Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Đinh Quang Thịnh, Lm.
Bài Viết Của
Đinh Quang Thịnh, Lm.
TUẦN SAU CN 2 PHỤC SINH

Đinh Quang Thịnh, Lm.


o0o



o0o


THỨ BẢY SAU CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH

Cv 6, 1-7 ; Ga 6, 16-21

BÀI ĐỌC : Cv 6, 1-7

1 Thời đó, khi số môn đệ thêm đông, thì các tín hữu Do-thái theo văn hoá Hy-lạp kêu trách những tín hữu Do-thái bản xứ, vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên.2 Bởi thế, Nhóm Mười Hai triệu tập toàn thể các môn đệ và nói: "Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống, là điều không phải.3 Vậy, thưa anh em, anh em hãy tìm trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm công việc đó.4 Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa."5 Đề nghị trên được mọi người tán thành. Họ chọn ông Tê-pha-nô, một người đầy lòng tin và đầy Thánh Thần, cùng với các ông Phi-líp-phê, Pơ-rô-khô-rô, Ni-ca-no, Ti-môn, Pác-mê-na và ông Ni-cô-la, một người ngoại quê An-ti-ô-khi-a đã theo đạo Do-thái.6 Họ đưa các ông ra trước mặt các Tông Đồ. Sau khi cầu nguyện, các Tông Đồ đặt tay trên các ông.

7 Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, và tại Giê-ru-sa-lem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin.

ĐÁP CA : Tv 32

Đ. Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa,

như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài. (c 22)

1 Người công chính, hãy reo hò mừng Chúa,kẻ ngay lành, nào cất tiếng ngợi khen.2 Tạ ơn Chúa, gieo vạn tiếng đàn cầm, kính mừng Người, gảy muôn cung đàn sắt.

4 Vì lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. 5 Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất.

TUNG HÔ TIN MỪNG :

Hall-Hall : Đức Ki-tô nay đã phục sinh, chính Người đã tạo thành vạn vật và xót thương cứu độ loài người. Hall.

TIN MỪNG : Ga 6, 16-21

16 Chiều đến, các môn đệ xuống bờ Biển Hồ,17 rồi xuống thuyền đi về phía Ca-phác-na-um bên kia Biển Hồ. Trời đã tối mà Đức Giê-su chưa đến với các ông.18 Biển động, vì gió thổi mạnh.19 Khi đã chèo được chừng năm hoặc sáu cây số, các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt Biển Hồ và đang tới gần thuyền. Các ông hoảng sợ.20 Nhưng Người bảo các ông: "Thầy đây mà, đừng sợ! "21 Các ông muốn rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc đó thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến.

SÓNG GIÓ TRONG CUỘC ĐỜI

Là con người ai trong cuộc đời cũng gặp nhiều sóng gió, nhất là người Công Giáo lại cảm thấy mình gặp nhiều sóng gió hơn ai hết. Có ba loại sóng gió làm khổ con người :

    • Sóng gió bởi thiên nhiên gây nên.
    • Sóng gió bởi dục vọng, thân phận yếu đuối con người gây ra.
    • Sóng gió bởi sống sai giáo lý của Chúa.

I. SÓNG GIÓ BỞI THIÊN NHIÊN GÂY NÊN.

Sóng gió do thiên nhiên gây nên như thuyền các Tông Đồ gặp sóng gió trên biển (x Ga 6, 16-21 : Tin Mừng), hoặc lụt lội, động đất, bệnh tật, chết chóc, tất cả chúng đều có thể bất ngờ phủ lên đầu mọi người.

Lý do Chúa để thiên nhân gây sóng gió cho ta để ta biết rằng : Thế giới này không phải là nhà vĩnh viễn của ta, và có khi do loài thụ tạo Chúa dựng nên nó cướp lấy sự sống ta. Bởi đó, ta khao khát một thế giới hạnh phúc vĩnh cửu.

II. SÓNG GIÓ BỞI DỤC VỌNG, THÂN PHẬN YẾU ĐUỐI CON NGƯỜI GÂY RA.

Cụ thể như thánh Phao-lô, vị Tông Đồ xuất sắc nhất, cũng bị tính xác thịt nổi loạn, làm ông chới với, như ông thú nhận với giáo đoàn Roma : “Chẳng có gì lành cư ngụ trong tôi, sự thiện tôi muốn, tôi không làm, còn điều dữ tôi ghét, tôi lại cứ làm” (Rm 7,18-19), và ông đã năn nỉ với Chúa đã ba lần, nhưng Chúa chỉ trả lời : “ơn Ta đủ cho ngươi,vì quyền năng chỉ được bày tỏ vẹn toàn trong yếu đuối” (2Cr 12,8-10).

Như thế Chúa cho phép tội lỗi tấn công con người nhằm giúp ta biết sống khiêm tốn. chính thánh Phao-lô đã nói : Để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mạc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Xa-tan được sai đến vả mặt tôi” (2 Cr 12, 7). Và như thế càng thấy đời mình làm việc thành công, thì lại càng phải bám chặt lấy Chúa mà tạ ơn, để nói với mọi người đang ngưỡng mộ mình : “Chúa đó” (x Ga 21,7), chứ đừng vênh vang tự đắc như thể mình đã không lãnh nhận bởi Chúa (x 1Cr 4,7).

Vậy “ngã vào tội là người ; ở lại trong tội là quỷ” (ngạn ngữ Đức). Chúa không muốn ai ở lại trong tội giống quỷ, vì người ta được dựng nên giống Thiên Chúa!

Ta hãy năng đến tham dự Phụng Vụ và thưa cùng Chúa : “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng” (Tv 51/50,12a ).

III. SÓNG GIÓ BỞI SỐNG SAI GIÁO LÝ CỦA CHÚA.

Có ba loại sóng gió bởi sống sai giáo lý của Chúa.

Sóng gió bởi không tin quyền giáo huấn của Hội Thánh.

Sóng gió do không chu toàn sứ mệnh ngôn sứ.

Sóng gió vì đảo lộn sứ mệnh Chúa trao.

Sóng gió bởi tội đòi làm “thầy cả”.

1/ Sóng gió bởi không tin quyền giáo huấn của Hội Thánh.

Vì Chúa muốn mọi người phải được cứu độ trong một “chuồng chiên” là Hội Thánh Ngài lập, nhất là phải tin vào quyền giáo huấn của Hội Thánh mà Chúa Giê-su đã trao (x Mt 11,25-26 ; 16,13-19 ; Ga 18,19-23 ; Gl 1,8), vì không thể tìm được chân lý vẹn toàn ngoài Hội Thánh. Thế mà, có nhiều kẻ đã không xác tín như trên, họ đã ly khai với Hội Thánh. Bởi lẽ những người này thấy nhiều người Công Giáo sống thiếu gương mẫu, không phải chỉ ở nơi giáo dân, mà còn lần lên tới Giáo hoàng. Do đó, họ không tin là Chúa dùng các chủ chăn trong Giáo Hội để giảng dạy Lời Chúa, vì vậy họ tách ra thành nhiều giáo phái như ý mỗi người : Nào là Chính thống, Tin lành, Anh giáo ! Sự cố đau lòng này trái với lời cầu nguyện của Đức Giê-su cho Hội Thánh Ngài được luôn hiệp nhất : “Lạy Cha, xin cho chúng nên một như Con ở trong Cha và Cha ở trong Con” (Ga 17,21-23), không biết bao giờ lời cầu nguyện này mới được ứng nghiệm !? Thảm họa này tệ hơn xưa kia bà Ma-ri-am thấy ông Mô-sê lấy vợ ngoại giáo người Kush, nên bà không tin Chúa dùng riêng ông để nói Lời Chúa cho dân, bà nói : “Dễ chừng Chúa chỉ phán dạy qua Mô-sê mà thôi sao, Ngài đã không phán dạy ngang cả chúng ta đó ư ?” Chúa nghe được, Ngài phạt bà bị cùi tức khắc ! (x Ds 12,1-13) Loại sóng gió bởi tội mất niềm tin vào chủ chăn trong Hội Thánh nên lập ra các giáo phái khác, Chúa không muốn nó xảy ra vì nó chỉ làm khổ mọi người, làm mất vinh danh Chúa ! Thế mà có ai nhận ra sóng gió đó là do bởi tội mình gây nên, để bắt chính mình phải làm theo ý Chúa qua giáo huấn của Hội Thánh ?!

2/ Sóng gió do không chu toàn sứ mệnh ngôn sứ.

Nhìn vào đời sống Hội Thánh sau hơn 20 thế kỷ, tỷ lệ người Công Giáo không gia tăng, nhưng lại đi xuống cách trầm trọng! Ngày 5 tháng giêng năm 2010, Đài Chân Lý Á Châu loan tin : Công Giáo Hòa Lan cách đây 50 năm là một nước có sức truyền giáo mạnh, nhưng ngày nay 41% tuyên bố vô thần, 58% không còn biết gì về lễ Giáng Sinh nữa. Nhiều Nhà Thờ thành ký túc xá, tiệm buôn hoặc biến thành Nhà thờ Hồi Giáo ! Giới trẻ hiếm có người dạy giáo lý cho, nên chúng không biết hỏi ai về niềm tin. Một số Linh mục Dòng Đaminh và Dòng Tên chủ trương Thánh Lễ không cần Linh mục, chỉ một số giáo dân quy tụ lại cầu nguyện để cùng đồng tế với nhau ! Công Giáo Hòa Lan có nguy cơ biến mất !

Dân Chúa hôm nay đang tái diễn cảnh thất bại thời con cháu Noe xây tháp Babel : Họ muốn xây tháp chạm Trời, nhưng không thành công, vì không chung một ngôn ngữ, thế là họ phải tản đi khắp thế giới (x St 11,1-9). Ngày nay nhiều người Công Giáo đang bỏ đạo, hoặc sang tôn giáo khác, cũng chỉ vì người ta đến Nhà Thờ nghe nhiều vị giảng cách tự biên tự diễn, không giảng đúng với quy định về Luật giảng dạy trong Hiến Chế Phụng Vụ :

    • Khi cử hành Phụng Vụ, Kinh Thánh giữ vai trò tối quan trọng. Thực vậy, Hội Thánh đã trích từ Kinh Thánh những Bài đọc để diễn giải trong Bài giảng” (số 24).

    • Bài giảng thuộc phần hoạt động của Phụng Vụ, nên phải có thời giờ thích hợp để giảng giải…Phải hết sức trung thành chu toàn thừa tác vụ giảng giải đúng với Nghi lễ. Tiên vàn bài giảng phải múc lấy từ nguồn Kinh Thánh và Phụng Vụ , vì như thế là rao truyền việc kỳ diệu của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ (số 35).

    • Bài giảng phải căn cứ vào Thánh Kinh để trình bày các mầu nhiệm đức tin và các qui tắc cho đời sống Kitô hữu trong suốt chu kỳ năm phụng vụ. Bài giảng rất đáng được coi như một phần của chính Phụng Vụ (số 52).

Vào ngày 23 tháng 03 năm 2010, Đài Chân Lý Á Châu lại đưa tin : Tổng Giám mục Pháp tại Paris, mùa Chay năm 2010 đã mời một giáo trưởng Do-thái đến giảng Tĩnh Tâm tại Nhà Thờ Notre-Dame (Nhà Thờ Đức Bà), nhiều giáo dân phản đối bằng việc đến lần hạt Mân Côi, thì đuổi ra khỏi Nhà Thờ. Ta biết người Do-thái chỉ tin vào Cựu Ước dọn lòng người Do-thái đón chờ Đấng Mésia, còn chỉ Đức Giê-su chỉ là một ngôn sứ. Hỏi vị Tổng Giám mục nổi tiếng của thủ đô nước Pháp mời một giáo trưởng Do-thái, thì họ giảng Kinh Thánh có dẫn người ta tin vào Đức Giê-su là Đấng Cứu Độ duy nhất không ? Và vị giáo trưởng đó có dựa vào những bản văn Kinh Thánh được Hội Thánh chọn để khai triển các mầu nhiệm đức tin và những quy tắc cho đời sống người Ki-tô hữu theo Hiến Chế Phụng Vụ số 52 của Công Đồng Vaticano II hay không ? Thế nhưng vị Tổng Giám mục này đã dùng quyền đuổi những người chống đối việc làm đó ra khỏi Nhà Thờ ! Đó có phải là lạm quyền bính hay không ? Mà ông Giám mục này có bị huyền chức hay không ?

Nếu giáo dân đi dự lễ bất cứ nhà thờ Công Giáo nào, cũng được nghe lời giáo huấn do các chủ chăn khai triển từ các bản văn Kinh Thánh, làm đúng với Quy Luật Phụng Vụ, như giáo huấn của Hiến Chế Phụng Vụ trong Công Đồng Vatican II đã dạy như trên, thì chắc chắn tháp Babel mới càng ngày càng được xây dựng rộng và cao hơn ngày lễ Ngũ Tuần, mà giáo dân được Thủ lãnh Phê-rô chỉ huy xây dựng (x Cv 2).

3/ Sóng gió vì đảo lộn sứ mệnh Chúa trao.

Cụ thể các Tông Đồ của Đức Giê-su vào thời Giáo Hội sơ khai được giáo dân tín nhiệm, họ bán hết tài sản góp cho cho Tông Đồ để chia sẻ đồng đều cho mọi người. Quả thật, bản chất việc làm này là tốt, vì đã diễn tả thời cánh chung trong Nước Thiên Chúa chẳng ai thiếu thốn gì. Vì thế, các Tông Đồ mải mê công việc này mà xao nhãng cầu nguyện và giảng Lời, tức là bỏ bổn phận chính yếu mà làm việc phụ, hậu quả gây sóng gió trong cộng đoàn, các tín hữu bất hòa với nhau ! Kinh Thánh đã trách : “Nhiều kẻ giữ đạo hình thức, vì nó loại bỏ điều chính mà làm điều phụ” (2Tm 3,5). Thánh Augustin nói : “Bạn chạy khỏe lắm đó, nhưng trật đường mất rồi”. Chúa soi sáng cho các Tông Đồ nhận biết mình sai lầm, nên các ông đã chọn ra bảy người có uy tín trong dân gọi là Phó tế, để trao việc quản lý tài sản của Giáo Hội và chia sẻ của cải cho mọi người không ai dư của, không ai túng thiếu ; còn các Tông Đồ thì trở về với nhiệm vụ chính là cầu nguyện và giảng Lời, từ bấy giờ Hội Thánh được bình an và phát triển (x Cv 6,1-7).

Như vậy các Tông Đồ khi đảo lộn sứ mệnh được Chúa trao phó như ngày lãnh Bí tích Thánh Tẩy, đặc biệt là lãnh Bí tích Truyền Chức, sứ mệnh được Chúa trao qua Hội Thánh là :

“I- Tư Tế (cầu nguyện) ; II- Ngôn sứ (giảng Lời) ; III- Vương đế (điều hành, quản trị, và phục vụ cộng đoàn)”.

Thế nhưng, các Tông Đồ đã triệt để thi hành sứ mệnh vương đế, và đưa lên hàng ưu tiên (hạng III đưa lên hạng I). Họ đã chẳng giống Thầy Giêsu, Ngài vốn dĩ là Vua, nhưng xem ra Ngài không thể hiện quyền Vua, cụ thể có lần một người xin Ngài can thiệp vào việc chia gia tài, thì Ngài đã khước từ ! (x Lc 12,13-14), và mặc dù Ngài dư khả năng cho kẻ đói ăn và chữa lành mọi bệnh tật, nhưng nếu vì việc ấy làm ngăn trở việc cầu nguyện và giảng Lời, thì Ngài phải trốn nhu cầu của dân mà đi (x Mc 1,21-39). Thế thì Đức Giê-su chỉ lo chu toàn hai sứ mệnh Tư tế và Ngôn sứ, là cách Ngài chu toàn sứ mệnh Vương đế.

Một số Linh mục tại vùng quê vẫn còn cường điệu tỏ vương quyền của mình một cách lố bịch : Giáo dân nào không vừa ý cha Sở, thì bị cha Sở dứt phép Thông Công trước cộng đoàn, trong khi đó Linh mục không được quyền này theo theo Giáo Luật !

4/ Sóng gió bởi tội muốn làm “thầy cả”.

Thực tế không ai có thể tự mình giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống mà phải biết phân công việc làm cho người khác theo khả năng của họ. Cụ thể vào thời Giáo Hội sơ khai, các Tông Đồ đã có lúc đòi làm “thầy cả”, nghĩa là vơ mọi việc vào tay để làm : nhận tiền giáo dân đóng góp để chia sẻ, cầu nguyện và giảng Lời, thì đã xảy ra xáo trộn trong cộng đoàn. Nhưng khi các Tông Đồ trao công việc quản lý tiền cho các Phó tế để phân phát đồng đều cho mọi người, còn các ông chỉ chuyên lo việc cầu nguyện và giảng Lời, thì cộng đoàn mới bình an và phát triển. Các Tông Đồ phải làm như thế, là bắt chước ông Mô-sê đã nghe nhạc phụ chỉ bảo : Ông Mô-sê phải chia cộng đoàn ra từng đơn vị nhỏ, 1000, 100, 50, 10 người, mỗi đơn vị ấy đặt một thủ lãnh. Các thủ lãnh tự ý giải quyết những vấn đề trong cộng đoàn của mình. Khi giải quyết không được, mới đem trình ông Mô-sê, lúc ấy ông Mô-sê mới can thiệp vào việc của cộng đoàn. Nhờ vậy mà ông Mô-sê không còn quá bận rộn, có đủ sáng suốt để giải quyết mọi vấn đề, từ bấy giờ cộng đoàn được ổn định, phát triển không ngừng (x Xh 18,13-23).

Sau khi chúng ta đã nhận định về những nguyên nhân và tai họa của những loại sóng gió tấn công con người, ta đi đến kết luận :

    • Có 6 loại sóng gió xô vào đời ta, nhưng chỉ có hai loại sóng gió đôi lúc Chúa cho phép xảy ra : sóng gió do thiên nhiên và sóng gió bởi tội con người. Nhưng những loại sóng gió này Chúa đều nhằm giáo dục và huấn luyện ta. Trái lại, bốn sóng gió : không tin vào quyền giáo huấn Hội Thánh, không chu toàn sứ mệnh ngôn sứ, đảo lộn sứ mệnh Chúa trao, đòi làm “thầy cả”, hoàn toàn do con người gây ra, nó phá hoại hạnh phúc hồn xác mọi người.
    • Hai loại sóng gió Chúa cho phép xảy ra, nếu có gây họa, thì chỉ là thiệt thân xác một số người, trong một thời gian ngắn. Trái lại, bốn sóng gió kia do tội con người gây ra, thì gây tai họa cả hồn xác không biết bao nhiêu người mà kể, và kéo dài đến vô tận !
    • Bốn sóng gió gây ra bởi không thực hành giáo lý của Chúa, không ai khác mà là chính hàng giáo sĩ làm hại biết bao người cả hồn xác, bởi vì giáo dân chẳng ai được quyền đứng trên tòa giảng mà phán, trừ giáo sĩ. Dựa vào ý của thánh Gioan Vianey, ta có nói : “Giám mục thánh thiện, Linh mục đạo đức ; Giám mục đạo đức, Linh mục tầm thường ; Giám mục tầm thường, thì Linh mục ra quỷ !” Không lẽ đoàn lũ quỷ lãnh đạo các giáo xứ ?!

Tại sao khi ta bị tai họa sóng gió xảy đến, ta chỉ quy trách nhiệm cho Thiên Chúa làm khổ con người, mà không biết xét mình để từ bỏ lối sống lạc xa giáo lý của Chúa !

Vậy mỗi khi ta làm việc gì hãy cầu nguyện xin Chúa soi sáng, hướng dẫn việc ta làm cho đúng bổn phận theo ý Chúa. Bởi vì “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương, hầu cứu họ khỏi tay thần chết, và nuôi sống trong buổi cơ hàn” (Tv 33/32, 18-19 : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolo II nhắc nhở cho hàng giáo sĩ : “Một mối nguy thường xuyên nơi các chủ chăn trong Hội Thánh là năng nổ, đắm chìm trong công việc của Chúa, mà quên mất Chúa (bỏ cầu nguyện) của công việc”.



o0o


THỨ SÁU SAU CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH

Cv 5, 34-42 ; Ga 6, 1-15

BÀI ĐỌC : Cv 5, 34-42

34 Bấy giờ có một người Pha-ri-sêu tên là Ga-ma-li-ên đứng lên giữa Thượng Hội Đồng; ông là một kinh sư được toàn dân kính trọng. Ông truyền đưa các đương sự ra ngoài một lát.35 Rồi ông nói với Thượng Hội Đồng: "Thưa quý vị là người Ít-ra-en, xin quý vị coi chừng điều quý vị sắp làm cho những người này.36 Thời gian trước đây, có Thêu-đa nổi lên, xưng mình là một nhân vật và kết nạp được khoảng bốn trăm người; ông ta đã bị giết, và mọi kẻ theo ông cũng tan rã, không còn gì hết.37 Sau ông, có Giu-đa người Ga-li-lê nổi lên vào thời kiểm tra dân số, và lôi cuốn dân đi với mình; cả ông này cũng bị diệt, và tất cả những người theo ông ta đều bị tan tác.38 Vậy giờ đây, tôi xin nói với quý vị: hãy để mặc những người này. Cứ cho họ về, vì nếu ý định hay công việc này là do người phàm, tất sẽ bị phá huỷ;39 còn nếu quả thật là do Thiên Chúa, thì quý vị không thể nào phá huỷ được; không khéo quý vị lại thành những kẻ chống Thiên Chúa." Họ tán thành ý kiến của ông.

 40 Họ cho gọi các Tông Đồ lại mà đánh đòn và cấm các ông không được nói đến danh Đức Giê-su, rồi thả các ông ra.41 Các Tông Đồ ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giê-su.

42 Mỗi ngày, trong Đền Thờ và tại tư gia, các ông không ngừng giảng dạy và loan báo Tin Mừng về Đức Ki-tô Giê-su. 

ĐÁP CA : Tv 26

Đ. Một điều tôi kiếm tôi xin, là luôn được ở trong Đền Chúa tôi. (c 4ab)

1 Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào? Chúa là thành luỹ bảo vệ đời tôi,tôi khiếp gì ai nữa?

4 Một điều tôi kiếm tôi xin, là luôn được ở trong đền Chúa tôi mọi ngày trong suốt cuộc đời, để chiêm ngưỡng Chúa tuyệt vời cao sang, ngắm xem thánh điện huy hoàng.

13 Tôi vững vàng tin tưởng sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống. 14 Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào! Hãy cậy trông vào Chúa.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Mt 4,4

Hall-Hall : Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi Lời miệng Thiên Chúa phán ra. Hall.

TIN MỪNG : Ga 6, 1-15

1 Bấy giờ, Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a.2 Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm.3 Đức Giê-su lên núi và ngồi đó với các môn đệ.4 Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái.

 5 Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp-phê: "Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây? "6 Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi.7 Ông Phi-líp-phê đáp: "Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút."8 Một trong các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người:9 "Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu! "10 Đức Giê-su nói: "Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi." Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn.11 Vậy, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý.12 Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ: "Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi."13 Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng.14 Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giê-su làm thì nói: "Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian! "15 Nhưng Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.

MẦU NHIỆM BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Trình thuật Đức Giê-su hóa bánh nuôi dân, thánh sử Gioan ghi nhận đây là dấu chỉ, ông không ghi là phép lạ. Dấu chỉ đó chính là tiên báo việc Đức Giê-su lập Bí tích Thánh Thể, để nhờ đó ta rút ra những bài giáo lý, giúp ta sống Bí tích Tình Yêu này.

1/ BÍ TÍCH THÁNH THỂ LÀ MỘT HY TẾ MỚI CỦA ĐỨC GIÊSU CỬ HÀNH TRÊN NÚI SỌ THAY THẾ CHO MỌI HY TẾ.

Thánh Gioan viết : “Đức Giê-su lên núi và ngồi đó với các môn đệ của Ngài. Lễ Vượt Qua, đại lễ của người Do-thái đã gần” (Ga 6,3 : Tin Mừng). Đây là dấu chỉ vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, dịp lễ Vượt Qua, Đức Giê-su bị ông Philato ra lệnh giết vào 12 giờ trưa, cũng chính là lúc người Do-thái giết chiên tế lễ Thiên Chúa (x Ga 19,14). Như vậy Đức Giê-su bị giết mới chính là Con Chiên bị sát tế dâng Chúa Cha, để thay cho con chiên của người Do-thái sát tế. Để từ đây Chúa không muốn nhận của lễ người Do-thái dâng theo Luật Mô-sê, mà phải dâng theo thể thức Đức Giê-su đã lập, từ khi Ngài bị vác thập giá lên núi Sọ (x Ga 19,17). Hy Tế này Đức Giê-su truyền cho Hội Thánh (các Tông Đồ) hãy làm hiện tại hóa mỗi ngày cho đến ngày cánh chung để nhớ đến Ngài (x 1Cr 11,23-27).

2/ ĐỨC GIÊSU MUỐN TA CỘNG TÁC VỚI NGÀI TRONG HY LỄ NGÀI DÂNG BẰNG VIỆC ĐOÁN Ý CỦA NGƯỜI KHÁC ĐỂ PHỤC VỤ GIỐNG NGÀI.

Thánh Gioan ghi nhận : Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp-phê: "Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?"Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi” (Ga 6,5-6 : Tin Mừng).

Ta biết Đức Giê-su là Thiên Chúa toàn năng, Ngài dư quyền phép biến những cục đá thành bánh nuôi dân. Nhưng Ngài thử xem chúng ta – các Tông Đồ - có sẵn sàng bắt chước Ngài đoán ý của người khác mà phục vụ hay không ? Vì lúc Đức Giê-su nhìn thấy một đoàn lũ dân đông có lẽ gấp ba lần số đàn ông có mặt là 5.000 người, nếu hôm đó đếm cả đàn bà con nít. Tất cả họ đang đói lả, kẻ đứng người ngồi trước mặt Đức Giê-su, họ chưa cất tiếng xin Ngài cho bánh ăn, thì Ngài đã lên tiếng hỏi các môn đệ : “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn ?”

    3/ MỌI NỖ LỰC TRONG SINH HOẠT CỦA TA, ĐỨC GIÊSU MUỐN TA GÓP NÊN MỘT CỦA LỄ VỚI NGÀI.

Thánh Gioan viết : “Ông Phi-líp-phê đáp: "Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.” (Ga 6,7 : Tin Mừng).

Hai trăm quan tiền là lương của một người lao động dành dụm suốt một năm,vì lương công nhật mỗi người chỉ được một quan (x Mt 20,2).

Như thế, các Tông Đồ nói : “Chúng con nếu có 200 quan cũng không đủ để mua bánh cho mỗi người một chút”, có nghĩa là dù họ có tận lực lo cho dân, họ cũng chẳng giải quyết được nhu cầu của tập thể đang đói. Trường hợp như thế, ta hãy sống tinh thần thánh Phao-lô dạy: “Dù ăn, dù uống, dù làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1Cr 10,31), hoặc “Anh em có làm việc gì thì hãy làm như thể làm cho Chúa, chứ không phải cho người đời” (Cl 3,23).

4/ MỌI KI-TÔ HỮU DÙ LỚN HAY NHỎ PHẢI Ý THỨC SỐNG PHỤC VỤ NHƯ ĐỨC GIÊSU.

Thánh Gioan ghi nhận : "Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu! " (Ga 6,9 : Tin Mừng).

Hình ảnh em bé ám chỉ về những Ki-tô hữu (x 1Ga 2,1.12.14.18.28) ; gồm mọi người lớn nhỏ đều được Đức Giê-su mời gọi cộng tác với Ngài để chăm sóc đồng loại, dù bản thân không đủ khả năng giải quyết được nhu cầu lớn lao của con người. Bởi vì theo như Tin Mừng Nhất Lãm thì năm chiếc bánh và hai con cá không đủ cho nhu cầu cộng đoàn Thầy trò 13 người cũng đang đói (x Mt 14,17).

Vậy hãy bắt đầu phục vụ bằng điều kiện mình đang có. Người ta hỏi Mẹ Tê-rê-sa Calcutta : “Mẹ có chương trình gì cứu đói nhân loại hay không ?” Mẹ trả lời : “Tôi không có chương trình nào cả, nhưng ông có gì ở trên tay thì hãy đem chia sẻ đi”.

5/ RỘNG TAY CHIA SẺ THEO Ý CHÚA KHÔNG BAO GIỜ TA THIẾU HỤT.

Với năm chiếc bánh và hai con cá dù là của các Tông Đồ (x Mt 14,17), dù là của em bé (x Ga 6,9), nếu đem phân phát hết cho dân, chẳng những không giải quyết được nhu cầu đoàn lũ trên 5.000 người đang đói, mà các Tông Đồ hay em bé lại lâm cảnh đói. Thế mà khi năm chiếc bánh và hai con cá đó được đặt vào tay Đức Giê-su để phân phát, thì làm cho mọi người ăn no, lại còn dư 12 thúng. Sự kiện này minh chứng Lời Đức Giê-su đã nói : “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6,38). Cũng thế, thánh Phao-lô nói : “Gieo ít thì gặt ít; gieo nhiều thì gặt nhiều. Mỗi người hãy cho tuỳ theo quyết định của lòng mình, không buồn phiền, cũng không miễn cưỡng, vì ai vui vẻ dâng hiến, thì được Thiên Chúa yêu thương.Vả lại, Thiên Chúa có đủ quyền tuôn đổ xuống trên anh em mọi thứ ân huệ, để anh em vừa được luôn đầy đủ mọi mặt, vừa được dư thừa mà làm mọi việc thiện, theo như lời đã chép: Kẻ túng nghèo, Người rộng tay làm phúc; đức công chính của Người tồn tại muôn đời” (2Cr 9,6-9).

6/ BÍ TÍCH THÁNH THỂ LÀM CHO THÂN XÁC TA DÙ CÓ CHẾT CŨNG ĐƯỢC SỐNG LẠI VINH HIỂN, HƠN NGÔN SỨ ÊLYSÊ, ĐƯỢC THẦY ÊLYA BAN QUYỀN NĂNG GẤP ĐÔI (x 2 V 2,9-10).

Cụ thể người ta đem 20 chiếc bánh lúa mạch cho ông Êlysê, chỉ ngần ấy bánh ông đã phân phát cho cả 100 người ăn no nê mà vẫn còn dư (x 2V 4,42-44). Điều ấy vẫn thua xa Đức Giê-su dùng năm chiếc bánh và hai con cá nuôi cả đám đông người ăn no nê, trở nên dấu chỉ về Bí tích Thánh Thể, ai ăn bánh đích thực bởi Trời Ngài ban là Thánh Thể, thì dù có chết cách nào cũng được sống lại vinh hiển muôn đời, hơn hẳn xác của các chiến sĩ vất vào mộ ngôn sứ Êlysê đều được sống lại nhưng không sống đời đời (x Ga 6,54 ; 2V 13,21).

Trong những của ăn ta tìm kiếm, không có của ăn nào có giá trị bền vững, tồn tại đem lại hạnh phúc dồi dào cho ta bằng của ăn Thánh Thể. Vì đây là công việc của Thiên Chúa có giá trị cho ta được sống muôn đời, không sự dữ nào cướp mất hồn xác ta. Như Lời Kinh Thánh đã xác nhận : “Công việc nào do tự loài người, tất sẽ bị phá hủy, nhược bằng là do tự Thiên Chúa thì không ai có thể phá hủy nổi, mà còn lâm họa trở thành những kẻ đối địch với Thiên Chúa” (Cv 5, 38-39 : Bài đọc – Bản dịch NTT).

7/ MỌI KI-TÔ HỮU CÓ TRÁCH NHIỆM ĐÓNG GÓP CỦA CẢI ĐỂ PHÁT TRIỂN TIN MỪNG VÀ XÂY DỰNG HỘI THÁNH.

Thực vậy, sau khi mọi người đã ăn no nê, Đức Giê-su bảo các môn đệ thu lại những mẩu bánh người ta ăn dư được 12 thúng đầy ! Con số 12 là dấu chỉ 12 môn đệ Đức Giê-su tuyển chọn để đặt làm nền tảng xây dựng Hội Thánh Ngài (x Cv 1,15-26). Thế thì mọi người Ki-tô hữu có bổn phậm làm phát triển Tin Mừng và xây dựng Hội Thánh, chưa cần họ phải nhịn ăn nhịn mặc để có của cải đóng góp với các chủ chăn, mà Chúa chỉ cần họ ý thức góp của dư nuôi thân xác, cũng đủ cho Hội Thánh có nhiều điều kiện để phát triển Tin Mừng.

Thí dụ ta định mua chiếc xe 40.000 USD, thì ta chọn chiếc 39.000 USD. Tưởng rằng ta dùng một trong hai chiếc xe này tương đương nhau, nhưng ta có dư 1.000 USD góp cho Hội Thánh. Nếu mọi Ki-tô hữu ai cũng ý thức dùng tiền của như thế, thì họ đã làm ứng nghiệm Lời Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Hãy thu lại những mẩu bánh người ta ăn dư, và các Tông Đồ đã thu được 12 thúng”. Chính vì vậy mà điều răn thứ V của Hội Thánh nhắc nhở cho người Ki-tô hữu phải đóng góp tiền của cho nhu cầu của Giáo Hội (điều răn mới xem trong sách GLHT số 2041-2043), thì không nặng nề đối với người Ki-tô hữu. Ấy chưa kể có những tâm hồn quảng đại dâng hiến hết cả tài sản kếch xù của mình cho công việc truyền giáo, thì càng làm Chúa vinh hiển biết mấy !

8/ ĐỨC GIÊSU CHỈ MUỐN LÀM VUA CHĂM SÓC NHỮNG NGƯỜI Ý THỨC TÌM NHỮNG THỰC TẠI NƯỚC TRỜI TRƯỚC.

Bởi vì “quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,20-21). Chứ đừng sống như những kẻ chỉ biết “lấy cái bụng làm chúa” (Pl 3,19), nên đã dồn hết nỗ lực đi tìm kiếm những của đời này cho thân xác, đến nỗi họ muốn tôn Đức Giê-su làm Vua để Ngài giúp họ được toại nguyện, nên Ngài đã trốn họ lên núi cầu nguyện (x Ga 6, 14-15 : Tin Mừng).

Người Ki-tô hữu sống 8 điểm giáo lý về Bí tích Thánh Thể trên đây, mà ta đã tìm thấy mỗi khi đến Nhà Chúa để tham dự Phụng Vụ, thì quả thật ta đã tìm được sự sống Phục Sinh, như Lời Thánh vịnh : “Một điều tôi kiếm tôi xin, là luôn được ở trong Đền Chúa tôi” (Tv 27/26, 4ab : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý (Ga 15,7)




o0o


THỨ NĂM SAU CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH

Cv 5, 27-33 ; Ga 3, 31-36

BÀI ĐỌC : Cv 5, 27-33

27 Bấy giờ, viên lãnh binh Đền Thờ cùng các thuộc hạ điệu các Tông Đồ đến giữa Thượng Hội Đồng; vị thượng tế hỏi các ông rằng:28 "Chúng tôi đã nghiêm cấm các ông không được giảng dạy về danh ấy nữa, thế mà các ông đã làm cho Giê-ru-sa-lem ngập đầy giáo lý của các ông, lại còn muốn cho máu người ấy đổ trên đầu chúng tôi! "29 Bấy giờ ông Phê-rô và các Tông Đồ khác đáp lại rằng: "Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm.30 Đức Giê-su đã bị các ông treo lên cây gỗ mà giết đi; nhưng Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã làm cho Người trỗi dậy,31 và Thiên Chúa đã ra tay uy quyền nâng Người lên, đặt làm thủ lãnh và Đấng Cứu Độ, hầu đem lại cho Ít-ra-en ơn sám hối và ơn tha tội.32 Về những sự kiện đó, chúng tôi xin làm chứng, cùng với Thánh Thần, Đấng mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng lời Người."33 Nghe vậy, họ giận điên lên và muốn giết các ông.

ĐÁP CA : Tv 33

Đ. Kẻ nghèo hèn kêu xin, và Chúa đã nhận lời. (c 7a)

2 Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa,câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi. 9 Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy:hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!

17 Chúa đối đầu với quân gian ác, xoá nhoà tên tuổi chúng trên đời,16 nhưng để mắt nhìn người chính trực và lắng tai nghe tiếng họ kêu. 18 Họ kêu xin, và Chúa đã nhận lời, giải thoát khỏi mọi cơn nguy khốn.

19 Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm thần thất vọng ê chề. 20 Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân,nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi.

TIN MỪNG : Ga 3, 31-36

31 Khi ấy, Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô rằng : “Đấng từ trên cao mà đến thì ở trên mọi người; kẻ từ đất mà ra thì thuộc về đất và nói những chuyện dưới đất. Đấng từ trời mà đến thì ở trên mọi người;32 Người làm chứng về những gì Người đã thấy đã nghe, nhưng chẳng ai nhận lời chứng của Người.33 Ai nhận lời chứng của Người, thì xác nhận Thiên Chúa là Đấng chân thật.34 Quả vậy, Đấng được Thiên Chúa sai đi, thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn.35 Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người.36 Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy."

DẤU CHỈ NGƯỜI THUỘC VỀ THIÊN CHÚA

Dựa vào Lời Chúa hôm nay, cho chúng ta xác tín rằng :

    • Công dân Nước Trời thì nói Lời Thiên Chúa.
    • Công dân Nước Trời phải trở nên chứng nhân cho Tin Mừng để được sống.
    • Kẻ không tin vào Con Thiên Chúa là tự vẫn.

1/ CÔNG DÂN NƯỚC TRỜI THÌ NÓI LỜI THIÊN CHÚA.

Đức Giê-su nói : “Đấng từ trên mà đến thì ở trên hết mọi người” (Ga 3, 31a.c), vì là “kẻ được Thiên Chúa sai thì nói Lời Thiên Chúa, không phải theo lường hạn mà Ngài ban Thần Khí cho” (Ga 3,34).

Cụ thể Đức Giê-su đã xác nhận về lý lịch của các Tông Đồ khi Ngài cầu nguyện cùng Chúa Cha : “Lạy Cha, những người Cha đã lấy từ trong thế gian mà ban cho Con, họ thuộc về Cha” (Ga 17,6), nên “Con đã ban Lời của Cha cho họ, bởi lẽ đó mà thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian” (Ga 17,14), và vì “họ đã được Thiên Chúa sai, nên nói được Lời Thiên Chúa vô chừng vô hạn, bởi Thần Khí thúc bách họ” (Ga 3,34). Nhờ thế, mà toàn thể “những gì Cha đã ban cho Con, Con đã ban lại cho chúng sự sống đời đời” (Ga 5,24-25 ; 6,54 ; 10,28 ; 17,2). Đến nỗi người ta nghe giọng nói của ông Phê-rô mà họ biết nghe ông thuộc về Đức Giê-su (x Mt 26,73). Bởi vì, người thuộc quốc tịch nào thì nói tiếng nước đó. Đức Giê-su thuộc quốc tịch Nước Trời thì những kẻ theo Ngài theo cũng phải biết nói Lời Thiên Chúa.

Sống trên đời, muốn lập cư ở quốc gia nào, buộc phải biết nói ngôn ngữ của nước đó mới hy vọng có tương quan tốt với xã hội, thành công trong công việc làm ăn. Thí dụ tôi là người Việt Nam đang chuẩn bị lập cư trên đất Mỹ, thì tôi phải vùi đầu vào việc học tiếng Anh, nếu không tôi không thể được cấp thẻ xanh của nước Mỹ, thì khó mà hòa nhập vào cộng đồng dân Mỹ.

Chiến trường Việt Nam vào Tết Mậu Thân năm 1968, khi quân Việt cộng lẻn vào miền Nam hy vọng cướp chính quyền, lúc ấy quân đội yểm trợ quân lực Việt Nam Cộng Hòa để đẩy lui Việt cộng. Cuộc chiến khá ác liệt, các trường học ở Saigon phải cho học sinh nghỉ. Năm ấy tôi học lớp 12, Việt cộng chiếm vùng Bà Điểm Hóc Môn làm cứ điểm tấn công vào phi trường Tân Sơn Nhất, lính Mỹ bao vây khu Bà Điểm. Một anh bạn của tôi muốn thực tập tiếng Anh nên đã tìm đến trại của quân Mỹ để trò chuyện. Một anh lính Mỹ hỏi bạn tôi : Người Việt Nam chào nhau có giống người Mỹ hay không ? Vì người Mỹ buổi sáng gặp nhau họ chào “good morning”, buổi chiều họ chào nhau “good afternoon” hoặc “good evening”. Bạn tôi liền đáp : “Người Việt Nam lúc nào gặp nhau cũng chào “mặt tôi là mặt mèo”. Thế là anh lính Mỹ cứ gật gù đọc đi lại với lòng thích thú vì đã biết chào hỏi bằng tiếng Việt. Sáng hôm sau, anh lính Mỹ xách thùng vào nhà người Việt để xin nước, vừa tới cửa chủ nhà ra, anh cúi đầu chào “mặt tôi là mặt mèo”. Trẻ còn xúm lại cười rộ, anh Mỹ lại quay ra đám trẻ vừa nói vừa cười “mặt tôi là mặt mèo”, trẻ con vỗ tay cười đến vỡ bụng, anh lính Mỹ thấy thế lại khoái, vì tưởng là người ta khen anh nói tiếng Việt giỏi, anh quay một vòng nói với mọi người “mặt tôi là mặt mèo”.

Rõ ràng anh lính Mỹ đã không chào đúng phong tục người Việt, nhưng anh đã gây được cảm tình nhiều người. Thế là hôm đó người ta tranh nhau đi lấy nước giúp cho anh, và xách đến tận nơi anh đang đóng quân.

2/ CÔNG DÂN NƯỚC TRỜI PHẢI TRỞ NÊN CHỨNG NHÂN CHO TIN MỪNG ĐỂ ĐƯỢC SỐNG.

Thánh Gioan nói về Đức Giê-su: “Ngài thấy gì, nghe gì, thì Ngài làm chứng” (Ga 3,32a). Điều ấy ắt đã niêm ấn ký nhận Thiên Chúa là chân thật (Ga 3,33), nên được Thiên Chúa yêu mến và được ban mọi sự trong tay (Ga 3,35), nhất là có sự sống đời đời (Ga 3,36a).

Bởi vì người như thế đã được Đức Giê-su cầu nguyện cùng Chúa Cha : “Lạy Cha, chúng thuộc về Cha, vì Cha đã ban chúng cho Con, và chúng đã giữ Lời Cha. Bây giờ chúng đã biết rằng mọi sự Cha đã ban cho Con đều do Cha tất cả ; vì các Lời Cha đã ban cho Con, Con đã ban lại cho chúng, chúng đã nhận lấy và nhận chân rằng Con đã xuất tự Cha, cùng đã tin rằng chính Cha đã sai Con. Con cầu xin cho chúng, Con không cầu xin cho thế gian, cho chúng là những kẻ Cha đã ban cho Con và chúng thuộc về Cha. Mọi sự của Con đều là của Cha, và sự gì của Cha cũng là của Con, và Con đã được tôn vinh nơi chúng” (Ga 17,6b-10). “Phần Con, Con đã ban cho chúng vinh quang Cha đã ban cho Con, để chúng nên một như Chúng Ta” (Ga 17,22). “Lạy Cha điều Cha đã ban cho Con, thì con muốn là Con ở đâu, chúng cũng ở đó với Con, để chúng được ngắm vinh quang của Con mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu mến trước tạo thành lập địa” (Ga 17,24).

Các môn đệ đã được Đức Giê-su cầu nguyện tha thiết như thế, nên các ông đã trở nên chứng nhân xuất sắc, kiên cường cho Chúa Giê-su Phục Sinh, không sự dữ nào bịt miệng được các ông,dù các ông bị cả một cơ cấu quyền bính Do-thái giáo đòi lấy mạng, nếu các ông cứ tiếp tục loan báo Đức Giê-su đã sống lại. Nên họ ra lệnh cho các ông phải câm miệng ! Các Tông Đồ khẳng khái, hiên ngang, dõng dạc nói : “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm” (x Bài đọc : Cv 5, 27-33).

Như vậy, các Tông Đồ đã rao giảng Lời Thiên Chúa do tình yêu thúc bách (x 2Cr 5,14), họ nhiệt thành đến nỗi nói được như thánh Phao-lô : “Tôi có sự thật về Đức Ki-tô, không ai bịt miệng tôi được” (2Cr 11,10), bởi vì “phải nhiệt tâm rao giảng Lời Chúa khi thuận cũng như lúc nghịch, cả những lúc người ta không chịu nghe giáo lý lành mạnh, sự thật thì họ ngoảnh đi, còn chuyện bá láp thì họ xô lại theo dục vọng mà kiếm đủ thứ thầy” (2 Tm 4,2-4).

Vậy người Tông Đồ chân chính của Đức Giê-su bởi lấy việc rao giảng Tin Mừng làm lẽ sống, như lời thánh Phao-lô nói : “Vô phúc cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng, tự ý làm việc đó thì tôi có công, còn nếu ngoài ý tôi, thì Chúa ký thác cho tôi” (1Cr 9,16), bởi vì nếu “tôi thiếu sót việc loan báo Tin Mừng, là tôi chủ ý giết cả xác lẫn hồn người ta mà quăng họ xuống hỏa ngục” (Cv 20,26-27).

Ta biết luật chơi dế, con nào không gáy, thì nó bị cột tóc vào đầu quay tít, khi thả ra nó cũng không đá, không gáy, thì nó bị lên án tử bằng cách ngắt đầu nó lấy vật nhọn ghim vào đầu nó để kích cho con khác phải gáy, phải đá!

Có nhiệt tình rao giảng và làm chứng về Chúa Giê-su Phục Sinh, Đấng cứu độ duy nhất, ta mới có thể cất lời cầu : “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa,câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi. Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy:hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người” (Tv 34/33, 2.9 : Đáp ca)

3/ KẺ KHÔNG TIN VÀO CON THIÊN CHÚA LÀ TỰ VẪN.

Đức Giê-su nói : “Kẻ bởi đất mà ra thì thuộc về đất” (Ga 3,31b), “nên không nhận lấy chứng của Thiên Chúa” (Ga 3,32b). Đó là “kẻ bất phục tùng đối với Chúa Con, thì sẽ không thấy sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa cứ lưu lại trên nó” (Ga 3,36b). Bởi vì Đức Giê-su đã thưa với Chúa Cha : “Con không cầu xin cho chúng là những kẻ thuộc về thế gian” (Ga 17,9b). Như vậy, tội không tin vào Đức Giê-su là Chúa để nghe Lời Ngài, thì nặng tội hơn kẻ đã chủ mưu giết thân xác Ngài. Thực vậy, trên thập giá, Đức Giê-su đã cầu nguyện cho kẻ giết Ngài : “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm” (Lc 23,34). Mà Ngài không cầu cho thế gian, những kẻ chống đối không muốn nghe Tin Mừng (x Cv 17,32a)

THUỘC LÒNG

Người của Thiên Chúa sai thì nói Lời Thiên Chúa (Ga 3,34)


o0o


THỨ TƯ SAU CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH

Cv 5, 17-21 ; Ga 3, 16-21

BÀI ĐỌC : Cv 5, 17-21

17 Bấy giờ, vị thượng tế cùng tất cả những người theo ông -tức là phái Xa-đốc- ra tay hành động. Đầy lòng ghen tức,18 họ bắt các Tông Đồ, nhốt vào nhà tù công cộng.

19 Nhưng ban đêm thiên sứ của Đức Chúa mở cửa ngục, đưa các ông ra mà nói:20 "Các ông hãy đi, vào đứng trong Đền Thờ mà nói cho dân những lời ban sự sống."21 Nghe thế, các ông vào Đền Thờ ngay từ lúc rạng đông và bắt đầu giảng dạy.

22 Nhưng khi thuộc hạ đến, họ không thấy các ông trong ngục. Họ trở về báo cáo23 rằng: "Chúng tôi thấy ngục đóng kỹ lưỡng và những người lính canh đứng ở cửa; nhưng khi mở cửa ra, chúng tôi không thấy ai ở bên trong."24 Nghe những lời ấy, viên lãnh binh Đền Thờ và các thượng tế phân vân về các ông, không biết chuyện gì xảy ra.25 Bấy giờ có một người đến báo cáo cho họ: "Những người các ông đã tống ngục, kìa họ đang đứng trong Đền Thờ và giảng dạy cho dân! "26 Viên lãnh binh bèn đi với bọn thuộc hạ và điệu các ông về, nhưng không dùng bạo lực vì sợ bị dân ném đá.

ĐÁP CA : Tv 33

Đ. Kẻ nghèo hèn kêu xin, và Chúa đã nhận lời. (c 7a)

2 Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa,câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi. 3 Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên.

4 Hãy cùng tôi ngợi khen Đức Chúa, ta đồng thanh tán tụng danh Người. 5 Tôi đã tìm kiếm Chúa, và Người đáp lại, giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng.

6 Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi. 7 Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn.

8 Sứ thần của Chúa đóng trại chung quanh để giải thoát những ai kính sợ Người. 9 Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy:hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!

TUNG HÔ TIN MỪNG : Ga 3,16

Hall-Hall : Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì được sống muôn đời. Hall.

TIN MỪNG : Ga 3, 16-21

16 Khi ấy, Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô rằng : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.19 Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa.20 Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách.21 Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa."

BÍ TÍCH THÁNH TẨY, NGUỒN SỐNG

Nguồn sống đích thực nuôi thân xác và linh hồn con người được sống dồi dào, vươn đến bất tử là những thực tại trong Nước Thiên Chúa khởi đi từ Bí tích Thánh Tẩy. Bởi thế kẻ nào khước từ Bí tích này là tự sát:

I. BÍ TÍCH THÁNH TẨY LÀ NGUỒN SỐNG.

Ơn Bí tích Thánh Tẩy cần cho sự sống mọi người như người ta cần khí, nước và ánh sáng. Kẻ không đón nhận lấy khí, nước, và ánh sáng, đương nhiên là chết ! Chính vì vậy mà khi Đức Giê-su dạy ông Ni-cô-đê-mô về giá trị của Bí tích Thánh Tẩy, Ngài đã sử dụng ba chất liệu : Khí, nước và ánh sáng, để diễn tả về nguồn sống cần thiết và quan trọng cho thân xác mọi người, như Lời Ngài nói : “Ai không sinh lại bởi nước và Thần Khí thì không thể vào được Nước Thiên Chúa” (Ga 3,5) ; và “tôi là ánh sáng đã đến trong thế gian” (Ga 3,19 : Tin Mừng). Thế nên người ta không thể nói tôi có tự do hoặc lãnh hoặc không lãnh Bí tích Thánh Tẩy, và lúc nào tôi muốn là tùy ý tôi thích ; vì không ai có thể nói tôi có tự do hít thở oxy hoặc không hít thở là quyền của tôi !

Nhưng hãy biết rằng nguồn sống của Bí tích Thánh Tẩy cần thiết cho sự sống mọi người còn hơn khí, nước và ánh sáng đáp ứng nhu cầu thân xác. Đó cũng là lý do mà Đức Giê-su đã nói : “Các ngươi chớ lo cho thân xác mình lấy gì mà ăn lấy gì mà mặc… Vậy tiên vàn các ngươi hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài, còn các sự khác Ngài ban thêm cho” (Mt 6,25-33). Bởi vì những của nuôi thân xác quan trọng nhất là nước, khí và ánh sáng Chúa đã ban đồng đều cho mọi người, xem ra chẳng ai tìm kiếm hay tốn kém mà vẫn được no thỏa ; chỉ có của ăn vật chất như cơm, cá, thịt, rau, thì Chúa đã cho mỗi người có đôi bàn tay, sức khỏe, óc sáng tạo, để cộng tác với ơn Trời làm ra thực phẩm. Như thế những của nuôi thân xác phần lớn Chúa đã lo cho ta rồi. Tại sao ta không biết mở con mắt đức tin để nhìn ra những ơn huệ ấy, mà đến dâng lễ Tạ Ơn Chúa mỗi ngày, để xin Chúa giúp ta biết ưu tiên biết tìm kiếm những thực tại về Nước Thiên Chúa trước đã, có thế những sự khác Chúa sẽ ban thêm sau.

Sống như thế mới xác tín rằng có đạo mới vực được thực, chứ đừng bắt chước kiểu sống của những kẻ không có đức tin chủ trương có thực mới vực được.

II. KHƯỚC TỪ BÍ TÍCH THÁNH TẨY LÀ TỰ SÁT.

Trong Tin Mừng Gioan nhấn mạnh cuộc phán xét người ta xảy ra ngay từ đời này đối với những ai khước từ Chúa Giê-su, cũng như người ta từ khước nước, khí và ánh sáng. Vì như Đức Giê-su đã nói : “Kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa. Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách” (Ga 3,18b-20 : Tin Mừng).

Quả thế, các Tông Đồ khi đã được tái sinh bởi Chúa Giê-su Phục Sinh, họ nhiệt tâm loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho hết mọi người. Nhiều người đã chứng kiến bao việc lạ lụng các Tông Đồ đã làm, cũng chỉ vì họ đã thuộc về Đức Ki-tô, nhưng lại làm cho các thượng tế uất ức, họ ra lệnh tống các ngài vào ngục, chờ ngày hôm sau đưa ra tòa xét xử. Nhưng các thượng tế và những người thuộc phe cánh ông tức là bè Sa-đốc ra lệnh cho các thủ hạ của họ vào nhà tù dẫn độ các Tông Đồ ra để xét xử, các kẻ được sai tới ngục thấy lính gác vẫn còn đứng ngoài cửa và cửa ngục còn khóa chặt, thế mà khi họ mở cửa vào không còn thấy một ai. Lúc đó có một người đến báo cho các thủ lãnh Do-thái đang ngồi tòa : “Những người mà các ngài tống ngục hiện đang giảng dạy công khai trong Đền Thờ”. Sự kiện này làm cho mọi người kinh ngạc, viên lãnh binh bèn đi với các thuộc hạ đến điệu các ông về, nhưng không dùng bạo lực vì sợ dân ném đá (x Cv 5,17-26 : Bài đọc).

Sự kiện trên đây đã minh chứng các Tông Đồ khi đã thuộc về Chúa Ki-tô, họ chính là người được tự do, và không có sự dữ nào thống trị được họ, họ đã nêu giá trị của người được sống dồi dào nhờ tin vào Chúa Giê-su Phục Sinh. Trái lại, những kẻ chống đối, không tin Chúa Giê-su bề ngoài xem ra họ được tự do, nhưng thực chất họ là kẻ mất bình an, vì họ sợ dân chúng ném đá họ. Đó là dấu chỉ họ sẽ bị xét xử nghiêm khắc hơn trong ngày cánh chung.

Mỗi người chúng ta đang chuẩn bị ra khỏi thế gian này để về Trời, ta cần phải đón nhận lấy “Con Một Thiên Chúa là quà tặng quý giá nhất Chúa Cha ban cho ta, để ta khỏi phải hư đi mà được sống đời đời. Vì Thiên Chúa không sai Con Ngài đến thế gian để xử án thế gian, nhưng nhờ Ngài mà thế gian được cứu độ” (Ga 3,16-17).

Ông Frank Denton người sáng chế ra áo mặc cho phi hành gia để có thể ngồi trên phi thuyền rời trái đất bay vào không gian vũ trụ và đáp xuống một hành tinh ngoài trái đất. Mỗi phi hành gia phải mặc hai áo, chiếc thứ nhất có tên là J 3,16, chiếc thứ hai là J 3,17. Chiếc J 3,16 mang buồng khí dành cho phi hành gia dùng lúc phi thuyền bay vào không gian, còn áo J 3,17 cũng chứa một buồng khí dành cho phi hành gia dùng khi đáp xuống hành tinh. Người ta thắc mắc hỏi ông Frank Denton : “Ông đặt tên cho hai chiếc áo J 3,16 và J 3,17 có nghĩa là gì?” Ông Frank Denton trả lời : “J 3,16 tức là Gioan 3,16 : “Chúa Cha đã hứa ban Con Một của Ngài cho thế gian, ai tin vào Người Con đó thì không bị hư mất nhưng được sống đời đời”, thế thì chiếc áo này dù mang buồng khí cho phi hành gia khi còn bay trong không gian, không phải tự chiếc áo này làm cho phi hành gia được sống, nhưng buồng khí của chiếc áo này là biểu tượng cho Thần Khí của Chúa, ai tin thì được sống ; còn J 3,17 có nghĩa là Gioan 3,17 : “Chúa Cha ban Con Một cho thế gian không phải để xét xử thế gian, nhưng để nhờ Ngài mà thế gian được cứu độ”, thì chiếc áo thứ hai này dù có buồng khí cho phi hành gia thở khi đáp xuống hành tinh, cũng không phải là được an toàn, không bị án tử. Nhưng cần phải nhờ vào Chúa Giê-su để phi hành gia khỏi bị án tử khi đi bộ trên hành tinh.

Vậy ta đã được lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, ta được sống dồi dào hơn khi ta có đủ nước, khí và ánh sáng. Để ta được hân hoan cất lời ngợi khen Chúa : “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa,câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi. Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên. Hãy cùng tôi ngợi khen Đức Chúa, ta đồng thanh tán tụng danh Người. Tôi đã tìm kiếm Chúa, và Người đáp lại, giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng.6 Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi. Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn” (Tv 34/33, 2-7 : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

Ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa (Ga 3, 20-21).




o0o


 

SAU CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH

 
Cv 4, 32-37 ; Ga 3, 7b-15


BÀI ĐỌC : Cv 4, 32-37

32 Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung.

Nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban, các Tông Đồ làm chứng Chúa Giê-su đã sống lại. Và Thiên Chúa ban cho tất cả các ông dồi dào ân sủng.

Trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền,35 đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tuỳ theo nhu cầu.

Ông Giô-xếp, người được các Tông Đồ đặt tên là Ba-na-ba, nghĩa là người có tài yên ủi, có một thửa đất. Ông là một thầy Lê-vi quê quán ở đảo Sýp.37 Ông bán đất đi, lấy tiền đem đặt dưới chân các Tông Đồ.

ĐÁP CA : Tv 92

Đ. Chúa là Vua hiển trị, Chúa mặc oai phong tựa cẩm bào. (c 1a)

1ab Chúa là Vua hiển trị, Chúa mặc oai phong tựa cẩm bào, Người lấy dũng lực làm cân đai.

1c Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu không lay chuyển.2 Ngai vàng Chúa kiên cố tự ngàn xưa : Ngài hiện hữu tự muôn ngàn đời.

3 Sóng nước đã gầm lên, lạy Chúa, sóng nước đã gầm lên tiếng thét gào. Sóng nước đã gầm lên, long trời lở đất.

5 Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài thật là bền vững, nơi đền vàng rực lên toàn thánh thiện triền miên qua mọi thời.

TUNG HÔ TIN MỪNG : x Ga 3,15

Hall-Hall : Con Người sẽ phải được giương cao, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Hall.

TIN MỪNG : Ga 3, 7b-15

7b Khi ấy Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô rằng : “Các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên.8 Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy."

9 Ông Ni-cô-đê-mô hỏi Người: "Làm sao những chuyện ấy có thể xảy ra được? "10 Đức Giê-su đáp: "Ông là bậc thầy trong dân Ít-ra-en, mà lại không biết những chuyện ấy!11 Thật, tôi bảo thật ông: chúng tôi nói những điều chúng tôi biết, chúng tôi làm chứng về những điều chúng tôi đã thấy, nhưng các ông không nhận lời chứng của chúng tôi.12 Nếu tôi nói với các ông về những chuyện dưới đất mà các ông còn không tin, thì giả như tôi nói với các ông về những chuyện trên trời, làm sao các ông tin được? "13 Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống.14 Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy,15 để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.

CHÚA GIÊSU, ĐẤNG CỨU ĐỘ DUY NHẤT

(Cv 4,12)

Để giúp chúng ta hiểu được phần nào về ơn tái sinh qua Bí tích Thánh Tẩy, ta phải tìm hiểu các Bài đọc Kinh Thánh được công bố trong Thánh Lễ hôm nay.

    • Hiểu Lời Chúa qua phương pháp loại suy.
    • Hiểu về tương quan giữa các tôn giáo.
    • Ơn tái sinh khởi đi từ đâu và ai nói cho ta biết ?
    • Người Công Giáo sống thể hiện thế nào về giá trị ơn tái sinh của mình ?

I. HIỂU LỜI CHÚA QUA PHƯƠNG PHÁP LOẠI SUY.

Phương pháp loại suy là từ ngôn ngữ và hình ảnh trong Thánh Kinh dùng ta phải suy ra những điều không hợp với mầu nhiệm Nước Thiên Chúa để loại trừ, và chỉ đón nhận những gì phù hợp với giáo lý của Hội Thánh mà thôi. Bởi vì đến như thánh Phao-lô đã được Chúa cho lên đến tầng trời thứ ba, khi trở về trần gian, ông chỉ có thể nói được rằng : “Tôi được nghe những lời khôn tả, người phàm không được phép nói lại” (2Cr 12,2-4). Có nghĩa là không có ngôn ngữ hình ảnh nào trên trần gian có thể dùng diễn tả hết được những điều tuyệt vời nơi Quê Trời. Vì ở trần gian khác hẳn với Thiên Đàng. Trong khi đó Đức Giê-su muốn cho con người hiểu về mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, thì Ngài lại phải dùng ngôn ngữ, hình ảnh, văn hóa của loài người. Mà loài người muốn có tư tưởng nói với nhau thì phải bám vào vật hữu hình. Thí dụ ta nói cái này nặng quá, thì người nghe phải hiểu rằng nó nặng như cục đá ; ta nói cái này nhọn quá, người nghe phải hiểu rằng nói nhọn như mũi kim ; ta nói cái này tròn quá, thì người nghe phải hiểu rằng nó tròn như trái banh ; hoặc một người đến Việt Nam muốn hiểu người VN, thì phải nói phải hiểu theo văn hóa của người Việt. Thí dụ tôi nói : tôi phải đi khám bác sĩ, thì người nghe phải hiểu rằng tôi đang bị bệnh, tôi phải đến bác sĩ khám bệnh cho tôi ; hoặc tôi nói : chúc anh chị trăm năm hạnh phúc, thì đôi tân hôn đó phải hiểu rằng suốt đời mình được hạnh phúc, chứ không phải sống trên trăm năm là bất hạnh. Cũng thế, ta vào rừng nói chuyện với dân tộc thiểu số, nếu ta nói với họ về một vật rất lớn, thì ta phải nói cái đó lớn hơn trái đất so với mặt trời, trong khi đó khoa học dạy ta biết mặt trời lớn hơn trái đất 50 lần.

Bởi vậy, Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô về ơn tái sinh : “Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói: các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên.Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy." (Ga 3,7-8 : Tin Mừng). Ở đây Đức Giê-su dùng hình ảnh gió để chỉ về Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa Ngôi thứ Ba, Ngài được ví như gió, nhưng Ngài lại không phải là gió. Tuy nhiên gió làm cho người ta sống, gió đến đâu hay đi đâu không ai thấy được, thì Chúa Thánh Thần cũng làm cho người ta được sống và không ai thấy Ngài.

Vậy muốn hiểu Kinh Thánh cho đúng, ta phải nghe Hội Thánh dạy ta hiểu những phạm trù nào Kinh Thánh dùng để diễn tả về mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, phạm trù nào phải loại trừ. Không ai được lấy ý riêng mình mà giải thích Kinh Thánh ngoài truyền thống niềm tin của Hội Thánh, khởi đi từ thời các Tông Đồ. Đó là lý do thánh Phê-rô nói : “Anh em phải biết điều này: không ai được tự tiện giải thích một lời ngôn sứ nào trong Sách Thánh.Quả vậy, lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa” (2Pr 1,20-21).

II. HIỂU VỀ TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC TÔN GIÁO.

Đức Giê-su nói : “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13 : Tin Mừng).Hội Thánh dạy ta phải xác tín thế này

 



1- Mọi tôn giáo ngoài Ki-tô giáo đều phát xuất từ trái đất, từ lòng người (số 2), hy vọng dạy con người vươn lên tới cõi Vĩnh Phúc (1). Trong khi đó Ki-tô giáo từ Trời hay từ nơi Vĩnh Phúc (1) xuống trái đất, vào lòng người (2), để làm cho những thực tại ở trái đất được giống thực tại ở trên Trời. như Đức Giê-su đã dạy trong kinh Lạy Cha : “Xin cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên Trời” (Mt 6,10).

2- Giá trị các tôn giáo khác đưa hạnh phúc con người lên cao hay thấp tùy theo những chân lý trong đạo đó phù hợp nhiều hay ít với những chân lý trong giáo lý của Hội Thánh Chúa Ki-tô lập.

3- Chỉ có Ki-tô giáo từ nguồn hạnh phúc vĩnh cửu (Trời) đến với con người, và cũng chỉ nhờ Hội Thánh Chúa Ki-tô làm Thân Mình mầu nhiệm của Ngài dẫn ta về Trời nguồn Vĩnh Phúc.

III. ƠN TÁI SINH KHỞI ĐI TỪ ĐÂU VÀ AI NÓI CHO TA BIẾT ?

1- Con người được Thiên Chúa tái sinh do Ba Ngôi Thiên Chúa mạc khải, như Lời Đức Giê-su nói : “Chúng Tôi có biết, Chúng Tôi mới nói, và chúng tôi thấy Chúng Tôi mới làm chứng” (Ga 3,11 : Tin Mừng).

Danh hiệu “Chúng Tôi” Đức Giê-su dùng là chỉ về Ba Ngôi Thiên Chúa thực hiện cuộc tái sinh con người tin vào Đức Giê-su là Thiên Chúa. Vì thế mà Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm Phép Rửa cho họ nhân danh Chúa Cha,và Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Và Đức Giê-su dựa vào Luật của người Do-thái để xác nhận một sự thật buộc mọi người phải tin : “Chứng của một người thì không tin, nhưng chứng của hai ba người trở lên thì phải tin” (Dnl 19,15).

2- Công cuộc tái sinh người tin vào Đức Giê-su là Chúa khởi đi từ lúc Đức Giê-su bị giết treo trên thập giá, từ cạnh sườn Ngài bị đâm, nước và máu đổ xuống khơi nguồn Bí tích cứu độ : Thánh Tẩy và Thánh Thể (x Ga 19,34). Vì thế mà Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô : “Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy,để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3,14-15 : Tin Mừng).

Thời dân Do-thái còn đi trong sa mạc tiến về đất Hứa, họ bị rắn cắn, Chúa bảo ông Mô-sê đúc con rắn đồng treo lên cây cột, hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng thì được sống (x Ds 21,4-9). Đó là hình ảnh tiên báo về Đức Giê-su bị treo trên thập giá, để những kẻ có tội biết sám hối mà nhìn lên Đức Giê-su thập giá xin Ngài thương xót như anh trộm lành, thì được Ngài cho vào Thiên Đàng ngay (x Lc 23,43), nhất là ta được tạo dựng lại bởi xương thịt của Chúa Giê-su, hơn thuở xưa E-và được Chúa lấy xương thịt A-đam tạo nên (x St 2,21-24).

IV. NGƯỜI CÔNG GIÁO SỐNG THỂ HIỆN THẾ NÀO VỀ GIÁ TRỊ ƠN TÁI SINH CỦA MÌNH?

Các tín hữu thời Giáo Hội sơ khai cho chúng ta mẫu gương sống đạo :

1- Họ cùng một đức tin, một linh hồn (x Cv 4,32 : Bài đọc). Cụ thể phải hiểu là “họ chuyên cần nghe giáo lý của các Tông Đồ, hiệp thông Thánh Thể và kinh nguyện” (x Cv 2,42).

2- Họ tôn trọng nhau thể hiện bằng việc chăm sóc nhau. Cụ thể ai làm chủ đất đai hay nhà cửa thì họ bán đi và đem giá cả các vật bán được mà đặt dưới chân các Tông Đồ để phân phát cho mỗi người ai nấy tùy theo nhu cầu của mình, không còn ai phải túng thiếu (x Cv 4,34-37 : Bài đọc). Ở đây ta lưu ý dân đưa tiền của đặt dưới chân các Tông Đồ, chứ không đặt vào tay các ngài, vì người ta ý thức rằng của cải vật chất chỉ là bệ kê chân con người nhắc lên gần Thiên Chúa, còn bàn tay của họ, là bàn tay đón Chúa và phân phát ơn Ngài. Chính vì vậy mà giáo lý Hội Thánh trong điều răn V (điều răn mới trong sách Giáo Lý số 2041-2043) dạy con cái mình phải biết dùng tiền của đóng góp cho những nhu cầu của Hội Thánh tùy theo đức tin và lòng mến mỗi người, để Hội Thánh có điều kiện làm phát triển Tin Mừng, và tạo nên những phương tiện phục vụ nhu cầu dân Thiên Chúa.

Vậy chỉ có những người Công Giáo khi đã hiểu và sống những điểm giáo lý trên đây về Bí tích Thánh Tẩy, mới có thể thưa cùng Chúa : “Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài thật là bền vững, nơi đền vàng rực lên toàn thánh thiện, triền miên qua mọi thời” (Tv 93/92,5 : Đáp ca).

Ông John Rockfeller năm 33 tuổi, tài sản ông chỉ có vỏn vẹn 1.000 dollars cùng với cây xà-beng đi đào giếng mướn cho người ta, dần dần ông mua được một đàn bò, rồi nhiều đàn bò, bán bò ông mua nông trại, bán nông trại ông làm chủ một cơ sở lớn nhất nước Mỹ vào tuổi 43. Nhưng không may đến với ông khi ông được 53 tuổi : ông bị bệnh rụng hết tóc đầu! Hội Đồng Bác sĩ bảo ông chỉ sống thêm một năm nữa! Báo chí đưa hình hói đầu của ông lên trang nhất và chế giễu : “Ông không đủ tiền mua một sợi tóc!” Tỉnh ngộ ông bắt chước ông Gia-kêu : đưa tài sản chia sẻ cho các cơ quan từ thiện, cho những chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ con người. Kết qủa ông đã sống thọ đến 98 tuổi (thay vì 54 như bác sĩ chẩn đoán).

Vậy ta không chỉ dùng tiền của để nuôi sống bản thân mà còn biết chia sẻ, nhờ đó ta và cả người thân thuộc được sống dồi dào như ông Gia-kêu đã làm cho cả gia đình được cứu độ (x Lc 19,9).

THUỘC LÒNG.

Anh em hãy bước chước tôi như tôi bắt chước Chúa Giê-su (1Cr 11,1)


o0o


THỨ HAI

SAU CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH

Cv 4, 23-31 ; Ga 3, 1-8

BÀI ĐỌC : Cv 4, 23-31

 23 Hôm ấy, sau khi được thả về, hai ông Phê-rô và Gio-an đến với các anh em và thuật lại mọi điều các thượng tế và kỳ mục đã nói với hai ông.24 Nghe vậy, họ đồng tâm nhất trí cất tiếng lên cùng Thiên Chúa: "Lạy Chúa, Ngài là Đấng tạo thành trời đất với biển khơi cùng muôn loài trong đó;25 Ngài là Đấng đã nhờ Thánh Thần, dùng miệng tổ phụ chúng con là Đa-vít, tôi trung của Ngài, mà phán: Sao chư dân lại ồn ào náo động, sao vạn quốc dám bày kế viển vông?26 Vua chúa trần gian cùng nổi dậy, vương hầu khanh tướng rập mưu đồ, chống lại Đức Chúa, chống lại Đấng Người đã xức dầu phong vương.

  27 "Đúng vậy, Hê-rô-đê, Phong-xi-ô Phi-la-tô, cùng với chư dân và dân Ít-ra-en đã toa rập trong thành này, chống lại tôi tớ thánh của Ngài là Đức Giê-su, Đấng Ngài đã xức dầu.28 Như thế họ đã thực hiện tất cả những gì quyền năng và ý muốn của Ngài đã định trước.29 Giờ đây, lạy Chúa, xin để ý đến những lời ngăm đe của họ, và cho các tôi tớ Ngài đây được nói lời Ngài với tất cả sự mạnh dạn.30 Xin giơ tay chữa lành, và thực hiện những dấu lạ điềm thiêng, nhân danh tôi tớ thánh của Ngài là Đức Giê-su."31 Họ cầu nguyện xong, thì nơi họ họp nhau rung chuyển; ai nấy đều được tràn đầy Thánh Thần và bắt đầu mạnh dạn nói Lời Thiên Chúa.

ĐÁP CA : Tv 2

Đ. Lạy Chúa, hạnh phúc thay những ai ẩn náu bên Ngài. (x c 12d)

1 Sao chư dân lại ồn ào náo động? Sao vạn quốc dám bày kế viển vông? 2 Vua chúa trần gian cùng nổi dậy, vương hầu khanh tướng rập mưu đồ chống lại Đức Chúa , chống lại Đấng Người đã xức dầu phong vương.3 Chúng bảo nhau: "Xiềng xích họ, nào ta bẻ gãy, gông cùm họ, ta hãy quẳng đi! "

4 Chúa ngự trời cao thấy thế bật cười, Người chế nhạo bọn chúng. 5 Rồi nổi trận lôi đình, Người quát nạt,trút cơn thịnh nộ, khiến chúng kinh hoàng, 6 rằng: "Chính Ta đã đặt vị quân vương Ta tuyển chọn, lên trị vì Xi-on, núi thánh của Ta."

7 Tân vương lên tiếng: Tôi xin đọc sắc phong của Chúa, Người phán bảo tôi rằng: "Con là con của Cha,ngày hôm nay Cha đã sinh ra con. 8 Con cứ xin, rồi Cha ban tặng muôn dân nước làm sản nghiệp riêng,toàn cõi đất làm phần lãnh địa. 9 Con sẽ dùng trượng sắt đập chúng tan tành, nghiền nát chúng như đồ sành đồ gốm."

TUNG HÔ TIN MỪNG : Cl 3,1

 Hall-Hall : Anh em đã được chỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Hall.

TIN MỪNG : Ga 3,1-8

 1 Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, một thủ lãnh của người Do-thái.2 Ông đến gặp Đức Giê-su ban đêm. Ông nói với Người: "Thưa Thầy, chúng tôi biết: Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến. Quả vậy, chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy."3 Đức Giê-su trả lời: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên."4 Ông Ni-cô-đê-mô thưa: "Một người đã già rồi, làm sao có thể sinh ra được? Chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao? "5 Đức Giê-su đáp: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.6 Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí.7 Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói: các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên.8 Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy."


NGƯỜI CÔNG CHÍNH SỐNG BỞI ĐỨC TIN

 Ai muốn đón nhận được sự sống dồi dào từ Chúa Giê-su Phục Sinh, thì họ phải tìm hiểu và sống hai điểm giáo lý :

- Đức tin Ki-tô giáo.

- Lãnh Bí tích Thánh Tẩy là cách thể hiện tin vào Chúa Giê-su Phục Sinh.

I. ĐỨC TIN KI-TÔ GIÁO

 Đức tin là cách chiếm hữu những điều còn trong hy vọng, là phương nhận thức các thực tại người ta không trông thấy (Dt 11,1). Cụ thể

 C Đức tin là một ơn nhưng không bởi Thiên Chúa ban, như ông Phê-rô tuyên xưng đức tin về Đức Giê-su : “Thầy là Con Thiên Chúa hằng sống”. Đức Giê-su xác nhận ngay : “Không phải bởi phàm nhân, cũng không phải bởi xác thịt nào dạy con, nhưng bởi Cha trên trời” (Mt 16,17).

 C Đức tin xem ra như vô lý, hoặc như một sự ác. Đan cử : Chúa bảo ông Abraham sát tế con một của mình để dâng Ngài, trong khi đó Chúa đã hứa trước cho dòng tộc của ông đông như sao trời như cát dưới biển (x St 22).

 C Đức tin nâng cao phẩm giá và tri thức con người. Đan cử : người không biết Chúa thấy tạo vật tốt đẹp và hùng vĩ thì tưởng nó là thần để tôn thờ, trong khi đó người được Chúa soi sáng thì nhận ra những điều kỳ diệu nơi tạo vật là bởi Thiên Chúa ban cho nó. Bởi đó, Chúa đòi buộc mọi người chỉ tôn thờ một mình Ngài, là tác giả của muôn loài trong vũ trụ (x Kn 13).

 C Đức tin là hành vi tự do của con người đón nhận. Đan cử : Đức Giê-su giảng về Bí tích Thánh Thể, đây là chân lý quan trọng nhất, nếu người ta muốn được sự sống như Thiên Chúa thì phải lãnh nhận Bí tích này. Thế mà biết bao nhiêu người nghe Đức Giê-su giảng, họ không tin, và lũ lượt quay gót đi. Nhưng Đức Giê-su không hối tiếc về lời giảng của Ngài, Ngài tôn trọng quyền tự do của mọi người (x Ga 6, 22-66).

 C Đức tin dẫn đến sự sống. Thánh Phao-lô xác tín : “Người công chính sống bởi đức tin” (Rm 1,17).

 C Đức tin được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa. Thánh Phao-lô nói : “Làm sao có thể tin Đấng họ không được nghe rao giảng ?” (Rm 10,14).

 C Đức tin là niềm hy vọng hướng về ngày cánh chung. Thánh Phao-lô nói : “Ơn cứu độ đến với ta như một hy vọng, hy vọng mà thấy được ai còn hy vọng nữa, nhưng nếu ta hy vọng điều ta không thấy thì ta cứ kiên vững đợi trông” (Rm 8,24-25).

 Dầu sao trí tuệ con người bị giới hạn, không toàn năng toàn tri như Thiên Chúa được, bởi đó phải tin vào uy tín của Thiên Chúa mà thôi. Đức Giê-su đã nói với ông Ni-cô-đê-mô : “Gió muốn đâu thì thổi đến, ông nghe được tiếng nhưng nào có biết được từ đâu mà đến hay lại đi đâu ? Cũng vậy về mọi kẻ sinh bởi Thần Khí” (Ga 3,8 : Tin Mừng).

 Đức Giê-su nói thế đã xác minh cho chúng ta rằng : những thực tại hữu hình ngay ở trần gian này ta có thể nhìn hay sờ nắn thấy, mà ta vẫn không hiểu thấu tất cả những gì ta muốn biết về nó, huống chi ơn tái sinh thuộc lãnh vực siêu hình, thuộc phạm trù về Nước Thiên Chúa, làm sao con người có thế dùng trí tuệ để lý luận hiểu hết mới tin? Nên phải tin mà thôi.

 Lần kia Đức Khổng Tử đang phóng ngựa trên đường dài, thình lình ông phải dừng lại vì nhìn thấy một chú bé đang dùng đất sét nặn mô hình một thành phố giữa đường. Đức Khổng Tử lên tiếng:

- Chú bé, tránh ra cho tôi đi, đường để đi chứ không phải để ngồi nghịch ngợm.

- Thưa ngài, ngựa phải tránh thành phố mà đi hay thành phố phải tránh ngựa ?

Đức Khổng Tử nghe chú bé vặn hỏi về sự thông minh của mình, nên ngài đặt câu hỏi :

- Nếu chú trả lời được câu hỏi của tôi, tôi sẽ cho ngựa vòng lối khác đi, còn nếu không tôi sẽ cho ngựa dẵm nát công trình của chú. Chú nói cho tôi nghe : ánh sáng nào lại không nóng?

- Thưa ngài, về ban đêm ngài không thấy đít con đom đóm nó sáng hay sao, mà đâu có nóng ? Rồi chú bé lại đưa ra câu hỏi :

- Thưa ngài, ngài có biết trên đầu ngài có bao nhiêu sợi tóc không ?!

Khổng Tử tấm tắc khen ngợi : “Đúng là hậu sinh khả úy”, và ông đã cho ngựa tránh lối khác mà đi.

II. LÃNH BÍ TÍCH THÁNH TẨY LÀ CÁCH THỂ HIỆN ĐỨC TIN VÀO CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH.

 Đức Giê-su nói về giá trị của ơn tái sinh qua Bí tích Thánh Tẩy : “Ai không sinh lại bởi nước và Thần Khí thì không thể vào được nước Thiên Chúa” (Ga 3,5). Như vậy ơn tái sinh cần thiết cho hết mọi loại người, không trừ ai, nếu họ muốn được sự sống đời đời trong Nước Thiên Chúa. Ai lãnh Bí tích này phải tin rằng :

- Thánh Tẩy là một cuộc lột xác.

- Thánh Tẩy là cửa ngõ dẫn ta tiếp nhận các ơn của Thiên Chúa.

1/ Thánh Tẩy là một cuộc lột xác.

Trong nhiều sinh vật muốn tăng trưởng và sự sống của nó được tồn tại, nó cần phải lột xác. Cụ thể con sâu lột xác biến thành con bướm. Bướm thì hơn sâu. Thế thì Thiên Chúa cũng muốn con người phải được biến đổi một khi chấp nhận phải “lột xác”, tức là phải chịu khổ bởi sống Lời Chúa. Thánh Phao-lô nói : “Hết thảy ta đã được thanh tẩy trong Đức Ki-tô Giê-su, thì chính trong sự chết của Ngài mà ta được thanh tẩy. Vậy nhờ thanh tẩy ta đã được mai táng làm một với Ngài trong sự chết, ngõ hầu như Đức Ki-tô nhờ bởi vinh quang của Cha, đã được sống lại từ cõi chết, thì cả ta nữa, ta cũng bước đi trong đời sống mới. Nếu ta chết làm một với Đức Ki-tô, ta cũng sẽ cùng sống với Người trong vinh quang” (Rm 6,3-4.8).

Các môn đệ Đức Giê-su cũng như các tín hữu thời sơ khai, đã thể hiện đức tin bằng cách chấp nhận chết trong Đức Giê-su. Đan cử : sau khi hai ông Phê-rô và Gio-an làm cho anh què được lành mạnh, thì các ông bị bọn đầu mục hành hạ. Nhưng được ơn Chúa giải phóng khỏi tay những kẻ ác, các ngài trở về với giáo đoàn thuật lại những đau khổ các ngài phải chịu vì rao giảng Tin Mừng, thì giáo đoàn cất tiếng cầu nguyện : “Làm sao các dân dấy động ? và các nước tính chuyện hão huyền ? vua chúa trần gian dấy binh khởi nghĩa, quan quyền vây cánh liên minh, chống lại Chúa và chống lại Đức Ki-tô của Người, họ còn chống lại tôi tớ thánh của Người là Đức Giê-su Đấng đã được xức dầu. Xin Chúa hãy nhìn đến những lời hăm dọa của họ, và ban cho các tôi tớ của Người được tất cả được tất cả dạn dĩ mà nói Lời Người. Cộng đoàn đã được đầy tràn ơn Chúa Thánh Thần và họ đã hiên ngang nói Lời Thiên Chúa” (Cv 4,23- 31: Bài đọc).

Rõ ràng chúng ta được tái sinh làm con Thiên Chúa, thể hiện bằng việc “lột xác” mình, tức là phải thoát ra khỏi kiếp sống thói quen, luật lệ, cơ chế, định kiến ràng buộc, như bóng đêm đang đè trên tâm tư của ông Ni-cô-đê-mô ban đêm ông tìm đến nhà Đức Giê-su xin dạy bảo (x Ga 3,1-3). Muốn được thế, ta phải chấp nhận chết cho niềm tin như ông Phê-rô và Gio-an bị người đời hành hạ. Nhưng sự lột xác này không phải do ý chí con người có thể thực hiện được, mà là nhờ vào Lời Chúa và Chúa Giê-su Phục Sinh. Thuở xưa, khi Chúa tạo dựng A-đam, E-và nguyên tổ loài người, mạc khải cho ta biết họ được tạo dựng hai lần :

- Lần I được sinh ra bởi Lời Chúa: “Chúa nói Ta hãy dựng nên con người giống Ta, tức khắc xuất hiện nam nữ” (St 1,26) ; thì ơn tái sinh làm con Thiên Chúa, ta cũng phải được sinh lại bởi Lời của Ngài (x Gc 1,18).

- Lần II được sinh ra bởi vật chất : “Chúa đã lấy bùn đất nắn tạo nên A-đam” (x St 2,7) ; thì ơn tái sinh ta còn được sinh ra làm con Thiên Chúa nhờ Chúa Giê-su Phục Sinh (x Ga 1,12 ; Cv 2,38).

Vậy hằng ngày người Ki-tô hữu còn được tiếp tục lột xác, được tái sinh nhờ Lời và nhờ Chúa Giê-su Thánh Thể  mỗi khi họ ý thức tích cực tham dự Thánh Lễ.

2/ Thánh Tẩy là cửa ngõ dẫn ta tiếp nhận các ơn của Thiên Chúa

Gọi Bí tích Thánh Tẩy là Bí tích cửa ngõ các ơn Chúa, là vì ai chưa lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy thì không thể lãnh nhận ơn nào trong các Bí tích khác. Bởi vì, khi ta đã được tái sinh trong Bí tích Thánh Tẩy :

- Ta được tháp nhập vào Thân Thể Chúa Giê-su như cành liền cây. Đức Giê-su nói : “Thầy là cây nho thật, anh em là cành, cành nào không liền với thân cây thì không thể sống và sinh trái trăng. Kẻ nào lưu lại trong Thầy thì nó sinh nhiều hoa quả, vì ngoài Thầy anh em không thể làm được việc gì” (Ga 15,1-5).

- Ta trở thành chi thể của Chúa Giê-su Phục Sinh (x 1Cr 6,15).

- Ta là con Thiên Chúa được sinh ra bởi Chúa Giê-su chứ không phải do ý muốn xác thịt của loài người (x Ga 1,12-13).

- Ta là Hiền Thê của Tân Lang Giê-su, như lời thánh Phao-lô nói : “Tôi đã đính hôn anh em với một người độc nhất là Đức Ki-tô, để tiến dâng anh em cho Người như một trinh nữ thanh khiết” (2Cr 11,2).

- Ta là Thiên Chúa, dù ta còn nhiễm lây tội lỗi nhưng đã được trở nên công chính nhờ Chúa Giê-su. Vì thế thánh Phao-lô nói : “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi sống mà là Chúa Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20). Và vì “ta ở trong Chúa Giê-su thì dù ta có chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng làm cho ta được sống, vì ta đã trở nên công chính” (Rm 8,10). Bởi vì “ai ở trong Chúa Giê-su thì không còn bị lên án nữa” (Rm 8,1).

Vậy “hạnh phúc thay những ai ẩn náu bên Chúa” (Tv 2,12d : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

 Ai không sinh lại bởi nước và Thần Khí thì không thể vào được Nước Thiên Chúa  (Ga 3,5).

Tác giả: Đinh Quang Thịnh, Lm.
   dunglac@gmail.com