Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Đinh Quang Thịnh, Lm.
Bài Viết Của
Đinh Quang Thịnh, Lm.
TUẦN SAU CN 4 PHỤC SINH

Đinh Quang Thịnh, Lm.


o0o



o0o


THỨ BẢY SAU CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH

Cv 13, 44-52 ; Ga 14, 7-14

BÀI ĐỌC : Cv 13, 44-52

44 Vào một ngày sa-bát, gần như cả thành An-ti-ô-khi-a tụ họp nghe Lời Thiên Chúa.45 Thấy những đám đông như vậy, người Do-thái sinh lòng ghen tức, họ phản đối những lời ông Phao-lô nói và nhục mạ ông.46 Bấy giờ ông Phao-lô và ông Ba-na-ba mạnh dạn lên tiếng: "Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại.47 Vì Chúa truyền cho chúng tôi thế này: Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất."

48 Nghe thế, dân ngoại vui mừng tôn vinh lời Chúa, và tất cả những người đã được Thiên Chúa định cho hưởng sự sống đời đời, đều tin theo.49 Lời Chúa lan tràn khắp miền ấy.

50 Nhưng người Do-thái sách động nhóm phụ nữ hượng lưu đã theo đạo Do-thái, và những thân hào trong thành, xúi giục họ ngược đãi ông Phao-lô và ông Ba-na-ba, và trục xuất hai ông ra khỏi lãnh thổ của họ.51 Hai ông liền giũ bụi chân phản đối họ và đi tới I-cô-ni-ô.52 Còn các môn đệ được tràn đầy hoan lạc và Thánh Thần.

ĐÁP CA : Tv 97

Đ. Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. (c 3cd)

1 Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,vì Người đã thực hiện bao kỳ công.Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh,nhờ cánh tay chí thánh của Người.

2 Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ,mạc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân;3ab Người đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa dành cho nhà Ít-ra-en.

3cd Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. 4 Tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu,mừng vui lên, reo hò đàn hát.

TUNG HÔ TIN MỪNG : x Ga 8,31b-32

Hall-Hall : Chúa nói : “Nếu anh em ở lại trong Lời Thầy, thì anh em thật là môn đệ Thầy, và anh em sẽ biết sự thật”. Hall.

TIN MỪNG : Ga 14, 7-14

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người."

8 Ông Phi-líp-phê nói: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện."9 Đức Giê-su trả lời: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: "Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha"?10 Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình.11 Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm.12 Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.13 Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con.14 Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó.”

CHÚA GIÊSU PHỤC SINH

CHO TA NO THỎA KHÁT VỌNG

Khát vọng của loài người khởi đi từ khát vọng của Ađam, Eva là ai cũng mong làm gì đều thành công, quyền năng không kém Thiên Chúa (x St 3,5). Muốn được thế ta phải biết Chúa Cha qua việc biết Chúa Con, mà ta chỉ biết Chúa Cha nhờ Chúa Con mạc khải cho (x Ga 14,7 : Tin Mừng).

Trong Kinh Thánh, biết ai là ăn ở đời sống vợ chồng với người ấy, như Adam biết Eva sinh Cain (x St 4,1) ; cũng như cô Maria thưa với sứ thần Gabriel đến truyền tin cho cô sinh Con Thiên Chúa, Đức Ma-ri-a thưa : “Tôi không biết việc vợ chồng, làm sao tôi sinh con ?” (Lc 1,34) Như thế Đức Giê-su đòi ta tin vào Chúa Cha qua lời nói của Chúa Con nói như Chúa Cha dạy (x Ga 14,10.31). Niềm tin này làm ta gắn bó với Chúa Cha và Chúa Con như vợ chồng gắn bó với nhau ; bằng không thì ít ra hãy nhìn vào các việc của Chúa Con làm mà tin (x Ga 14,11 : Tin Mừng). “Vì Chúa Con không thể làm gì tự mình, nhưng mọi sự đều vì đã trông thấy Chúa Cha làm, vì điều gì Chúa Cha làm, thì Chúa Con cũng làm y như thế” (Ga 5,19). Quan trọng nhất là : “Ai nhận biết Chúa Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai là Đức Ki-tô Giê-su, thì có sự sống đời đời” (Ga 17, 3). Đó là khát vọng chung của loài người mà ông Philip thưa với Đức Giê-su : “Như thế là thỏa mãn cho chúng con” (Ga 14,8b : Tin Mừng).

Đức Giê-su còn hứa làm cho ta được thỏa mãn hơn lòng ta mơ ước khi Ngài về cùng Chúa Cha, như Ngài đã hứa : “Ai tin vào Ta, chẳng những làm các việc Ta làm, mà còn làm được những việc lớn lao hơn thế nữa, vì Ta về cùng Cha” (Ga 14,12). Đó là cách Chúa Giê-su yêu ta như Chúa Cha đã yêu Ngài. Đúng như Lời Ngài nói : “Vì Cha yêu Con và tỏ cho Con biết mọi điều Cha làm, và sẽ tỏ cho Con những việc lớn lao hơn nữa, khiến cho mọi người phải kinh ngạc” (Ga 5,20).

Mà làm thế nào ta có khả năng làm được những việc như Chúa Giê-su, lại còn hơn Ngài ? Ta biết khi Đức Giê-su còn trong thân xác sống trên trần gian, mọi lời nói và việc làm của Ngài chỉ nhằm đưa loài người vào Thiên Đàng, mà mãi đến lúc Ngài hấp hối trên thập giá, Ngài mới đưa anh trộm lành vào Thiên Đàng với Ngài (x Lc 23,43). Trong khi đó ta là phàm nhân tội lỗi, nhờ tin và kết hợp với Chúa Giê-su Phục Sinh, đặc biệt qua Bí tích Thánh Thể, là ta đã kết hợp với Ngài đang ngự bên hữu Cha trên trời, để giúp ta tiếp nối công việc của Ngài. Cụ thể như ta dâng Lễ cầu nguyện cho các linh hồn, đang ở nơi luyện tội được về Thiên Đàng trước ta ; hoặc như ta ban Bí tích Thánh Tẩy cho người muốn theo đạo Công Giáo đang trong tình trạng hấp hối, sau khi ta ban Bí tích cho, họ tắt thở, người ấy được về Thiên Đàng ngay, trong khi ta còn đang ở trên dương thế. Hoặc như Đức Giê-su không lập một giáo đoàn nào, còn ông Phao-lô trước đây là kẻ bách hại đạo Chúa, nhưng khi ông đã thuộc về Chúa Giê-su Phục Sinh, ông nhiệt tình đi loan báo Tin Mừng cho dân ngoại và thành lập được nhiều giáo đoàn.

Đó là Tin Mừng thật lớn lao, trước nhất Chúa muốn ban cho dân Do-thái, nhưng họ lại chống đối Tin Mừng này do các Tông Đồ mang đến cho họ, thì ông Phao-lô và ông Barnaba bỏ họ mà đi giảng cho dân ngoại, vì Chúa đã truyền cho các ông : “Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi nên nguồn cứu độ cho đến tận cùng mặt đất”. Điều ấy làm cho dân ngoại mừng rỡ, ca tụng Lời Chúa, vì họ được sự sống đời đời (x Cv 13,44-49 : Bài đọc). Như thế “toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Tv 98/97,3 : Đáp ca).

Trái lại, tất cả những kẻ không tin lời giảng của các Tông Đồ, lại xách động người khác chống đối, bắt bớ và trục xuất các ông, thì họ đã tự kết án mình mất sự sống đời đời, dù các Tông Đồ bỏ họ ra đi phủi bụi chân, là hành động phó thác cho Chúa xử định (x Cv 13, 50-52 : Bài đọc).

Chúa Giê-su chỉ muốn ban quyền Vua của Ngài cho những ai biết đón nhận Lời Chúa để sống trong sự thật tránh xa dối trá.

Có một ông vua kia, rất uy quyền và giàu có, ông lại không có con để truyền ngôi. Ông loan báo cho toàn dân : tất cả những em nào muốn được ta truyền ngôi vua cho, thì hãy đến ta lãnh mỗi em một hạt bắp đem về trồng. Sau một tháng cây bắp em nào lớn nhất, thì đó là dấu em đó được ta chọn kế vị ngai báu của ta. Thế là em nào cũng đến nhận hạt giống đem về trồng. Trong số đó có một em hết sức chăm bón hạt giống vua trao, nhưng nó không mọc lên được. Đến hạn kỳ, các em nộp lại kết quả hạt giống đã nhận, thì có rất nhiều em đưa đến cho vua những cây bắp mập, lớn, lá sum suê, vua đều lắc đầu và gạt những em đó đứng qua một bên, chỉ có em trồng hạt bắp không mọc lên được, thưa với đức vua : “con đã hết sức chăm bón nó, nhưng nó không mọc lên được !” Lúc ấy, vua ôm lấy em và khen : “Em này quá tốt, sống rất thực thà, ta sẽ truyền ngôi cho”. Những em khác thấy thế phản đối, thì vua nói : “Các em có cây bắp cao lớn, tất cả đều là gian dối, vì hạt bắp ta đã luộc rồi, vậy mà các em lại có cây bắp cao, thì hạt giống lấy ở đâu! Lại dám nói dối là hạt ta trao nay mọc lên cao ?!”

THUỘC LÒNG

Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô (Ga 17,3).


o0o


THỨ SÁU SAU CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH

Cv 13, 26-33 ; Ga 14,1-6

BÀI ĐỌC : Cv 13, 26-33

26 Khi đến An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a, ông Phao-lô đứng giữa hội đường và nói : "Thưa anh em, là con cái thuộc dòng giống Áp-ra-ham, và thưa anh em đang hiện diện nơi đây, là những người kính sợ Thiên Chúa, lời cứu độ này được gửi tới chúng ta.27 Dân cư thành Giê-ru-sa-lem và các thủ lãnh của họ đã không nhận biết Đức Giê-su; khi kết án Người, họ đã làm cho ứng nghiệm những lời ngôn sứ đọc mỗi ngày sa-bát.28 Tuy không thấy Người có tội gì đáng chết, họ vẫn đòi Phi-la-tô xử tử.29 Sau khi thực hiện tất cả mọi điều Kinh Thánh chép về Người, họ đã hạ Người từ trên cây gỗ xuống và mai táng trong mồ.30 Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết.31 Trong nhiều ngày, Đức Giê-su đã hiện ra với những kẻ từng theo Người từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem. Giờ đây chính họ làm chứng cho Người trước mặt dân.

32 "Còn chúng tôi, chúng tôi xin loan báo cho anh em Tin Mừng này: điều Thiên Chúa hứa với cha ông chúng ta,33 thì Người đã thực hiện cho chúng ta là con cháu các ngài, khi làm cho Đức Giê-su sống lại, đúng như lời đã chép trong Thánh vịnh 2: Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con.

ĐÁP CA : Tv 2

Đ. Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con. (c 7)

6 "Chính Ta đã đặt vị quân vương Ta tuyển chọn, lên trị vì Xi-on, núi thánh của Ta." 7 Tân vương lên tiếng: Tôi xin đọc sắc phong của Chúa, Người phán bảo tôi rằng: "Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con.

8 Con cứ xin, rồi Cha ban tặng muôn dân nước làm sản nghiệp riêng, toàn cõi đất làm phần lãnh địa.
9 Con sẽ dùng trượng sắt đập chúng tan tành, nghiền nát chúng như đồ sành đồ gốm."

10 Vậy giờ đây, hỡi các vua chúa, hãy biết điều, thủ lãnh trần gian, nào tỉnh ngộ! 11 Đem lòng kính sợ mà phụng thờ Đức Chúa , 12a hãy khiếp run phủ phục dưới chân Người!

TUNG HÔ TIN MỪNG : Ga 14,6

Hall-Hall : Chúa nói : “Chính Thầy là đường, và là sự thật, sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” Hall.

TIN MỪNG : Ga 14,1-6

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.2 Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em.3 Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.4 Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi."

5 Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường? "6 Đức Giê-su đáp: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.

ĐƯỜNG DẪN ĐẾN SỰ SỐNG THẬT SUNG MÃN

Chỉ có Đức Giê-su mới có quyền nói : “Ta là đường và là sự thật, sự sống, không ai đến được với Chúa Cha mà lại không nhờ Ta” (Ga 14,6 : Tin Mừng).

Ta lưu ý chữ “và” trong tiếng Hy-lạp, khác với “và” trong tiếng Việt : để báo trước chấm dứt một câu văn trong tiếng Việt người ta thường dùng liên từ “và”; còn ngôn ngữ Hy-lạp, “và” báo trước một điều quan trọng. Đan cử :

  • Đức Giê-su truyền cho các môn đệ ban Bí tích Thánh Tẩy nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa : Trong khi người tân tòng được dìm xuống nước, thì phải đọc : “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Như vậy, Chúa Con và Chúa Thánh Thần quan trọng như Chúa Cha.
  • Khi hai ông Phê-rô và Gioan vào trong mộ Đức Giê-su, ông Gioan nói : “Tôi đã thấy tôi tin” (Ga 20,8). Điều này ông Gioan có ý trách nhiều người thấy xác Chúa Giê-su không còn trong mộ mà vẫn không tin Ngài đã sống lại ; còn ông Gioan thì đã tin. Bởi vì thấy không quan trọng, mà tin mới quan trọng. Do đó Chúa Giê-su chúc phúc cho những ai không thấy mà tin (x Ga 20, 29).

Như thế, đường đi không quan trọng, đường chỉ quan trọng khi nó dẫn ta đi vào sự thật, đạt được sự sống. Vì thế chỉ duy Đức Giê-su mới là đường quan trọng nhất dẫn ta đến sự sống dồi dào (x Ga 10,10).

Đường sự thật dẫn ta đến sự sống khởi đi từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem. Theo Tin Mừng Nhất Lãm, đời hoạt động của Đức Giê-su thiết lập Nước Thiên Chúa chỉ có một tuyến đường khởi đi từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem, rồi bị giết và sống lại ở đó, để Ngài làm hoàn tất chương trình cứu độ loài người. Bởi đó Chúa Giê-su Phục Sinh không gặp các môn đệ ở Giê-ru-sa-lem mà Ngài hẹn gặp các ông ở Ga-li-lê (x Mt 28,16). Vì thế, ông Luca ghi nhận : “Chúa Giê-su Phục Sinh không hiện ra với toàn dân, nhưng chỉ hiện ra với những người từng theo Ngài từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem” (Cv 13,31 : Bài đọc), nghĩa là Chúa Giê-su Phục Sinh chỉ đến với những người đi chung đường với Ngài để thực hiện chương trình cứu độ loài người. Lộ trình này có lúc Đức Giê-su cho ba môn đệ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan dừng chân hưởng vinh quang với Ngài trên núi Hiển Dung (x Mt 17,1-8). Đây là dấu chỉ vinh quang trong thế giới Phục Sinh. Nếu các ông muốn được lưu lại mãi trong vinh quang này, thì các ông phải xuống núi, để cùng với Thầy Giê-su “được”người ta dẫn độ ra tòa xét xử để nạp mạng sống cho kẻ ác! (x Ga 13,16 ; 15,20) Như thế là cùng đi đường sự thật, sự sống, là hiện thân Chúa Giê-su Phục Sinh ; còn nếu các môn đệ chưa bị điệu ra tòa xét xử, thì hãy ở đúng nơi, làm đúng việc như khi Chúa Giê-su về Trời là để dọn chỗ cho các ông và cho mọi người (x Ga 14, 2 : Tin Mừng), là Ngài sai Chúa Thánh Thần đến phân bổ: “Người thì được ơn làm phép lạ, kẻ khác được ơn nói tiên tri, có người được phân biệt các Thần Khí, kẻ khác được ơn nói nhiều ngôn ngữ, lại cũng có người có khả năng diễn giải những ngôn ngữ” (1Cr 12,9-11). Đó là những chỗ trong Nước Thiên Chúa, để họ được cùng ở với Chúa Giê-su Phục Sinh, vì Ngài muốn Ngài ở đâu, thì kẻ theo Ngài cũng được ở đó (x Ga 14,13 : Tin Mừng). Chỉ khi nào người ta làm đúng việc do Chúa Thánh Thần phân bổ thì họ mới được thừa hưởng sự bình an Chúa ban, như Lời Ngài đã nói : “Lòng các ngươi chớ rúng động” (Ga 14,1 :Tin Mừng).

Mà thực, đã có thời các Tông Đồ không ở đúng nơi Nhà Thờ để cầu nguyện (không làm tròn sứ mệnh tư tế ; không làm đúng việc giảng Lời (không làm tròn sứ mệnh ngôn sứ) Chúa đã trao. Nhưng các ông lại ở với những người nghèo, dùng quyền vua thâu góp tiền của người ta dâng cúng để chia sẻ cho mọi người. Điều ấy các ông đã gây sóng gió trong cộng đoàn : người này bất hòa với người kia vì họ kêu ca của cải chia không hợp lý ! Chúa đã soi sáng cho các ông làm như thế là sai lầm, nên các ông họp dân lại để bầu chọn ra những người có uy tín, đức hạnh gọi là Phó tế, rồi trao công việc nhận tiền của để chia sẻ đồng đều cho mọi người, còn Tông Đồ trở về ở đúng chỗ Nhà Thờ, làm đúng việc Chúa Thánh Thần đã trao là cầu nguyện và giảng Lời, lúc đó cộng đoàn được bình an và phát triển (x Cv 6,1-7).

Đối với người Ki-tô hữu, muốn được Chúa hướng dẫn làm đúng việc, hoàn tất bổn phận, thì mỗi ngày phải tích cực tham dự Thánh Lễ, vì nơi đây mỗi người được Hội Thánh dùng quyền Chúa Thánh Thần ghi lạc Lời vào tâm hồn (x 2Cr 3,3). Mà Lời Chúa là ánh sáng soi đường ta đi (x Tv 119/118,105), ta lại còn được Chúa Giê-su Phục Sinh chiếm đoạt khi ta rước lễ, đó là điều quan trọng nhất (x Pl 3,12). Được như thế, Lời Chúa và Chúa Giê-su Thánh Thể là chiếc la bàn chỉ đường ta đi đúng hướng ; Ngài còn là “bánh lái” đời ta. Điều này đã được tiên báo nơi con tàu ông Noe được Chúa chỉ dạy đóng từng chi tiết, nhưng lại không dạy làm bánh lái con tàu (x St 6), bởi vì chính Chúa là bánh lái tàu Noe ; Chúa lại còn là sức mạnh đẩy ta đi làm được nhiều việc vượt khả năng, kết quả ta còn làm được hơn Đức Giê-su đã làm, vì nhờ Ngài đã về cùng Chúa Cha (x Ga 14,12). Có thế ta mới được lãnh nhận phần thưởng bội hậu, vì Chúa ban ơn cho mỗi người tùy theo việc họ làm khi còn trong thân xác, hoặc lành hoặc dữ (x 2Cr 5,10).

Kẻ làm việc hăng hái mà không làm đúng bổn phận phải làm hay làm việc phụ mà bỏ việc chính, thì thánh Augustin phê bình : “Họ chạy khỏe lắm đó, nhưng trật đường mất rồi”. Đó cũng là lý do mà Đức Giáo hoàng Gioan Phao-lô II nhắc nhở cho hàng giáo sĩ : “Một nỗi nguy thường xuyên nơi các giáo sĩ, là họ quá năng nổ trong công việc của Chúa, mà quên mất Chúa là Chủ của công việc”.

Vậy mỗi buổi mai ta hãy cầu nguyện với Chúa là đường dẫn ta đi từng ngày, Ngài cho ta biết phải đi đâu, làm việc gì, đúng ý Ngài. Có thế công việc ta làm mới tôn vinh Thiên Chúa (x 1Cr 10,31),hợp với lời ta cầu nguyện : “Con có xin rồi Cha ban tặng, muôn dân nước làm sản nghiệp riêng, toàn cõi đất làm phần lãnh địa. Con sẽ dùng trượng sắt đập chúng tan tành, nghiền nát chúng như đồ sành đồ gốm. Vậy giờ đây, hỡi các vua chúa, hãy biết điều, thủ lãnh trần gian, nào tỉnh ngộ ! Đem lòng kính sợ mà phụng thờ Đức Chúa, hãy khiếp run phủ phục dưới chân Ngài, vì ngày hôm nay Con là Con của Cha, Cha đã sinh ra Con” (Tv 2,7-11 : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

Thánh Augustin nhắc : “Bạn chạy khỏe lắm đó, nhưng trật đường mất rồi !”


o0o


THỨ NĂM SAU CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH

Cv 13, 13-25 ; Ga 13, 16-20

BÀI ĐỌC : Cv 13, 13-25

13 Bấy giờ, từ Pa-phô, ông Phao-lô và các bạn đồng hành vượt biển đến Péc-ghê miền Pam-phy-li-a. Nhưng ông Gio-an bỏ các ông mà về Giê-ru-sa-lem.14 Còn hai ông thì rời Péc-ghê tiếp tục đi An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a. Ngày sa-bát, hai ông vào hội đường ngồi tham dự.15 Sau phần đọc sách Luật và sách Các Ngôn Sứ, các trưởng hội đường cho người đến nói với hai ông: "Thưa anh em, nếu anh em muốn khuyên nhủ dân điều gì, xin cứ nói."

16 Ông Phao-lô đứng dậy, giơ tay xin mọi người lưu ý, rồi nói:17 Thiên Chúa của dân Ít-ra-en đã chọn cha ông chúng ta, đã làm cho dân này thành một dân lớn trong thời họ cư ngụ ở đất Ai-cập, và đã giơ cánh tay mạnh mẽ của Người mà đem họ ra khỏi đó.18 Và trong thời gian chừng bốn mươi năm, Người đã nuôi dưỡng họ trong sa mạc.19 Rồi Người đã tiêu diệt bảy dân tộc ở đất Ca-na-an và ban đất của chúng cho họ làm gia sản:20 tất cả đã xảy ra trong khoảng bốn trăm năm mươi năm. Sau đó, Người ban cho họ các vị thủ lãnh cho đến thời ngôn sứ Sa-mu-en.21 Rồi họ đòi có vua, Thiên Chúa ban cho họ ông Sa-un, con ông Kít thuộc chi tộc Ben-gia-min, trị vì bốn mươi năm.22 Sau khi truất phế vua Sa-un, Người đã cho ông Đa-vít xuất hiện làm vua cai trị họ. Người đã làm chứng về ông rằng: Ta đã tìm được Đa-vít, con của Gie-sê, một người đẹp lòng Ta và sẽ thi hành mọi ý muốn của Ta.23 Từ dòng dõi vua này, theo lời hứa, Thiên Chúa đã đưa đến cho Ít-ra-en một Đấng Cứu Độ là Đức Giê-su.24 Để dọn đường cho Đức Giê-su, ông Gio-an đã rao giảng kêu gọi toàn dân Ít-ra-en chịu phép rửa tỏ lòng sám hối.25 Khi sắp hoàn thành sứ mệnh, ông Gio-an đã tuyên bố: "Tôi không phải là Đấng mà anh em tưởng đâu, nhưng kìa Đấng ấy đến sau tôi, và tôi không đáng cởi dép cho Người”.

ĐÁP CA : Tv 88

Đ. Lạy Chúa, tình thương Chúa, đời đời con ca tụng. (x c 2a)

2 Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng,qua muôn ngàn thế hệ miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài.3 Vâng con nói: "Tình thương ấy được xây dựng tới thiên thu,lòng thành tín Chúa được thiết lập trên trời."

21 Ta đã tìm ra nghĩa bộc Đa-vít,đã xức dầu thánh tấn phong Người; 22 Ta sẽ không ngừng đưa tay nâng đỡ,tay quyền năng củng cố vững vàng.

25 Ta sẽ yêu thương Người và giữ lòng thành tín,nhờ danh Ta, Người được thêm uy vũ. 27 Người sẽ thưa với Ta: "Ngài chính là Thân Phụ,là Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con được cứu độ! "

TUNG HÔ TIN MỪNG : x Kh 1,5ab

Hall-Hall : Lạy Chúa Ki-tô là Vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy, chúa đã yêu mến chúng con, và đã lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng con. Hall.

TIN MỪNG : Ga 13, 16-20

16 Sau khi rửa chân cho các môn đệ, Đức Giê-su nói : “Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi.17 Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!18 Thầy không nói về tất cả anh em đâu. Chính Thầy biết những người Thầy đã chọn, nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con.19 Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này, trước khi sự việc xảy ra, để khi sự việc xảy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu.20 Thật, Thầy bảo thật anh em: ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy."

THẦN QUYỀN LÃNH ĐẠO HỘI THÁNH

Quyền lãnh đạo trong Hội Thánh không phát xuất từ loài người, nói cách khác không do tập thể loài người bầu chọn người xứng đáng để lãnh đạo Hội Thánh, mà là do Thiên Chúa tuyển chọn. Cụ thể ông Phao-lô được đề cử phát biểu trước mặt cộng đoàn dân Chúa trong hội đường, ông nói : “Thưa đồng bào Israel, các vị kính giới Thiên Chúa xin hãy nghe : dân tộc chúng ta được Chúa cho thịnh đạt trong thời cư ngụ tại Ai-cập. Nhưng Ai-cập đã bắt cha ông chúng ta làm nô lệ, thì Chúa sai ông Mô-sê giải phóng cho dân tộc,dẫn về miền đất Hứa ; sau đó Chúa lại ban cho dân tộc chúng ta có các thẩm phán lãnh đạo ; dân xin có vua, Chúa chiều ý dân, Ngài bảo ngôn sứ Samuel chọn ông Saun làm thủ lãnh, nhưng ông đã bất trung với Chúa, Chúa lại chọn Đavid, trở thành một vị vua xuất sắc nhất lãnh đạo dân Ngài, và từ dòng dõi Đavid, Chúa hứa ban cho chúng ta Vị Cứu Tinh là Đức Giê-su” (Cv 13, 13-25 : Bài đọc).

Như thế ông Phao-lô muốn dẫn mọi người đến niềm tin vào Chúa Giê-su là Vị Lãnh Đạo cuối cùng của Israel. Nói cách khác, ngoài Chúa Giê-su không ai chăn dắt, chăm sóc Israel. Nhưng khi Con Thiên Chúa vào đời, Ngài không chỉ chăm sóc Israel, mà còn muốn đưa mọi dân tộc về đoàn chiên của Ngài, như Ngài nói : “Tôi còn những chiên khác chưa thuộc ràn này, tôi phải đem chúng về một ràn, để chỉ có một ràn chiên và một chủ chiên” (Ga 10,16).

Dù trong Tin Mừng Gioan, ông không ghi danh sách các môn đệ Chúa chọn, vì ông muốn xác định rằng : trong loài người, chỉ có Chúa Giê-su xứng danh là Môn Đệ, là Tông Đồ, là Thủ Lãnh. Ai muốn được danh này, người ấy phải là hiện thân của Thiên Chúa, như Lời Ngài nói : “Ai chịu lấy kẻ Ta sai đến là chịu lấy Ta, mà ai chịu lấy Ta, tức là chịu lấy Đấng đã sai Ta” (Ga 13,20 : Tin Mừng). Đức Giê-su xác định như thế, là rõ ràng Ngài buộc mọi người phải tùng phục quyền bính trong Hội Thánh, được thể hiện qua hàng giáo phẩm, vì quyền của Hội Thánh là Thần quyền, cao trọng hơn nhân quyền. Tuy nhiên, chúng ta phải tùng phục, phải hiệp thông với thủ lãnh trong Hội Thánh, không có nghĩa là các ngài làm gì, bảo gì, chúng ta cũng phải “bẩm, dạ, con xin vâng, vì cha nói là Chúa nói!” Ông Phao-lô tuy được danh là Tông Đồ, vì ông không thụ giáo với một người phàm nào, nhưng nhờ mạc khải của Đức Giê-su Ki-tô (x Gl 1,12), bởi lẽ Chúa muốn biệt riêng ông giảng Tin Mừng cho dân ngoại (x Gl 2, 2.7). Nhưng ông vẫn xác tín rằng : Ông phải lên Giê-ru-sa-lem để trình bày mạc khải ông đã nhận được riêng với vị có thế giá (nhất là với ông Phê-rô) kẻo mình xưa nay đã từng bôn ba mà lại ra hư luống ! (x Gl 2,1-2) Tuy thế, ông Phao-lô dám cự lại ông Phê-rô trước mặt mọi người, vì ông đáng tội. Lý do là vì chính ông Phê-rô đã nhận được mạc khải của Chúa phải bỏ việc cắt bì cho dân ngoại, miễn là họ tin vào Đức Giê-su là Đấng cứu độ duy nhất, nhờ lời rao giảng của các Tông Đồ,, thì cứ ban Thánh Tẩy cho họ, nên không còn phân biệt họ là dân ngoại hay Do-thái nữa. Thế mà khi ông Phê-rô đến Antiokia dùng bữa với người dân ngoại mới trở lại, ông thấy ông Phao-lô đến, liền lẻn ra sau tách mình riêng ra, vì e sợ giới cắt bì, làm cho những người Do-thái khác cũng ra trò giả tảng, giả vờ như ông Phê-rô, đến nỗi làm cho cả ông Barbana cũng bị lôi cuốn mà giả bộ như họ ! (x Gl 2,11-13) Lý do đó mà ông Phao-lô dám cự lại ông Phê-rô, chỉ vì ông sống Lời Kinh Thánh : “Các ngươi phải xét xử cho công bằng, đừng nể mặt những người quyền cao chức cả” (Lv 19,15). Bởi vì, yêu hoa không có nghĩa là yêu cả con sâu nằm trong bông hoa, nhưng phải diệt con sâu đó, dù làm rụng phấn hoa.

Dựa vào giáo lý của Hội Thánh, ta biết : “Giám mục Roma, vị thủ lãnh của Giám mục Đoàn, hưởng ơn bất khả ngộ do nhiệm vụ của Ngài ; khi với tư cách là mục tử và thầy dạy tối cao của mọi Ki-tô hữu, để củng cố anh em mình vững mạnh trong đức tin, ngài công bố một điểm giáo thuyết về đức tin và phong hóa bằng một phán quyết chung thẩm. Ơn bất khả ngộ được hứa ban cho Hội Thánh cũng có nơi Giám mục Đoàn, khi các ngài thi hành Huấn quyến tối thượng kết hợp cùng với vị kế nhiệm thánh Phê-rô, nhất là trong Công Đồng chung. Khi Hội Thánh dùng Huấn quyền tối thượng để đề ra một điều gì “phải tin bởi do Thiên Chúa mạc khải”, và là giáo huấn của Chúa Ki-tô, chúng ta phải lấy đức tin mà vâng phục các định tín ấy” (x GLHT số 891).

Tuy nhiên, trong Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân số 25 của Công Đồng Vat.II đã nói lên cái thân phận yếu đuối mỏng dòn của các thủ lãnh, vì còn mang thân phận loài người : “Nếu đời sống xã hội giúp nhiều cho con người chu toàn sứ mệnh của mình, kể cả sứ mệnh tôn giáo nữa, thì ta cũng không thể phủ nhận rằng con người vì hoàn cảnh xã hội họ đang sống và tiêm nhiễm ngay từ thuở thiếu thời, nên nhiều khi xa lánh không làm điều thiện, và bị lôi kéo làm điều ác. Chắc chắn những xáo trộn rất thường xảy ra trong phạm vi xã hội một phần phát xuất từ chính trình trạng căng thẳng giữa những tổ chức kinh tế, chính trị và xã hội. Nhưng sâu xa hơn nữa, những xáo trộn trên phát sinh do ích kỷ và kiêu căng của con người, đó là những nguyên nhân làm cho môi trường xã hội ra vẩn đục. Một khi trật tự xã hội bị đảo lộn do hậu quả tội lỗi, thì con người, bẩm sinh đã nghiêng chiều về sự xấu, lại gặp phải những cám dỗ mới để phạm tội. Những cám dỗ này nếu không cố gắng liên lỉ, và không có ơn thánh trợ giúp, sẽ không thể lướt thắng được”.

Nhìn lại lịch sử cứu độ khởi đi từ lúc Chúa sáng tạo vũ trụ, mọi sự Chúa dựng nên đều tốt đẹp (x St 1), nhưng vì loài người bất tùng phục Lời Chúa, làm tổn thương đến công trình Chúa đã tạo dựng (x St 3), nên Chúa phải ra tay hủy diệt mọi sự trên mặt đất (x St 6). Tuy vậy, Chúa vẫn tìm thấy “số sót” trong các loài Chúa đã dựng nên, cụ thể như ông Noe, sau này có ông Abraham (x St 12), rồi ông Mô-sê (x Xh 3). Chúa đã dùng những người này để lãnh đạo, để cứu loài người tội lỗi khỏi bị hủy diệt.

Thế thì vào thời Tân Ước, Hội Thánh của Chúa có lúc bóng đen tội lỗi phủ xuống từ vị lãnh đạo Hội Thánh là Đức Giáo hoàng. Đau lòng nhất là từ năm 1378 – 1417 (suốt 39 năm), Hội Thánh có ba Giáo hoàng, một ở Ý, một ở Pháp, một ở Bỉ, ông nào cũng tự xưng mình là người kế vị thánh Phê-rô. Sóng gió ấy rồi cũng qua đi, vì Chúa là Mục Tử, là Thủ Lãnh tối cao của Hội Thánh. Trong Hiến Chế Hội Thánh số 8, Giáo Hội khiêm tốn nhìn nhận rằng : “Chúa Ki-tô thánh thiện, vô tội, tinh tuyền (Dt 7,26), không hề phạm tội (2Cr 5,21), chỉ đến để đền tội lỗi dân chúng (Dt 2,17), còn Giáo Hội vì ôm ấp những kẻ có tội trong lòng, nên vừa thánh thiện, vừa phải luôn thanh tẩy mìn. Do đó, Giáo Hội luôn thực hiện việc sám hối và canh tân”.

Bởi đó, nếu có ai hỏi tôi : Tại sao bạn tin vào Hội Thánh là một tổ chức có nhiều gương xấu, không phải chỉ nơi giáo dân, mà ngay cả nơi các vị chủ chăn cao cấp ? Thì tôi trả lời : chính bởi những gương xấu ấy mà tôi lại tin vào Hội Thánh hơn, vì nếu Hội Thánh là một tổ chức của loài người, thì nó đã tự diệt từ lâu ! Nhưng Hội Thánh vẫn đứng vững, mà không có tổ chức loài người nào bền vững được như thế, chỉ vì Hội Thánh là của Thiên Chúa. Tôi nhớ lời thánh Ambrosio nói : “Hội Thánh là cô gái điếm đồng trinh”.

Đức Giê-su muốn thanh tẩy các môn đệ của Ngài bằng cách để cho kẻ ác tấn công các ông, vì đến như Đức Giê-su vô tội, mà Ngài vẫn còn bị kẻ ác làm hại, nên Ngài đã nói với các môn đệ : “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi : tôi tớ không lớn hơn chủ, kẻ được sai không lớn hơn người sai nó” (Ga 13,16 : Tin Mừng). lời ấy có nghĩa là kẻ ác đã tấn công Đức Giê-su, thì chúng cũng không tha cho các môn đệ của Ngài. Như vậy, chỉ có môn đệ nào dám liều mạng vì Tin Mừng, vì Thầy, mới xứng đáng là môn đệ Thầy, còn kẻ liều mạng vì 30 đồng bạc như Giuda, thì hắn tự loại mình ra khỏi hàng môn đệ Chúa chọn. Cái khổ xót xa nhất của Thầy Giê-su không phải là kẻ xa lạ, mà là khổ vì người Ngài tuyển chọn, như Ngài nói : “Kẻ đã ăn bánh cùng Thầy, rồi hất gót đạp vào mặt Thầy” (Ga 13,18), thì các mục tử của Hội Thánh trong mọi thời đại, cũng có lúc cảm thấy đau khổ nhục nhã vì “người nhà” của mình (x Mt 10,36).

Lạy Chúa Giê-su, vì chúng con tin chỉ có Chúa là Mục Tử duy nhất, Vị Lãnh Đạo tối cao của chúng con, Ngài hằng yêu thương bảo vệ, chăm sóc Hội Thánh hơn ông Hô-sê yêu vợ, nên chúng con vẫn vững tin mình được sống trong Hội Thánh là được lắng nghe tiếng Chúa từ các vị mục tử Chúa đã đặt thay quyền Chúa, dù nơi các vị đó còn có lối sống bất xứng, Chúa vẫn bảo chúng con : “Ký lục và Biệt phái ngự tòa Mô-sê, vậy mọi điều họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm theo và giữ lấy ; nhưng các ngươi đừng làm theo hành vi của họ : vì họ nói mà lại không làm” (Mt 23,2-3). “Lạy Chúa,tình thương Chúa đời đời con ca tụng” (Tv 89/88,2a : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

Đức Giê-su nói : “Ký lục và Biệt phái ngự tòa Mô-sê, vậy mọi điều họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm theo và giữ lấy ; nhưng các ngươi đừng làm theo hành vi của họ : vì họ nói mà lại không làm” (Mt 23,2-3).


o0o


THỨ TƯ SAU CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH

Cv 12, 24-13,5a ; Ga 12, 44-50

BÀI ĐỌC : Cv 12, 24-13,5a

12 24 Trong khi ấy, lời Thiên Chúa vẫn lan tràn và phát triển.25 Còn ông Ba-na-ba và ông Sao-lô, sau khi đã chu toàn công việc phục vụ tại Giê-ru-sa-lem thì trở về, đem theo ông Gio-an, cũng gọi là Mác-cô.

13 1 Trong Hội Thánh tại An-ti-ô-khi-a, có những ngôn sứ và thầy dạy, đó là các ông Ba-na-ba, Si-mê-ôn biệt hiệu là Đen, Lu-ki-ô người Ky-rê-nê, Ma-na-en, bạn thời thơ ấu của tiểu vương Hê-rô-đê, và Sao-lô.2 Một hôm, đang khi họ làm việc thờ phượng Chúa và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo: "Hãy dành riêng Ba-na-ba và Sao-lô cho Ta, để lo công việc Ta đã kêu gọi hai người ấy làm."3 Bấy giờ họ ăn chay cầu nguyện, rồi đặt tay trên hai ông và tiễn đi.

4 Vậy, được Thánh Thần sai đi, hai ông xuống Xê-lêu-ki-a, rồi từ đó đáp tàu đi đảo Sýp.5 Đến Xa-la-min, hai ông loan báo lời Thiên Chúa trong các hội đường người Do-thái.

ĐÁP CA : Tv 66

Đ. Ước gì chưa dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa,

chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài ! (c 4)

2 Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc,xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con,3 cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài.

5 Ước gì muôn nước reo hò mừng rỡ,vì Chúa cai trị cả hoàn cầu theo lẽ công minh, Người cai trị muôn nước theo đường chính trực và lãnh đạo muôn dân trên mặt đất này.

6 Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài. 8 Nguyện Chúa Trời ban phúc lộc cho ta!Ước chi toàn cõi đất kính sợ Người!

TUNG HÔ TIN MỪNG : Ga 8,12

Hall-Hall : Chúa nói : “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống”. Hall.

TIN MỪNG : Ga 12, 44-50

44 Khi ấy, Đức Giê-su lớn tiếng nói rằng: "Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã sai tôi;45 ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi.46 Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối.47 Ai nghe những lời tôi nói mà không tuân giữ, thì không phải chính tôi xét xử người ấy, vì tôi đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian.48 Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan toà xét xử người ấy: chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết.49 Thật vậy, không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố gì.50 Và tôi biết: mệnh lệnh của Người là sự sống đời đời. Vậy, những gì tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi."

SỐNG CHẾT TẠI TA

Theo Tin Mừng Mt 25,31-46, nhấn mạnh ta bị xét xử sau khi mãn cuộc đời ; còn trong Tin Mừng Gioan, đặc biệt là chương 12, 47-48 lại cho biết ngay khi ta còn sống trên đời, ta được Chúa cứu độ hay bị loại trừ, là do có tin vào Chúa Giê-su hay không ? Người có đức tin hay không, hệ tại có tin yêu Lời Chúa và cố gắng đem thực hành hay không. Chính Đức Giê-su cũng lấy Lời Chúa Cha dạy và Ngài đã nói cho ta, để buộc ta phải tin vào Ngài như Lời Ngài nói : “Các điều Ta nói, thì như Cha Ta đã nói với Ta sao, Ta cũng nói như vậy” (Ga 12,50), nên “kẻ tin vào Ta không phải chính vào Ta mà nó tin, mà là Đấng đã sai Ta” (Ga 12,44 : Tin Mừng). Mà Lời Chúa là ánh sáng đã đến trong thế gian (x Tv 119/118,105 ; Ga 12, 46 : Tin Mừng). Bóng tối (tội lỗi) không phải là đối thủ của ánh sáng (Lời Chúa). Vì ở đâu có ánh sáng, tất yếu bóng tối phải tháo chạy. Bởi đó nếu ta để Hội Thánh chiếu rọi Lời Chúa vào lòng, đương nhiên tội lỗi (bóng tối) bị đẩy lui (x Ga 15,3), và Chúa Ki-tô Giê-su còn biến tội ra ơn huệ. Thánh Tông Đồ nói : “Luật đã xen vào để sa ngã gia tăng. Song ở đâu tội lỗi đã gia tăng, thì ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20).

Thế nên, nếu ta để Lời Chúa dẫn ta đến kết hợp với Chúa Giê-su Phục Sinh, thì bóng tối tội lỗi dù có dầy đặc gấp mấy, cũng bị phá tan ; còn nếu tự sức ta tìm mọi cách xua đuổi bóng tối, thì thật là vô ích, trừ khi ta chạy đến với ánh sáng hoặc ta tháo gỡ những bức chắn để cho ánh sáng ùa vào ta. Chỉ có kẻ ngu đần muốn nán lại trong bóng đêm, thì hỏi nó có thể làm được gì ? Nó khác gì trồng cây rồi lấy thùng úp lại không cho ánh sáng ập vào, đương nhiên là cây bị chết, dù cây được bón tưới. Đức Giê-su đã khẳng định : “Ta là ánh sáng đến trong thế gian” (Ga 12,46 : Tin Mừng), nếu ta không muốn ở với Ngài, thì cho dẫu Chúa Cha có ra sức chăm sóc ta, ta cũng không thể có sự sống. Như thế, Thiên Chúa không tạo ra hỏa ngục để phạt ai. Trước mặt ta có ánh sáng và bóng tối, có sự sống và sự chết, ta chọn gì thì lãnh điều ấy.

Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ngay lúc 12 giờ trưa, mặt trời đang chiếu sáng, bỗng mặt đất tràn ngập tối tăm, vì những kẻ chống đối không nghe Lời Đức Giê-su, chúng đã quyết liệt loại trừ Ngài ra khỏi mặt đất (x Mt 27, 45t). Nhưng Thiên Chúa là Đấng toàn năng, là tình yêu (x 1Ga 4,8), Ngài là nguồn ánh sáng cứu độ (x Tv 27/26,1), bởi đó Đức Giê-su từ trong cõi chết đã chỗi dậy phá tan bóng tối sự chết, ánh sáng cứu độ này bùng lên từ Phụng Vụ Đức Giê-su thiết lập. Do đó phụng vụ Do-thái đã cáo chung qua dấu chỉ “màn trong đền thờ Giê-ru-sa-lem xé ra làm hai từ trên xuống dưới, đất động, và núi đá vỡ tung, mồ mả mở toang ra, và xác của nhiều thánh đã an nghỉ được sống lại. Họ ra khỏi mồ sau khi sống lại mà vào thành thánh và đã hiện ra cho nhiều người” (Mt 27,51-53).

Các thánh Tông Đồ như ông Phao-lô và ông Barnaba đã được Chúa Thánh Thần chiếm đoạt biệt riêng ra, để các ông đem ánh sáng Tin Mừng cứu độ của Chúa Giê-su Phục Sinh đến cho mọi dân mọi nước, vượt qua ranh giới Do-thái giáo (x Cv 12, 24-25 ; 13,1-5a : Bài đọc). Bởi vì Chúa Giê-su muốn đem mọi người vào đoàn chiên của Ngài để chăm sóc, như Ngài nói : “Ta còn những chiên khác nữa không thuộc ràn này, các con chiên ấy, Ta cũng phải chăn dắt và chúng sẽ nghe tiếng Ta và sẽ thành một đoàn chiên và một chủ chiên” (Ga 10,16).

Kẻ nào quyết liệt xua đuổi ánh sáng Tin Mừng cứu độ, thì ngày cánh chung nó tự lên án mình một cách chua xót hơn người khước từ mua vé số, vì để kẻ khác mua lại trúng. Trong lớp giáo lý Tân Tòng, tôi thường hay nhấn mạnh chân lý này, thế mà có anh T, dự tòng, trong ngày anh chuẩn bị cưới vợ, anh rất cần tiền, chẳng những để tổ chức đám cưới mà còn muốn có căn nhà cho vợ chồng xum họp.

Lần kia, anh đang ngồi uống cà phê với bạn tại một quán cóc, thình lình có một em bé đang cầm mấy tấm vé số đi tới, không hiểu lý do nào em vấp ngã, làm tung vé số vào người anh T, em vội vàng xin lỗi anh, trong lúc nhặt mấy tấm vé số lên, em nói : “Chú ơi, chắc là mấy tấm vé số này Trời muốn cháu đưa cho chú, chú sẽ gặp may”. Nhưng anh T quắc mắt xua đuổi : “Xạo mày, trúng thì giữ lấy mà xài đừng quấy rầy tao”. Em lại cố năn nỉ : “Chú thương mua giúp để cháu kịp giờ về đi học”, nhưng anh T quay đi nơi khác buông lời cộc lốc : “Cút đi!” Thấy vậy, bạn anh liền nói : “Thôi để chú mua giúp cho”. Chiều hôm đó, sau giờ mở số, anh bạn trúng độc đắc thật, quá vui mừng nên gọi điện cho anh T và khoe : “T à, mấy tờ vé số sáng nay cậu không mua, tớ mua trúng rồi nè. Cậu cám ơn Trời cho tớ nhé”. Nghe được cú điện thoại, T sững sờ và vô cùng hối hận, tự vò đầu bứt tai than trách phận : “Trời ơi sao mình ngu thế, đúng là thần tài đến nhét tiền vào tay mình mà lại khước từ”. Lúc ấy, T nghe như tiếng em bán vé số còn đang dội lại lời mời làm xé nát tim T, và tự kết án mình quá ngu ! Đó chỉ là chuyện vé số may rủi, dù có trúng độc đắc mua được biệt thự lớn chăng nữa, thì cũng chưa chắc gì nhờ trúng số mà hạnh phúc, có khi vì đó mà lại mang họa ! Thế mà còn làm cho T ray rức, xót xa vì sự ngu đần của mình.

Nhưng Hội Thánh mời ta nghe Lời Chúa để đón nhận Chúa Giê-su Phục Sinh, thì luôn luôn là “trúng độc đắc”, đem lại cho ta sự sống dồi dào hạnh phúc đến muôn đời, mà ta lại khước từ, thì chính Lời Chúa đã được nghe trở nên xét xử ta : “Ai nghe các Lời của Ta mà không giữ lấy, thì không phải chính Ta sẽ xét xử nó, vì Ta đến không phải để xét xử thế gian. Hết thảy mọi kẻ bỏ Ta mà đi, mà không chịu lấy các Lời của Ta, thì có người xét xử nó : ấy là Lời Ta đã nói, chính Lời ấy sẽ xét xử nó trong ngày sau hết” (Ga 12,47-48 : Tin Mừng).

Vậy ai muốn được sự sống dồi dào hạnh phúc đến muôn đời, chẳng những phải được Chúa Ki-tô chộp lấy, đó là điều quan trọng nhất (x Pl 3,12), mà còn cầu nguyện cho hết thảy mọi người biết đón nhận ánh sáng Tin Mừng cứu độ, như lời kinh ta đọc : “Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài” (Tv 67/66, 4 : Đáp ca), để ta cũng được Chúa Thánh Thần sai đến với mọi người, như Ngài đã tách biệt hai ông Phao-lô và Barnaba ra đi làm cho muôn dân được sự sống sung mãn trong Chúa Giê-su Phục Sinh (x Bài đọc).

THUỘC LÒNG

Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào? Chúa là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi khiếp gì ai nữa (Tv 27/26,1)



o0o


THỨ BA SAU CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH

Cv 11, 19-26 ; Ga 10, 22-30

BÀI ĐỌC : Cv 11, 19-26

19 Hồi ấy, những người phải tản mác vì cuộc bách hại xảy ra nhân vụ ông Tê-pha-nô, đi đến tận miền Phê-ni-xi, đảo Sýp và thành An-ti-ô-khi-a. Họ không rao giảng lời Chúa cho ai ngoài người Do-thái.20 Nhưng trong nhóm, có mấy người gốc Sýp và Ky-rê-nê; những người này, khi đến An-ti-ô-khi-a, đã giảng cho cả người Hy-lạp nữa, loan Tin Mừng Chúa Giê-su cho họ.21 Vì có bàn tay Chúa ở với họ, nên một số đông đã tin và trở lại cùng Chúa.

 22 Tin ấy đến tai Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem, nên người ta cử ông Ba-na-ba đi An-ti-ô-khi-a.23 Khi tới nơi và thấy ơn Thiên Chúa như vậy, ông Ba-na-ba mừng rỡ và khuyên nhủ ai nấy bền lòng gắn bó cùng Chúa,24 vì ông là người tốt, đầy ơn Thánh Thần và lòng tin. Và đã có thêm một đám rất đông theo Chúa.

 25 Ông Ba-na-ba trẩy đi Tác-xô tìm ông Sao-lô.26 Tìm được rồi, ông đưa ông Sao-lô đến An-ti-ô-khi-a. Hai ông cùng làm việc trong Hội Thánh ấy suốt một năm và giảng dạy cho rất nhiều người. Chính tại An-ti-ô-khi-a mà lần đầu tiên các môn đệ được gọi là Ki-tô hữu.

ĐÁP CA : Tv 86

Đ. Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa. (Tv 116,1a)

1 Thành Xi-on được lập trên núi thánh.2 Chúa yêu chuộng cửa thành hơn mọi nhà của dòng họ Gia-cóp.3 Thành của Thiên Chúa hỡi, thiên hạ nói bao điều hiển hách về thành!

4 Chúa phán: "Ta sẽ kể Ba-by-lon và Ai-cập vào số những dân tộc nhận biết Ta.Kìa xứ Phi-li-tinh, thành Tia cùng xứ Cút: tại đó, kẻ này người nọ đã sinh ra." 5 Nhưng nói về Xi-on, thiên hạ bảo:"Người người sinh tại đó." Chính Đấng Tối Cao đã củng cố thành.

6 Chúa ghi vào sổ bộ các dân:"Kẻ này người nọ đều sinh ra tại đó." 7 Và ai nấy múa nhảy hát ca:
"Xi-on hỡi, mọi nguồn gốc của tôi ở nơi thành."

TIN MỪNG : Ga 10, 22-30

22 Khi ấy, ở Giê-ru-sa-lem, người ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông.23 Đức Giê-su đi đi lại lại trong Đền Thờ, tại hành lang Sa-lô-môn.24 Người Do-thái vây quanh Đức Giê-su và nói: "Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Ki-tô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết."25 Đức Giê-su đáp: "Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi.26 Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi.27 Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.28 Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.29 Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.30 Tôi và Chúa Cha là một."

NGƯỜI KI-TÔ HỮU LÀ CHỨNG NHÂN CỦA ĐỨC KI-TÔ

Vì ý định của Thiên Chúa là con người được dựng nên giống Ngài (x St 1, 26), nhưng không phải giống Thiên Chúa vô hình, mà là giống Con Thiên Chúa làm người, Đức Ki-tô Giê-su. Khi ta đã xác nhận mình được giống Chúa, ta phải sống niềm tin để nói được như Đức Giê-su : “Tôi và Cha tôi là một” (Ga 10,30 : Tin Mừng), nên “ai thấy tôi là thấy Cha tôi” (Ga 14,9).

Vậy Đức Giê-su đã nói : “Ai không tin vào tôi, thì hãy tin vào các việc tôi làm nhân danh Cha tôi, làm chứng về tôi” (Ga 10,25 : Tin Mừng) ; thì ta cũng phải lấy việc làm nhân danh Chúa Giê-su làm chứng về ta là một Ki-tô hữu. Đó là đức tin của ta, nếu không sống như thế, “ta không thuộc về đoàn chiên của Chúa Giê-su” (x Ga 10,26 : Tin Mừng).

Những việc ta làm đó là

    • Nghe Lời Chúa.
    • Biết Chúa Giê-su và Chúa Giê-su biết ta.
     
 

I. TA NGHE LỜI CHÚA.

Đức Giê-su nói : “Chiên tôi thì nghe tiếng tôi” (Ga 10,27 : Tin Mừng). Nghe tiếng Đức Giê-su chính là “Ngài nghe gì nơi Chúa Cha, thì nói lại cho ta như thế” (Ga 12,50). Người biết nghe Lời Chúa thì được khôn ngoan và giàu có không ai sánh bằng giống vua Salomon (x 1V 3,9-13). Đó là lý do những người Do-thái muốn tin vào Đức Giê-su, họ vây quanh Ngài ở trụ lang Salomon, đây là ranh giới giữa dân Chúa và người ngoại. Họ thưa với Ngài : “Cho đến bao giờ nữa, ông để lòng trí chúng tôi phân vân lưỡng lự ? Quả nếu ông là Đức Ki-tô, xin trắng ra với chúng tôi. Hôm đó là ngày mừng lễ cung hiến Đền Thờ (x Ga 10,22-24 : Tin Mừng). Đây là lễ tái cung hiến đền thờ Giê-ru-sa-lem, vì vào năm 167 trước công nguyên, vua Antiokho Epipha đã đưa thần ngoại vào làm hoen ố Đền Thờ, khi dòng họ Macabe chiếm lại Đền Thờ, họ làm lễ thanh tẩy và tái cung hiến Đền Thờ dâng Thiên Chúa. Như vậy, những người đến với Đức Giê-su để nghe Lời Ngài là được tâm hồn họ được thánh hiến, để họ trở thành Đền Thờ đích thực của Thiên Chúa ngự (x 1Cr 3, 16-17).

Đức Giê-su nói về những người có trái tim nghe Lời Ngài : “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng bị diệt vong, không ai giựt được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn lao hơn tất cả, và không ai giựt được chúng khỏi tay Cha tôi. Tôi và Cha tôi là một” (Ga 10,28-30 : Tin Mừng).

* “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời” (x Ga 10,28a) : Sự sống đời đời ta chỉ được nhận biết đầy đủ và chính xác vào ngày cánh chung, vì ngày ấy Thiên Chúa thế nào ta được như vậy (x 1Ga 3,2). Sống đời này Chúa ta bày tỏ sự sống đời đời, khi ta đã được nên một với Chúa trong Bí tích Thánh Tẩy và Thánh Thể (x Dt 2,11 ; Ga 6,57), bằng cách ta gặp gỡ mọi người trên trời, dưới đất, khắp nơi trong lời cầu nguyện giống như Chúa Giê-su Phục Sinh cùng một lúc đồng hành với hai môn đệ trên đường Emmau và hiện ra với 11 môn đệ đang co dúm trong căn phòng đón kín tại Giê-ru-sa-lem (x Lc 24). Hoặc ta có thể biểu lộ sự sống đời đời bằng tâm tình yêu thích Lời Chúa, mỗi khi ta dự Phụng Vụ của Hội Thánh, giống như ông Phao-lô được Chúa cho lên tới tầng trời thứ ba, khi ông trở lại trái đất, ông nói : “Tôi đã được nghe lời khôn tả” (x 2 Cr 12,4).

* “Không bao giờ chúng bị diệt vong” (x Ga 10,28b) : Diệt thì khác với giết. Diệt là mất cả hồn lẫn xác, còn giết thì chỉ hại được thân xác ở đời này mà thôi. Vì vậy Đức Giê-su nói với các môn đệ khi họ phải đương đầu với những quyền lực sự ác : “Đừng sợ những kẻ giết được thân xác, nhưng không thể giết được linh hồn ; hãy sợ Đấng có thể diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10,28). Đó là lý do một bà mẹ có bảy người con bị vua hành quyết trước mặt bà, vì không theo lệnh vua bỏ Lề Luật Chúa mà thờ thần của vua. Bà ghé miệng vào tai con thì thầm : “Mẹ không rõ các con đã thành hình trong bụng mẹ thế nào. Không phải mẹ ban cho các con Thần Khí và sự sống. Cũng không phải mẹ sắp đặt các phần cơ thể cho mỗi người trong các con. Chính Đấng Tạo Hóa càn khôn đã nắn đúc nên loài người, và đã sáng tạo nguồn gốc muôn loài. Chính Người do lòng thương xót, cũng sẽ trả lại cho các con Thần Khí và sự sống, bởi vì bây giờ các con trọng Lề Luật của Người hơn bản thân mình. Con ơi, con hãy thương mẹ : chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, mẹ đã nuôi nấng dạy dỗ con đến ngần này tuổi đầu. Mẹ xin con hãy nhìn xem trời đất và muôn loài trong đó, mà nhận biết rằng Thiên Chúa đã làm nên tất cả từ hư vô, và loài người cũng được tạo thành như vậy. Con đừng sợ tên đao phủ này ; nhưng hãy tỏ ra xứng đáng với các anh con, mà chấp nhận cái chết, để đến ngày Chúa thương xót, Người sẽ trả con và các anh con cho mẹ” (2Mcb 7,22-23.27-29).

* “Không ai giựt được chúng khỏi tay tôi” (x Ga 10,28c) : Đức Giê-su hữu ý dùng động từ giựt này, vì muốn ám chỉ Ngài là ông Hô-sê mới gìn giữ người nghe Lời Ngài hơn ông Hô-sê đã gìn giữ bà vợ Gô-mơ mang tính dâm đãng : Ta biết vào thời Cựu Ước, người đàn ông có nhiều đặc quyền trong hôn nhân : họ có quyền lấy nhiều vợ, và muốn rẫy từ người vợ nào tùy ý họ, khi họ khám phá ra bà nào có bất cứ điều gì không vừa ý. Thế mà ông Hô-sê không dùng những đặc quyền này, ông chỉ trung thành và quyết tâm gìn giữ người vợ dâm đãng. Đã nhiều phen ông bắt gặp vợ trong vòng tay tình lang, ông vẫn dụ bà vào nơi vắng vẻ, lòng kề lòng thỏ thẻ tâm sự và tặng nhiều báu vật. Nhưng vợ ông vẫn ngựa quen đường cũ. Ông mới nghĩ ra kế : “Phen này ta sẽ lột trần cái đĩ già của vợ ta trước mặt các gã tình lang, để không ai giựt được nó khỏi tay ta” (Hs 2,12 : Bản dịch NTT).

Chắc chắn do ơn Chúa gìn giữ ông Hô-sê sống trung thành với người vợ bất trung như thế, để Chúa dùng ông báo trước về tình yêu của Thiên Chúa dành cho những ai yêu mến nghe Lời Ngài và tuân giữ, dù nơi họ còn có điều bất xứng (x Rm 7, 18-19). Cũng không sự dữ nào có thể giựt được họ khỏi tay Chúa Con và Chúa Cha. Đó là lý do khi Đức Giê-su thấy chị Matta băn khoăn, bận rộn lo phục vụ bữa ăn thiết đãi Ngài, và chị đã tỏ ra bất mãn khi thấy cô em Maria cứ ngồi dưới chân Thầy Giê-su để nghe giảng dạy, thì Ngài đã cảnh tỉnh chị : “Matta, Matta, con lo lắng xôn xao về nhiều chuyện quá, chỉ có một điều cần thôi, Maria em con đã chọn phần tốt nhất, và không bị ai giựt mất” (Lc 10,38-42).

Trước năm 1975, một anh phi công đem lòng thương mến một cô lầm lạc làm nghề bán thân. Anh hy vọng cưới cô về, cô cảm nhận được lòng quảng đại và yêu thương của chồng và cô sẽ từ bỏ nếp sống cũ. Ai ngờ sau những ngày cưới không bao lâu, anh phải ra chiến trường, vì có việc riêng anh phải trở về nhà, anh hoảng hốt bắt gặp quả tang cô vợ đang trong vòng tay người tình. Anh chịu không nổi, đã rút súng kết liễu hai mạng người ! Đời là thế, Chúa thì khác hẳn !

* “Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn lao hơn tất cả” (Ga 10,29a) : Lý do Đức Giê-su đã nói với các môn đệ : “Những gì của Thầy là của Cha, và của Cha cũng là của Thầy” (Ga 17,10), và “mọi quyền năng trên trời dưới đất Cha đã trao vào tay Thầy” (Mt 28,18). Nhưng trong những quà tặng Chúa Cha trao vào tay Chúa Con, thì không có gì Đức Giê-su yêu quý hơn “những người Cha đã lấy từ trong thế gian mà ban cho Con, và Con đã ban lại cho chúng những Lời của Cha, và chúng đã giữ Lời Cha” (x Ga 17,6-8). Bởi thế Đức Giê-su gìn giữ họ không bị sự dữ nào giựt được họ khỏi tay Ngài.

* “Không ai giựt chúng khỏi tay Cha tôi. Tôi và Cha tôi là một” (Ga 10,29b-30) : Như vậy người có trái tim nghe và thực hành Lời Chúa, họ ở trong vòng tay quyền năng yêu thương của Chúa Con và Chúa Cha, để không sự dữ nào giựt được họ khỏi tay Chúa Con (x Ga 10,28c) và cũng không ai giựt được họ khỏi tay Chúa Cha (x Ga 10,29b). Bởi vì cả Chúa Con và Chúa Cha cùng một quyết tâm gìn giữ họ.

Hình ảnh “chiên ở trong tay Con và tay Cha” còn gợi nhớ đến Tv 139/138, 5-10 : “ Chúa chặn con trước (tay Chúa Con), Ngài ngừa con sau (tay Chúa Cha). Bàn tay của Ngài (Con và Cha) đặt trên con mãi, và tay hữu Ngài (quyền năng và yêu thương) nắm lấy con”.

II. BIẾT CHÚA GIÊ-SU VÀ CHÚA GIÊ-SU BIẾT TA

Biết” trong Thánh Kinh là sống đời vợ chồng với nhau, cụ thể như Adam biết Eva sinh Cain (x St 4,1) ; trong ngày Truyền Tin Đức Ma-ri-a thưa với Thiên thần : “Tôi không biết người nam, sao tôi có thể sinh con” (Lc 1, 34). Chúa biết ta từ lúc ta lãnh Bí tích Thánh Tẩy, ta đã trở nên Hiền Thê của Ngài (x 2Cr 11,2). Người Ki-tô hữu được biết Chúa Ki-tô trọn vẹn là lúc rước lễ. Vợ chồng “biết” nhau thì sinh con cái. Do đó sau khi ta rước lễ, Hội Thánh chúc ta ra về bình an. Bình an chỉ đến khi ta làm tròn sứ mệnh ngôn sứ như Lời Đức Giê-su nói : “Chúng con hãy đi rao giảng Tin Mừng, ở đâu nghe lời chúng con, thì sự bình an đến với họ, bằng không sự bình an lại trở về với chúng con” (Mt 10,13). Như vậy ra đi loan báo Tin Mừng để quy tụ dân về cho Chúa, là ta sinh con cho Thiên Chúa, bởi vì ta đã được “biết” Chúa Ki-tô.

Hai Tông Đồ Phao-lô và Barnaba hết lòng rao giảng Lời Chúa cho cả dân ngoại làm cho đoàn lũ đông đảo gia nhập đạo Chúa, đó là cách hai ông cùng biết Chúa Ki-tô Giê-su để sinh con Thiên Chúa. Nhờ vậy, lần đầu tiên các Tông Đồ được mệnh danh là Ki-tô hữu (x Cv 11,19-26).

“Ki-tô hữu” là có xức dầu, mà người Do-thái hiểu rằng ai được xức dầu, người đó được làm vua. Vậy ai hết tình loan báo Tin Mừng, quy tụ dân về cho Chúa, người đó thể hiện quyền vua của mình. Chính vì vậy, khi người Do-thái thấy Đức Giê-su có phép hóa bánh ra nhiều cho người ta ăn no mà không phải làm lụng vất vả, nên họ muốn tôn Ngài làm Vua, Ngài không chấp nhận yêu cầu của họ. Vì Ngài chỉ muốn thi hành quyền Vua của Ngài trong sứ mệnh Tư Tế và Ngôn Sứ. Do đó Ngài đã trốn họ đi cầu nguyện, khi dân tìm thấy Ngài, thì Ngài lại giảng nhiều điều cho họ. Tiếc rằng họ không chấp nhận Lời giảng của Ngài, nên bỏ đi hết thảy. Như thế là họ không muốn Ngài làm Vua khi Ngài không đáp ứng nhu cầu thể xác của họ (x Ga 6,15).

Có loan báo Tin Mừng quy tụ muôn dân về cho Chúa, thì ta mới có thể cất lời ngợi khen : “Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa” (Tv 117/116,1a).

THUỘC LÒNG

Chúa Giê-su nói : “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10,27)



o0o


THỨ HAI SAU CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH

Cv 11, 1-18 ; Ga 10, 11-18

BÀI ĐỌC : Cv 11, 1-18

1 Hồi ấy, các Tông Đồ và các anh em ở miền Giu-đê nghe tin là cả dân ngoại cũng đã đón nhận lời Thiên Chúa.2 Khi ông Phê-rô lên Giê-ru-sa-lem, các người thuộc giới cắt bì chỉ trích ông,3 họ nói: "Ông đã vào nhà những kẻ không cắt bì và cùng ăn uống với họ! "4 Bấy giờ ông Phê-rô bắt đầu trình bày cho họ đầu đuôi sự việc, ông nói:5 "Tôi đang cầu nguyện tại thành Gia-phô, thì trong lúc xuất thần, tôi thấy thị kiến này: có một vật gì sà xuống, trông như một tấm khăn lớn buộc bốn góc, từ trời thả xuống đến tận chỗ tôi.6 Nhìn chăm chú và xem xét kỹ, tôi thấy các giống vật bốn chân sống trên đất, các thú rừng, rắn rết và chim trời.7 Và tôi nghe có tiếng phán bảo tôi: "Phê-rô, đứng dậy, làm thịt mà ăn!8 Tôi đáp: "Lạy Chúa, không thể được, vì những gì ô uế và không thanh sạch không bao giờ lọt vào miệng con!9 Có tiếng từ trời phán lần thứ hai: "Những gì Thiên Chúa đã tuyên bố là thanh sạch, thì ngươi chớ gọi là ô uế!10 Việc ấy xảy ra đến ba lần, rồi tất cả lại được kéo lên trời.

 11 "Ngay lúc đó, có ba người đến nhà chúng tôi ở: họ được sai từ Xê-da-rê đến gặp tôi.12 Thần Khí bảo tôi đi với họ, đừng ngần ngại gì. Có sáu anh em đây cùng đi với tôi. Chúng tôi đã vào nhà ông Co-nê-li-ô.13 Ông này thuật lại cho chúng tôi nghe việc ông đã thấy thiên sứ đứng trong nhà ông và bảo: "Hãy sai người đi Gia-phô mời ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô.14 Ông ấy sẽ nói với ông những lời nhờ đó ông và cả nhà ông sẽ được cứu độ.

 15 "Tôi vừa mới bắt đầu nói, thì Thánh Thần đã ngự xuống trên họ, như đã ngự xuống trên chúng ta lúc ban đầu.16 Tôi sực nhớ lại lời Chúa nói rằng: "Ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì sẽ được rửa trong Thánh Thần.17 Vậy, nếu Thiên Chúa đã ban cho họ cùng một ân huệ như Người đã ban cho chúng ta, vì chúng ta tin vào Chúa Giê-su Ki-tô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa? "

 18 Nghe thế, họ mới chịu im, và họ tôn vinh Thiên Chúa mà nói: "Vậy ra Thiên Chúa cũng ban cho các dân ngoại ơn sám hối để được sự sống! "

ĐÁP CA : Tv 41.42

Đ. Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống. (Tv 41,3a)

41 2 Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong,hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa.

3 Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống.Bao giờ con được đến vào bệ kiến Tôn Nhan?

42 3 Xin Ngài thương sai phái ánh sáng và chân lý của Ngài,để soi đường dẫn lối con đi về núi thánh, lên đền Ngài ngự.

4 Con sẽ bước tới bàn thờ Thiên Chúa, tới gặp Thiên Chúa, nguồn vui của lòng con. Con gảy đàn dâng câu cảm tạ,lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Ga 10,14

Hall-Hall : Chúa nói : “Tôi chính là Mục Tử nhân lành, tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi. Hall.

TIN MỪNG : Ga 10, 11-18

11 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.12 Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn,13 vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên.14 Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi,15 như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

 16 Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử.17 Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại.18 Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được."

CHỈ CÓ MỤC TỬ GIÊSU CHO TA SỐNG DỒI DÀO

Ta biết giáo lý của Công Đồng Vat.II trong Hiến Chế Hội Thánh số 9 dạy : “Chúa không cứu con người cách riêng rẽ thiếu liên kết”.

     
    • Phải liên kết với Chúa Giê-su Phục Sinh.
    • Phải liên kết với mọi Ki-tô hữu là các chi thể trong Thân Mình Chúa Giê-su
     
 

I. PHẢI LIÊN KẾT VỚI CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH

Đức Giê-su đã khẳng định : “Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm là cướp” (Ga 10,8a : Tin Mừng). Ngài xác định như vậy là Ngài muốn nói về các mục tử của Israel trong thời Cựu Ước, dù họ là những mục tử xấu nết, hay họ là những bậc đáng kính, tất cả họ chỉ đóng vai trò tiền hô dọn lòng người đóng Đấng Cứu Thế. Do đó, nếu Con Thiên Chúa không xuống thế làm người để chăm sóc nhân loại, thì những lời giáo huấn của các mục tử trước Ngài chỉ là những kẻ dối gạt nhân loại. Lời giáo huấn của họ chỉ giam người ta trong tội lỗi (x Gl 3,22), giáo huấn đó chỉ có giá trị cũng chỉ là đóng vai trò quản giáo dẫn người ta đến gặp Đức Giê-su mới được ơn cứu độ (x Gl 3,24). Vì chỉ duy nhờ Đức Giê-su Ki-tô, chúng ta mới được sinh lại làm con Thiên Chúa (x Ga 1, 12-14), không phải do xác thịt, máu huyết nào sinh ra mà sinh ra, mà ơn tái sinh chỉ ban cho tất cả những ai tin vào Chúa Giê-su là Đấng cứu độ duy nhất (x Cv 4,12). Bởi đó, thánh Phê-rô cũng như các Tông Đồ nếu không được Mục Tử Giêsu hướng dẫn, thì họ cũng là trộm là cướp.

Thực vậy, thời Giáo Hội sơ khai các Tông Đồ chỉ ban thanh tẩy cho những người thuộc dòng giống Abraham đã được chịu cắt bì. Nhưng sau khi Đức Giê-su mạc khải cho ông Phê-rô qua thị kiến : một chiếc khăn túm bốn góc từ trời xà xuống trước mặt ông, trong đó có những con vật dơ như rắn rết bò cạp, Chúa bảo ông hãy giết mà ăn, Chúa Thánh Thần soi lòng mở trí cho ông Phê-rô hiểu rằng các Tông Đồ đừng coi dân ngoại như đồ dơ, để khước từ ban Thánh Tẩy, mà những gì các ông bảo dơ, Chúa bảo giết mà ăn, các ông phải hiểu rằng nếu rao giảng Lời Chúa cho dân ngoại mà họ tin vào Chúa Giê-su, thì họ đều được tái sinh qua Bí tích Thánh Tẩy. Để trước mặt Chúa mọi người đã lãnh Thánh Tẩy, không còn phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, tự do hay nô lệ, mà tất cả đều là con Thiên Chúa (x Cv 11,1-18 : Bài đọc). Vì thế Đức Giê-su nói : “Tôi còn những chiên khác không thuộc ràn này (dân ngoại), tôi cũng phải đưa chúng về, chúng sẽ nghe tiếng tôi, và chỉ có một đoàn chiên và một chủ chiên” (Ga 10,16 : Tin Mừng).

Bởi vì qua Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được trở nên cùng một nguồn gốc, cùng một xương thịt với Chúa Giê-su (x Dt 2,11), được thông phần sự sống với Ba Ngôi Thiên Chúa (x Ga 6, 57), được lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác (x Ga 1, 16), nên dù có chết cũng được sống lại vinh quang muôn đời (x Ga 6,54).

II. PHẢI LIÊN KẾT VỚI MỌI KI-TÔ HỮU LÀ CÁC CHI THỂ TRONG THÂN MÌNH CHÚA GIÊ-SU.

Người Ki-tô hữu phải kiên trì sống đức ái trong Hội Thánh là chuồng chiên của Mục Tử Giêsu. Đức Giê-su đã diễn tả về đời sống những chiên của Ngài qua các hình ảnh :

     
    • Ngài là cửa chuồng chiên.
    • Mục tử biết chiên và chiên biết mục tử.
    • Chiên nghe tiếng mục tử.
    • Mục tử đi trước đoàn chiên.
     

1/ Ngài là cửa chuồng chiên.

Đức Giê-su đã ba lần xác nhận Ngài là cửa chuồng chiên (x Ga 10, 2.7.9), có nghĩa là Ngài tối ư quan trọng và cần thiết cho sự sống dồi dào và an toàn của chúng ta, đến nỗi ngoài Ngài chúng ta không thể trông vào danh nào hòng được cứu độ. Vì chức năng của cửa vừa để xác nhận chiên thuộc ràn nào, vừa để chiên được ra vào có của ăn do chủ chiên đem đến, vừa bảo toàn chiên không bị thú dữ xông vào bắt. Nếu ta nhìn lúc người chủ chiên sau khi đã lùa chiên vào chuồng, và chuồng chiên chỉ có một cửa ra vào, chủ chiên nằm ngay cửa gác, kẻ thù nào dám vào chuồng chiên của ông, thì phải bước qua xác ông.

2/ Mục tử biết chiên và chiên biết mục tử (x Ga 10,14).

Biết” trong Thánh Kinh là sống đời vợ chồng với nhau, cụ thể như Adam biết Eva sinh Cain (x St 4,1) ; trong ngày Truyền Tin Đức Ma-ri-a thưa với Thiên thần : “Tôi không biết người nam, sao tôi có thể sinh con” (Lc 1, 34). Chúa biết ta từ lúc ta lãnh Bí tích Thánh Tẩy, ta đã trở nên Hiền Thê của Ngài (x 2Cr 11,2). Người Ki-tô hữu được biết Chúa Ki-tô trọn vẹn là lúc rước lễ. Vợ chồng “biết” nhau sinh con cái, thì sau khi ta rước lễ, Hội Thánh chúc ta ra về bình an. Bình an chỉ đến khi ta làm tròn sứ mệnh ngôn sứ như Lời Đức Giê-su nói : “Chúng con hãy đi rao giảng Tin Mừng, ở đâu nghe lời chúng con, thì sự bình an đến với họ, bằng không sự bình an lại trở về với chúng con” (Mt 10,13). Như vậy ra đi loan báo Tin Mừng là ta sinh con cho Thiên Chúa, bởi vì ta đã được “biết” Chúa Ki-tô.

3/ Chiên nghe tiếng mục tử, chúng không nghe tiếng người lạ (x Ga 10,3.5).

Tiếng Mục Tử Giêsu là tiếng học từ nơi Chúa Cha, như Lời Đức Giê-su đã nói : “Các điều Ta nói, Cha Ta dạy sao Ta nói như vậy” (Ga 12,50), nên người mục tử của Thiên Chúa thì nói Lời Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn (x Ga 3,34). Chính vì thế mà thánh Phê-rô khuyên chúng ta muốn chứng minh mình là mục tử của Chúa Giê-su chọn, “có nói thì Lời Thiên Chúa, có phục vụ thì phục vụ bằng sức lực Chúa ban, có thế trong mọi việc chúng ta mới tôn vinh Thiên Chúa nhờ Đức Giê-su Ki-tô” (1Pr 4,11). Cũng chính vì thế mà Sắc Lệnh Đời Sống Linh Mục số 4 của Công Đồng Vat.II dạy : “Linh mục phải biết dùng Lời Chúa để tập họp dân cho Thiên Chúa, vì người ta chỉ tìm thấy Lời Chúa trên môi miệng Linh mục, bởi lẽ Linh mục mắc nợ giáo dân về Lời Chúa” . Lời Thiên Chúa trên môi miệng Linh mục là khi giảng dạy trong Phụng Vụ phải dựa trên ba tiêu chuẩn này :

    • Phải dùng các Bài đọc mà Hội Thánh đã trích trong Kinh Thánh để đọc trong mỗi Thánh Lễ. Phải căn cứ vào đó mà dẫn giải trong các bài giảng, để cho giáo dân nhận ra Kinh Thánh giữ vai trò tối quan trọng trong Phụng Vụ (x Hiến Chế Phụng Vụ số 24).
    • Bài giảng thuộc phần hoạt động của Phụng Vụ nên phải có thời giờ thích hợp để giảng giải, phải hết sức chu toàn thừa tác vụ giảng giải đúng với Nghi lễ. Tiên vàn bàn giảng phải được múc lấy từ nguồn Kinh Thánh và Phụng Vụ (x Hiến Chế Phụng Vụ số 35).
    • Bài giảng phải căn cứ vào Kinh Thánh để trình bày các mầu nhiệm đức tin và những quy tắc cho đời sống Ki-tô hữu trong suốt chu kỳ năm Phụng Vụ. Bài giảng rất đáng được coi như một phần của chính Phụng Vụ (x Hiến Chế Phụng Vụ số 56).
     
 

Vì vậy “lời giảng của chủ chiên chẳng cần phải dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Lời Chúa và quyền năng Thiên Chúa” (1Cr 2,4). Có thế mới được Chúa tín nhiệm để Ngài bảo ai muốn nghe giáo lý của Ngài thì cứ vào Nhà Thờ hỏi người đã nghe Ngài nói (x Ga 18,19-21). Vì “ai nghe lời môn đệ tôi là nghe lời tôi, ai khước từ môn đệ tôi là khước từ tôi và là khước từ Đấng đã sai tôi” (Lc 10,16).

Ngày nay nhiều giáo dân không muốn đến Nhà Thờ dự lễ, chỉ vì có nhiều chủ chiên nói tiếng lạ, không nói Lời Chúa dạy. Đó là lý do chiên rủ nhau bỏ Nhà Thờ (x Ga 10,5 : Tin Mừng).

4/ Mục tử đi trước đoàn chiên.

Đức Giê-su nói : người mục tử đi trước và chiên theo sau” (x Ga 10,4a). Hình ảnh này có hai ý :

    1. Mục tử đi trước là để nêu gương cho chiên. Chính Đức Giê-su đã làm gương cho mọi hoạt động của Hội Thánh, nên ông Luca khi viết lịch sử Hội Thánh (sách Công vụ), ông mở đầu bằng câu : “Đức Giê-su làm rồi mới dạy” (Cv 1,1).
    1. Mục tử đi trước để che chở chiên khỏi bị thú dữ vồ. Mục tử đàn chiên không phải là kẻ chăn bò, chăn trâu, vì người chăn đi sau trâu bò dùng roi quật vào chúng để bắt chúng đi. Nhưng mục tử đi trước chiên là sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ chiên (x Ga 10, 11.17 : Tin Mừng).
     

Ông Đavid, dù chỉ là cậu bé chăn chiên nhưng đã trở nên thủ lãnh dân Do-thái, vì khi đoàn quân Do-thái ra nghênh chiến với quân Philitinh có Golyat, tướng mạo oai phong lẫm liệt dẫn đầu. Ông Đavid chạy về phía đầu đoàn quân Do-thái để chiến đấu với đối phương, Golyat thì cao lớn với áo giáp và gươm sắc, làm sao Đavid dám đọ sức, vì Đavid chỉ có chiếc nỏ với năm viên sỏi. Nhưng ông đã thách thức Golyat, vì tin tưởng vào Chúa như lời ông nói : “Mày đánh tao bằng gươm với giáo và đao phóng, phần ta, ta đến đánh mày với danh Thiên Chúa các cơ binh” (1Sm 17,45). Như thế người mục tử đi trước chiên không phải cậy dựa vào sức mạnh, tài đức riêng mình, mà cậy vào mình được Chúa ở cùng, ai được Chúa ở cùng là người đó được Chúa trao một sứ mệnh vượt khả năng, lại có thể thực hành đạt hiệu quả hơn lòng mong ước. Cụ thể ông Mô-sê, một mình không có sức chống lại cả đế quốc Ai-cập, vậy mà ông dám đương đầu với đế quốc để dẫn dân Do-thái thoát nô lệ Ai-cập,vì được Chúa hứa với ông : “Ta ở với ngươi” (x Xh 3) ; Đức Ma-ri-a chỉ là cô gái nhà quê, không ăn ở với người đàn ông nào, thế mà Chúa giao sứ mệnh cho Ma-ri-a sinh Con Thiên Chúa. Ma-ri-a thắc mắc thưa với Thiên thần : “Việc ấy xảy đến thế nào?” Thiên thần nói : “Chúa ở cùng bà”. Thế là Ma-ri-a trở thành Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Hội Thánh, đem Chúa đến cho mọi người (x Lc 1, 34) ; các Tông Đồ là những kẻ dốt nát và nhát sợ, vậy mà Chúa bảo các ông phải đi khắp thế gian tập họp môn đệ cho Ngài, vì Chúa ở cùng các ông (x Mt 28, 19-20)

Vậy khi ta kiên trì sống đức ái trong Hội Thánh thể hiện bằng việc chuyên tâm nghe Lời Chúa, hiệp thông Thánh Thể, phục vụ hết mọi loại người cần đến ta. Đó là điều “linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống” (Tv 42/41, 3a).

THUỘC LÒNG

Đức Giê-su nói : “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10,27).

Sắc Lệnh Đời Sống Linh Mục số 4 của Công Đồng Vat.II dạy : “Linh mục phải biết dùng Lời Chúa để tập họp dân cho Thiên Chúa, vì người ta chỉ tìm thấy Lời Chúa trên môi miệng Linh mục, bởi lẽ Linh mục mắc nợ giáo dân về Lời Chúa




Tác giả: Đinh Quang Thịnh, Lm.
   dunglac@gmail.com