en nói: "Hãy tách riêng họ ra, rồi tôi sẽ xét hỏi."52 Sau khi họ đã bị tách ra rồi, Đa-ni-en gọi một trong hai kỳ mục lại và nói: "Hỡi con người già đời trong đường gian ác, tội lỗi xưa ông đã phạm, nay lại tái diễn:53 ông đã xử bất công, kết án người vô can, tha bổng kẻ đắc tội, bất kể lời Chúa dạy: "Ngươi chớ giết người vô tội và người công chính.54 Vậy bây giờ, nếu quả thật ông đã thấy bà kia, thì hãy nói ông đã thấy họ thông gian với nhau dưới cây nào? " Người ấy đáp: "Dưới cây trắc."55 Đa-ni-en nói: "Ông đã nói dối trắng trợn khiến ông phải mất mạng, vì thiên sứ của Thiên Chúa đã nhận được án lệnh của Người là chặt ông làm đôi."56 Sau khi cho người này ra, Đa-ni-en truyền dẫn người kia vào, rồi nói: "Hỡi nòi giống Ca-na-an, chứ không phải nòi giống Giu-đa, sắc đẹp đã mê hoặc ông, và tình dục đã làm cho ông ra hư hỏng.57 Các ông đã hành động như thế với các con gái Ít-ra-en. Vì sợ, họ đã thông gian với các ông. Nhưng người con gái Giu-đa này đã không chịu nổi sự gian tà của các ông.58 Vậy bây giờ, hãy nói cho tôi biết ông đã bắt quả tang họ thông gian với nhau dưới cây nào? " - Người ấy đáp: "Dưới cây dẻ."59 Đa-ni-en mới bảo: "Cả ông nữa, ông cũng nói dối trắng trợn khiến ông phải mất mạng, vì thiên sứ của Thiên Chúa, tay cầm gươm, đang chờ để xẻ ông làm đôi nhằm tiêu diệt các ông."

 60 Bấy giờ toàn thể cộng đồng lớn tiếng reo hò và chúc tụng Thiên Chúa, Đấng cứu những kẻ trông cậy vào Người.61 Rồi người ta quay lại chống hai kỳ lão, vì Đa-ni-en đã dựa vào lời chính miệng các ông nói mà thuyết phục họ là các ông đã làm chứng gian.62 Theo luật Mô-sê, người ta giáng cho các ông hình phạt mà các ông định bắt người khác phải chịu, đó là giết các ông. Ngày ấy, máu người vô tội khỏi bị đổ oan.

ĐÁP CA : Tv 22

Đ. Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. (c 4a)

1 Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.2 Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.Người đưa tôi tới dòng nước trong lành 3a và bổ sức cho tôi.

3b Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người. 4 Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.

5 Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa.

6 Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Ed 33,11

Đức Chúa phán : Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống.

TIN MỪNG : Ga 8,1-11

1 Khi ấy, Đức Giê-su đến núi Ô-liu. 2 Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ.3 Lúc đó, các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Đức Giê-su một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa,4 rồi nói với Người: "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình.5 Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao? "6 Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giê-su cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất.7 Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi."8 Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất.9 Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giê-su, và người phụ nữ thì đứng ở giữa.10 Người ngẩng lên và nói: "Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao? " 11Người đàn bà đáp: "Thưa ông, không có ai cả." Đức Giê-su nói: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa! "

THIÊN CHÚA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT

Để hiểu được tấm lòng của Đức Giê-su đối với các tội nhân, không có tác giả Tin Mừng nào diễn tả tình thương tuyệt vời của Ngài bằng ông Luca qua dụ ngôn “Người con hoang đường”, cũng có thể gọi là “Người cha nhân hậu” (x Lc 15,11-32). Vì thế, câu chuyện những kinh sư và những người Pharisêu tố cáo người đàn bà ngoại tình bị bắt quả tang trong Goan chương 8,1-11, các nhà chú giải Thánh Kinh ngày nay đều nhất trí đây là câu chuyện của ông Luca ghi lại. Vì thế, muốn hiểu lòng thương xót của Đức Giê-su đối với các tội nhân,cụ thể như đối với người đàn bà trong Tin Mừng hôm nay, chúng ta phải tìm hiểu ý nghĩa những hình ảnh mà ông Luca đã dùng để diễn tả tình thương của người cha nhân hậu đối với đứa con biết sám hối trở về :

1/ NGƯỜI CHA TRÔNG THẤY CON TRỞ VỀ, ÔNG CHẠY LẠI BÁ CỔ HÔN LẤY HÔN ĐỂ (x Lc 15,20).

Thiên Chúa luôn có sáng kiến đi tìm tội nhân trước để bênh vực, để chở che, để chăm sóc. Cụ thể sau khi ông Adam, bà Eva phạm tội, họ tìm cách lánh mặt Chúa, thì Ngài lại đi tìm họ và hỏi : “Ngươi ở đâu?” Và Chúa đã đứng về phía con người chống lại rắn satan : “Miêu duệ người nữ sẽ đạp nát đầu mi” (St 3,15).

Người con thứ đang trên đường trở về, còn ở đằng xa thì người cha đã thấy con trước, ông chạy lại bá cổ con hôn lấy hôn để. Hình ảnh này đương nhiên làm ta nhớ đến ông Absalon là con vua Đavid đang tìm mưu kế giết vua cha để tiếm ngôi. Vậy mà khi Absalon trở về, vua Đavid đã chạy ra trước làm hòa với con, qua cử chỉ ông ôm hôn con (x 2Sm 14,23). Lẽ ra Absalon phải về xin cha tha thứ, nhưng vua Đavid để tiên báo tình thương của Đức Giê-su. Dầu sao vua Đavid chưa bị đứa con phản nghịch giết, thua xa Đức Giê-su bị những người thân tộc giết, vậy mà Ngài lại đi làm hòa với họ trước mặt Chúa Cha : “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm không biết việc mình làm” (Lc 23,34).

2/ NGƯỜI CHA XỎ NHẪN CHO CON (Lc 15,22).

Hình ảnh này có hai ý nghĩa :

    1. Trao quyền : Xưa vua Pharaon phóng thích ông Giuse là một tù nhân, vì vua muốn đặt ông Giuse làm tể tướng thay quyền vua để điều hành kinh tế trong toàn đế quốc Ai-cập, qua việc vua rút nhẫn trao cho Giuse (x St 41,42) ; điều này vẫn còn thua xa Đức Giê-su đối với ông Phê-rô là một trong các môn đệ biết xưng thú tội mình trước mặt Đức Giê-su, au mẻ cá lạ ông bắt được, ông nói : “Lạy Thầy, xin tránh xa con vì con là kẻ có tội” (Lc 5,8). Chính vì ông Phê-rô có lòng khiêm nhường thú tội, nên Đức Giê-su đã trao quyền đóng mở cửa Nước Trời cho ông (x Mt 16,18-19 ; Ga 21,15t). Và như vậy, ai càng ý thức mình nhiều tội mà biết sám hối trở về với Chúa như ông Phao-lô, thì lại là người mở cửa Nước Trời cho nhiều người vào nhất (x 2Cr 11,5).

    1. Trở nên Hiền Thê của Đức Ki-tô : Xưa kia bà Esther gốc Do-thái, đã bị vua Assurius ra án tru diệt dân tộc bà, vậy mà vua lại đem lòng sủng ái Esther cưới bà làm hoàng hậu, vua đã rút nhẫn trao cho bà (x Et 3,10 ; 8,2). Nhưng mối tình này vẫn còn thua xa ngôn sứ Hô-sê, Chúa bảo ông cưới con điếm Gô-mơ làm vợ. Ông Hô-sê tưởng đã dủ lòng thương Gô-mơ thì cô ta không trở lại con đường cũ. Nhưng Gô-mơ chứng nào tật ấy, cứ mỗi lần ông Hô-sê vắng nhà thì cô lại ruổi theo tình lang, ông Hô-sê ra sức tìm kiếm vợ về và còn tặng nhiều báu vật (x sách Hô-sê). Nhưng mối tình này vẫn còn thua xa con người tội lỗi trở về với Đức Giê-su khởi đi từ Bí tích Thánh Tẩy, thì Ngài lại yêu họ hơn ông Hô-sê yêu cô vợ trắc nết. Thánh Phao-lô nói : “Tôi đã đính hôn anh em với một người độc nhất là Đức Ki-tô, để tiến dâng anh em cho Ngài như một trinh nữ thanh khiết” (2Cr 11,2).

3/ MẶC ÁO THƯỢNG HẠNG CHO CON (Lc 15,22).

Một tội nhân trở về, được mặc áo thượng hạng, chính là họ được “mặc lấy Chúa Ki-tô” (x Gl 3,27), họ lại còn được mặc lấy công đức của các thánh để vào dự tiệc cưới Nước Trời (x Kh 19,7-8).

4/ XỎ GIÀY MỚI CHO CON (Lc 15,22).

Đây là hình ảnh đối nghịch với kẻ nô lệ, vì nô lệ không được mang giày dép, chỉ có con vua mới được mang giày đẹp. Đây là điều vượt sự mơ ước của người con, bởi lẽ nó chỉ ước được về làm tôi tớ trong gia đình (x Lc 15,19). Mà nô lệ thì không được ở trong nhà, chỉ có con mới được (x Ga 8,35).

5/ NGƯỜI CHA MỞ TIỆC MỪNG CON TRỞ VỀ (Lc 15,23).

Đây là dấu chỉ trong ngày Thiên Chúa toàn thắng sự dữ, làm cho cả loài người được ơn giải phóng khỏi tội lỗi, thoát nô lệ satan, đánh gục thần chết. Chân lý này đã được diễn tả qua hình ảnh vua Babylon sau khi đã toàn thắng các nước, lúc ấy Babylon trở thành bá chủ thế giới, vua Babylon mở đại tiệc ăn mừng. Khi ấy, ông phóng thích cho các vua của các nước ông đánh bại, và cho được dự tiệc với vua, trong số đó có ông Gioakim, vua nước Do-thái lại được vua Babylon cho ngồi ghế nhất trong hàng các vua, được mặc áo cẩm bào, được chung bàn với vua hằng ngày trong đời (x 2V 25,27-30). Bữa tiệc này đã diễn tả tiệc cánh chung Thiên Chúa thiết đãi muôn dân, tiệc đầy cao lương rượu nồng, mà ai đến dự không phải trả đồng nào. Dự tiệc này không ai còn khóc than, vì Chúa đã cất chiếc khăn tang bao trùm địa cầu, và lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt (x Is 25, 6-9).

Vào ngày Thiên Chúa cứu độ loài người, Đức Giê-su đã thực hiện bữa tiệc này đối với những ai trung tín với giáo huấn của Ngài, thì Ngài như một gia chủ đặt đầy tớ trung tín vào bàn tiệc và qua lại hầu hạ (x Lc 12,37t), Đức Giê-su đã thể hiện bữa tiệc này khi Ngài hầu hạ các môn đệ trong bữa Tiệc Ly trước khi lập Bí tích Thánh Thể (x Lc 22,7t).

Khi chúng ta đã cảm nhận được tình thương của Cha trên trời tuyệt vời như trên, tác giả đoạn Tin Mừng Ga 8,1-11 đã có ý so sánh Đức Giê-su xử án kẻ có tội trổi vượt hơn ông Daniel ngồi xét xử hai vị kỳ mục cáo gian bà Sasanna phạm tội ngoại tình, để bênh vực người bị oan (x Dn 13 : Bài đọc) :

a- Cựu Ước xét xử dựa trên pháp lý, cao điểm hoàn tất bản án hợp lý là : kẻ có tội bị loại trừ (hai lão gìa), người vô tội được giải oan (bà Su-san-na).

b- Tân Ước xét xử dựa trên pháp lý và ân sủng:

* Dựa trên pháp lý : Chính Chúa Giê-su đã nại vào luật của ông Mô-sê mà xét xử : Nếu họ bắt được bị can phạm tội qủa tang, thì hãy lôi nó ra trước cổng thành mà tố cáo. Nếu có một chứng nhân thì bị can không bị chết ; nếu có hai chứng nhân, thì can phạm bị án tử, ai làm chứng thì hãy lượm đã ném trước, và những người khác ném sau, cho đến khi bị can chết ! (x Dnl 17,5-7 ; 22,22-27)

* Dựa trên ân sủng : Cách xử của Đức Giê-su làm cho hết mọi người nhận ra tội trạng của mình : cả người tố cáo lẫn bị can đều phải ra đi để sửa mình : “Hãy đi và đừng phạm tội nữa !” Nhưng thực ra chỉ có người phụ nữ nán lại bên Đức Giê-su là người sám hối, nên được Ngài tha tội, vì Ngài được sai đến không phải để xử án xử ai, nhưng để nhờ danh Ngài mà được cứu độ ! (x Ga 3,17) Còn những kẻ lủi đi, vì họ biết Đức Giê-su đã nhìn thấu tâm can của họ, nhưng họ tự ái và căm phẫn thêm, nên bỏ đi và bàn mưu tính kế với người Roma để chờ dịp triệt Ngài !

Vậy xưa kia máu người vô tội như bà Su-san-na không phải đổ cách vô ích (x Dn 13,62) ; Nay máu người vô tội như Đức Giê-su phải đổ, để mọi tội nhân thoát án tử mà được sống ! (x Rm 3,25 ; 1Pr 1,19-21).

Đặc biệt ai đến gặp Đức Giê-su dù có ác ý muốn hại Ngài, thì Ngài cũng làm cho họ nhận biết mình có tội xấu hổ mà ra đi, mà dù nó ra đi để bày mưu tính kế hại Ngài, khi giết được Ngài, Ngài lại trở nên nguồn ơn cứu độ cho những ai biết sám hối tội mà chạy đến cùng Ngài xin được thương xót. Bởi vì “Chúa là Mục Tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính, vì danh dự của Ngài” (Tv 23/22,1-3 : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

 Những ai ở trong Đức Ki-tô Giê-su, thì không còn bị lên án nữa (Rm 8,1)







Tác giả: Đinh Quang Thịnh, Lm.
   dunglac@gmail.com