Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Đinh Quang Thịnh, Lm.
Bài Viết Của
Đinh Quang Thịnh, Lm.
TUẦN SAU CN 3 PHỤC SINH

Đinh Quang Thịnh, Lm.


o0o



o0o


THỨ BẢY SAU CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH

Cv 9, 31-42 ; Ga 6, 51.60-69

BÀI ĐỌC : Cv 9, 31-42

31 Hồi ấy, trong khắp miền Giu-đê, Ga-li-lê và Sa-ma-ri, Hội Thánh được bình an, được xây dựng vững chắc và sống trong niềm kính sợ Chúa, và ngày một thêm đông, nhờ Thánh Thần nâng đỡ.

32 Bấy giờ ông Phê-rô rảo khắp nơi, xuống thăm cả dân thánh cư ngụ tại Lốt.33 Nơi đây ông gặp thấy một người tên là Ê-nê liệt giường đã tám năm, vì anh bị tê bại.34 Ông Phê-rô nói với anh ta: "Anh Ê-nê, Đức Giê-su Ki-tô chữa anh khỏi. Anh hãy đứng dậy và tự dọn giường lấy." Lập tức anh đứng dậy.35 Tất cả những người cư ngụ ở Lốt và đồng bằng Sa-ron thấy anh, và họ trở lại cùng Chúa.

36 Ở Gia-phô, trong số các môn đệ có một bà tên là Ta-bi-tha, có nghĩa là Linh Dương. Bà này đầy công đức vì những việc lành và bố thí bà đã làm.37 Trong những ngày ấy, bà mắc bệnh và qua đời. Người ta tắm xác cho bà và đặt ở lầu trên.38 Vì Lốt gần Gia-phô, nên khi các môn đệ nghe biết ông Phê-rô ở đó, liền cử hai người đến mời: "Xin ông đến với chúng tôi, đừng trì hoãn."

39 Ông Phê-rô đứng dậy cùng đi với họ. Tới nơi, người ta đưa ông lên lầu trên. Các bà goá xúm lại quanh ông, vừa khóc vừa cho ông xem những áo dài và áo choàng bà Linh Dương đã may khi còn sống với họ.40 Ông Phê-rô cho mọi người ra ngoài, rồi quỳ xuống cầu nguyện. Sau đó, ông quay lại về phía thi hài và ra lệnh: "Bà Ta-bi-tha, hãy đứng dậy! " Bà ấy mở mắt ra, và khi thấy ông Phê-rô, liền ngồi dậy.41 Ông đưa tay đỡ bà đứng dậy, rồi gọi dân thánh và các bà goá lại và cho thấy bà đang sống.42 Cả thành Gia-phô đều biết việc này, và có nhiều người tin vào Chúa.

ĐÁP CA : Tv 115

Đ. Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Người đã ban cho. (c 12)

12 Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho? 13 Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Đức Chúa .

14 Lời khấn nguyền với Chúa, tôi xin giữ trọn, trước toàn thể dân Người. 15 Đối với Chúa thật là đắt giá cái chết của những ai trung hiếu với Người.

16 Vâng lạy Chúa, thân này là tôi tớ, tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi. 17 Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn, và kêu cầu thánh danh Đức Chúa.

TUNG HÔ TIN MỪNG : x Ga 6, 63c.68c

Hall-Hall : Lạy Chúa, Lời Chúa là Thần Khí và là sự sống. Chúa có những Lời đem lại sự sống đời đời. Hall.

TIN MỪNG : Ga 6, 51.60-69

51 Tại hội đường Ca-phác-na-um, Đức Giê-su đã nói : “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống." 60 Nghe rồi, nhiều môn đệ của Người liền nói: "Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi? "61 Nhưng Đức Giê-su tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông: "Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư? 62 Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao?63 Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.

64 Nhưng trong anh em có những kẻ không tin." Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giê-su đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người.65 Người nói tiếp: "Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho."66 Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.

67 Vậy Đức Giê-su hỏi Nhóm Mười Hai: "Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao? "68 Ông Si-môn Phê-rô liền đáp: "Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.69 Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa."

THÁNH THỂ LÀM HOÀN HẢO THÁNH TẨY

Theo Tin Mừng Gio-an, khởi đầu thiết lập Nước Thiên Chúa (Hội Thánh) Đức Giê-su, Mẹ Ma-ri-a và các môn đệ đi dự tiệc cưới tại Ca-na, Ngài làm cho tiệc ấy có rượu mới, ngon hơn rượu cũ, (x Ga 2,1-11) là tác giả Gio-an đã nhìn ra tiệc cưới là dấu chỉ về đời sống Hội Thánh Đức Giê-su thiết lập. Hiểu như thế nên thánh Tông Đồ đã lấy đời sống Hội Thánh để giáo dục các gia đình Ki-tô giáo : “Như Đức Ki-tô yêu Hội Thánh thế nào, thì chồng cũng phải yêu vợ mình như vậy, và như Hội Thánh tùng phục Đức Ki-tô thế nào, thì vợ cũng hãy kính trọng chồng như vậy.” (x Ep 5,21-32) Ta cũng biết Bí tích Thánh Thể chính là Hội Thánh hữu hình. Như thế, muốn xây dựng một gia đình cũng như thiết lập Bí tích Thánh Thể (Hội Thánh,) cần phải có ba yếu tố này :

    • Tặng qùa.
    • Giao ước.
    • Trao thân.

I. TẶNG QUÀ.

Vì ở đâu có tình yêu, ở đó có qùa tặng. Thực vậy, đôi nam nữ khởi đầu tình yêu của họ bằng hình thức tặng quà cho nhau. Trước nhất là tặng nhau ánh mắt, mà “ăn đèn” thì sẽ tặng nhau nụ cười đến đỏ mặt. Tới nữa là tặng nhau ly chè ở điểm hẹn, chè ngon không quên được buổi hẹn hò đầu tiên đến không ngủ được, nên chong đèn tìm giấy hồng viết thư tâm sự nỗi lòng! … Rõ ràng tình yêu dâng cao theo nhịp điệu tặng qùa… !

Tình yêu đôi lứa như kể trên chẳng qua là họa lại mối tình của Thiên Chúa đối với con người : Thiên Chúa tạo dựng vạn vật là qùa tặng Ngài sắm để trao ban hết cho loài người ; lịch sử dân tộc Do-Thái là lịch sử Chúa “dụ” loài người theo để Ngài để “cưới” lấy nó. (x sách Hôsê) điều này bắt đầu thực hiện từ lúc Đức Giê-su lấy bánh, cá tặng dân sống no thỏa, (x Ga 6,1-15) tiên báo và khởi sự việc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể, thiết lập Hội Thánh.

II. GIAO ƯỚC.

Tình yêu đôi lứa không phải chỉ được làm nên đơn thuần giữa đôi nam nữ yêu nhau, mà còn thể hiện và dựa trên giao ước được lập giữa cộng đoàn sinh sống, từ giấy kết hôn xã hội chứng nhận, đến nghi lễ Cưới, thề hứa, và ký sổ Hôn phối trước mặt vị đại diện Hội Thánh. Hôn ước này bị phế bỏ thì gia đình cũng ly tán nhau trong tủi nhục, đau đớn ê chề !

Dân Do-thái đã lấy việc trung thành với Giao ước Thiên Chúa đã ký kết với họ làm dấu chỉ tình yêu trung tín giữa họ đối với Chúa. Điều này đã được ông Gio-suê trắc nghiệm hỏi dân : "Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Đức Chúa , thì hôm nay anh em cứ tuỳ ý chọn thần mà thờ hoặc là các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông Cả, hoặc là các thần của người E-mô-ri mà anh em đã chiếm đất để ở. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa."

Dân đáp lại: "Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác! Vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông chúng tôi lên từ đất Ai-cập, từ nhà nô lệ, đã làm trước mắt chúng tôi những dấu lạ lớn lao đó, đã gìn giữ chúng tôi trên suốt con đường chúng tôi đi, giữa mọi dân tộc chúng tôi đã đi ngang qua. Về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa, vì Người là Thiên Chúa của chúng tôi." (Gs 24, 15-17.18b)

Thế mà khi Con Thiên Chúa đến lập hôn ước với dân Ngài qua Mầu Nhiệm Thánh Thể, thì dân Chúa chọn lại làm điều quái gở, chính cha ông họ đã kết án ! Vì không những toàn dân mà còn cả các môn đệ Đức Giê-su, đã từng được Ngài chăm sóc chẳng thiếu thốn sự gì, cũng rút lui, lìa bỏ Ngài ! Chắc chắn thái độ đó phải làm cho Đức Giê-su cảm thấy bẽ bàng hơn bao giờ hết, nhưng Ngài không hối hận vì Ngài đã yêu là yêu đến cùng (x Ga 13,1), và Ngài cũng không mị dân để níu kéo ít người ở lại với Ngài, và Ngài thách thức cả các môn đệ còn đứng lại : "Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao? " Ông Si-môn Phê-rô liền đáp: "Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa." (Ga 6,67-69).

Vậy chỉ có Hội Thánh mà ông Phê-rô là đại biểu tuyên xưng đức tin không thể bỏ Thầy Giê-su, vì họ nhận ra giá trị được ăn thịt và uống máu Ngài, cùng đón nhận Giao Ước của Thầy. Những người như thế mới thực là Hiền thê của Đức Ki-tô. (x 2Cr 11,2)

Đến đây ta có thể hình dung cách bố cục chương 6 của thánh Gio-an Tông Đồ theo đường xoáy trôn ốc đi lên để diễn tả tầm mức quan trọng của Bí tích Thánh Thể :


Dựa vào giáo huấn của Tin Mừng Ga 6 trên đây, ta đi đến xác tín những điểm sống Bí tích Thánh Thể :

Lời Chúa là đỉnh cao của giá trị Bí tích Thánh Thể, nhưng nếu Lời không phát xuất từ một cơ thể sống (Thánh Thể), thì Lời chỉ là tiếng kêu như ông Gio-an Bt là cùng. Thánh Phao-lô trong thư Do-thái nói về Phụng vụ mới Đức Giê-su thiếp lập : “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.” (Dt 1,1-2a). Đức Giê-su muốn khẳng định rằng chỉ trong Phụng Vụ “hết thảy mọi người đều được Thiên Chúa dạy bảo, phàm ai nghe và học nơi Chúa Cha thì sẽ đến với Ta” (Ga 6,45), vì “Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.” (Ga 6,63). Do đó “trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu.” (Mc 13,31).

Như vậy ai liên hệ đến Lời Chúa trong Thánh Thể, người ấy mới được sống sung mãn, và được tồn tại muôn đời. Cụ thể ông Phê-rô vì đã nắm vững Lời Chúa nên ông có quyền làm cho anh Êne đã 8 năm trời nằm liệt giường vì bất toại. Ông Phê-rô nói với người ấy : “Êne, Đức Giê-su Ki-tô chữa lành anh. Hãy chỗi dậy, và dọn dẹp giường đi”. Và lập tức người ấy đã chỗi dậy. Ông Phê-rô còn có quyền làm cho kẻ chết sống lại, như bà Linh Dương, khi còn sống bà đã thương giúp người nghèo. Lúc chết mọi người chạy đi tìm ông Phê-rô đến quỳ xuống cầu nguyện, đoạn ông quay lại phía đặt xác, ông nói : “Tabitha, hãy chỗi dậy”, bà ấy liền mở mắt ra và thấy ông Phê-rô, bà liền ngồi lên. Ông Phê-rô đưa tay nhắc bà đứng dậy, rồi gọi các thánh cùng các bà góa lại, ông cho thấy bà đã sống ! (x Cv 9, 31-43 : Bài đọc)

 

III. TRAO THÂN.

Trong hôn nhân, sau khi anh chị đã trao cho nhau món quà vật chất, đến nỗi tài sản không còn là của anh hay của em, mà đến cả “quần xà-lỏn” cũng là “quần chúng ta”, để rồi tặng nhau cả thân xác, lúc ấy mới thực là tác động của tình yêu đúng nghĩa, bền vững và trọn tình ! đến nỗi cả hai người nên một thân xác, một linh hồn, một sự sống, do đó họ gọi nhau là “mình ơi” ! Cô cậu mà khước từ nhau về việc trao thân, chắc chắn hôn nhân đổ vỡ. Thế thì Chúa Giê-su muốn ta nhớ lại Bí tích Thánh Tẩy, ta đã trở nên Hiền Thê của Ngài (x 2Cr 11,2), thì Ngài muốn “trao thân” cho ta, và ta cũng phải sẵn sàng “trao thân” qua việc ăn thịt Ngài. Để nhấn mạnh việc này tối ư quan trọng, Đức Giê-su liên tục 10 lần Ngài dùng động từ “ăn (x Ga 6, 49-58) ; và liên tục 6 lần Ngài nói “ăn thịt Ta ban (x Ga 6,52-56). Điều ấy quả là làm cho nhiều người nghe chói tai, xét về mặt văn chương, không ai lặp đi lặp lại mãi một từ như thế, cũng không đáp ứng khát vọng của họ, vì dân theo Ngài chỉ muốn chữa lành bệnh, được ăn no, còn Ngài thì cứ “lải nhải” nói “ăn thịt và uống máu Ta”, ai mà chịu nổi. Do đó hết thảy họ bỏ đi !

Vậy chỉ ai đi dự Lễ để tâm nghe Lời và rước lễ, người đó mới thực sự là Hiền Thê của Chúa Giê-su, nhờ Bí tích Thánh Thể đã làm hoàn hảo Bí tích Thánh Tẩy, trong tâm hồn hân hoan biết ơn : “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Người đã ban cho” (Tv 116/115, 12 : Đáp ca)

Đôi vợ chồng nọ, sau ngày cưới, cha mẹ hai bên đều cho những vật dụng để vợ chồng ra riêng. Đến ngày dọn sang nhà mới, vợ chồng tất bật với công việc dọn dẹp, trang trí ngôi nhà. Người chồng lo sắp đặt những vật dụng nặng như tủ, giường, bàn, ghế … cứ đến cái nào của bên nội cho, thì anh nói :

- Em ơi, giúp anh một tay kê cái tủ của anh vào chỗ này hoặc em ơi, cái bàn làm việc của anh để ở đây có được không? ………

Cô vợ nghe anh chồng cứ “cái này … của anh, cái kia… của anh, người vợ bực mình lắm! Cô tỏ vẻ không vui chút nào, người chồng cứ tưởng vợ làm việc mệt nên như thế, anh lại động viên :

- Em mệt hả, cố gắng chút nữa, chỉ có những vật nào nặng là của anh, anh đã sắp xếp xong rồi, còn lại những đồ dùng nhẹ bên ngoại cho em, thì mau thôi mà!

Vợ tức quá không nhịn được nữa, la toáng lên :

- Đã là vợ chồng rồi mà từ nãy đến giờ anh cứ của anh, của anh mãi vậy ?!

Bấy giờ anh chồng mới hiểu ra là vì sao mặt cô vợ mình cứ bí xị, đáng lý cô phải vui vì có nhà mới chứ ?! Anh vội đến bên vợ ôn tồn nói :

- Anh xin lỗi, anh vô ý đã làm em buồn! Lần sau anh sẽ không thế nữa.

Cô vợ im lặng và đi xuống bếp !

Khi mọi việc đã tạm ổn, anh chồng chuẩn bị đi tắm, vì vội vàng nên anh quên mang quần áo theo. Tắm xong anh lớn tiếng gọi vợ :

- Em ơi, lấy cho anh cái quần đùi của chúng ta đi!

Cô vợ vui vẻ vội đi lấy và đứng chờ sẵn ngoài cửa phòng tắm …!

Có như thế họ mới sống lời thánh Phao-lô dạy : “Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em thì anh em cũng phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,13).

Nhất là vì họ “không còn phải là hai, nhưng là một xương một thịt” (Mt 19,5). Nếu “có bất hòa thì như con nít thôi !” (1 Cr 14,20).

THUỘC LÒNG.

Lạy Chúa Giê-su, bỏ Ngài thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. (Ga 6,68)


o0o


THỨ SÁU SAU CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH

Cv 9, 1-20 ; Ga 6, 52-59

BÀI ĐỌC : Cv 9, 1-20

1 Bấy giờ, ông Sao-lô vẫn còn hằm hằm đe doạ giết các môn đệ Chúa, nên đã tới gặp thượng tế2 xin thư giới thiệu đến các hội đường ở Đa-mát, để nếu thấy những người theo Đạo, bất luận đàn ông hay đàn bà, thì bắt trói giải về Giê-ru-sa-lem.

3 Vậy đang khi ông đi đường và đến gần Đa-mát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông.4 Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: "Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta? "5 Ông nói: "Thưa Ngài, Ngài là ai? " Người đáp: "Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ.6 Nhưng ngươi hãy đứng dậy, vào thành, và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì."7 Những người cùng đi với ông dừng lại, sững sờ: họ nghe có tiếng nói, nhưng không trông thấy ai.8 Ông Sao-lô từ dưới đất đứng dậy, mắt thì mở nhưng không thấy gì. Người ta phải cầm tay dắt ông vào Đa-mát.9 Suốt ba ngày, ông không nhìn thấy, cũng chẳng ăn, chẳng uống.

10 Bấy giờ ở Đa-mát có một môn đệ tên là Kha-na-ni-a. Trong một thị kiến, Chúa phán với ông: "Kha-na-ni-a! " Ông thưa: "Dạ, lạy Chúa, con đây."11 Chúa bảo ông: "Đứng lên, đi tới phố gọi là Phố Thẳng, đến nhà Giu-đa tìm một người tên là Sao-lô quê ở Tác-xô: người ấy đang cầu nguyện12 và thấy một người tên là Kha-na-ni-a đi vào, đặt tay trên mình để làm cho mình lại thấy được."13 Ông Kha-na-ni-a thưa: "Lạy Chúa, con đã nghe lắm kẻ nói về người ấy, về tất cả những điều ác người ấy đã làm cho dân thánh Chúa tại Giê-ru-sa-lem.14 Còn ở đây, người ấy được các thượng tế cho quyền bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa."15 Nhưng Chúa phán với ông: "Cứ đi, vì người ấy là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ít-ra-en.16 Thật vậy, chính Ta sẽ chỉ cho người ấy thấy tất cả những đau khổ người ấy phải chịu vì danh Ta."17 Ông Kha-na-ni-a liền đi; ông vào nhà, đặt tay trên ông Sao-lô và nói: "Anh Sa-un, Chúa đã sai tôi đến đây, Người là Đức Giê-su, Đấng đã hiện ra với anh trên đường anh tới đây. Người sai tôi đến để anh lại thấy được và để anh được đầy Thánh Thần."18 Lập tức có những cái gì như vảy bong ra khỏi mắt ông Sao-lô, và ông lại thấy được. Ông đứng dậy và chịu phép rửa.19 Rồi ông ăn và khoẻ lại.

 Ông ở lại Đa-mát với các môn đệ mấy hôm, 20 rồi lập tức ông bắt đầu rao giảng Đức Giê-su trong các hội đường, rằng Người là Con Thiên Chúa.

ĐÁP CA : Tv 116

Đ. Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng. (Mc 16,15).

1 Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa,ngàn dân ơi, hãy chúc tụng Người!

2 Vì tình Chúa thương ta thật là mãnh liệt, lòng thành tín của Người bền vững muôn năm.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Ga 6, 56

Hall-Hall : Chúa nói : “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy.” Hall.

TIN MỪNG : Ga 6, 52-59

52 Khi ấy, người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được? "53 Đức Giê-su nói với họ: "Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình.54 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết,55 vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống.56 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy.57 Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy.58 Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời."

59 Đó là những điều Đức Giê-su đã nói khi giảng dạy trong hội đường, ở Ca-phác-na-um.

BÍ TÍCH THÁNH THỂ

CHO TA ĐƯỢC ĐỒNG HÓA VỚI CHÚA GIÊSU

Đức Giê-su nói : “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, thì có sự sống đời đời và tôi sẽ cho nó sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6, 54 : Tin Mừng).

 

Ăn thịt và uống máu” : Đây không phải là ăn miếng thịt hay uống ly máu, nhưng Đức Giê-su có ý nói rằng khi Ngài bị giết chết, sau ba ngày Ngài sống lại, Ngài trở thành Bánh Sự Sống ban cho nhân loại, ai lãnh nhận Bánh Ngài ban là lãnh trọn vẹn Chúa Giê-su Phục Sinh, như lời thánh Phao-lô nói : “Đấng tác thánh là Đức Giê-su và những người được thánh hóa cùng một nguồn gốc, cùng một xương thịt, vì thế Ngài không hổ thẹn gọi họ là anh em” (Dt 2, 11.14).

Người Việt Nam cũng có kiểu nói tương tự, ví dụ một kẻ ác đang ghét tôi, nó nói : “Phen này tao sẽ xơi tái mày”, không có nghĩa nó xẻo một miếng thịt của tôi để ăn, mà là nó cướp mất mạng sống tôi ! Hoặc nó nói : “Tao sẽ lấy huyết mày”, không có nghĩa là nó chích ít máu của tôi mà có nghĩa là nó giết tôi ! Có khi ta nghe nói : “Tay này giỏi lắm”, có nghĩa là người đó thật tài giỏi.

Như vậy nói một phần thân thể có nghĩa là nói toàn thân.

Ai ăn bánh sự sống thì có sự sống đời đời” (rước lễ) : Quan niệm sự sống sau cuộc đời này giữa Ki-tô giáo và ngoài Ki-tô giáo khác nhau. Ví dụ người theo đạo ông bà, họ tin rằng khi tổ tiên của họ qua đời sang một thế giới khác, thì cũng có những nhu cầu như khi còn sống ở đời này, do đó họ tỏ lòng hiếu thảo với tổ tiên, khi họ biết tổ tiên lúc đương thời thích dùng gì, thì họ đặt những của ấy trên bàn thờ tổ : nếu cha mẹ thích ăn gà, hút thuốc, thích tiền đô-la, thì họ đặt những thứ ấy trên bàn cúng. Như thế, ngoài Ki-tô giáo quan niệm về sự sống sau cái chết ở đời này, nếu được giải thoát, thì cũng sống hạnh phúc như trên dương thế. Trái lại, sự sống đời đời của người Công Giáo là thông dự vào sự sống Phục Sinh của Chúa Giê-su. Thánh Phao-lô nói :

    • Gieo xuống trong ô nhục” (1Cr 15,43a). Cụ thể như khi Đức Giê-su bị treo trên thập giá, ông Mattheu ghi nhận : “Mọi người đều sỉ vả Ngài, cả đến hai tên trộm bị đóng đinh bên cạnh Ngài cũng lăng nhục Ngài” (Mt 27, 39-44).

    + “Sống lại trong vinh quang” (1Cr 15,43b). Cụ thể như Đức Giê-su sau khi Ngài tự hiến tế trên thập giá, Ngài sống lại vinh quang, “danh Ngài vượt trên mọi danh hiệu, để khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất, và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng Đức Giê-su Ki-tô là Chúa” (x Pl 2, 6-11) ; Chúa Giê-su Phục Sinh đã chộp lấy “sói Saulo” đang trên đường đi lùng giết các Ki-tô hữu ở Đama (x Cv 9,1-20 : Bài đọc). Ông biết hối lỗi và đi học giáo lý nơi môn đệ Ngài, rồi được Ngài thông ban quyền năng cho ông, đến nỗi ông làm cho kẻ chết sống lại(x Cv 20,7t). Và công việc mục vụ của ông thành công hơn các Tông Đồ thượng đẳng (x 2Cr 11,5).

    • Gieo xuống trong yếu đuối” (1Cr 15,43c). Đan cử Đức Giê-su bị giết chết giống tên trộm và được an táng trong mộ (x Lc 23,33t).

    + “Sống lại trong quyền năng” (1Cr 15,43d). Cụ thể như xác Đức Giê-su được an táng trong mộ, nhưng sau ba ngày Ngài bật tung tảng đá che cửa mộ bước ra, làm cho các chú lính canh mồ hoảng sợ, và chạy về báo tin cho những người trong thành (x Mt 27,62t). Nhưng nhờ Chúa Giê-su Phục Sinh thông ban cho thánh Tông Đồ quyền năng của Ngài, như khi ông Phao-lô và ông Barnaba đến Lystra giảng Tin Mừng, ở đây có một anh bị bại bẩm sinh chưa đi được bước nào, anh nhìn ông Phao-lô giảng, anh ước mong được cứu, ông Phao-lô nói với anh : “Hãy chỗi dậy”, anh liền nhảy lên mà bước đi. Dân chúng thấy thế, họ gọi Barnaba là thần Jupiter và Phao-lô là thần Hermes, họ đưa bò, vòng hoa đặt trước tam quan cúng tế các ngài. Hai ông Phao-lô và Barnaba xé áo mình nhảy bổ vào đám đông và kêu lên : “Đừng làm như thế, chúng tôi đây chỉ là người như anh em, anh què này được lành mạnh là do danh Chúa Giê-su, Đấng mà anh em đã giết đi nay Ngài sống lại”. Nhưng nhiều người Do-thái từ vùng Antiokia và Ikonium kéo đến làm xiêu lòng dân, họ nhất loại ném đá Phao-lô, tưởng ông đã chết nên lôi xác vất ngoài thành, nhưng sau đó ông Phao-lô lại chỗi dậy và đi đến Derbê tiếp tục giảng Tin Mừng, rồi ông lại quay trở lại Lystra, Antiokia, và Ikonium, nơi những người trước đây đã ném đá ông, và ông tiếp tục hoạt động cho Tin Mừng như không có gì xảy ra (x Cv 14, 8-23). Nếu ông Phao-lô không được thông dự vào sự sống của Chúa Giê-su Phục Sinh, chắc chắn ông không thể trở lại nơi mình đã bị ném đá để hoạt động Tông Đồ tiếp !

    • Gieo xuống trong khí huyết” (1Cr 15, 44a). Đức Giê-su cũng như bao nhiêu người khi còn sống trên dương thế, một lúc không thể ở nhiều nơi. Cụ thể thuyền các Tông Đồ gặp sóng gió trên biển chỉ vì vắng bóng Thầy Giêsu. Đức Giê-su nhìn thấy thuyền của các ông từ xa suýt bị chìm vì phong ba bão tố, Ngài đi trên mặt nước mà đến với họ. Thuyền của Tông Đồ chỉ được bình an, khi Đức Giê-su có mặt trên thuyền cùng với các ông (x Ga 6, 16-21).

    + “Sống lại trong thần thiêng” (1Cr 15,44b). Khi Đức Giê-su từ cõi chết sống lại, một lúc Ngài ở khắp nơi như Ngài muốn. Cụ thể cùng một thời điểm Ngài đi đường cắt nghĩa Lời Chúa cho hai môn đệ về làng Emmau, và lại hiện ra với Mười Một môn đệ đang trong căn phòng đóng kín tại Giê-ru-sa-lem, dù không ai mở cửa (x Lc 24).

     

Ta sẽ cho nó sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6,54c). Có nghĩa là ai ăn Bánh Sự Sống, thì dù có chết cách nào, cũng chỉ là giấc ngủ dài (x Mc 5,39), tới ngày cánh chung, họ được chỗi dậy, sống vinh quang như Chúa Giê-su Phục Sinh (x 1Ga 3,2). Như thế, niềm tin vào sự sống Phục Sinh là niềm tin trong hy vọng, như lời thánh Phao-lô nói : “Ơn cứu độ đến với ta như một hy vọng, hy vọng mà thấy được ai còn hy vọng nữa, nhưng nếu ta hy vọng điều ta không thấy, thì ta cứ kiên vững đợi trông” (Rm 8,24). Vậy “đừng ai nghĩ mình đã đoạt giải hay đã thành toàn, nhưng ta đang ruổi theo để mà chiếm đoạt, bởi chưng ta đã được Đức Ki-tô chộp lấy. Ta hãy quên phía sau mà lao mình về phía trước, nhắm đích ta chạy đến giải thưởng của ơn kêu gọi từ trên cao Thiên Chúa đã ban bố trong Đức Ki-tô Giê-su” (Pl 3, 12-14).

Vậy khi ta đã được lãnh Bí tích Khai Tâm, ta đã được trở nên một với Chúa Giê-su Phục Sinh, đúng như Lời Ngài đã nói : “Kẻ ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì lưu lại trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha, Đấng hằng sống đã sai Ta, và Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta cũng vậy, nó sẽ sống nhờ Ta” (Ga 6,56-57 : Tin Mừng). Lời này Đức Giê-su đã xác định cho chúng ta tin rằng : khi ta đã được rước lễ, ta được đồng hóa với Chúa Giê-su Phục Sinh. Thực vậy, lúc ông Phao-lô xông vào Đama bắt hại những người Công Giáo, Đức Giê-su chiếu luồng ánh sáng trên ông, ông ngã vật xuống đất và Ngài hỏi tội ông : “Saulo, Saulo, sao ngươi bắt bớ Ta ?” Mà ông đã bắt được ai đâu ? Nên ông hỏi lại : “Thưa Ngài, Ngài là ai ?” Tiếng đáp : “Ta là Giêsu ngươi đang đi bắt”, ông hiểu ngay rằng xúc phạm đến người Công Giáo là xúc phạm đến Chúa Giê-su ! Nếu ông không tin như thế, thì ông có quyền cãi lại với Chúa Giê-su : “Tôi đâu có nhúng tay giết Ngài vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đâu ?” (x Cv 9, 3-5).

Để minh chứng cho thế gian biết ta đang sống nhờ sự sống Phục Sinh của Chúa Giê-su thông ban, ta phải :

    • Vượt qua mọi rào cản bởi hiềm tỵ mà đến với nhau bằng trái tim của Chúa Giê-su (x Pl 2,5).
    • Vượt qua mọi rào cản hưởng thụ bản thân,chấp nhận thiệt mạng để chia sẻ sự sống qua việc phục vụ trong tin yêu, làm cho người đang cần đến ta được sống trong bình an của Chúa Giê-su Phục Sinh. Như ông Phao-lô đi giảng Tin Mừng, dù có bị người ta ném đá đến chết, ông vẫn không sợ, lại còn hăng hái hơn nữa đi giảng Tin Mừng khắp nơi, rồi vòng trở về nơi mình bị ném đá hoạt động tiếp.

Có thế ta mới thực hành được lệnh Chúa truyền : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ mà loan báo Tin Mừng, làm cho muôn dân biết ca ngợi Thiên Chúa, vì tình thương của Chúa thật là mãnh liệt” (Tv 117/116, 1a.2a ; Mc 16,15 : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

Chúa Giê-su nói : “Ai ăn tôi nó sống nhờ tôi như tôi sống nhờ Cha tôi” (Ga 6,57)


o0o


THỨ NĂM SAU CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH

Cv 8, 26-40 ; Ga 6, 44-51

BÀI ĐỌC : Cv 8 ,26-40

26 Ngày ấy, Thiên sứ của Chúa nói với ông Phi-líp-phê: "Đứng lên, đi về hướng nam, theo con đường từ Giê-ru-sa-lem xuống Ga-da; con đường này vắng."27 Ông đứng lên đi. Khi ấy có một viên thái giám người Ê-thi-óp, làm quan lớn trong triều của bà Can-đa-kê, nữ hoàng nước Ê-thi-óp. Ông này làm tổng quản kho bạc của bà. Ông đã lên Giê-ru-sa-lem hành hương28 và bấy giờ đang trên đường về. Ngồi trên xe nhà, ông đọc sách ngôn sứ I-sai-a.29 Thần Khí nói với ông Phi-líp-phê: "Tiến lên, đuổi kịp xe đó."30 Ông Phi-líp-phê chạy lại, nghe thấy ông kia đọc sách ngôn sứ I-sai-a, thì hỏi: "Ngài có hiểu điều ngài đọc không? "31 Ông quan đáp: "Mà làm sao tôi hiểu được, nếu không có người dẫn giải? " Rồi ông mời ông Phi-líp-phê lên ngồi với mình.32 Đoạn Kinh Thánh ông đang đọc là đoạn này: Như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người chẳng mở miệng kêu ca.33 Bởi Người bị hạ xuống, nên bản án của Người đã được huỷ bỏ. Dòng dõi Người, ai sẽ kể lại, vì cuộc sống của Người trên trần gian đã bị chấm dứt.

34 Viên thái giám ngỏ lời với ông Phi-líp-phê: "Xin ông cho biết: vị ngôn sứ nói thế về ai? Về chính mình hay về một ai khác? "35 Ông Phi-líp-phê lên tiếng, và khởi từ đoạn Kinh Thánh ấy mà loan báo Tin Mừng Đức Giê-su cho ông.

36 Dọc đường, các ông tới một chỗ có nước, viên thái giám mới nói: "Sẵn nước đây, có gì ngăn trở tôi chịu phép rửa không? "37 Ông Phi-líp-phê đáp: "Nếu ngài tin hết lòng, thì được." Viên thái giám thưa: "Tôi tin Đức Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa."38 Ông truyền dừng xe lại. Ông Phi-líp-phê và viên thái giám, cả hai cùng xuống chỗ có nước, và ông Phi-líp-phê làm phép rửa cho ông quan.39 Khi hai ông lên khỏi nước, Thần Khí Chúa đem ông Phi-líp-phê đi mất, và viên thái giám không còn thấy ông nữa. Nhưng ông tiếp tục cuộc hành trình, lòng đầy hoan hỷ.40 Còn ông Phi-líp-phê thì người ta gặp thấy ở Át-đốt. Ông loan báo Tin Mừng cho mọi thành thị ông đi qua, cho tới khi đến Xê-da-rê.

ĐÁP CA : Tv 65

Đ. Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa (c 1)

8  Nào chúc tụng Chúa Trời chúng ta, muôn dân hỡi,trổi vang lên lời tán dương Người,9 Người là Đấng bảo toàn mạng sống và giữ gìn ta khỏi lỡ bước sa chân.

16  Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời, đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi. 17 Vừa mở miệng kêu lên cùng Chúa,tấc lưỡi tán dương, tôi đã sẵn sàng.

20  Xin chúc tụng Thiên Chúa đã chẳng bác lời thỉnh nguyện tôi dâng, lại cũng không dứt nghĩa đoạn tình.

TUNG HÔ TIN MỪNG : x Ga 6, 51

Hall-Hall : Chúa nói : “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” Hall.

TIN MỪNG : Ga 6, 44-51

44 Khi ấy, Đức Giê-su nói với dân chúng rằng : “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết.45 Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi.46 Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha.47 Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời.48 Tôi là bánh trường sinh.49 Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết.50 Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết.51 Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống."

HAI LƯƠNG THỰC CỦA TIỆC THÁNH THỂ

Ta đến dự tiệc Thánh Thể, Chúa không chỉ nuôi ta bằng “Bánh Sự Sống” ( Ga 6, 48 : Tin Mừng) mà Ngài còn nuôi và giáo dục ta bằng “Lời Sự Sống”, vì “hết thảy mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy bảo” (Ga 6,45 : Tin Mừng).

Hai Lương Thực : Lời ta được đón nhận nơi giảng đài (gồm các Bài đọc, bài giảng và kinh Tin Kính) ; Bánh ta được đón nhận nơi Bàn Thờ (từ lúc dâng bánh rượu cho tới khi rước lễ ).

Giáo huấn của Công đồng Vat II trong Hiến Chế Phụng Vụ số 56 dạy:“ Thánh lễ gồm hai phần, phần Phụng Vụ Lời Chúa và phần Phụng vụ Thánh Thể. hai phần này được liên kết chặt chẽ đến nỗi tạo thành một hành vi phụng thờ duy nhất. do đó, Thánh Công đồng tha thiết khuyến dụ nhựng mục tử chăn dắt các linh hồn, trong khi dạy Giáo lý, phải nhiệt thành dạy dỗ các tín hữu biết tham dự trọn vẹn Thánh Lễ , nhất là ngày Chúa nhật và các ngày lễ Trọng”.

Để nhận ra hai Lương Thực của tiệc Thánh Thể Chúa ban tặng cho ta quan trọng thế nào, Đức Giê-su nhắc đến Manna Chúa đã ban tặng cho dân Do-thái trong sa mạc, mỗi ngày họ phải lượm mà ăn nhưng rồi ai cũng phải chết (Ga 6, 49 : Tin Mừng ).

Ta hãy so sánh giá trị Manna và bánh sự sống Chúa Giê-su ban :


MANNA (Xh 16)
  1. Chúa ban riêng cho dân Do-thái.

  1. Mỗi ngày người Do-thái phải lượm manna ăn, nếu để manna qua ngày hôm sau sẽ nảy bọ, trừ ngày thứ sáu được lất cho ngày thứ bảy, vì ngày thứ bảy Chúa không mưa manna.
  2. Manna chỉ nuôi thân xác con người.
  3. Manna không thanh tẩy tội lỗi ai.


  1. Ai ăn manna không được ơn tái sinh.

  1. Manna cho dân Do-thái sự sống của một sinh vật.
  2. Ai ăn manna không tạo sự hiệp thông với đồng loại.

  1. Người Do-thái ăn manna mỗi ngày mới được sống mà về đất Chúa hứa

BÁNH SỰ SỐNG (Ga 6)
  1. Chúa ban riêng cho người Công Giáo khắp hoàn vũ.
  2. Ta được rước lễ mỗi ngày trong tuần, nhất là lễ Chúa nhật, hoặc lễ Trọng. như vậy, thời Cựu Ước, ngày thứ bảy Chúa không mưa manna, có ý nhấn mạnh vào thời Tân Ước, rước lễ Chúa nhật rất quan trọng.
  3. Bánh Sự Sống nuôi cả hồn lẫn xác.
  4. Bánh Sự Sống là nguồn thanh tẩy mọi tội lỗi ta. Vì không có Bí tích Thánh Thể thì chẳng có Bí tích nào có ơn tha tội.
  5. Ta ăn Bánh Sự Sống, ta được tái sinh bởi Chúa Giê-su (x Cv 2,38 )
  6. Bánh Sự Sống cho ta sự sống thần linh.
  7. Ta ăn Bánh Sự Sống, ta được hiệp thông với Thiên Chúa và tất cả các Thánh là chi thể của Chúa Giê-su .
  8. Ta ăn Bánh Sự Sống mỗi ngày mới được sống đủ sức thắng tội lỗi mà tiến về Quê Trời.

Tuy nhiên người Do-thái trên đường tiến về đất hứa còn gặp nhiều kẻ thù, phải nhờ Lời Chúa ghi trên hai bia đá. người Do-thái mỗi khi tiến đánh kẻ thù, chỉ cần đưa “Hòm Bia Thiên Chúa” (hai bia đá ghi Lời) tiến về phía trước là họ vượt mọi rào cản, đạt chiến thắng vinh quang (x.Gs chương 3).

Như thế, nếu người Do-thái chỉ ăn manna, mà không có Lời Chúa giúp họ chiến thắng kẻ thù, thì họ đã bị đánh gục dọc đường ! Thế thì hôm nay, nếu ta chỉ được ăn Bánh Sự Sống mà ta không được Lời Chúa giáo dục và hướng dẫn, ta cũng bị chết bởi đi vào con đường lầm lạc!

Xét về mặt Mục vụ, Lời Chúa quan trọng hơn Bánh Sự Sống, vì:

    • Lời Chúa thay đổi trong mỗi Thánh lễ , ta đến dự không chán.
    • Lời Chúa dạy ta biết việc tốt để làm và điều xấu phải tránh.
    • Lời Chúa cũng thanh tẩy tâm hồn ta (x Ga 15, 3 ), để ta bớt bất xứng trước khi rước lễ.
    • Ta biết lương thực cho ta được sống có 4 nguồn:

      + thân xác cần khí thở, linh hồn cần Thần khí, mà Thần Khí chính là Lời hằng sống (x Ga 6, 63 ).

      + Thân xác cần nước ; linh hồn cần Lời Chúa là Lời phát sinh sự sống (x Mt 4,4). Vì Lời Chúa thấm vào lòng ta, phát sinh sự sống hơn nước mưa thấm vào lòng đất (x. Is 55, 10-11).

      + Thân xác cần ánh sáng mặt trời; linh hồn cần Lời Chúa soi sáng để ta bước đi đường ngay nẻo chính (x. Tv 119/118 ,105 ).

      + Thân xác cần bánh vật chất; linh hồn cần bánh Sự Sống.

      Như vậy, bánh vật chất nuôi thân xác và bánh sự sống nuôi xác hồn chỉ là một trong bốn lương thực cần cho sự sống của ta.

    • Ai có điều kiện dự Lễ để nghe Lời Chúa mà không đến, họ ở nhà không thể xin rước lễ được, trừ bệnh nhân.

Chính vì Lời Chúa quan trọng như trên mà Thánh Phaolo xác quyết: “ Đức Kitô đã không sai tôi đi thanh tẩy, mà là rao giảng Tin Mừng” (1Cr.1,17a). Mặc dù trong thực tế thánh Phao-lô ban Bí tích Thánh tẩy cho nhiều người trong các giáo đoàn. Thánh Phao-lô nói như thế hàm ý: khi có điều kiện giảng Lời thì phải giảng trước khi cử hành Bí tích. Chính vì vậy mà Công Đồng Vat.II khi canh tân Phụng Vụ đã khuyên các chủ chăn phải công bố Lời Chúa trước khi cử hành bất cứ Bí tích nào.

Để nhận ra tầm quan trọng Lời Chúa trong Phụng Vụ , nếu ta cần thêm thời giờ để nghe và tìm hiểu Lời Chúa thì ta phải quảng đại. Đức Giê-su đã làm gương cho chúng ta trong việc này. Cụ thể: khi Đức Giêsu lên 12 tuổi , Ngài đi dự phụng vụ tại đền thờ Giê-ru-sa-lem, cuộc lễ kéo dài cả một tuần, vậy mà khi đã kết lễ mọi người ra về, Đức Giêsu trốn cha mẹ ở lại đền thờ giảng dạy Lời cho các bậc tấn sĩ, nếu sau ba ngày cha mẹ Ngài chưa gặp được Ngài, thì chắc chắn Đức Giêsu còn tiếp tục giảng (x Lc.2, 41-52 ). Biến cố này chỉ có Luca ghi, vì ông muốn nhấn mạnh Lời Chúa rất quan trọng trong đời sống. Nên chỉ có trong Tin Mừng của ông ghi :

    • Người ta nghe được Lời Chúa sớm nhất : lúc Đức Giê-su lên 12 tuổi, Ngài giảng ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem (x Lc 2,41-52).
    • Đức Giê-su khen chị Maria nghe Lời Chúa là việc tốt nhất, không bị ai giựt mất ! (x Lc 10, 38-42).
    • Ông phú hộ xin Abraham cho Ladaro đã chết hiện về dạy cho người sống, nhưng ông Abraham nói : nó đã có Mô-sê và các tiên tri (đã có Kinh Thánh) nó phải nghe (x Lc 16,27-29).
    • Chúa Giê-su Phục Sinh không trách môn đệ cứng tin lời các phụ nữ loan báo Đức Giê-su đã sống lại, mà Ngài trách họ tại sao không tin vào Kinh Thánh (x Lc 24,25-27).

Cũng vì vậy mà trong sách Công Vụ Tông Đồ, ông Luca ghi: Cả đến người ngoại, một hoạn quan nước Á, sau khi trẩy lên lễ Đền Thờ tại Giêrusalem, lúc trở về ông còn tiếp tục mở Kinh Thánh ra, ông đọc mà không hiểu, nhưng vẫn cứ đọc. Chúa thấy lòng thành của ông, Ngài đã sai Phó tế Phi-lip-phê đến cắt nghĩa cho ông hiểu. Ông đã tin vào Chúa Giê-su, và ngay trên đường tới chỗ có nước, ông dừng xe lại, và Phó tế Phi-lip-phê đã ban Bí tích Thanh Tẩy cho ông, lòng ông tràn ngập vui sướng tiếp tục cuộc hành trình lòng đầy hân hoan ( x Cv .8, 26-40 : Bài đọc ).

Vậy chắc chắn Hội Thánh muốn cho con cái mình khi đi dự Lễ phải biết quí trọng Lời Chúa thể hiện bằng quảng đại thời giờ để lắng nghe tìm hiểu. Chính vì vậy mà Giáo huấn Công Đồng Vat.II trong Hiến Chế Phụng Vụ số 24 nói : “Trong việc cử hành phụng vụ, Thánh Kinh giữ vai trò tối quan trọng”.  Do đó chỉ khi nào chúng ta ý thức để hết tâm, hết thời giờ nghe Lời Chúa trong Phụng Vụ, ta mới “làm cho cả trái đất tung hô Thiên Chúa” (Tv 66/65, 1: Đáp ca ).

Bà Rober người Pháp khi được 26 tuổi bị bại liệt toàn thân, không thể ăn uống được gì từ năm 1930 tới năm 1981. Suốt 51 năm bị bệnh như vậy, mỗi ngày bà chỉ được rước mấy giọt Máu Thánh (rượu nho đã được truyền phép). Vậy mà bà đã sống tới 77 tuổi mới qua đời !

Bà kể lại cho mọi người nghe :“Khi tôi được rước Chúa vào lòng, như có một sức sống mới lưu truyền tăng thêm nghị lực trong tâm hồn tôi, tôi không thể diễn tả cho ai hiểu được, vì đó là cảm nghiệm đặc biệt Chúa chỉ tỏ mình cho tôi !”

THUỘC LÒNG

    • Thánh Kinh giữ vai trò tối quan trọng trong Phụng Vụ . (HCPV số 24 ).
    • Phải có thời gian thích hợp để giảng dạy. (HCPV số 35).
    • Phải dựa vào các bản văn Kinh Thánh trong Phụng Vụ mà trình bày các mầu nhiệm đức tin và các quy tắc cho đời sống Ky-tô hữu (x HCPV số 52).


o0o


THỨ TƯ SAU CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH

Cv 8, 1b-8 ; Ga 6, 35-40

BÀI ĐỌC : Cv 8, 1b-8

1 Hồi ấy, Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem trải qua một cơn bắt bớ dữ dội. Ngoài các Tông Đồ ra, mọi người đều phải tản mác về các vùng quê miền Giu-đê và Sa-ma-ri.

 2 Có mấy người sùng đạo chôn cất ông Tê-pha-nô và khóc thương ông thảm thiết.3 Còn ông Sao-lô thì cứ phá hoại Hội Thánh: ông đến từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục.
4 Vậy những người phải tản mác này đi khắp nơi loan báo lời Chúa.5 Ông Phi-líp-phê xuống một thành miền Sa-ma-ri và rao giảng Đức Ki-tô cho dân cư ở đó.6 Đám đông một lòng chú ý đến những điều ông Phi-líp-phê giảng, bởi được nghe đồn và được chứng kiến những dấu lạ ông làm.7 Thật vậy, các thần ô uế vừa kêu lớn tiếng vừa xuất khỏi nhiều người trong số những kẻ bị chúng ám. Nhiều người tê bại và tàn tật được chữa lành.8 Trong thành, người ta rất vui mừng.

ĐÁP CA : Tv 65

Đ. Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa. (c 1)

1 Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa,2 đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh!3a Hãy thưa cùng Thiên Chúa: "Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài!

4 Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh." 5 Đến mà xem công trình của Thiên Chúa: hành động của Người đối với phàm nhân thật đáng kinh đáng sợ!

6 Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền, và dân Người đi bộ qua sông; việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ. 7 Chúa uy dũng hiển trị muôn đời; đôi mắt Người theo dõi chư dân, quân làm phản chớ có hòng nổi dậy!

TUNG HÔ TIN MỪNG : x Ga 6,40

Hall-Hall : Chúa nói : “Tất cả những ai tin vào Người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết”. Hall.

TIN MỪNG : Ga 6, 35-40

35 Đức Giê-su bảo họ: "Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!36 Nhưng tôi đã bảo các ông: các ông đã thấy tôi mà không tin.37 Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài,38 vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi.39 Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.40 Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết."

THÁNH THỂ MẠC KHẢI VỀ THIÊN CHÚA

Đối với người Do-thái, tên của một người là diễn tả về lý lịch, bản tính, sứ mệnh, hay tầm quan trọng hoạt động của người mang tên.

Thí dụ

    • Giêsu có nghĩa là Thiên Chúa cứu độ (x Mt 1,21).
    • Maria có nghĩa là được yêu, bà chủ, bà chúa (x Lc 1,27).
    • Gioan có nghĩa là Thiên Chúa là Đấng thương xót (x Lc 1, 13).
    • Phê-rô có nghĩa là Đá tảng, Đức Giê-su xây dựng Hội Thánh Ngài trên Đá tảng này (x Ga 1,42 ; Mt 16,18).

Khi ông Mô-sê được Thiên Chúa tuyển chọn làm người giải phóng dân Do-thái ra khỏi ách nô lệ Ai-cập, lúc ấy ông là kẻ thất thế, vì ông đã giết một người Ai-cập, nên vua Ai-cập ra lệnh truy nã ông, ông phải trốn lên rừng giả dạng là người chăn chiên, làm sao ông có khả năng đối đầu với một đế quốc hùng mạnh, làm sao ông có uy tín nói với dân Do-thái nghe theo. Do đó, để tạo uy tín đối với dân, ông phải hỏi tên Đấng sai ông, để biết Ngài là ai, hầu nói với dân tin theo ông. Chúa đã mạc khải tên của Ngài cho ông : “Ta là YAHWEH (Gia-vê)”, có nghĩa là “Đấng Hằng Hữu” hoặc “Ta là Ta” (x Xh 3, 13-16 ; 6,3).

Người Do-thái xưa muốn tôn trọng danh Chúa, họ không dám gọi tên Ngài là Gia-vê, mà gọi Ngài là Ông Chủ : ADONAI ; thì người anh em Tin Lành lại sợ không dám gọi tên Thiên Chúa là Gia-vê,cũng không dám gọi tên Chúa là Adonai, mà gọi Thiên Chúa là Yehova. Từ này ghép bởi những phụ âm của từ Yahweh và nguyên âm của từ Adonai (phụ âm của Yahweh là chữ y, h, w ; nguyên âm của Adonai là a, o, khi ghép những chữ này lại thì a đổi thành e, w đổi thành v), thành ra từ Yehova (đúng ra là Yahowa).

Như thế người Do-thái và Tin Lành rất sợ Thiên Chúa, nên không dám gọi chính tên của Ngài ; trái lại đối với người Công Giáo nhờ được hiểu bảy lần trong Tin Mừng Gioan, Đức Giê-su mạc khải về danh Thiên Chúa (Yahweh) :

1/ TA LÀ BÁNH SỰ SỐNG! Ai đến với Ta sẽ không hề đói, và kẻ tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ (Ga 6,35 : Tin Mừng).

Để diễn tả Chúa Giê-su là Bánh sự sống, nhờ Ngài không còn ai đói khát. Thánh Lễ hôm nay Hội Thánh cho ta đọc sách Cv 8, 1-8 ghi lại sức bật của Tin Mừng : Người ta ném đá Phó tế Stephano cho đến. Họ tưởng làm như thế là diệt được Lời ban sự sống cho thế gian. Thế nhưng cái chết của Stephano được thông hiệp với cuộc Tử Nạn của Đức Giê-su và cùng được chia phần chiến thắng Phục Sinh của Ngài, ông như một tấm bánh bẻ ra phân phát cho nhiều người, bởi lẽ sau khi ông Stephano chết, các tín hữu phân tán khắp nơi, đi tới đâu họ cũng giảng Tin Mừng. Như vậy nhờ ông Stephano đã được kết hợp với Chúa Giê-su Thánh Thể mà cuộc tử nạn của ông diễn tả sức sống bất diệt của người đã ăn bánh đích thực của Chúa Giê-su ban. Vì thế trong Tin Mừng Nhất Lãm đã ghi lại việc Đức Giê-su hóa bánh và cá nuôi dân là báo trước về mầu nhiệm Thánh Thể, thì không phải chỉ duy Đức Giê-su bị giết chết vì rao giảng Tin Mừng, và Ngài sống lại để trở thành bánh nuôi mọi người, mà còn có cả chứng nhân của Ngài như ông Gioan Tẩy Giả cũng bị chết vì sứ mệnh ngôn sứ. Đó là lý do tác giả Nhất Lãm đã ghi nhận cái chết của ông Gioan Tẩy Giả trước việc Đức Giê-su hóa bánh nuôi dân (x Mt 14, 1-21 ; Mc 6, 17-44 ; Lc 9, 7-17).

2/ TA LÀ SỰ SÁNG THẾ GIAN! Ai theo Ta sẽ không phải đi trong tối tăm, nhưng nó sẽ có ánh sáng sự sống (Ga 8, 12).

Nhờ Chúa Giê-su Phục Sinh, Ngài đưa ta ra khỏi vùng tối tăm, có nghĩa là ta không còn sống trong tội lỗi, nhưng mặc lấy khí giới sự sáng (x Rm 13,12) ; mà vì ai lưu lại trong Chúa Giê-su Phục Sinh thì người ấy không thể phạm tội, không thuộc về tối tăm (1Ga 3,6).

Chúa Giê-su lại là ánh sáng ban sự sống. Ông Zacarya diễn tả Chúa Giê-su là “Mặt Trời từ cao xanh đến viếng thăm ta, soi sáng những kẻ ngồi trong tối tăm bóng chết, và hướng chân ta thẳng đường bình an” (Lc 1, 78-79). Kinh Thánh dùng hình ảnh mặt trời để diễn tả Thiên Chúa là ánh sáng ban sự sống, vì ánh sáng mặt trời vừa tiêu diệt vi trùng trong không khí, vừa làm cho các loài thụ tạo có sự sống được tồn tại và phát triển, đặc biệt đối với con người nhờ ánh sáng soi đường chỉ lối cho người ta làm việc, cũng như không đi lầm đường mà rớt xuống vực thẳm.

3/ TA LÀ CỬA RÀN CHIÊN! Bao nhiêu kẻ đã đến trước Ta hết thảy đều là trộm là cướp ; nhưng chiên đã không nghe chúng. Ta là cửa vào! Ai ngang qua Ta mà vào thì sẽ được cứu ; nó sẽ vào, sẽ ra, và sẽ gặp được lương thực (Ga 10, 7b-9).

Lời khẳng định này Đức Giê-su nhấn mạnh : ngoài Danh Ngài, không có danh nào đem ơn cứu độ cho loài người (x Cv 4,12). Các mục tử trước Ngài như Abraham, Đavid, các ngôn sứ, những vị này chỉ giới thiệu, chuẩn bị lòng người để người ta tin vào Chúa Giê-su Phục Sinh. Cho nên ai tin vào các vị đó mà không thuộc về Đức Ki-tô, thì các vị đó chỉ trộm là cướp chiên của Đức Giê-su. Chính vì vậy, Đức Giê-su đã hai lần mạc khải Ngài là cửa ràn chiên (Ga 10,7.9), và chiên của Ngài được đặt trong giữa hai cửa (Ga 10,8), thì chiên được gìn giữ an toàn.

4/ TA LÀ MỤC TỬ TỐT LÀNH! Người chăn chiên tốt thí mạng sống mình vì chiên. Kẻ làm công thì không hẳn là chủ chiên, và không có chiên làm của mình, thì vừa thấy sói là bỏ chiên mà chạy trốn, và sói bắt chiên và làm tán loạn. Ấy là vì hắn là kẻ làm công, và không màng gì đến đoàn chiên. Ta là người chăn chiên tốt (Ga 10, 11.14a).

Ở đây ta lại thấy hai lần Đức Giê-su xác nhận : “Ta là Mục Tử tốt lành” (c 11 và 14a). Hai câu này như hai vòng tay người mục tử tốt ôm lấy đàn chiên, bảo vệ, gìn giữ thoát mọi sự dữ, dù mục tử phải mất mạng ! Khác hẳn với kẻ chăn thuê, gặp sói dữ thì bỏ chiên chạy thoát thân !

5/ TA LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG ! Ai tin vào Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống, và mọi kẻ sống cùng tin vào Ta thì không phải chết bao giờ (Ga 11, 25-26).

Ta biết chữ “và” trong ngôn ngữ Hy-lạp báo trước một điều quan trọng. Vì vậy sự phục sinh thì không quan trọng : con gái ông Giairo, trai bà góa thành Naim, Ladaro, tất cả được Đức Giê-su cho phục sinh (x Mc 5,35t ; Lc 7,11t ; Ga 11,1t). Nhưng rồi họ cũng phải chết, chưa có sự sống đời đời. Chỉ ai được sự sống do Chúa Giê-su Phục Sinh ban, thì dầu thân xác họ sống hay chết, vẫn được sống lại trong ngày cánh chung. Sự sống này khởi đi từ lúc họ sinh thời đã được kết hợp với Chúa Giê-su Phục Sinh qua Bí tích Thánh Thể.

6/ TA LÀ ĐƯỜNG VÀ LÀ SỰ THẬT, SỰ SỐNG ! Không ai đến với Cha mà lại không nhờ Ta (Ga 14,6).

Đường đi thì không quan trọng, nhưng đường sự thật dẫn đến sự thật, sự sống mới là quan trọng. Vì thế chữ “và” đã được đặt trước sự thật, sự sống để nhấn mạnh rằng chỉ có Chúa Giê-su Phục Sinh mới dẫn chúng ta đi vào con đường sự thật đạt sự sống đến cùng Chúa Cha : được cứu độ.

7/ TA LÀ CÂY NHO ĐÍCH THỰC, VÀ CHA TA LÀ NGƯỜI CANH TÁC ! Nhánh nào trong Ta không sinh quả, Người chặt nó đi ; còn nhánh nào sinh quả thì Người tỉa sạch để nó sinh quả nhiều hơn… Ta là cây nho đích thực, ai không lưu lại trong Ta, thì bị quăng ra ngoài như nhánh nho và khô đi (Ga 15, 1-5).

Cuối cùng lại hai lần Đức Giê-su mạc khải “Ta là cây nho đích thực” (Ga 15,1.5). Hai lời này mở đầu và kết thúc : ai ở trong Chúa Giê-su thì như ngành liền thân nho sinh nhiều hoa trái, kẻ không liền vào thân nho là Chúa Giê-su, thì tự khô héo.

Nhìn vào bảy lần Đức Giê-su mạc khải về danh Chúa “Ta Là” : Mở đầu “Ta là Bánh” (Ga 6,35), kết thúc “Ta là nho” (Ga 15,1). Bánh và nho là dấu chỉ về Bí tích Thánh Thể. Vậy qua mầu nhiệm Thánh Thể ta được kết hợp, thì được lãnh nhận trọn vẹn sự sống vinh quang dồi dào nơi Thiên Chúa. Khác với thuở xưa người Do-thái cứ thắc mắc danh Chúa “Ta Là”, “Ta Có”, thì Ngài là gì, Ngài có gì, người ta khắc khoải để được hiểu biết về Thiên Chúa và được thông phần sự “Có” của Ngài, nhưng không ai được ! Mãi đến thời Tân Ước, nhờ Đức Giê-su mạc khải : ai kết hợp Chúa Giê-su Phục Sinh qua Bí tích Thánh Thể, thì người ấy được :

    1. Chúa tái tạo nên hoàn hảo trong Chúa Giê-su. Vì số 7 chỉ về tuần Sáng thế.
    2. Chúa cho người đó được dồi dào ơn Chúa. Thánh Gioan nói “họ được lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,16). Vì con số 7 chỉ về sự phong phú ơn Thiên Chúa, như 7 Bí tích, 7 ơn Chúa Thánh Thần.
    3. Được sự sống dồi dào vì Chúa Giêsu là Bánh đích thực (Ga 6,35) ; được thoát khỏi vòng tội lỗi, tham dự vào sự sống Phục Sinh, vì Chúa Giê-su là ánh sáng ban sự sống (Ga 8,12) ; được Chúa canh giữ khỏi mọi sự dữ, vì Chúa Giê-su là cửa ràn chiên (Ga 10,7-9) ; được Chúa Giêsu hiến cả mạng sống cho ta được sống, vì Ngài là Mục Tử nhân lành (Ga 10,11-14) ; được sống vinh quang bất diệt, vì Ngài là sự sống lại (Ga 11,25) ; được về hưởng hạnh phúc cùng Cha trên trời, vì Chúa Giê-su là đường sự thật dẫn đến sự sống (Ga 14,6), và làm được nhiều việc tốt lành hơn Chúa Giê-su (Ga 14,12), lưu lại mãi đến sự sống đời đời, vì Chúa Giê-su là cây nho, ta là ngành (Ga 15,1-5).

Bởi vậy Đức Giê-su đã xác nhận : “Đấy là ý của Đấng Chúa Cha sai Ta : vì phàm sự gì Người đã ban cho Ta, thì Ta không được để hư đi điều gì, song ngày sau hết Ta sẽ cho nó sống lại. Vì ý của Cha Ta là : phàm ai trông thấy Con và tin vào Ngài thì có sự sống đời đời” (Ga 6, 39-40 : Tin Mừng). Do đó nhờ ta hiệp thông với Chúa Giê-su Thánh Thể, ta mới làm cho “cả trái đất tung hô Thiên Chúa” (Tv 66/65,1 : Đáp ca).

Ngày 21-07-1969, hai phi hành gia người Mỹ đã đổ bộ xuống mặt trăng.

Anh Amstrong đạo Tin Lành, gởi ngay một bức điện về trái đất để chúc tụng Chúa : “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm.” (Tv 19/18,2).

Còn Adryan, người Công giáo, anh vội mở hộp đựng Mình Thánh Chúa và rước lễ.

Như thế lần đầu tiên hai phi hành gia đã đưa hai lương thực chính của bàn tiệc Thánh Thể lên mặt trăng :

    • Một anh viết Lời Chúa : Tv 119/118, 2 trên tấm bảng mica và cắm trên mặt trăng.
    • Một anh rước Mình Thánh Chúa, bảo đảm cho anh được sống đời đời, dù khi bước ra khỏi trái đất sang một hành tinh khác.

THUỘC LÒNG

Ta là bánh sự sống, ai đến với Ta không hề đói, và kẻ tin vào Ta không hề khát bao giờ (Ga 6,35).


o0o


THỨ BA SAU CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH

Cv 7, 51 – 8,1a ; Ga 6, 30-35

BÀI ĐỌC : Cv 7, 51 – 8,1a

7 51 Bấy giờ, trước mặt đám đông dân chúng, các kỳ mục và kinh sư, ông Tê-pha-nô tuyên bố : "Hỡi những người cứng đầu cứng cổ, lòng và tai không cắt bì, các ông luôn luôn chống lại Thánh Thần. Cha ông các ông thế nào, thì các ông cũng vậy.52 Có ngôn sứ nào mà cha ông các ông không bắt bớ? Họ đã giết những vị tiên báo Đấng Công Chính sẽ đến; còn các ông, nay đã trở thành những kẻ phản bội và sát hại Đấng ấy.53 Các ông là những người đã lãnh nhận Lề Luật do các thiên sứ công bố, nhưng lại chẳng tuân giữ."

54 Khi nghe những lời ấy, lòng họ giận điên lên, và họ nghiến răng căm thù ông Tê-pha-nô.

55 Được đầy ơn Thánh Thần, ông đăm đăm nhìn trời, thấy vinh quang Thiên Chúa, và thấy Đức Giê-su đứng bên hữu Thiên Chúa.56 Ông nói: "Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa."57 Họ liền kêu lớn tiếng, bịt tai lại và nhất tề xông vào ông58 rồi lôi ra ngoài thành mà ném đá. Các nhân chứng để áo mình dưới chân một thanh niên tên là Sao-lô.59 Họ ném đá ông Tê-pha-nô, đang lúc ông cầu xin rằng: "Lạy Chúa Giê-su, xin nhận lấy hồn con."60 Rồi ông quỳ gối xuống, kêu lớn tiếng: "Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này." Nói thế rồi, ông an nghỉ.

    1. 1a Phần ông Sao-lô, ông tán thành việc giết ông Tê-pha-nô.

ĐÁP CA : Tv 30

Đ. Trong tay Ngài, lạy Chúa, con xin phó thác hồn con. (c 6a)

3bc Xin Ngài nên như núi đá cho con trú ẩn, như thành trì để cứu độ con. 4 Núi đá và thành luỹ bảo vệ con, chính là Chúa. Vì danh dự Ngài, xin dẫn đường chỉ lối cho con.

6a Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con,7b phần con đây, lạy Chúa, chỉ tin tưởng nơi Ngài. 8a Được Ngài thương, con vui mừng hớn hở, vì Ngài đã đoái nhìn phận con cùng khốn.

17 Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ. 21ab Bên Thánh Nhan, Ngài giấu họ kỹ càng khỏi người đời mưu hại. Ngài che chở họ trong lều thánh, xa tầm lưỡi thị phi.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Ga 6,35ab

Hall-Hall : Chúa nói : “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không phải đói bao giờ”. Hall.

TIN MỪNG : Ga 6, 30-35

30 Khi ấy, đám đông dân chúng hỏi Đức Giê-su rằng : "Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây?31 Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: Người đã cho họ ăn bánh bởi trời."

 32 Đức Giê-su đáp: "Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực,33 vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian."34 Họ liền nói: "Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy."35 Đức Giê-su bảo họ: "Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”

BÍ TÍCH THÁNH THỂ LÀ CỦA ĂN THẬT

Đức Giê-su hứa ban cho ai tin vào Ngài thể hiện bằng việc ăn bánh bởi trời Ngài ban là của ăn thật, thì họ được thông dự vào sự sống Phục Sinh của Ngài.

    • Thế nào là của ăn thật?
    • Mẫu người sống sự sống Phục Sinh.

1/ THẾ NÀO LÀ CỦA ĂN THẬT?

Khát vọng của nguyên tổ Adam, Eva muốn được như Thiên Chúa (x St 3,5 : Bản dịch NTT). Thực ra đó không phải là họ kiêu ngạo, vì đến như cha mẹ loài người tuy thuộc loại gian ác (x Mt 7,11a), tuy vậy vẫn có cha mẹ quên con mình (x Is 49,15b). Vậy mà người ta còn nói : “Con hơn cha mẹ là nhà có phúc”, thì tình thương của Thiên Chúa dành cho ai gọi Ngài là Cha (x Rm 8,15), Đức Giê-su còn hứa cho họ : “Làm được những việc như Ngài đã làm mà còn hơn thế nữa, vì Ngài về cùng Cha” (Ga 14,12).

Thời Cựu Ước Adam, Eva chỉ vì nghe lời satan ăn quả Chúa cấm, thần chết ập đến chịt cổ họ (x St 3) ; nhưng vào thời Tân Ước, ai ăn quả lòng bà (x Lc 1, 42 : Bản dịch NTT) là Con Đức Ma-ri-a, đó là của ăn thật làm cho họ được sống như Thiên Chúa (x Ga 6, 32.35 : Tin Mừng ; Ga 6,57 ; Gl 2,20).

Ta có thể so sánh thuở xưa nguyên tổ loài người ăn quả Chúa cấm (x St 2, 17 ; 3, 1-7) với người Công Giáo ăn quả lòng bà :

Your browser may not support display of this image.




Nhìn vào lược đồ trên cho ta kết luận :

    • Eva đưa cho Adam tân lang của bà ăn quả Chúa cấm, hậu quả cả dòng giống phải chết! Đó là của ăn giả. Địa đàng trước đây nơi ông bà sinh sống, bây giờ vì phạm tội mà trở thành địa ngục !

      

    • Chúa Giê-su, Tân Lang của ta, đưa cho ta ăn Quả lòng Bà (Con Đức Ma-ri-a). Đó là của Ăn Thật. Kết quả ta được sống như Thiên Chúa : trái đất trở thành Địa Đàng, đúng như Lời Đức Giê-su nói : “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Mt 6,10).

2/ MẪU NGƯỜI SỐNG SỰ SỐNG PHỤC SINH.

Phó tế Stephano là người Công Giáo mẫu mực thời Giáo Hội sơ khai, ông là chứng nhân người có sự sống Phục Sinh của Chúa Giê-su ban cho :

Nhờ ông đã lãnh Bí tích Thánh Tẩy Đức Giê-su thiết lập khởi đi từ dòng sông Giodan, lúc Ngài để cho Gioan Bt làm phép rửa bằng nước, và khi ấy Ngài cầu nguyện thì trời mở ra (x Lc 3,21) ; thì ông Stephano lúc bị ném đá chết, đó là ông chịu phép rửa bằng máu, khi ông cầu nguyện bỗng “trời cũng mở ra và Chúa Giê-su đang đứng bên hữu Thiên Chúa đón ông” (Cv 7,56 : Bài đọc).

Nhờ ông cầu nguyện với Chúa Giê-su Phục Sinh : “Xin Chúa đón nhận hồn con” (Cv 7,59 : Bài đọc), cũng như lúc ta được rước lễ, và ông đã cầu nguyện cho kẻ hại mình : “Lạy Chúa, xin đừng chấp tội họ” (Cv 7,60 : Bài đọc). Như thế đức tin và đức ái của ông Stephano lúc bị ném đá, ông giống hệt Đức Giê-su trên thập giá, vì nội dung lời cầu nguyện của ông và của Đức Giê-su rất giống nhau, ông chỉ đảo lộn thứ tự lời cầu : Đức Giê-su thì cầu nguyện cho kẻ giết mình trước và cầu xin Chúa Cha đón nhận hồn Ngài sau (x Lc 23,34.46).

Vậy ai được sống bằng sự sống của Chúa Giê-su Phục Sinh, cụ thể sau khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy và Thánh Thể, người ấy được Chúa cho trái tim biết yêu thương kẻ hại mình, họ không có kẻ thù, cái chết đối với họ chỉ là giấc ngủ bình an trong Chúa (x Mc 5, 39). Bình an này Chúa Giê-su Phục Sinh chỉ chúc phúc cho ai tham dự tiệc Thánh Thể khi Hội Thánh dâng, khởi đi từ này Chúa nhật Phục Sinh (x Ga 20, 19.21.26).

Đúng là những ai được ăn của ăn thật Chúa Giê-su ban, họ mới có thể thưa cùng Chúa : “Trong tay Ngài lạy Chúa, con xin phó thác hồn con” (Tv 31/30, 6a : Đáp ca).

Hồi đệ nhị thế chiến, một trại tù của Đức Quốc xã có lệnh : “Các tù nhân có nhiệm vụ coi lẫn nhau. Nếu một tù nhân nào trốn trại, thì sẽ có 10 tù nhân khác thế mạng!”

Một buổi sáng kia, khi kiểm điểm các tù nhân, viên cai tù phát giác thiếu một người! Thế là tất cả các tù nhân hôm ấy phải đứng hàng giờ phơi nắng ngoài sân! Mãi đến chiều, người sĩ quan Đức có trách nhiệm nhà tù xuất hiện với bộ dạng giận dữ, tay chắp sau lưng, bước chân chậm rãi trên đôi giày bốt-đờ-xô nện trên nền đá nghe “cộp, cộp!” Mắt ông trừng trừng nhìn thẳng vào mặt từng người tù, thỉnh thoảng ông dừng lại chỉ vào một người và buông lời cộc lốc : “Mày phải thế mạng!” Cứ như thế ông đã chỉ đến người thứ 9, khi ông dừng lại người tù xấu số thứ 10, thì anh tù bật khóc nức nở! Trong số tù nhân có Linh mục Maximiliano Kolbe liền giơ tay xin phát biểu :

  • Xin ông cho tôi được chết thay cho người này!

Viên sĩ quan quát :

  • Con heo Ba-lan kia, mày có điên không?

Cha Maximiliano Kolbe ôn tồn đáp :

  • Thưa không, tôi là Linh mục chỉ có một mình, anh này còn vợ con, cần được sống.

Trước sức mạnh của tình thương, viên sĩ quan đứng lặng người trong giây lát, rồi buông lời :

  • Thuận.

Thế là cả 10 người “được chọn” bị đẩy vào hầm cho chết đói! Trong hầm, cha Maximiliano Kolbe luôn ca hát và cầu nguyện, cha đã cảm hóa được 9 người kia xin theo đạo. Sau một tháng người ta mở cửa ngục ra xem, thấy cha Maximiliano Kolbe vẫn sống bình an, và vui vẻ. Thấy vậy họ đã chích cho ngài mũi thuốc kết thúc cuộc đời…!

Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đã phong thánh cho ngài ngày 14-10-1982. Hôm đó cũng có gia đình anh tù được chết thay cũng có mặt.

Quả thực : “Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người đã hy sinh mạng sống vì bạn hữu của mình !” (Ga 15,13).

Vì cha Maximiliano Kolbe còn muốn nối dài và mở rộng Lời Kinh Thánh nói : “Thà một người chịu chết cho mọi người được sống, chứ đừng để mọi người bị tru diệt” (Ga 11,50). Dù cha bị tù hay chết trong tù, cha vẫn chứng minh cho thế giới nghiệm ra sự sống Phục Sinh của Chúa Giê-su Thánh Thể được ăn mỗi ngày, khi cha dâng lễ.

THUỘC LÒNG

Đức Giê-su nói : “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6, 35)





o0o


THỨ HAI SAU CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH

Cv 6, 8-15 ; Ga 6, 22-29


BÀI ĐỌC : Cv 6, 8-15

8 Thời đó, ông Tê-pha-nô được đầy ân sủng và quyền năng, đã làm những điềm thiêng dấu lạ lớn lao trong dân.9 Có những Đồng.13 Họ đưa mấy người chứng gian ra khai rằng: "Tên này không ngừng nói những lời phạm người thuộc hội đường gọi là hội đường của nhóm nô lệ được giải phóng, gốc Ky-rê-nê và A-lê-xan-ri-a, cùng với một số người gốc Ki-li-ki-a và A-xi-a, đứng lên tranh luận với ông Tê-pha-nô.10 Nhưng họ không địch nổi lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông.11 Bấy giờ, họ mới xui mấy người phao lên rằng: "Chúng tôi đã nghe hắn nói lộng ngôn xúc phạm đến ông Mô-sê và Thiên Chúa."12 Họ sách động dân và các kỳ mục cùng kinh sư, rồi ập đến bắt ông và điệu đến Thượng Hội đến Nơi Thánh và Lề Luật.14 Vì chúng tôi đã nghe hắn nói rằng Giê-su người Na-da-rét sẽ phá huỷ nơi này và thay đổi những tục lệ mà ông Mô-sê đã truyền lại cho chúng ta."15 Toàn thể cử toạ trong Thượng Hội Đồng đều nhìn thẳng vào ông Tê-pha-nô, và họ thấy mặt ông giống như mặt thiên sứ.

ĐÁP CA : Tv 118

Đ. Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện,

biết noi theo luật pháp Chúa Trời. (c 1)

23 Mặc quan quyền họp nhau mưu hại, tôi tớ Ngài đây cứ gẫm suy thánh chỉ. 24 Vâng, thánh ý Ngài làm con vui sướng thoả thuê, chỉ bảo con như những người cố vấn.

26 Con kể lể đường đời, Chúa đáp lại, xin dạy cho con biết thánh chỉ Ngài. 27 Đường lối huấn lệnh Ngài, xin cho con hiểu rõ, để con suy gẫm những kỳ công của Ngài.

29 Xin giúp con tránh đường xảo trá và thương ban cho con luật pháp Ngài. 30 Đường chân lý, này con đã chọn,quyết định của Ngài, con khao khát đợi trông.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Mt 4,4b

Hall-Hall : Hãy ra công làm việc đừng vì lương thực hư nát, nhưng còn nhờ lời miệng Thiên Chúa phán. Hall

TIN MỪNG : Ga 6, 22-29

22 Sau khi Đức Giê-su cho năm ngàn người ăn no nê, các môn đệ thấy Người đi trên mặt Biển Hồ .Hôm sau, đám đông dân chúng còn đứng ở bờ bên kia Biển Hồ, thấy rằng ở đó chỉ có một chiếc thuyền và Đức Giê-su lại không cùng xuống thuyền đó với các môn đệ, nhưng chỉ có các ông đi mà thôi.23 Tuy nhiên, có những thuyền khác từ Ti-bê-ri-a đến gần nơi dân chúng đã được ăn bánh sau khi Chúa dâng lời tạ ơn.24 Vậy khi dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Người.25 Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói: "Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy? "26 Đức Giê-su đáp: "Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. 27 Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận."28 Họ liền hỏi Người: "Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn? "29 Đức Giê-su trả lời: "Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến


LAO CÔNG VÌ LƯƠNG THỰC

ĐEM LẠI SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI

Việc Đức Giê-su hóa bánh ít ra nhiều nuôi đoàn lũ dân đến với Ngài, nếu ta chỉ dừng lại coi đó là diễn tả lòng thương xót của Đức Giê-su không muốn để ai bụng đói, thì nay có nhiều người kết luận Thiên Chúa đã chết như một sinh vật! vì nếu Thiên Chúa còn sống tại sao nay còn nhiều dân tộc đói khổ, nhiều bệnh nhân không tiền chạy thuốc, sao Chúa không biết thương xót mà ra tay cứu họ?

Bởi vậy sau khi Đức Giê-su cho dân ăn no nê,Ngài không muốn họ lấy cái bụng làm Chúa (x Pl 3,19) để tôn Ngài làm vua, vì họ thấy Ngài dư quyền phép để làm cho “bụng Chúa” của họ mãi mãi được tôn thờ ! đó là lý do Ngài phải trốn dân đi cầu nguyện.

Khi dân đi lùng kiếm được Đức Giê-su, Ngài tỏ ra rất thương một đoàn lũ dân duy thực! dù Đức Giê-su có làm mưa bánh xuống cho họ như xưa Chúa mưa Man-na cho tổ tiên họ trong sa mạc ăn no thì rồi họ cũng phải chết khốn nạn! nên Ngài lên tiếng dạy : “Hãy lao công đừng vì lương thực hư nát nhưng vì lương thực sẽ lưu lại mãi đến sự sống đời đời, mà Con Người sẽ ban cho các ngươi, vì chính Ngài là Đấng mà Cha là Thiên Chúa đã niêm ấn” (Ga 6, 27: Tin Mừng). Chỉ ai có đức tin mới nhân ra giá trị lời giáo huấn ấy để rồi lao công vào việc của Thiên Chúa , tức là “ tin vào Đấng Chúa Cha sai đến” (Ga 6, 29 : Tin Mừng).

Phó tế Stê-pha-nô trong Bài đọc Thánh Lễ hôm nay đã sống diễn tả được đức tin này : ông Stê-pha-nô phục vụ Tin Mừng rất thành công, làm được nhiều phép lạ khiến mọi người phải kinh ngạc. Như thế ông đã chứng minh được Chúa Giê-su Phục Sinh ban cho ông đầy ân sủng và quyền năng, hầu ai nhờ ông mà tin vào Chúa Giê-su thì còn được Ngài hứa ban cho có khả năng làm được những việc như Ngài và còn hơn Ngài nữa (x Ga 14,12). Họ được vinh hiển như thế chỉ vì Chúa Giê-su đã về với Chúa Cha hằng cầu nguyện cho họ tiếp nối sứ mệnh của Ngài, mà Hội Thánh được Chúa Giê-su ủy thác làm hiện tại hóa việc cầu nguyện của Ngài mỗi khi Hội Thánh dâng Lễ. bởi đó hết thảy những ai nỗ lực, mau mắn tìm đến hiệp dâng Thánh Lễ với Hội Thánh, thì đó là cách cụ thể nhất họ thực hành Lời Chúa Giê-su dạy là “tin vào Đấng Chúa Cha sai đến” (Ga 6,29: Tin Mừng).

Thế nhưng các nhóm Nô phóng, nhóm Ky-rê-nê, nhóm Alexan-dria, nhóm Ki-li-ki-a và Tiểu Á đã không tin như thế, nên họ dấy lên tranh luận với ông Stê-pha-nô, nhưng họ không có sức cự lại sự khôn ngoan do Thần Khí Chúa ban cho ông. Thế là họ xúi dân phao lên: “Chúng tôi đã nghe nó nói lộng ngôn xúc phạm dến ông Mô-sê và Thiên Chúa”. Họ làm chấn đông dân chúng cùng hàng niên trưởng và các ký lục, rồi họ sấn lại lôi ông đi và điệu đến công nghị. Mọi người căm phẫn nhìn ông, và họ thấy dung mạo ông như dung mạo thiên thần (x Cv 6, 8-15: Bài đọc).

Vậy “hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện, biết nói theo luật pháp Chúa trời” (Tv 119/118, 1 : Đáp ca).

Ông hennri Dunant sáng lập Hôi Chữ Thập Đỏ : Ngày 24/6/1859 ông đến Thụy Sỹ gặp vua Napoléon III nước Pháp, xin cấp giấy phép lập nhà máy xay lúa tại Algerie - là thuộc địa của Pháp. Trong quán trọ ông ngồi nhìn về phía cánh đồng Solpherino : cuộc chiến ác liệt đang xảy ra. Trong trận chiến ấy có trên 300 ngàn binh sĩ hai phía bị thương kêu la! Ông dunant chán ghét chiến tranh, ông cho chuyển các binh sĩ bị thương vào làng để chăm sóc. Sau đó ông viết tác phẩm hồi ký về cuộc chiến tại Solhpherino gởi cho các thủ lãnh trên thế giới ký vào bản dự án lấp Hội Chữ Thập Đỏ để chăm sóc binh sĩ bị nạn không phân biệt thù hay bạn.

Ngày 26/10/1863 có 16 quốc gia họp tại Genève ủng họ sáng kiến ông và họ lấy dấu thập làm dấu chỉ trên các bệnh viện hay các xe cứu thương. Năm 1901 ông dunant được giải thưởng Nobel. Vào cuối đời, lúc ông lâm bệnh, ông xin vào một bệnh viện dành cho hành khất bên Thụy Sĩ, để lại di chúc : Hoặc tôi là môn đệ Chúa Giê-su hay ít là giống các tín hữu thuở ban đầu, hoặc tôi không là gì cả

THUỘC LÒNG

Hãy lao công đừng vì lương thực hư nát nhưng vì lương thực sẽ lưu lại mãi đến sự sống đời đời ( Ga 6 ,27a )


Tác giả: Đinh Quang Thịnh, Lm.
   dunglac@gmail.com