Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Đinh Quang Thịnh, Lm.
Bài Viết Của
Đinh Quang Thịnh, Lm.
TUẦN SAU CN III MÙA VỌNG NĂM C


Đinh Quang Thịnh

o0o


Chúa Nhật III - Mùa Vọng

Thứ Hai Sau Chúa Nhật III - Mùa Vọng

Thứ Ba Sau Chúa Nhật III - Mùa Vọng

Thứ Tư Sau Chúa Nhật III - Mùa Vọng

Thứ Năm Sau Chúa Nhật III - Mùa Vọng

Thứ Sáu Sau Chúa Nhật III - Mùa Vọng

Ngày 17 Tháng 12

Ngày 18 Tháng 12


o0o

Chúa Nhật III - Mùa Vọng

NĂM A

Is 35,1-6a.10 ; Gc 5,7-10 ; Mt 11,2-11

BÀI ĐỌC I : Is 35,1-6a.10

1 Vui lên nào, hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy, vùng đất hoang, hãy mừng rỡ trổ bông, 2 hãy tưng bừng nở hoa như khóm huệ, và hân hoan múa nhảy reo hò. Sa mạc được tặng ban ánh huy hoàng của núi Li-băng, vẻ rực rỡ của núi Các-men và đồng bằng Sa-ron. Thiên hạ sẽ nhìn thấy ánh huy hoàng của Đức Chúa , và vẻ rực rỡ của Thiên Chúa chúng ta.3 Hãy làm cho những bàn tay rã rời nên mạnh mẽ, cho những đầu gối bủn rủn được vững vàng. 4 Hãy nói với những kẻ nhát gan: "Can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi; sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội. Chính Người sẽ đến cứu anh em." 5 Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được. 6 Bấy giờ kẻ què sẽ nhảy nhót như nai,miệng lưỡi người câm sẽ reo hò. 10 Những người được Đức Chúa giải thoát sẽ trở về, tiến đến Xi-on giữa tiếng hò reo, mặt rạng rỡ niềm vui vĩnh cửu. Họ sẽ được hớn hở tươi cười, đau khổ và khóc than sẽ biến mất.

ĐÁP CA : Tv 145

Đ. Lạy Chúa, xin đến cứu chúng con. (x Is 35,4)

6b Chúa là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời,7a xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn.

7b Chúa giải phóng những ai tù tội, 8 Chúa mở mắt cho kẻ mù loà. Chúa cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, Chúa yêu chuộng những người công chính.

9 Chúa phù trợ những khách ngoại kiều, Người nâng đỡ cô nhi quả phụ, nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân.10 Chúa nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở, Xi-on hỡi, Chúa Trời ngươi hiển trị ngàn đời.

BÀI ĐỌC II : Gc 5,7-10

7 Thưa anh em, xin anh em cứ kiên nhẫn cho tới ngày Chúa quang lâm. Kìa xem nhà nông, họ kiên nhẫn chờ đợi cho đất trổ sinh hoa màu quý giá: họ phải đợi cả mưa đầu mùa lẫn mưa cuối mùa.8 Anh em cũng vậy, hãy kiên nhẫn và bền tâm vững chí, vì ngày Chúa quang lâm đã gần tới.9 Thưa anh em, anh em đừng phàn nàn kêu trách lẫn nhau, để khỏi bị xét xử. Kìa Vị Thẩm Phán đang đứng ngoài cửa.10 Thưa anh em, về sức chịu đựng và lòng kiên nhẫn, anh em hãy noi gương các ngôn sứ là những vị đã nói nhân danh Chúa.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Is 61,1

Hall-Hall : Thần Khí Chúa ngự trên tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Hall.

TIN MỪNG : Mt 11,2-11

 2 Đang ngồi tù, ông Gio-an nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng:3 "Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? "4 Đức Giê-su trả lời: "Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe:5 Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng,6 và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi."

7 Họ đi rồi, Đức Giê-su bắt đầu nói với đám đông về ông Gio-an rằng: "Anh em ra xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng?8 Thế thì anh em ra xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua.9 Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. 10 Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến.

11 "Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông.



ĐỨC KI-TÔ LÀ ĐẤNG THANH TẨY

VÀ NÂNG PHẨM GÍA CON NGƯỜI

Trong Chúa nhật trước (2/Vọng/A), ông Gio-an Tẩy Gỉa kêu gọi mọi người hãy tin vào Đức Ki-tô Giê-su, để được Ngài dùng Thánh Thần và lửa thanh tẩy cho. Cuộc thanh tẩy ấy không phải chỉ là thanh tẩy tội lỗi, mà nhất là thanh tẩy niềm tin của con người mang danh “đạo gốc”, thuộc gốc tổ Adam, Eva, chứ không thuộc về gốc Giêsu-Maria. Ai khao khát được thanh tẩy, cần phải được Thánh Thần dẫn đi bốn bước :

    • Tin vào gía trị ơn cứu độ.
    • Sống niềm tin.
    • Sóng gío của niềm tin.
    • Tin rằng người Ki-tô hữu cao cả hơn ông Gioan Bt.

I- TIN VÀO GÍA TRỊ ƠN CỨU ĐỘ.

Ngôn sứ I-sai-a trong Bài đọc I đã loan báo hiệu quả về ngày Thiên Chúa ra tay cứu độ nhờ Đức Ki-tô Giê-su thực hiện – làm ứng nghiệm –trong Hội Thánh Ngài.

1- Đức Giê-su biến dữ ra lành, chết ra sống. Ngài làm ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia: “Vui lên nào, hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy, vùng đất hoang (sào huyệt của ác thần, chỉ có sự chết), hãy mừng rỡ trổ bông, hãy tưng bừng nở hoa như khóm huệ, và hân hoan múa nhảy reo hò” (Is 35,1).

Thực vậy, chính Đức Giê-su đã làm cho con gái ông Giai-rô lên 12 tuổi vừa mới chết được sống lại (x Mc 5,21t) ; hoặc con trai bà góa thành Na-im, mới chết trong ngày, người ta đang khiêng đi chôn, Đức Giê-su cũng cho anh chỗi dậy (x Lc 7,11t) ; đặc biệt anh La-da-rô, dù chết thối bốn ngày cũng được Ngài cho phục sinh. Do đó Ngài đã nói với Mát-ta – chị của ông La-da-rô : “Bất cứ ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26). Thực ra ba lần Đức Giê-su cho người chết sống lại như thế, đó mới là dấu chỉ sự Phục Sinh vào ngày cánh chung mà Chúa sẽ thực hiện nơi mọi kẻ tin vào Ngài.

2. Đức Giê-su là sức mạnh của ta : “Người ban sức mạnh cho ai mệt mỏi,kẻ kiệt lực, Người làm cho nên cường tráng. Thanh niên thì mệt mỏi, nhọc nhằn, trai tráng cũng ngả nghiêng, lảo đảo.Nhưng những người cậy trông Đức Chúa thì được thêm sức mạnh. Như thể chim bằng, họ tung cánh. Họ chạy hoài mà không mỏi mệt, và đi mãi mà chẳng chùn chân” (Is 40,29-31).

Thực vậy, chính Đức Giê-su đã lớn tiếng kêu gọi : “Hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28). Ai được Đức Giê-su trợ giúp đều nói được như thánh Phao-lô : “Tôi có sức chịu đựng mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4,13). Và có quyền động viên mọi người : “Mọi âu lo, anh em hãy trút cả cho Chúa, vì Ngài chăm sóc anh em” (1Pr 5,7).

3- Chỉ có Đức Giê-su mới làm cho ta hết mọi sợ hãi. Đúng như lời ngôn sứ Isaia thúc bách kẻ bạc nhược: “Can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi ; sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội.Chính Người sẽ đến cứu anh em” (Is 35,4 : Bài đọc I).

Thực vậy, chỉ có Đức Giê-su Phục Sinh mới có quyền nói với các môn đệ : “Nơi thế gian, anh em sẽ phải khốn quẫn, nhưng hãy vững tâm, đừng sợ, Ta đã thắng thế gian !” (Ga 16,33).

Đọc lại lịch sử của Hội Thánh thời sơ khai trong sách Tông Đồ Công Vụ, các Tông Đồ bị ra tù vào khám, bị đánh đòn, bị ném đá như cơm bữa, có lần ông Phao-lô bị ném đá, người ta tưởng đã chết, nên lôi xác ông vất bỏ ngoài thành! Thế mà khi hồi tỉnh, ông càng hân hoan tiếp tục lên đường giảng Tin Mừng (x Cv 14).

4- Đặc biệt nhất là chỉ nhờ Đức Giê-su mà mọi hối nhân được ơn tha tội

Ông Gioan Bt sai môn đệ đến hỏi Đức Giê-su : “Ngài có phải là Đấng giải phóng người công chính thoát ách thống trị của bạo lực không?” (Mt 11, 2-3 : Tin Mừng). Đức Giê-su cho họ thấy trước mắt việc Ngài làm : “Mù được thấy, què bước đi, cùi được thanh sạch, điếc được nghe, chết sống lại, kẻ nghèo được đón nhận Tin Mừng”, tức là Ngài đã làm ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia (Is 35,5-6.10 : Bài đọc I). Đối với quan niệm của người Do Thái : người được chữa lành bệnh phải hiểu là được Chúa tha tội (x Mc 2, 1-12 ; Ga 9). Đức Giê-su bảo các môn đệ ông Gioan sai đến : “Hãy về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe như thế. Và phúc cho ai không vấp ngã vì tôi !” (x Mt 11,4-6 : Tin Mừng). Để mọi người xác tín rằng : Đức Giê-su chính là Đấng Mêsia mà các ngôn sứ đã loan báo, Ngài không đến diệt kẻ ác, mà Ngài muốn cứu nó, nếu chúng biết sám hối tội, xin Ngài thương xót. Vậy “lạy Chúa, xin đến cứu chúng con” (Is 35,4 : Đáp ca).

II- SỐNG NIỀM TIN NHƯ ÔNG GIOAN TẨY GIẢ.

Hội Thánh muốn ta noi gương đời sống Đức Tin của ông Gioan Bt :

1. Sống khiêm nhường.

Vì ông không tìm vinh quang cho mình mà chỉ lo làm vinh danh Chúa Giê-su, như lời ông nói : “Ngài phải lớn lên còn tôi thì nhỏ lại” (Ga 3,30).

2. Sống cương trực.

Dù ông Gio-an biết vua Hê-rô-đê là kẻ gian ác, đến nỗi ông giết cả vợ con chỉ vì nghe tin đồn rằng họ đang bày mưu tính kế tiếm quyền ông! Thế mà ông Gio-an lại dám vào thẳng cung điện vua để ngăn cản ông ta không được cướp vợ của anh mình, dù ông Gio-an biết rằng vua Hê-rô-đê sẽ không tha mạng cho ! (x Mt 14,3-12)

Như thế ông Gio-an rất xứng đáng được Đức Giê-su khen: “Ông không như cây sậy rung trước gío” (Mt 11,7b : Tin Mừng), tức là ông không khoan nhượng cho ai phạm tội, không thỏa hiệp với bạo chúa để được sống, cũng không sống kiểu : gío chiều nào ngả theo chiều đó, để ton hót nịnh bợ, luồn cúi, kiếm chác danh vọng đời này !

3. Sống đơn giản.

Ông Gio-an Tẩy Gỉa tuy là con một gia đình tư tế giàu có ở Giê-ru-sa-lem, nhưng ông sống rất đơn giản :

- “Mặc áo lông da thú” : Ông muốn minh chứng mình là người được Chúa thương, đúng với tên Gioan, tên mà thiên thần đã ra lệnh cho cha mẹ ông đặt cho (x Lc 1,13). Như thuở xưa Chúa thương Adam, Eva, Ngài may áo da thú mặc cho họ (x St 3,21).

- Ăn châu chấu và mật ong rừng” (Mt 3,4). Mật ong rừng đó là nước nho khô hay nhựa cây tây hà liễu (tamaris). Ông sống nghèo như thế để biểu lộ Chúa thương ông hơn ngôn sứ Ê-ly-a, vì lòng nhiệt thành đối với sứ mệnh Chúa trao, để bảo vệ danh Gia-vê, ngôn sứ Ê-ly-a đã sát hại các tư tế của nhà vua đang tế lễ thần Baal trên núi Carmel, nên bị vua rượt bắt, ông vội chạy trốn, Chúa sai thiên thần đưa chiếc bánh lùi và chóe nước cho ông dùng, lương thực đơn giản thế thôi, để có sức tiếp tục lên đường (x 1 V 19, 1-8).

Mặt khác, những nhu cầu đời sống ông rất đơn giản như vậy, là để nêu gương chia sẻ như lời ông kêu gọi mọi người : “Ai có hai áo hãy chia cho người không có, và ai có của ăn cũng hãy làm như vậy” (Lc 3,10-11).

Bởi thế ông Gio-an đáng được Đức Giê-su khen trước mặt mọi người : “Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến. "Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả.” (Mt 11,8b-11a : Tin Mừng).

Vậy có sống khiêm nhường, cương trực, nhu cầu đơn giản như ông Gioan Bt mới xứng danh là ngôn sứ của Chúa, để được : “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo” (Is 61,1 : Tung Hô Tin Mừng).

III- SÓNG GÍO CỦA NIỀM TIN.

Khai mào thời Tân Ước, chỉ có ông Gio-an là người được biết về Đức Giê-su hơn ai hết, nhưng sự hiểu biết của ông vẫn còn bị giới hạn theo cái nhìn theo cá tính, vì ông thích dựa vào lời ngôn sứ Ma-la-ki tiên báo về sứ mệnh Đấng Cứu Thế : “Ai chịu nổi ngày Người đến? Ai đứng được khi Người xuất hiện? Quả thật, Người như lửa của thợ luyện kim, như thuốc tẩy của thợ giặt. Người sẽ ngồi để luyện kim tẩy bạc; Người sẽ thanh tẩy con cái Lê-vi và tinh luyện chúng như vàng, như bạc. Bấy giờ, đối với Đức Chúa, chúng sẽ là những kẻ đến dâng lễ vật, theo lẽ công chính” (Ml 3, 2-3).

Do đó, khi ông Gio-an giới thiệu Đức Giê-su cho người khác, ông dựa vào lời ngôn sứ Ma-la-ki đã loan báo mà đe dọa dân : “Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa. Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi.” (Mt 3,10.12)

Nhưng khi ông Gio-an đụng chạm vào thực tế : bị vua Hê-rô-đê nhốt trong tù. Rõ ràng Hê-rô-đê mới chính là cây không trái, lại không bị diệt, mà hắn lại sắp chém đầu ông, làm ông hốt hoảng, nên sai các môn đệ đến hỏi Đức Giê-su : “Ngài có phải là Đấng phải đến (như lời tôi loan báo), hay tôi phải đợi Đấng khác ?” (Mt 11,3 : Tin Mừng). Hỏi như thế với hàm ý : Tôi đã giới thiệu Ngài như ngôn sứ Malaki báo trước : Ngài không khoan nhượng kẻ ác, tại sao Ngài không diệt kẻ ác để cứu tôi là người bị áp bức ?!

Như vậy là ông Gio-an đã không đọc hết các lời ngôn sứ đã nói về Đấng Mê-si-a, hay ông chỉ thích dựa Lời Sách Thánh nào hợp với tính tình nóng bỏng của ông! Nhưng Đức Giê-su muốn mọi người phải biết rằng : Dù Ngài có là Đấng phán xét như ngôn sứ Ma-la-ki đã loan báo, thì Ngài chỉ phán xét satan, khai trừ tội lỗi khỏi lòng người. Nhưng Ngài còn là Đấng nhân từ : “Tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi,cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà, ban cho đời ngươi chứa chan hạnh phúc, khiến tuổi xuân ngươi mạnh mẽ tựa chim bằng.  Chúa là Đấng từ bi nhân hậu,Người chậm giận và giàu tình thương, chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi.Người không cứ tội ta mà xét xử,không trả báo ta xứng với lỗi lầm.Như trời xanh trổi cao hơn mặt đất, tình Chúa thương kẻ thờ Người cũng trổi cao.Như đông đoài cách xa nhau ngàn dặm, tội ta đã phạm, Chúa cũng ném thật xa ta” (Tv 103/102, 3a-5.8-12)

Bởi thế “dầu tội con có đỏ son, cũng ra trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông” (Is 1,18). Lòng nhân từ này được Đức Giê-su thể hiện nơi các bệnh nhân : Ngài làm cho họ lành mạnh là dấu Ngài tha tội, Ngài lấy chứng từ này mà bảo các môn đệ của ông Gio-an : “Các anh hãy về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe… phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.” (x Mt 11,2-6 : Tin Mừng).

Rõ ràng ông Gio-an chưa biết trọn vẹn về Đấng Cứu Thế ! Bởi đó ông đã khiêm tốn, hai lần thốt lên lời : “Phần tôi, tôi chưa biết Ngài” (Ga 1,31.33). Nghĩa là không ai diễn tả trọn vẹn về Đức Giê-su được, ai có nói về Ngài thì cũng chỉ như những người mù tả về con voi : Anh rờ tai thì nói voi như cái quạt, kẻ rờ chân, thì tả voi như cây cột… Nhưng dầu sao, ông Gioan Bt khi gặp đau khổ, ông mới đi tìm hiểu thêm về Đấng Mêsia, đó cũng là điều chúng ta phải bắt chước ông.

Vậy để Đức Tin ta không bị chao đảo, nhất là khi bị sự dữ tấn công, thì ta đừng chọn một đoạn Kinh Thánh thích hợp với mình, một hãy dựa vào toàn bộ Kinh Thánh, và đến gặp Chúa Giê-su Thánh Thể, hơn môn đệ của ông Gioan đến gặp Đức Giê-su để được tăng niềm tin.

IV- NGƯỜI KI-TÔ HỮU CAO CẢ HƠN ÔNG GIOAN TẨY GIẢ.

Đức Giê-su nói : “Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Bt. Tuy nhiên kẻ nhỏ hơn trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông” (Mt 11,11).

Lời xác định trên Đức Giê-su có ý so sánh ông Gioan Bt với người Công Giáo :

A. SỞ DĨ GIOAN TẨY GIẢ CAO TRỌNG NHẤT TRONG NHỮNG NGƯỜI DO NGƯỜI NỮ SINH RA, là vì từ thời Adam, Eva và chắc chắn cho đến ngày cánh chung, không một người nào có mặt trên trái đất này giống Đức Giê-su về cuộc sống trên dương thế như ông Gioan. Thực vậy, giữa Đức Giê-su và ông Gioan từ lúc sinh vào đời cho đến lúc chết, có nhiều điểm tương đồng rất sít sao, mà trong nhân loại không ai có được.

  1. Cả Gioan, cả Đức Giê-su trước khi được thụ thai trong lòng mẹ đều do Thiên thần Gabriel báo tin (x Lc 1,19 = Lc 1,26).
  2. Cả Gioan, cả Đức Giê-su đều sinh ra từ đôi vợ chồng khác thường : Cha mẹ của Gioan đã gần 100 tuổi mà chưa có con, thế mà ông Dacarya lại được thiên thần báo tin cho biết : Vợ chồng ông sẽ sinh con ; cũng thế, Đức Giê-su được sinh ra trong một gia đình mà vợ chồng không ăn ở với nhau (x Lc 1,7 = Lc 1,34) , vì chỉ có ông Giuse sống hướng về cánh chung : “Có vợ mà kể như không có” (1 Cr 7,29).
  3. Tên Gioan và tên Đức Giê-su đều được thiên thần bảo cha mẹ phải đặt con mình như thế (x Lc 1,13 = Lc 1,31).
  4. Thân thế ông Gioan và Đức Giê-su đều thuộc dòng tộc giàu có : Gioan là con vị tư tế ở thành Giê-ru-sa-lem ; Đức Giê-su là Con của Cha trên trời, thế mà cả hai Vị sinh ra trong cảnh nghèo : Gioan sinh ra được nuôi dưỡng trong sa mạc (x Lc 1,80) ; Đức Giê-su sinh ra thì mẹ Ngài lấy tã bọc đặt nằm trong máng cỏ (x Lc 2,7).
  5. Ông Gioan và Đức Giê-su đều thống nhất chương trình hành động. Do đó cả hai Vị đều mở đầu sứ mệnh bằng công thức : “Hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến” (x Mt 3,2 = Mt 4,17).
  6. Sứ điệp Tin Mừng của ông Gioan và của Đức Giê-su đều nóng bỏng và dứt khoát, không khoan nhượng cho những kẻ bất lương, nhất là những kẻ không tin Đức Giê-su là Đấng cứu độ duy nhất (x Cv 4,12). Cụ thể :
    • Ông Gioan nói với mọi người : “Cái rìu đã để sẵn gốc cây, cây nào không sinh trái thì bị chặt quăng vào lò lửa” (Mt 3,10). Có nghĩa là ngay hôm nay ai không tin vào Chúa Giê-su để làm việc tốt, thì phải diệt ngay.
    • Còn Đức Giê-su nhìn cây vả lớn, lá xum suê, Ngài đến tìm quả mà không có, dù lúc ấy không phải là mùa trái vả, mà ngài lại lên tiếng trách nó : “Không bao giờ Ta ăn trái mày nữa !” Sáng hôm sau, các môn đệ đi ngang qua thấy cây vả đã chết khô từ ngọn đến rễ (x Mt 21,18-19) : Cây vả lớn là dấu chỉ những người được Thiên Chúa nuôi dưỡng và giáo dục mà hôm nay không trở nên người công chính, nhờ tin vào Chúa Giê-su (x Gl 2,16), thì kẻ đó không thể được cứu độ.

7- Ông Gioan và Đức Giê-su đều động viên người ta chia sẻ :

- Ông Gioan nói : “Ai có hai áo hãy chia cho người không có một cái, và ai có của ăn thì cũng hãy làm như vậy” (Lc 3,11).

- Chúa Giê-su dạy : “Cho thì có phúc hơn là lấy” (Cv 20,35)

8- Ông Gioan và Đức Giê-su đều chết vì chân lý :

    • Ông Gioan dám lên tiếng trách vua Hê-rô-đê không được cướp vợ anh mình, do đó ông bị cắt đầu (x Mt 14,3t).
    • Đức Giê-su lên tiếng khiển trách những đầu mục Do-Thái sống đạo hình thức : Giả bộ đọc kinh dài để nuốt chửng tài sản bà góa, làm cho người tân tòng thành con cái hỏa ngục gấp đôi mình, lại còn ngăn cản những ai muốn vào Nước Trời (x Mt 23). Do đó Ngài bị treo trên thập giá (x Mt 27,23t).

B. KẺ NHỎ TRONG NƯỚC TRỜI CÒN CAO TRỌNG HƠN ÔNG GIOAN TẨY GIẢ.

Thuật ngữ “kẻ nhỏ” trong Tân Ước luôn luôn chỉ về những người thuộc về Hội Thánh, những người được Chúa Giê-su cứu độ. Thực vậy, các Tông Đồ là những người lớn tuổi, mà Đức Giê-su đòi hỏi họ phải trở nên trẻ nhỏ mới được vào Nước Thiên Chúa (x Mt 18,3) ; Ngài nói với các môn đệ : “Hỡi các con thơ bé, Thầy chỉ còn ở với các con một ít nữa thôi” (Ga 13,33a) ; cũng như Ngài nói : “Đừng sợ, hỡi đoàn chiên nhỏ bé, vì Cha chúng con đã khấng ban Nước Trời cho chúng con” (Lc 12,32).

Các thư của thánh Gioan viết cho các giáo đoàn có nhiều người lớn tuổi, thế mà ông luôn luôn gọi họ là : “Hỡi các con thơ bé” (x 1Ga 2,1.12.14.18.28).

Vậy “kẻ nhỏ trong Nước Trời lớn hơn ông Gioan Tẩy Giả”, chính là người Công Giáo sau khi đã lãnh Bí tích Khai Tâm, họ hơn ông Gioan những điểm sau :

1. Ông Gioan chỉ là chú phù rể đối với Đức Giê-su (x Ga 3,29) ; trong khi đó người Công Giáo được gọi là Hiền Thê của Chúa Giê-su, khởi đi từ Bí tích Thánh Tẩy (x 2Cr 11,2).

2. Ông Gioan sinh ra bởi dòng giống Adam, Eva, thua xa người Công Giáo được tái sinh bởi Adam cuối cùng là Chúa Giê-su (x Cv 2,38). Bởi thế Kinh Thánh nói : “Đấng tác thánh và những người được thánh hóa cùng một nguồn gốc, cùng một xương thịt, cùng một sự sống với Chúa Ba Ngôi, đến nỗi được đồng hóa với Chúa Giê-su ” (Dt 2,11 ; Ga 6,57 ; Gl 2,20).

3. Sứ mệnh của ông Gioan chỉ như tiếng kêu trong sa mạc (x Ga 1,23) ; thua xa người Công Giáo được Chúa hứa : “Ai tin vào Ta thì các việc Ta làm kẻ ấy cũng sẽ làm, và sẽ làm được những việc lớn lao hơn thế nữa, vì Ta đi đến cùng Cha” (Ga 14,12). Cụ thể cả cuộc đời Đức Giê-su phục vụ đến chết, mới đưa một anh trộm lành vào Thiên Đàng ; còn người Công Giáo mỗi khi đi dự Lễ, hiệp thông với Hội Thánh cầu nguyện cho những người đã qua đời, thì biết bao linh hồn được về Thiên Đàng ; hoặc Chúa Giê-su không lập một giáo đoàn nào, trong khi đó ông Phao-lô khai sinh được rất nhiều giáo đoàn…

Mặc dù ta được cao cả hơn ông Gioan Bt, nhưng chỉ được thấy rõ trong ngày cánh chung. Thánh Gio-an nói : “Hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa;nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ.Chúng ta biết rằng khi Đức Ki-tô xuất hiện,chúng ta sẽ nên giống như Người,vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.” (1Ga 3,2). Bởi đó thánh Phao-lô nói : “Chúng ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải trông mong. Thấy được điều mình trông mong, thì không còn phải là trông mong nữa: vì ai lại trông mong điều mình đã thấy rồi?Nhưng nếu chúng ta trông mong điều mình chưa thấy, thì đó là chúng ta bền chí đợi chờ” (Rm 8,24-25).

Vì những lý do trên tưởng rằng người Công Giáo phải mừng ngày lãnh Bí tích Thánh Tẩy mới chính là ngày sinh nhật của mình được sinh ra trong Chúa Giê-su, và đã được thanh tẩy tinh tuyền. Còn ngày sinh nhật bởi cha mẹ trần thế, chỉ thuộc dòng giống Adam bị chúc dữ, vì “từ trong lòng mẹ tôi đã là kẻ bất lương” (Tv 51/50,7). Bởi thế, lời kinh “tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng” (Tv 139/138, 14a), chỉ thích hợp cho người Công Giáo.

THUỘC LÒNG.

Chúa ban sức mạnh cho người mệt mỏi, vì trẻ trung còn nghiêng ngửa bổ nhào, nhưng ai trông cậy nơi Chúa, họ có sức mạnh luôn luôn đổi mới, để tung cánh như phượng hoàng, họ đi mà không biết mỏi, chạy mà không biết mệt ! (Is 40,29-31)


o0o

Thứ Hai Sau Chúa Nhật III - Mùa Vọng

Ds 24,2-7.15-17a ; Mt 21,23-27

BÀI ĐỌC : Ds 24,2-7.15-17a

2 Khi ấy, ông Bi-lơ-am ngước mắt lên và nhìn thấy Ít-ra-en đóng trại theo chi tộc của họ. Thần khí Thiên Chúa ở trên ông,3 ông liền cất tiếng đọc bài thơ sau đây: "Sấm ngôn của Bi-lơ-am, con Bơ-o, sấm ngôn của người mắt vẫn mở. 4 Sấm ngôn của người nghe các lời Thiên Chúa, người ngắm nhìn thị kiến Đấng Toàn Năng, của người ngủ mà mắt vẫn mở trong lúc xuất thần. 5 Hỡi Gia-cóp, lều bạt của ngươi đẹp biết mấy! Hỡi Ít-ra-en, đẹp biết mấy doanh trại của ngươi! 6 Như thung lũng trải dài, như vườn cạnh bờ sông, như lô hội Đức Chúa đã trồng, như hương nam mọc bên dòng nước. 7 Từ các bồn của nó, nước tràn ra, và hạt giống nó được tưới dồi dào. Vua của nó cao cả hơn A-gác, và vương quốc nó được tôn vinh.

15 Rồi ông cất tiếng đọc bài thơ của mình như sau: "Sấm ngôn của Bi-lơ-am, con Bơ-o, sấm ngôn của người mắt vẫn mở. 16 Sấm ngôn của người nghe các lời Thiên Chúa, và biết những tư tưởng của Đấng Tối Cao, được Đấng Toàn Năng cho nhìn linh thị, của người ngủ mà mắt vẫn mở trong lúc xuất thần. 17 Tôi thấy nó, nhưng bây giờ chưa phải lúc, tôi nhìn, nhưng chưa thấy nó kề bên;một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp, một vương trượng trỗi dậy từ Ít-ra-en.

ĐÁP CA : Tv 24

Đ. Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết. (c 4a)

4 Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết, lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con. 5ab Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài và bảo ban dạy dỗ,

6 Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời. 7c xin lấy tình thương mà nhớ đến con cùng.

8 Chúa là Đấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân, 9 dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính,dạy cho biết đường lối của Người.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Tv 84,8

Hall-Hall : Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa, và ban ơn cứu độ cho chúng con. Hall.

TIN MỪNG : Mt 21,23-27

23 Một hôm, Đức Giê-su vào Đền Thờ, và trong khi Người giảng dạy, các thượng tế và kỳ mục trong dân đến gần Người và hỏi: "Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Ai đã cho ông quyền ấy? "24 Đức Giê-su đáp: "Còn tôi, tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi; nếu các ông trả lời được cho tôi, thì tôi cũng sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy.25 Vậy, phép rửa của ông Gio-an do đâu mà có? Do Trời hay do người ta? " Họ mới nghĩ thầm: "Nếu mình nói: "Do Trời", thì ông ấy sẽ vặn lại: "Thế sao các ông lại không tin ông ấy? "26 Còn nếu mình nói: "Do người ta", thì mình sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gio-an là một ngôn sứ."27 Họ mới trả lời Đức Giê-su: "Chúng tôi không biết." Người cũng nói với họ: "Tôi cũng vậy, tôi không nói cho các ông là tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy."


AI KHÔNG THÁCH THỨC CHÚA

NGÀI MỚI CHO GẶP

Sau khi Đức Giê-su đánh đuổi bọn buôn bán ra khỏi khu vực đền thờ Giê-ru-sa-lem, các Ký lục và Thượng tế cũng như hàng niên trưởng trong Do Thái giáo đến chất vấn Ngài: “Ông lấy quyền nào mà làm điều ấy ? Ai đã cho ông quyền ấy ?” Đức Giê-su đáp : “Còn tôi, tôi chỉ hỏi các ông một điều thôi ; nếu các ông trả lời được cho tôi, thì tôi cũng sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. Vậy, phép rửa của ông Gioan do bởi đâu mà có ? Do Trời hay do người ta ?” Họ mới nghĩ thầm : “Nếu mình nói : “Do Trời”, thì ông ấy sẽ vật lại : “Thế sao các ông lại không tin ông ấy ?” Còn nếu mình nói : “Do người ta”, thì mình sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gioan là một ngôn sứ. Họ mới trả lời Đức Giê-su : “Chúng tôi không biết”. Người cũng nói với họ : “Tôi cũng vậy, tôi không nói cho các ông là tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy” (x Mt 21,23-27 : Tin Mừng). Vì phép rửa ông Gioan Bt không giống các phép rửa trong truyền thống Do-Thái giáo, đặc biệt là những người theo hệ Biệt phái, hoặc những người theo hệ Esseni :

PHÉP RỬA BIỆT PHÁI

1- Cho người ngoại giáo.

2- Tự rửa cho mình hằng ngày, sau khi đã được cắt bì.

3-Nhằm bổ túc cho nghi thức cắt bì để gia nhập Do-Thái giáo.

PHÉP RỬA ESSENI

1- Cho người ngoại giáo.

2- Tự rửa cho mình trước và sau khi được cắt bì.

3- Nhằm chuẩn bị và làm hoàn hảo nghi thức cắt bì để gia nhập Do-Thái giáo.

PHÉP RỬA GIOAN BT.

1- Cho người Do Thái và ngoại giáo.

2- Gioan rửa cho những người đến với ông, cả người ngoại giáo không cắt bì.

3- Nhằm biểu lộ lòng sám hối, chờ đón Đấng Cứu Thế đến thanh tẩy bằng nước và Thánh Thần, để gia nhập Hội Thánh Chúa Ki-tô.

Đức Giê-su “đi guốc” trong lòng những kẻ nhị tâm đến đặt câu hỏi với Ngài, nên họ không được Ngài mạc khải cho. Vì hai lý do :

1/ HỌ CÓ Ý THÁCH THỨC ĐỨC GIÊ-SU HẦU TÌM CỚ ĐỂ DIỆT NGÀI ! Loại người như thế, thì Lời Kinh Thánh đã nói về họ : “Những ai thành tâm tìm kiếm Chúa, không thách thức Ngài, thì Ngài mới cho gặp. Chỉ ai tin tưởng vào Ngài, sẽ được Ngài tỏ mình cho thấy. Những lý luận quanh co khiến con người lìa xa Thiên Chúa. Kẻ ngu đần thử thách Đấng quyền năng, sẽ bị Người làm cho bẽ mặt” (Kn 1,1b-3).

2/ HỌ LẤY Ý CỦA NHỮNG KẺ CÓ QUYỀN THẾ ĐẶT TRÊN Ý CỦA TOÀN DÂN, TỆ NHẤT LÀ ĐẶT TRÊN CẢ Ý THIÊN CHÚA. Bởi vì những kẻ đặt câu hỏi với Đức Giê-su họ biết rõ : Phép rửa của ông Gioan là bởi Trời, vì toàn dân đã xác tín ông là một ngôn sứ được Chúa sai đến, và cũng nắm chắc rằng Đức Giê-su sẽ trách họ : “Nếu các ông đã biết bởi Trời, tại sao các ông không tin Gioan ?” Còn nếu nói phép rửa của Gioan là bởi người ta, thì họ lại sợ dân chúng ném đá.

Như vậy, những kẻ đến đặt câu hỏi với Đức Giê-su, họ đã đảo lộn thứ tự : Ý những người có quyền phải đứng hàng đầu, mà đáng lý ra :

  • Thứ I, phải theo ý Thiên Chúa trên hết.
  • Thứ II, phải theo ý của toàn dân.
  • Thứ III, mới theo ý của những người có quyền bính.

Người đời đã chẳng nói rằng : “Ý dân là ý Trời”, mà lúc ấy toàn dân đã tin vào phép rửa của ông Gioan là bởi Trời. Đó cũng là ý Chúa, Ngài muốn dùng phép rửa của ông Gioan, để qua phép rửa đó dẫn mọi người phải đón nhận Phép Rửa của Đức Giê-su, như ông Gioan đã giới thiệu : “Ngài sẽ rửa anh em bằng Thần Khí và bằng Lửa” (Lc 3,16b). Nhưng các Thượng tế và Ký lục vì tự mãn, tự tôn, tự ái, lại không tin như dân chúng đã nghe lời ông Gioan mà tin vào Đức Giê-su. Như thế, các Thượng tế và các Ký lục trong dân Do Thái thua xa Đức Tin của thầy Bi-lơ-am, vì ông này tuy là dân ngoại làm nghề tướng số ở bờ sông Phơ-rát, được nhiều người tín nhiệm. Ông Ba-lắc lãnh đạo dân Mô-áp muốn tiêu diệt Israel, ông Ba-lắc thấy dân Israel rất hùng mạnh, nên đã thuê thầy tướng số Bi-lơ-am đến trù ẻo (chúc dữ) cho dân Israel bị yếu đi. Nhưng vì ông Bi-lơ-am đã nhận Gia-vê là Chúa của mình, nên ông không thể cưỡng lại quyền năng Thiên Chúa, quyết ra tay bảo vệ Israel dân Ngài. Do đó, thay vì ông Bi-lơ-am chúc dữ cho Israel theo đề nghị của ông Ba-lắc đã mua chuộc, thì ông lại chúc phúc cho Israel : “Hỡi Gia-cóp, lều bạt của ngươi đẹp biết mấy. Hỡi Israel đẹp biết mấy doanh trại của ngươi : sự sống tràn ra như cây hương nam mọc bên dòng suối... Tôi thấy một vì sao xuất hiện từ dòng Gia-cóp, một vương trượng chỗi dậy từ Israel” (x Ds 24,2-17 : Bài đọc). Tức là ông Bi-lơ-am báo trước cho mọi kẻ đối địch với Israel biết rằng : Từ trong dân Thiên Chúa đã chọn, một vương trượng chỗi dậy từ nhà Gia-cóp chính là Đức Giê-su Ki-tô thuộc dòng tộc vua Đa-vít, sẽ xuất hiện bảo vệ và chăm sóc dân Ngài.

Chúa đã hứa ban Đấng Cứu Thế từ dòng dõi vua Đa-vít, gốc tổ là Gia-cóp, đó là quyền của Thiên Chúa ban cho nhân loại trong yêu thương, Ngài đã đến thể hiện quyền bính của Ngài, là làm hoàn hảo Phụng Vụ Do Thái giáo bằng Hy Tế của Ngài thiết lập. Do đó, việc Ngài đánh đuổi những người buôn bán ra khỏi khu vực Đền thờ, và tiến vào Đền Thờ lên tiếng trách : “Nhà Cha Ta là Nhà cầu nguyện, còn các ngươi biến nó thành hang trộm cướp” (Mt 21,13). Là Đức Giê-su có ý nói với họ : Nếu các ngươi tiếp tục dâng lễ chiên cừu bò lừa theo Luật Mô-sê, thì cũng chẳng khác gì dân ngoại tế lễ cho thần Bel mà thôi (x Dn 14,1-12). Vì từ lúc Ngài tiến vào đền thờ Giê-ru-sa-lem, thì việc cầu nguyện được Chúa Cha ưng nhận phải là cầu nguyện “trong Thần Khí và Sự Thật, và Chúa Cha chỉ muốn gặp thấy những kẻ thờ phượng Ngài như thế” (Ga 4,23).

  • Thần Khí là Lời Thiên Chúa (x Ga 6,63).
  • Sự Thật là Chúa Giê-su (x Ga 14,6).

Đó là hai phần chính Hy Tế của Chúa Giê-su thiếp lập. Vậy việc Ngài đánh đuổi không cho buôn bán trong khu Đền Thờ, để người ta không còn dâng lễ vật chiên cừu bò lừa cho Thiên Chúa nữa. Vì ông Mô-sê dạy dân dâng lễ như thế chỉ là báo trước : Chúa Giê-su mới là Chiên thật của Thiên Chúa (x Ga 1,29), chính Ngài vừa Chủ tế vừa là Lễ Vật thay thế cho kiểu tế tự do Luật Mô-sê đã truyền cho dân.

Vậy chỉ có những ai khiêm tốn với lòng chân thành đến dự Phụng Vụ của Chúa Giê-su lập và cầu nguyện với Ngài : “Lạy Chúa, đường nẻo Ngài xin dạy cho con biết, lối đi của Ngài xin chỉ bảo con. Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài và bảo ban dạy dỗ, vì chính Ngài là Thiên Chúa của con” (Tv 25/24,4-5 : Đáp ca).

Người nào cầu nguyện như thế mới được Chúa Giê-su mạc khải cho biết cách sống đạo hầu được ơn cứu độ.

Narcisse là một thanh niên khôi ngô tuấn tú, nên có rất nhiều “bướm” muốn bay đến đậu, nhưng cô nào cũng bị chàng xua đuổi! Trong số đó, có cô Echo là tội nghiệp nhất!

Một ngày nọ, chàng Narcisse đi săn, vì đang mải rượt con mồi, chàng đã tiến sâu vào cánh rừng rậm mà không biết lối ra, chàng sợ quá kêu lên :

- Có ai ở đây không?

Không ngờ có tiếng vọng lại :

- Lại đây, lại đây.

Nghe thấy thế, chàng mừng rỡ và đi về phía giọng nói vừa phát ra. Té ra là nàng Echo vẫn luôn bám sát chàng mà chàng không hay biết. Vừa thấy Echo, Narcisse ngoảnh mặt đi và chạy nhanh về lối khác! Echo quá đau khổ nên gục chết giữa rừng trong tủi hờn!

Các cô gái nghe biết chuyện này rất phẫn nộ trước sự kiêu căng của Narcisse. Các cô bèn rủ nhau tìm đến đền nữ thần Aphrodite để xin thần cho hắn một bài học.

Vào một ngày đẹp trời, Narcisse tiến vào rừng để săn bắn như mọi lần. Khi đã tiến sâu vào trong rừng, đang lúc khát nước, chàng nhìn thấy một dòng suối trong, nên vội chạy lại úp mặt xuống húp một hơi, chợt chàng phát hiện có bóng một người rất xinh đẹp ở dưới nước, chàng mừng quá vội ôm lấy, nhưng bóng người kia tan biến đâu mất! Lát sau, chàng cúi xuống suối, lại thấy bóng người ấy xuất hiện, chàng vội ôm lấy, nhưng hình ấy lại biến mất! Cứ mãi như vậy cho đến khi mệt lử và chàng đã gục chết dưới dòng suối đang chảy xiết ! Sau xác chàng biến thành người cá!

Ở đời này có ai “đẹp bằng Chàng Giê-su” yêu ta rất mực, Ngài hằng bám gót theo ta, để muốn “cưới” lấy ta. Thế nhưng Ngài vẫn bị nhiều người từ chối, để rồi Ngài phải thốt lên : “Nếu các ngươi không tin chính Ta là Chúa, các ngươi sẽ chết trong tội lỗi của các ngươi” (Ga 8,24). Và chắc chắn sẽ phải chết trong tủi nhục hơn chuyện tình của Narcisse và Echo!

Vâng “lạy chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa, và ban ơn cứu độ cho chúng con” (Tv 85/84,8 : Tung Hô Tin Mừng).

THUỘC LÒNG

Ai tìm kiếm Chúa với lòng không nghi ngờ, không thách thức, Ngài mới cho gặp (Kn 1,2).


o0o

Thứ Ba Sau Chúa Nhật III - Mùa Vọng

Xp 3,1-2.9-13 ; Mt 21,28-32

BÀI ĐỌC : Xp 3,1-2.9-13

1 Đức Chúa phán như sau : “Khốn cho thành phản loạn và ô uế, khốn cho thành tàn bạo, 2 không nghe tiếng kêu mời, chẳng tiếp thu lời sửa dạy,không cậy trông vào Đức Chúa, chẳng đến gần Thiên Chúa của mình.9 Bấy giờ, Ta sẽ làm cho môi miệng chư dân nên tinh sạch để tất cả đều kêu cầu danh Đức Chúa và kề vai sát cánh phụng sự Người.10 Từ bên kia sông ngòi xứ Cút, những kẻ tôn thờ Ta, những kẻ đã bị Ta phân tán, sẽ mang lễ vật đến kính dâng Ta. 11 Ngày ấy, ngươi sẽ không còn phải hổ thẹn vì mọi hành vi ngang trái chống lại Ta. Bấy giờ, Ta sẽ đuổi cho khuất mắt ngươi những kẻ kiêu căng đắc thắng, và ngươi sẽ không còn nghênh ngang trên núi thánh của Ta nữa. 12 Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ; chúng sẽ tìm nương ẩn nơi danh Đức Chúa. 13 Số dân Ít-ra-en còn sót lại sẽ không làm chuyện tàn ác bất công, cũng không ăn gian nói dối và miệng lưỡi chúng sẽ không còn phỉnh gạt. Nhưng chúng sẽ được chăn dắt và nghỉ ngơi mà không còn bị ai làm cho khiếp sợ”.

ĐÁP CA :

Đ. Kẻ nghèo hèn kêu xin, và Chúa đã nhận lời. (c 7a)

2 Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa,câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi. 3 Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên.

6 Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi. 7 Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn.

17 Chúa đối đầu với quân gian ác,xoá nhoà tên tuổi chúng trên đời, 16 nhưng để mắt nhìn người chính trực và lắng tai nghe tiếng họ kêu. 18 Họ kêu xin, và Chúa đã nhận lời, giải thoát khỏi mọi cơn nguy khốn.

19 Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm thần thất vọng ê chề. 23 Chúa cứu mạng các người tôi tớ, ai ẩn thân bên Chúa không bị phạt bao giờ.

TUNG HÔ TIN MỪNG :

Hall-Hall : Lạy Chúa, xin ngự đến ; xin đừng trì hoãn, xin tha thứ lầm lỗi cho dân Ngài. Hall.

TIN MỪNG : Mt 21,28-32

28 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng : “Các ông nghĩ sao: Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho."29 Nó đáp: "Con không muốn đâu! " Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi.30 Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: "Thưa ngài, con đây! " nhưng rồi lại không đi.31 Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha? " Họ trả lời: "Người thứ nhất." Đức Giê-su nói với họ: "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông.32 Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy."


 

SÁM HỐI THỂ HIỆN BẰNG LÀM LÀNH

Người Do-Thái tự cho mình mới là “người con cả của Thiên Chúa”, vì họ dựa cùng dòng giống Ab-ra-ham, I-sa-ác, Gia-cóp, các vị đã được Chúa chọn và lập Giao Ước với, nhất là giới Biệt phái, họ càng tự hào hơn. Bởi lẽ họ đã cẩn thủ giữ Luật Mô-sê, Giao Ước cũ, và tin là đã đạt ơn cứu độ ! Họ không biết rằng Cựu Ước chỉ có giá trị chuẩn bị lòng người đón nhận Con Một Thiên Chúa, và phải tin rằng chỉ nhờ Đức Ki-tô, cùng với Đức Ki-tô và trong Đức Ki-tô, mới đưa con người đi vào con đường Chúa cứu độ, trở nên nghĩa tử đích thực của Thiên Chúa. Bởi thế, giáo huấn qua các Bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay dạy : Ai đáng được danh là “người con thứ I” của Thiên Chúa thì phải ý thức về nguyên nhân Phúc-Họa, và đi hai bước vào Nước Trời.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY RA PHÚC - HỌA !

Ta biết, Thiên Chúa không muốn ai phải chết vì tội, sách Khôn ngoan nói : “Thiên Chúa không làm ra cái chết,chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong.” (Kn 1,13) Do đó, sự dữ con người phải gánh chịu là hậu quả người ta lạm dụng quyền tự do Chúa đã ban cho để chọn ý mình hơn ý Chúa, đó là tội! (x Ed 18,26-28 ; 2Cr 5,10). Mà “lương bổng của tội là sự chết !” (Rm 6,23a)

Đúng như lời ông Mô-sê nói : “Coi đây, hôm nay tôi đưa ra cho anh (em) chọn: hoặc là được sống, được hạnh phúc, hoặc là phải chết, bị tai hoạ. Hôm nay tôi truyền cho anh (em) phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đi theo đường lối của Người, và tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định của Người, để anh (em) được sống, được thêm đông đúc, và Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), chúc phúc cho anh (em) trong miền đất anh (em) sắp vào chiếm hữu. Nhưng nếu anh (em) trở lòng và không vâng nghe, lại bị lôi cuốn và sụp xuống lạy các thần khác và phụng thờ chúng, thì hôm nay tôi báo cho anh (em) biết: chắc chắn anh (em) sẽ bị diệt vong, sẽ không được sống lâu trên đất mà anh (em) sắp sang qua sông Gio-đan để vào chiếm hữu. Hôm nay, tôi lấy trời đất làm chứng cáo tội anh (em): tôi đã đưa ra cho anh (em) chọn được sống hay phải chết, được chúc phúc hay bị nguyền rủa. Anh (em) hãy chọn sống để anh (em) và dòng dõi anh (em) được sống, nghĩa là hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), nghe tiếng Người và gắn bó với Người, vì như thế anh (em) sẽ được sống, sống lâu mà ở lại trên đất Đức Chúa đã thề với cha ông anh (em), là ông Áp-ra-ham, ông I-xa-ác và ông Gia-cóp, rằng Người sẽ ban cho các ngài." (Dnl 30)

II. ĐI HAI BƯỚC VÀO THIÊN ĐÀNG : SÁM HỐI – LÀM LÀNH.

1/ HÔM NAY PHẢI SÁM HỐI.

Người con thứ hai trong Tin Mừng xem ra ngoan ngoãn trước đề nghị của cha : “Hôm nay con đi làm vườn nho cho cha nhé ?” Nó vâng, dạ, nhưng không làm ! Người con thứ hai này chính là loại người sống đạo chỉ biết kêu “lạy Chúa, lạy Chúa” mà không thực hành ý Cha trên trời, khác nào người xây nhà trên cát, khi giông bão ập đến kéo sập nhà, là do công trình mình xây dựng đè bẹp và chôn sống mình ! (x Mt 7,21t) Điển hình người Biệt phái ăn chay tuần hai lần, nộp thuế 1/10 về hết mọi vật ông mua sắm được, rồi đến Đền Thờ khoe với Chúa, và khinh dể người tội lỗi : “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.” Nghe thế Chúa đuổi ngay hắn về và không cho gì ; trái lại, người thu thuế biết sám hối, và xin Chúa thương xót, đã được Ngài tuyên bố : “Anh là người công chính !” (Lc 18,9-14).

Ở đời này có ai là vô tội, là công chính trong lãnh vực luân lý đâu, vì “hết thảy đều lầm lạc, hư đốn cả lũ” (x Rm 3,9-13). Vua thánh Đavid nói : “Tôi đã tin cả khi mình đã nói: "Ôi nhục nhã ê chề!” Đã thốt ra trong cơn hốt hoảng: "Mọi người đều giả dối!" (Tv 116/114-115, 10-11). Như thế trước mắt Chúa, người con thứ I hay II đều là những đứa con phải tự nhận biết mình là người yếu đuối bất lực trước đòi hỏi nên thánh của Lề Luật, vì đã nhiều lần nó nói không với cha (phạm tội), mới là đứa con thành thật với lòng mình! Vì “Thiên Chúa dồn hết mọi loại người lương cũng như giáo vào con đường bất tuân, để Ngài dủ lòng thương cứu giúp bất cứ ai tin vào Ngài là Cứu Chúa duy nhất!” (x Rm 11,30-32)

Thực vậy, anh trộm lành, suốt đời chỉ làm khổ đồng loại, vậy mà đến phút chót nhờ biết sám hối xin Chúa xót thương, anh đã được Chúa vào Thiên Đàng trước hết mọi người ! (x Lc 23,43)

Rõ ràng “sám hối” là bước đầu tiên đi vào đường cứu độ, mà Luật sĩ và Biệt phái lại tự hào mình là người công chính nên không sám hối ! Đức Giê-su cảnh cáo họ : “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông.” (Mt 21,31 : Tin Mừng)

2/ HÔM NAY HÃY LÀM LÀNH.

Tin Mừng khen người con đã nói “không làm”, sau đó anh hối hận, và để thể hiện lòng sám hối, anh lại đi làm theo lệnh cha. Như thế, anh mới xứng danh là người con thứ I, con cả, được thừa kế gia tài của cha. Người này đã thực hành lời ông Gioan Bt kêu gọi: “Làm việc lành xứng với lòng hối cải” (Mt 3,8).

Nếu người con thứ nhất ngày hôm qua sống công chính, dù nó có lỗi chối không làm, nhưng rồi nó hối hận lại đi làm theo lệnh cha ; mà hôm nay nó “quay lưng lại sự công chính để làm điều ngang trái, nó phải chết vì sự ngang trái nó đã làm” (x Ed 18,26). Những kẻ sống như thế sẽ bị Lời Kinh Thánh nguyền rủa : “Khốn cho kẻ phản loạn và ô uế, khốn cho thành bạo tàn, không nghe tiếng kêu mời, chẳng tiếp thu lời sửa dạy, không cậy trông vào Thiên Chúa và cũng chẳng đến gần Thiên Chúa của mình. Bấy giờ Chúa sẽ đuổi chúng khuất mắt Ngài, những kẻ kiêu căng đắc thắng, nó sẽ không còn nghênh ngang trên Núi Thánh của Chúa nữa” (x Xp 3,1-2.11 : Bài đọc).Nếu người con thứ hai, ngày hôm qua, nó chối không tuân lệnh cha, nhưng ngày hôm nay nó lại hối hận đi làm, nghĩa là dù “trước đó nó là kẻ gian ác (chối không làm), nhưng nó đã bỏ đường lầm lạc quay trở về nẻo chính đường ngay (nó đi làm), thì nó được sống” (x Ed 18,27). Những người như thế được “Thiên Chúa làm cho môi miệng trở nên tinh sạch, để biết kêu cầu danh Chúa, và kề vai sánh vai cùng nhau sát cánh phụng thờ Thiên Chúa. Họ mang những lễ vật đến kính dâng Thiên Chúa, ngày ấy họ không còn phải hổ thẹn, vì hành vi ngang trái trước đây họ đã làm chống lại Thiên Chúa. Họ là những người còn sót lại, tuy họ là dân nghèo hèn bé nhỏ, họ sẽ tìm nương ẩn nơi danh thánh Chúa. Họ không còn làm chuyện gian ác bất công, không ăn gian nói dối, không phỉnh gạt ai, họ được Chúa chăn dắt và cho nghỉ ngơi, không còn bị ai làm cho họ phải khiếp sợ” (Xp 3,9-10.12-13 : Bài đọc). Những người này khi cất lời cầu, “Chúa nhận lời ngay, vì ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi. Chúa đưa mắt nhìn xem người chính trực, và lắng tai nghe tiếng họ kêu xin. Chúa nhận lời ngay, giải thoát họ khỏi mọi cơn nguy khốn. Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm hồn thất vọng ê chề. Ai ẩn thân bên Chúa không bao giờ bị mang án phạt” (Tv 34/33,2-19 : Đáp ca).

Vậy quá khứ chỉ còn là một kinh nghiệm, tương lai ngoài tầm tay ta, chỉ có hiện tại mang theo mình một trách nhiệm. Trách nhiệm đó là : HÔM NAY : SÁM HỐI THỂ HIỆN BẰNG LÀM LÀNH TRONG VƯỜN NHO CỦA CHÚA LÀ HỘI THÁNH.

Một cán bộ cộng sản nói với các Linh mục Ấn Độ trong dịp tĩnh tâm như thế này : “Theo tôi, các Linh mục Ấn Độ chậm tiến ít là 200 năm. Các ông mù tịt về tất cả các hệ thống tân thời để quảng bá tư tưởng. Các ông dùng tiền để xây cơ sở, còn chúng tôi dùng tiền để in sách và làm báo chí. Các ông mở trường và dạy con nít biết đọc biết viết, rồi các ông không cho chúng nó cái gì để đọc. Chúng tôi cho tất cả, từ những chữ viết trên tường tới báo chí, từ những sách lớn tới sách nhỏ thích hợp cho mỗi lứa tuổi và hoàn cảnh. Các ông có rất nhiều sách đạo đức, nhưng có rất ít báo chí phổ biến chân lý…

Các ông lập các nhà in để kiếm tiền, chúng tôi lập nhà in để tuyên truyền, các ông phân phát sữa bột cho dân nghèo, chúng tôi phân phát tư tưởng. Các ông bận tâm lo lắng nuôi cái bụng của dân, chúng tôi nuôi tâm trí. Các ông nói là tư tưởng hướng dẫn thế giới, nhưng các ông không quảng bá tư tưởng, mà các ông có nói lại không làm! Trong cuộc đọ sức tư tưởng, các ông đã thua trên khắp thế giới và cả trên đất Ấn Độ… trên bình diện tư tưởng các ông đã bại trận, vì chúng tôi tạo được dư luận, còn các ông thì bất lực. Các ông phải tiêu nhiều tiền hơn, ít nữa gấp 100 lần cho báo chí, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, để giúp những ai muốn học và những ai có khả năng tạo dư luận. Lời khuyên của tôi đáng giá ngàn vàng. Và vì đã cho các ông lời khuyên này, tôi đáng bị loại khỏi đảng!”

Rõ ràng anh cán bộ cộng sản này chỉ chối Chúa trong lý thuyết. Nhưng thực tế anh lại là nhân chứng tích cực làm việc của Chúa, là nhắc nhở cho hàng giáo sĩ Công Giáo phải xét lại mình đã không tích cực chu toàn sứ mệnh ngôn sứ, đúng là thua cán bộ cộng sản. Có lần Đức

Tổng Giám mục Phao-lô Nguyễn Văn Bình vào nói chuyện với các chủng sinh trong Đại Chủng Viện Thánh Giuse : “Vừa rồi các Đức Giám mục trước khi họp Hội Đồng Giám Mục tại Hà Nội, đã vào thăm thủ tướng Phạm Văn Đồng, thì ông nhắc nhở cho các Giám mục : “Xin các ngài về động viên giáo dân gia tăng việc đọc Thánh Kinh”.

Như thế anh cán bộ cộng sản hay ông thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng mô tả được phần nào tâm tình của người con thứ nhất trong Tin Mừng hôm nay : Trước nói không làm theo ý cha, rồi sau đó lại đi làm. Những người như thế đáng được Chúa chúc phúc.

Vậy hằng ngày và trong Thánh Lễ hôm nay, chúng ta hãy cầu nguyện cho hàng giáo sĩ, nhất là các Đức Giám mục : “Lạy Chúa, xin ngự đến, xin đừng trì hoãn, xin tha thứ lầm lỗi cho dân Ngài” (Tung Hô Tin Mừng).

THUỘC LÒNG.

Hãy làm việc lành, xứng với lòng hối cải ! (Mt 3,8)


o0o

Thứ Tư Sau Chúa Nhật III - Mùa Vọng

Is 45,6b-8.18.21b-25 ; Lc 7,19-23

BÀI ĐỌC : Is 45,6b-8.18.21b-25

 6b Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác.7 Ta tạo ra ánh sáng và dựng nên tối tăm, làm ra bình an và dựng nên tai hoạ. Ta là Đức Chúa , Ta làm nên tất cả. 8 Trời cao hỡi, nào hãy gieo sương, mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính; đất mở ra đi cho nẩy mầm ơn cứu độ, đồng thời chính trực sẽ vươn lên.Ta là Đức Chúa, Ta đã làm điều ấy.

18 Đây là lời của Đức Chúa , Đấng tạo dựng trời cao - chính Người là Thiên Chúa nặn quả đất thành hình, củng cố cho bền vững; Người dựng nên quả đất mà không để hoang vu, nặn ra nó cho muôn loài cư ngụ -,Người phán thế này: Ta là Đức Chúa, chẳng còn chúa nào khác.

21b Hãy phát biểu và đưa ra lý lẽ, bàn luận với nhau xem: Điều ấy, ai đã nói cho nghe từ thuở trước, ai đã tiên báo tự ngàn xưa? Há chẳng phải Ta, chẳng phải Đức Chúa? Ngoài Ta ra, không có thần nào nữa,chẳng có thần công minh cứu độ, ngoại trừ Ta. 22 Nào muôn dân khắp cõi địa cầu, hãy hướng về Ta, thì các ngươi sẽ được cứu độ, vì Ta là Thiên Chúa, chẳng còn chúa nào khác. 23 Ta lấy chính danh Ta mà thề, lời chân thật này thốt ra khỏi miệng Ta, Ta quyết chẳng bao giờ rút lại: Trước mặt Ta, mọi người sẽ quỳ gối, và mở miệng thề rằng: 24 Chỉ mình Đức Chúa mới cứu độ và làm cho mạnh sức. Hết thảy những ai giận ghét Người sẽ phải đến với Người và thẹn thùng xấu hổ.25 Còn tất cả giống nòi Ít-ra-en sẽ nhờ Đức Chúa mà vẻ vang toàn thắng.

ĐÁP CA : Tv 84

Đ. Trời cao hỡi, nào hãy gieo sương

mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính. (x Is 45,8)

9ab Tôi lắng nghe điều Thiên Chúa phán,điều Chúa phán là lời chúc bình an cho dân Người, cho kẻ trung hiếu 10 Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ cho ai kính sợ Chúa, để vinh quang của Người hằng chiếu toả trên đất nước chúng ta.

11 Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên. 12 Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp,

công lý nhìn xuống tự trời cao.

13 Vâng, chính Chúa sẽ tặng ban phúc lộc và đất chúng ta trổ sinh hoa trái.14 Công lý đi tiền phong trước mặt Người,mở lối cho Người đặt bước chân.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Is 49,9-10

Hall-Hall : Hỡi kẻ loan Tin Mừng, hãy cất tiếng hô to ; kìa Đức Chúa quang lâm hùng dũng. Hall.

TIN MỪNG : Lc 7,19-23

19 Khi ấy, ông Gio-an sai hai môn đệ đến hỏi Chúa Giê-su rằng: "Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? "20 Khi đến gặp Đức Giê-su, hai người ấy nói: "Ông Gio-an Tẩy Giả sai chúng tôi đến hỏi Thầy: "Thầy có thật là "Đấng phải đến" không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? "21 Chính giờ ấy, Đức Giê-su chữa nhiều người khỏi bệnh hoạn tật nguyền, khỏi quỷ ám, và ban ơn cho nhiều người mù được thấy.22 Người trả lời hai người ấy rằng: "Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết trỗi dậy, kẻ nghèo được nghe tin mừng,23 và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi."



THIÊN CHÚA LÀM CHỦ LỊCH SỬ

Đời người Công Giáo tin theo Chúa không ai thoát được sóng gió, nhiều khi làm lung lạc Đức Tin. Sách Tu Đức gọi đó là “đêm tăm tối”. Thực vậy, cả đến ông Gio-an, người đã được nhìn biết Đức Giê-su là Đấng Chúa Cha sai đến, để thực hiện Lời Chúa hứa cứu độ loài người ngay từ khi A-đam, E-và phạm tội : “Miêu duệ người nữ đạp nát đầu rắn” (St 3,15), và ông đã giới thiệu cho rất nhiều người tin theo Đức Giê-su, thậm chí hai môn đệ của ông đã bỏ thầy mà theo Đức Giê-su (x Ga 1,35t). Nhưng khi ông Gio-an bị tiểu vương Hê-rô-đê tống ngục làm Đức Tin của ông bị dao động, ông sai môn đệ đến hỏi Đức Giê-su : “Ngài có phải là Đấng phải đến hay chúng tôi phải đợi Đấng khác” (Lc 7,19 : Tin Mừng). Sở dĩ ông Gio-an muốn Đức Giê-su trả lời thắc mắc này cho ông vì trước đó ông đã từng giới thiệu Ngài là Vị Cứu Tinh quyết liệt không khoan nhượng cho những kẻ gian ác, như lời ông nói : “Cái rìu đã để sẵn gốc cây, bất cứ cây nào không sinh quả tốt sẽ bị chặt quăng vào lò lửa. Tay cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân : Thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ lò lửa không hề tắt mà đốt đi” (Mt 3,10.12).

Sỡ dĩ ông Gio-an giới thiệu về Đức Giê-su như thế là vì ông rất đắc tâm lời ngôn sứ Ma-la-ki đã báo trước về ngày Đấng Cứu Thế đến : “Ai chịu nổi ngày Người đến ? Ai đứng vững được khi Người xuất hiện ? Quả thật, Người như lửa của thợ luyện kim, như thuốc tẩy của thợ giặt. Người sẽ ngồi để luyện kim tẩy bạc ; Người sẽ thanh tẩy con cái Lê-vi, và tinh luyện chúng như vàng, như bạc. Bấy giờ đối với Đức Chúa, chúng sẽ là những kẻ đến dâng lễ vật theo lẽ công chính” (Ml 3,2-3). Vua Hê-rô-đê đã cướp vợ anh mình, ông còn tệ hơn cây không trái, hay thóc lép, Đức Giê-su lại là Đấng mạnh như lửa, như thuốc tẩy, như ngôn sứ Ma-la-ki đã tiên báo, thế mà tại sao Đức Giê-su không đặt cái rìu vào cổ hắn, mà Ngài lại để cho tên bạo chúa đặt rìu vào cổ ông Gioan?!

Đức Tin của ông Gio-an bị dao động như thế là vì ông đã không đọc hết các lời ngôn sứ đã nói về Đấng Mê-si-a, hay ông chỉ dựa vào đoạn Sách Thánh nào hợp với tính nóng nảy của ông. Dù Ngài là Đấng phán xét như ngôn sứ Ma-la-ki đã loan báo, thì không được hiểu theo nghĩa đen. Ngài chỉ phán xét satan, và thanh tẩy tội lỗi đối với những ai sám hối xin Ngài thương xót. Đan cử như ông thu thuế đến Nhà Thờ xưng thú tội mình không dám ngước mắt nhìn Chúa, chỉ cúi đầu xin Chúa dủ lòng thương, nhờ vậy ông được Chúa xác nhận là người công chính (x Lc 18,13-14). Vì Ngài là Đấng nhân từ : “Ngài không xử với ta theo lỗi lầm ta phạm, Ngài không trả báo theo điều oan trái của ta” (Tv 103/102,10). Do đó “Chúa nhắm mắt trước tội lỗi ta, khi ta sám hối, Chúa tha thứ cho ngay” (Kn 11,27), đến nỗi “dầu tội con có đỏ son, cũng ra trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông” (Is 1,18). Lòng nhân từ này được Đức Giê-su thể hiện qua việc Ngài chữa lành các bệnh nhân : “Ngài làm cho người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết sống lại” (Lc 7,21). Đức Giê-su làm cho nhiều người được lành mạnh như thế là dấu Ngài tha tội, Ngài lấy chứng từ này mà bảo các môn đệ của ông Gio-an : “Các anh hãy về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe… phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.” (x Lc 7, 22 : Tin Mừng). Vì Ngài làm Chủ lịch sử, như ngôn sứ Isaia đã nói : “Không có Chúa nào khác đã tạo ra ánh sáng và tối tăm, làm ra bình an và dựng nên tai họa, chính Ngài gieo sương trời, mưa đức công chính, đất mở ra cho nảy mầm ơn cứu độ,đồng thời chính trực sẽ vươn lên. Chính Người là Thiên Chúa nặn quả đất thành hình,củng cố cho bền vững, không để hoang vu, Ngài nặn ra nó cho muôn loài cư ngụ. Ngoài Ngài không có thần nào công minh cứu độ loài người. Ngài đã kêu gọi : Hãy hướng về Ta, thì các ngươi sẽ được cứu độ. Trước mặt Ta, mọi người sẽ quỳ gối và mở miệng thề rằng : Chỉ mình Chúa mới cứu độ và làm cho mạnh sức” (x Is 45, 6b-25 : Bài đọc).

Rõ ràng ông Gio-an chưa biết trọn vẹn về Đấng Cứu Thế ! Bởi đó ông đã khiêm tốn hai lần thốt lên lời : “Phần tôi, tôi chưa biết Ngài” (x Ga 1,31.33). Nghĩa là không ai diễn tả trọn vẹn về Đức Giê-su được, ai có nói về Ngài thì cũng chỉ như đám người mù tả về con voi : Anh rờ tai voi thì nói voi như cái quạt, kẻ rờ chân, thì tả voi như cây cột, rờ vào vòi nói voi giống con đỉa, rờ bụng tả voi như cái trống!

Tuy nhiên, giáo lý Công Giáo dạy chúng ta phải xác tín rằng : “Cựu Ước là nụ, Tân Ước là bông, cánh chung mới đậu trái” (x Hiến Chế Mạc Khải số 16 ; 1Ga 3,2).

Do đó, dù chúng ta ở đời này có sống hết lòng với chân lý, với Thiên Chúa, mà còn bị ngược đãi như ông Gio-an Tẩy Giả, thì chúng ta vẫn phải kiên vững tin tưởng : “Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ cho ai kính sợ Chúa, để vinh quang của Người hằng chiếu tỏa trên đất nước chúng ta” (Tv 85/84, 10 : Đáp ca).

Chính các Tông Đồ được Đức Giê-su huấn luyện suốt ba năm, vậy mà khi Ngài từ cõi chết sống lại, Ngài sai các ông đi khắp thế gian loan báo Tin Mừng, thì “trong số đó có kẻ còn hoài nghi” (x Mt 28,17). Có nghĩa là chứng nhân của Đức Ki-tô, không ai có Đức Tin trọn hảo, nhưng nhờ phục vụ Tin Mừng, chính công việc ấy lại làm tăng trưởng Đức Tin cho họ. Cụ thể thánh Phao-lô đã lên tiếng cám ơn giáo đoàn Thê-xa-lô-ni-ca : “Vì Đức Tin của anh em, làm tôi được an vui giữa mọi cơn quẫn bách và gian truân tôi phải chịu. Phải, chúng tôi sống nhờ anh em đứng vững trong Chúa” (1Tx 3,7-8).

Vậy nhờ ông Gio-an bị chao đảo về niềm tin, cho ta năm điểm giáo lý :

    1. Chính đau khổ thúc bách ta đi tìm Chúa để được bồi dưỡng Đức Tin.
    2. Muốn Đức Tin vững mạnh, bớt chao đảo thì đừng chỉ chọn câu Kinh Thánh nào vừa ý. Trái lại càng thuộc nhiều Lời Chúa, Đức Tin càng kiên vững.
    3. Không ai được tự mãn mình giỏi giáo lý nhất, không cần học hỏi thêm! Trái lại, phải bắt chước ông Gio-an khiêm tốn nói về Thiên Chúa : “Tôi chưa biết Ngài” (Ga 1,31.33).
    4. Đừng hiểu Lời Chúa theo nghĩa đen. Những hình ảnh trong Kinh Thánh đều là dấu chỉ dẫn ta đến những điểm giáo lý.
    5. Ơn cứu độ Chúa ban phải đặt niềm hy vọng đến ngày cánh chung mới thấy rõ. Bởi vì : “Cựu Ước là nụ, Tân Ước là bông, cánh chung mới đậu trái” (theo Hiến Chế Mạc Khải số 16).Chính vì thế mà thánh Phao-lô nói : “Chúng ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải trông mong. Thấy được điều mình trông mong, thì không còn phải là trông mong nữa: vì ai lại trông mong điều mình đã thấy rồi ? Nhưng nếu chúng ta trông mong điều mình chưa thấy, thì đó là chúng ta bền chí đợi chờ” (Rm 8,24-25).

Sống được năm điểm giáo lý trên, mới phát sinh sự sống dồi dào hơn năm chiếc bánh Chúa dùng để nuôi dân ăn còn dư (x Mt 14,13-21). Có thế ta mới thực sự trở nên ngôn sứ của Chúa làm ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia : “Hỡi kẻ loan Tin Mừng, hãy cất tiếng hô to ; kìa Đức Chúa quang lâm hùng dũng” (Is 49,9-10 : Tung Hô Tin Mừng).

THUỘC LÒNG.

- Ơn cứu độ đến với ta như một hy vọng, hy vọng mà thấy được ai còn hy vọng nữa, nhưng nếu ta hy vọng điều ta không thấy thì ta cứ kiên vững đợi trông ! (Rm 8,24-25)

- Chúa ban sức mạnh cho người mệt mỏi, vì trẻ trung còn nghiêng ngửa bổ nhào, nhưng ai trông cậy nơi Chúa, họ có sức mạnh luôn luôn đổi mới, để tung cánh như phượng hoàng, họ đi mà không biết mỏi, chạy mà không biết mệt ! (Is 40,29-31)


o0o

Thứ Năm Sau Chúa Nhật III - Mùa Vọng

Is 54,1-10 ; Lc 7,24-30

BÀI ĐỌC : Is 54,1-10

1 Reo mừng lên, hỡi người phụ nữ son sẻ, không sinh con; hãy bật tiếng reo hò mừng vui, hỡi ai chưa một lần chuyển dạ, vì con của phụ nữ bị bỏ rơi thì đông hơn con của phụ nữ có chồng – Đức Chúa phán. 2 Hãy nới rộng lều ngươi đang ở, căng các tấm bạt ra, đừng hẹp lòng hẹp dạ. Nối dây thừng dài thêm, đóng cọc lều cho chắc, 3 vì ngươi sẽ tràn ra hai bên tả hữu, dòng dõi ngươi sẽ thừa kế các dân tộc và đến ở trong các thành bỏ hoang. 4 Đừng sợ chi: ngươi sẽ không phải xấu hổ, chớ e thẹn: ngươi sẽ không phải nhục nhằn. Thật vậy, ngươi sẽ quên hết nỗi hổ thẹn tuổi thanh xuân và không còn nhớ bao nhục nhằn thời goá bụa. 5 Quả thế, Đấng cùng ngươi sánh duyên cầm sắt chính là Đấng đã tác thành ngươi,tôn danh Người là Đức Chúa các đạo binh; Đấng chuộc ngươi về, chính là Đức Thánh của Ít-ra-en, tước hiệu Người là Thiên Chúa toàn cõi đất.6 Phải, Đức Chúa đã gọi ngươi về, như người đàn bà bị ruồng bỏ, tâm thần sầu muộn. "Người vợ cưới lúc thanh xuân, ai mà rẫy cho đành? ", Thiên Chúa ngươi phán như vậy. 7 Trong một thời gian ngắn, Ta đã ruồng bỏ ngươi, nhưng vì lòng thương xót vô bờ, Ta sẽ đón ngươi về tái hợp. 8 Lúc lửa giận bừng bừng, Ta đã một thời ngoảnh mặt chẳng nhìn ngươi, nhưng vì tình nghĩa ngàn đời, Ta lại chạnh lòng thương xót, Đức Chúa, Đấng cứu chuộc ngươi, phán như vậy. 9 Ta cũng sẽ làm như thời Nô-ê: lúc đó, Ta đã thề rằng hồng thủy sẽ không tràn ngập mặt đất nữa, cũng vậy, nay Ta thề sẽ không còn nổi giận và hăm doạ ngươi đâu. 10 Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi, giao ước hoà bình của Ta cũng chẳng chuyển lay, Đức Chúa là Đấng thương xót ngươi phán như vậy.

ĐÁP CA : Tv 29

Đ. Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt. (c 2a)

2 Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài,vì đã thương cứu vớt, không để quân thù đắc chí nhạo cười con.4 Lạy Chúa, từ âm phủ Ngài đã kéo con lên, tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống.

5 Hỡi những kẻ tín trung, hãy đàn ca mừng Chúa,cảm tạ thánh danh Người. 6 Người nổi giận, giận trong giây lát,nhưng yêu thương, thương suốt cả đời. Lệ có rơi khi màn đêm buông xuống, hừng đông về đã vọng tiếng hò reo.

11 Lạy Chúa, xin lắng nghe và xót thương con,lạy Chúa, xin phù trì nâng đỡ. 12a Khúc ai ca, Chúa đổi thành vũ điệu, 13b Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, xin tạ ơn Ngài mãi mãi ngàn thu.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Lc 3,4.6

Hall-Hall : Hãy dọn sẵn đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa. Hall.

TIN MỪNG : Lc 7,24-30

24 Khi những người ông Gio-an sai đến đã ra về, Đức Giê-su bắt đầu nói với đám đông về ông Gio-an rằng: "Anh em đi xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng?25 Hẳn là không! Thế thì anh em đi xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Nhưng kẻ áo quần lộng lẫy, đời sống xa hoa thì ở trong cung trong điện.26 Thế thì anh em đi xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết: đây còn hơn cả ngôn sứ nữa!27 Chính ông là người Thiên Chúa đã nói tới trong Kinh Thánh rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến!28 "Tôi nói cho anh em biết: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, không có ai cao trọng hơn ông Gio-an; tuy nhiên kẻ nhỏ nhất trong Nước Thiên Chúa còn cao trọng hơn ông.29 Nghe ông giảng, toàn dân, kể cả những người thu thuế, đều nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Công Chính và đã chịu phép rửa của ông.30 Còn những người Pha-ri-sêu và các nhà thông luật thì khước từ ý định của Thiên Chúa về họ, và không chịu phép rửa của ông.



GIOAN TẨY GIẢ

NGƯỜI MẪU CỦA NIỀM HY VỌNG

Tin Mừng hôm nay nối tiếp chuyện ông Gioan Bt đang trong tù, ông sai môn đệ đến hỏi Đức Giê-su : “Ngài có phải là Đấng phải đến hay chúng tôi còn phải đợi Đấng khác?” (Lc 7,19) [xem lại bài chia sẻ Thứ Tư sau Chúa nhật 3, mùa Vọng]. Sau khi các môn đệ Gioan Bt đã gặp Đức Giê-su, họ trở về tin lại cho thầy Gioan về những phép lạ mà họ đã được mắt thấy tai nghe, Đức Giê-su đã chứng minh cho họ hiểu biết về sứ mệnh của Ngài, sau đó, Ngài mới khen ông Gioan Bt, bởi lẽ nếu Ngài khen Gioan trước mặt các môn đệ của ông, để các ông về báo lại cho thầy, thì không có lợi về đàng thiêng liêng cho thầy trò Gioan. Vì nếu ai chỉ tìm phần thưởng đời này thì sẽ mất phần thưởng đời sau (x Mt 6). Ngài khen ông Gioan Bt về bốn điểm sau đây :

  • Tinh thần cương nghị của ông Gioan Bt.
  • Ông Gioan Bt sống nghèo là dấu ông dạy mọi người biết chia sẻ.
  • Sứ mệnh của ông Gioan Bt là trực tiếp dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến.
  • Danh dự của ông Gioan Bt trong thân phận phàm nhân thì không ai sánh bằng.


I/ TINH THẦN CƯƠNG NGHỊ CỦA ÔNG GIOAN BT.

Đức Giê-su nói về ông Gioan Bt :“Anh em đi xem gì trong hoang địa ? Một cây sậy phất phơ trước gió ư? ” (Lc 7,24b : Tin Mừng).

Ông Gioan không giống cây sậy trước luồng gió mạnh: “Gió chiều nào ngả chiều đó”. Vì

  1. Ông không thỏa hiệp, không khoan nhượng trước sự ác, ông không sống xu thời, bợ đỡ, nịnh hót, luồn cúi bất cứ ai, kể cả người có quyền thế, để lân la kiếm chác lợi nhuận cho bản thân. Nhưng ông đã mạnh miệng cảnh cáo vua Hê-rô-đê không được cướp vợ của người anh làm vợ của mình, vì thế ông chấp nhận ngồi tù và cuối cùng bị mất đầu ! (x Mt 14,3t).
  2. Ông cũng không run sợ trước bạo lực, khác hẳn vua Akhaz nghe tin các nước chung quanh liên kết tấn công nước Giu-đa, làm cho ông run sợ, hai đầu gối “hôn nhau”, rồi ông đi luồn cúi các thầy tướng số, để được chỉ đạo cách đương đầu với đối phương (x Is 7,2t).

II/ ÔNG GIOAN BT SỐNG NGHÈO LÀ DẤU ÔNG DẠY MỌI NGƯỜI BIẾT CHIA SẺ.

Đức Giê-su nói về ông Gioan Bt : “Anh em đi xem gì ? Một người mặc gấm vóc lụa là ư ? Nhưng kẻ áo quần lộng lẫy, đời sống xa hoa thì ở trong cung điện” (Lc 7,25 : Tin Mừng).

Mặc dầu ông là con một của một gia đình tư tế giàu có, nhưng nhu cầu thân xác của ông Gioan rất đơn giản : “Ông mặc áo lông lạc đà, xiêm thắt lưng bằng da thú, thức ăn là châu chấu và mật ong dại : Nước nho khô  (Mt 3,4).

Ông Gioan Bt dùng của cải đơn giản như thế là dấu ông muốn kêu gọi mọi người phải chia sẻ : “Ai có hai áo hãy chia cho người không có một cái, và kẻ có của ăn cũng hãy làm như vậy” (Lc 3,11), đó mới là mặt nổi của tình yêu, như lời thánh Gioan Tông Đồ nói : “Đừng ai yêu bằng đầu lưỡi, nhưng yêu bằng việc làm thực sự” (1Ga 3,18).

Nói kiểu như thánh Phao-lô :“Làm sao anh em phải giàu có như Đức Ki-tô, nhưng vì chúng ta, Ngài đã trở nên nghèo khó, để chúng ta được giàu có nhờ sự nghèo khó của Ngài  (2Cr 8,9).

Như thế bản chất cái nghèo là một sự dữ, nhưng vì phục vụ người khác ta trở nên nghèo, thì đó là “tinh thần nghèo khó”, một nhân đức mở đầu và kết thúc trong Hiến Chương Nước Trời, đáng được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp (x Mt 5,3.11).

    III/ SỨ MỆNH CỦA ÔNG GIOAN BT LÀ TRỰC TIẾP DỌN ĐƯỜNG CHO ĐẤNG CỨU THẾ ĐẾN.

Đức Giê-su nói : “Anh em đi xem gì ? Một vị ngôn sứ chăng ? Đúng thế đó ; mà tôi nói cho anh em : Đây còn hơn cả ngôn sứ nữa ! Chính ông là người Thiên Chúa đã nói trong Kinh Thánh rằng : Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, Người sẽ dọn đường cho Con đến (Lc 7,26-27 : Tin Mừng).

Như thế, Đức Giê-su xác nhận ông Gioan Bt có hai sứ mệnh :

1- Sứ mệnh ngôn sứ : Ông Gioan là ngôn sứ cuối cùng của thời Cựu Ước, Chúa đã dùng ông phát ngôn. Như thế lời cuối cùng của Thiên Chúa nói với loài người phải hiểu rất nghiêm trọng.

2- Sứ mệnh dọn đường cho Đấng Cứu Thế : Ông Gioan Bt hơn hẳn các ngôn sứ thời xưa, vì các ngôn sứ xưa chỉ vái chào Đấng Cứu Thế từ đằng xa (x Dt 11,13), chẳng vị nào được nhìn thấy Đấng Cứu Thế một cách nhãn tiền ; trái lại ông Gioan Bt sống đồng thời với Đấng Cứu Thế, chính mắt ông được nhìn thấy Đấng mà các tổ phụ cũng như các ngôn sứ ước ao được nhìn thấy mà không được ! (x Mt 13,16-17) Ông Gioan Bt lại mang một sứ mệnh dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến, qua việc ông làm phép rửa ở sông Gio-đan, để tập họp hết mọi loại người trên mặt đất đến xưng thú tội mình, xin ông Gioan làm phép rửa, qua phép rửa của ông Gioan, họ tưởng ông là Đấng Cứu Thế, nhưng thực ra, ông Gioan có dịp giới thiệu cho loài người phải tin theo Đức Giê-su, Ngài là Đấng Cứu Thế. Ông nói : “Tôi chỉ là tiếng kêu trong sa mạc, Đấng đến sau tôi lại có trước tôi, tôi không đáng cởi quai dép cho Ngài, chính Đấng ấy đang ở giữa anh em, Ngài sẽ thanh tẩy anh em bằng Thánh Thần và bằng lửa” (x Lc 3, 1-18).

    IV/ DANH DỰ CỦA ÔNG GIOAN BT TRONG THÂN PHẬN PHÀM NHÂN THÌ KHÔNG AI SÁNH BẰNG.

Chính Đức Giê-su nói về ông Gioan Tẩy Giả : “Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ,không ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả, tuy nhiên kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông“ (Lc 7,28 : Tin Mừng).

A. SỞ DĨ GIOAN TẨY GIẢ CAO TRỌNG NHẤT TRONG NHỮNG NGƯỜI DO NGƯỜI NỮ SINH RA, là vì từ thời Adam, Eva và chắc chắn cho đến ngày cánh chung, không một người nào có mặt trên trái đất này giống Đức Giê-su về cuộc sống trên dương thế như ông Gioan. Thực vậy, giữa Đức Giê-su và ông Gioan từ lúc sinh vào đời cho đến lúc chết, có nhiều điểm tương đồng rất sít sao, mà trong nhân loại không ai có được.

  1. Cả Gioan, cả Đức Giê-su trước khi được thụ thai trong lòng mẹ đều do Thiên thần Gabriel báo tin (x Lc 1,19 = Lc 1,26).
  2. Cả Gioan, cả Đức Giê-su đều sinh ra từ đôi vợ chồng khác thường : Cha mẹ của Gioan đã gần 100 tuổi mà chưa có con, thế mà ông Dacarya lại được thiên thần báo tin cho biết : Vợ chồng ông sẽ sinh con ; cũng thế, Đức Giê-su được sinh ra trong một gia đình mà vợ chồng không ăn ở với nhau (x Lc 1,7 = Lc 1,34) , vì chỉ có ông Giuse sống hướng về cánh chung : “Có vợ mà kể như không có” (1 Cr 7,29).
  3. Tên Gioan và tên Đức Giê-su đều được thiên thần bảo cha mẹ phải đặt cho con mình như thế (x Lc 1,13 = Lc 1,31 và Mt 1,21).
  4. Thân thế ông Gioan và Đức Giê-su đều thuộc dòng tộc giàu có : Gioan là con vị tư tế ở thành Giê-ru-sa-lem ; Đức Giê-su là Con của Cha trên trời, thế mà cả hai Vị sinh ra trong cảnh nghèo : Gioan được nuôi dưỡng trong sa mạc (x Lc 1,80) ; Đức Giê-su thì được mẹ Ngài lấy tã bọc đặt nằm trong máng cỏ (x Lc 2,7).
  5. Ông Gioan và Đức Giê-su đều thống nhất chương trình hành động. Do đó cả hai Vị đều mở đầu sứ mệnh bằng công thức : “Hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến” (x Mt 3,2 = Mt 4,17).
  6. Sứ điệp Tin Mừng của ông Gioan và của Đức Giê-su đều nóng bỏng và dứt khoát, không khoan nhượng cho những kẻ bất lương, nhất là những kẻ không tin Đức Giê-su là Đấng cứu độ duy nhất (x Cv 4,12). Cụ thể :
    • Ông Gioan nói với mọi người : “Cái rìu đã để sẵn gốc cây, cây nào không sinh trái thì bị chặt quăng vào lò lửa” (Mt 3,10). Có nghĩa là ngay hôm nay ai không tin vào Chúa Giê-su để làm việc tốt, thì phải diệt ngay.
    • Còn Đức Giê-su nhìn cây vả lớn, lá xum suê, Ngài đến tìm quả mà không có, dù lúc ấy không phải là mùa trái vả, mà ngài lại lên tiếng trách nó : “Không bao giờ Ta ăn trái mày nữa !” Sáng hôm sau, các môn đệ đi ngang qua thấy cây vả đã chết khô từ ngọn đến rễ (x Mt 21,18-19) : Cây vả lớn là dấu chỉ những người được Thiên Chúa nuôi dưỡng và giáo dục mà hôm nay không trở nên người công chính, nhờ tin vào Chúa Giê-su (x Gl 2,16), thì kẻ đó không thể được cứu độ.

7- Ông Gioan và Đức Giê-su đều động viên người ta chia sẻ :

- Ông Gioan nói : “Ai có hai áo hãy chia cho người không có một cái, và ai có của ăn thì cũng hãy làm như vậy” (Lc 3,11).

- Chúa Giê-su dạy : “Cho thì có phúc hơn là lấy” (Cv 20,35)

8- Ông Gioan và Đức Giê-su đều chết vì chân lý :

    • Ông Gioan dám lên tiếng trách vua Hê-rô-đê không được cướp vợ anh mình, do đó ông bị cắt đầu (x Mt 14,3t).
    • Đức Giê-su lên tiếng khiển trách những đầu mục Do-Thái sống đạo hình thức : Giả bộ đọc kinh dài để nuốt chửng tài sản bà góa, làm cho người tân tòng thành con cái hỏa ngục gấp đôi mình, lại còn ngăn cản những ai muốn vào Nước Trời (x Mt 23). Do đó Ngài bị treo trên thập giá (x Mt 27,23t).

B. KẺ NHỎ TRONG NƯỚC TRỜI CÒN CAO TRỌNG HƠN ÔNG GIOAN TẨY GIẢ.

Thuật ngữ “kẻ nhỏ” trong Tân Ước luôn luôn chỉ về những người thuộc về Hội Thánh, những người được Chúa Giê-su cứu độ. Thực vậy, các Tông Đồ là những người lớn tuổi, mà Đức Giê-su đòi hỏi họ phải trở nên trẻ nhỏ mới được vào Nước Thiên Chúa (x Mt 18,3) ; Ngài nói với các môn đệ : “Hỡi các con thơ bé, Thầy chỉ còn ở với các con một ít nữa thôi” (Ga 13,33a) ; cũng như Ngài nói : “Đừng sợ, hỡi đoàn chiên nhỏ bé, vì Cha chúng con đã khấng ban Nước Trời cho chúng con” (Lc 12,32).

Các thư của thánh Gioan viết cho các giáo đoàn có nhiều người lớn tuổi, thế mà ông luôn luôn gọi họ là : “Hỡi các con thơ bé” (x 1Ga 2,1.12.14.18.28).

Vậy “kẻ nhỏ trong Nước Trời lớn hơn ông Gioan Tẩy Giả”, chính là người Công Giáo sau khi đã lãnh Bí tích Khai Tâm, họ hơn ông Gioan những điểm sau :

1. Ông Gioan chỉ là chú phù rể của Tân Lang Giê-su (x Ga 3,29) ; trong khi đó người Công Giáo được gọi là Hiền Thê của Chúa Giê-su, khởi đi từ Bí tích Thánh Tẩy (x 2Cr 11,2).

2. Ông Gioan sinh ra bởi dòng giống Adam, Eva, thua xa người Công Giáo được tái sinh bởi Adam cuối cùng là Chúa Giê-su (x Cv 2,38). Mà ai liên kết với Adam thứ nhất, thì chết ; trái lại, ai liên kết với Adam cuối cùng (Chúa Giê-su), thì được sống đời đời x Rm 5,12-21). Bởi thế Kinh Thánh nói về vinh dự của người Công Giáo : “Đấng tác thánh và những người được thánh hóa cùng một nguồn gốc, cùng một xương thịt, cùng một sự sống với Chúa Ba Ngôi, đến nỗi được đồng hóa với Chúa Giê-su ” (Dt 2,11 ; Ga 6,57 ; Gl 2,20).

3. Ông Gioan so với Đức Giê-su không đáng giá gì, nên ba lần ông nói KHÔNG : “Tôi không phải là Đấng Ki-tô, tôi không phải là Ê-ly-a, tôi không phải là một ngôn sứ”, mà người ta đã tưởng lầm ông như thế, ông Gioan chỉ là tiếng kêu trong sa mạc, và ông tuyên bố : “Đấng đến sau tôi (Đức Giê-su), trổi vượt hơn tôi, tôi không xứng đáng cởi quai dép cho Ngài” (Ga 1,20-27). Như vậy, Đức Giê-su là Số Một, ba lần không của ông Gioan đứng sau Số Một trở thành số ngàn. Rõ ràng nếu không có số một, thì cả tỷ zero cũng là zero, nhưng nhờ số một, zero trở nên giá trị gấp mười! Mà người Công Giáo lại được đồng hóa với Chúa Giê-su về nguồn gốc, về xương thịt, về sự sống (x Gl 2,20 ; Dt 2,11 ; Ga 6,57). Bởi thế người Công Giáo còn hơn ông Gioan gấp mười lần, đến nỗi Chúa Giê-su về Trời làm cho ai tin vào Ngài, thì chẳng những làm được như Ngài mà còn hơn nữa (x Ga 14,12). Cụ thể cả cuộc đời Đức Giê-su phục vụ đến chết, mới đưa một anh trộm lành vào Thiên Đàng ; còn người Công Giáo mỗi khi đi dự Lễ, hiệp thông với Hội Thánh cầu nguyện cho những người đã qua đời, thì biết bao linh hồn được về Thiên Đàng ; hoặc Chúa Giê-su không lập một giáo đoàn nào, trong khi đó ông Phao-lô khai sinh được rất nhiều giáo đoàn…

Bởi vậy ông Luca ghi nhận những người Pha-ri-sêu và các kinh sư thua xa người thu thuế và gái điếm : “Nghe ông Gioan giảng, toàn dân, kể cả những người thu thuế, đều nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Công Chính và đã chịu phép rửa của ông. Còn những người Pha-ri-sêu và các nhà thông luật thì khước từ ý định của Thiên Chúa về họ, và không chịu phép rửa của ông” (Lc 7, 29-30 : Tin Mừng).

Vậy Đức Giê-su khen những kẻ bé nhỏ trong Nước Thiên Chúa, tức là những người được Chúa Giê-su cứu độ, giống như những người thu thuế đã tin vào lời giảng của ông Gioan mà đến với Đức Giê-su, thì họ được dẫn vào môi trường sự sống là Hội Thánh. Ngôn sứ Isaia trong Bài đọc (54,1-10) đã diễn tả về đời sống của Hội Thánh như sau :

1- Hội Thánh không liên hệ với người phàm mà vẫn sinh con cho Thiên Chúa qua Bí tích Thánh Tẩy. Ngôn sứ Isaia nói : “Phụ nữ son sẻ chưa một lần chuyển dạ đông con hơn phụ nữ có chồng” (Is 54,1).

2- Hội Thánh có mặt trên khắp thế giới, chứ không dừng lại ở đất Chúa hứa cho dân Do Thái. Ngôn sứ Isaia nói : “Hãy nới rộng lều ngươi đang ở, đừng hẹp lòng hẹp dạ, nối dây thừng dài thêm, vì ngươi sẽ tràn ra hai bên tả hữu, dòng dõi ngươi sẽ thừa kế các dân tộc và đến ở trong các thành bỏ hoang” (Is 54,2-3).

3- Hội Thánh có quyền tha tội cho ai đến xưng thú. Ngôn sứ Isaia nói : “Ngươi sẽ không phải xấu hổ, ngươi sẽ quên hết nỗi hổ thẹn tuổi thanh xuân. Như người đàn bà bị ruồng bỏ, tâm hồn sầu muộn. “Người vợ cưới lúc thanh xuân ai mà rẫy cho đành”. Trong một thời gian ngắn, Ta đã ruồng bỏ ngươi, nhưng vì lòng thương xót vô bờ, Ta sẽ đón ngươi về tái hợp. Một thời ngoảnh mặt chẳng nhìn ngươi, nhưng vì tình nghĩa ngàn đời, Ta lại chạnh lòng thương xót chuộc ngươi về” (Is 54, 4.6-8).

4- Hội Thánh là Hiền Thê của Chúa Ki-tô. Ngôn sứ Isaia nói : “Đấng cùng ngươi sánh duyên cầm sắc, chính là Đấng đã tác thành ngươi, tôn danh ngươi là Đức Chúa, Đấng đã chuộc ngươi về” (Is 54, 5).

5- Chỉ những ai trong Hội Thánh mới thoát nạn và được sống đời đời. Chúa nói : “Như thời ông Noe lúc đó Ta đã thề rằng hồng thủy sẽ không tràn ngập mặt đất nữa, cũng vậy, nay Ta thề sẽ không còn nổi giận và hăm dọa ngươi đâu, vì tình thương của Ta đời đời không lay chuyển” (Is 54,9-10).

Như thế chỉ những người được Chúa Giê-su cứu độ trong Hội Thánh của Ngài mới biết mở miệng ca tụng: “Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì Ngài đã thương cứu vớt” (Tv 30/29,2a : Đáp ca).

Vậy mặc dù ta được cao cả hơn ông Gioan Bt, nhưng chỉ được thấy rõ trong ngày cánh chung. Thánh Gio-an nói : “Hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa;nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ.Chúng ta biết rằng khi Đức Ki-tô xuất hiện,chúng ta sẽ nên giống như Người,vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.” (1Ga 3,2). Bởi đó thánh Phao-lô nói : “Chúng ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải trông mong. Thấy được điều mình trông mong, thì không còn phải là trông mong nữa: vì ai lại trông mong điều mình đã thấy rồi?Nhưng nếu chúng ta trông mong điều mình chưa thấy, thì đó là chúng ta bền chí đợi chờ” (Rm 8,24-25).

Còn bây giờ ta hãy dọn tâm hồn để đón Chúa vào lòng qua việc tham dự Thánh Lễ, để Ngài giúp ta “dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Lc 3,4.6 : Tung Hô Tin Mừng).

THUỘC LÒNG

Ngươi sẽ được Chúa đem lòng sủng ái, và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở ngươi, như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về, như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ (Is 62,4-5).

 

 

 


o0o

Thứ Sáu Sau Chúa Nhật III - Mùa Vọng

Is 56,1-3a.6-8 ; Ga 5,33-36

BÀI ĐỌC : Is 56,1-3a.6-8

1 ĐỨC CHÚA phán như sau: Hãy tuân giữ điều chính trực,thực hành điều công minh, vì ơn cứu độ của Ta đã gần tới,và đức công chính của Ta sắp được biểu lộ. 2 Phúc thay người làm như thế,phúc thay phàm nhân nắm giữ điều này, người giữ ngày sa-bát mà không vi phạm, chẳng hề đưa tay làm điều gian ác.3a Người ngoại bang gắn bó cùng ĐỨC CHÚA chớ nói rằng:"Hẳn ĐỨC CHÚA đã tách tôi ra khỏi dân Người." 6 Người ngoại bang nào gắn bó cùng ĐỨC CHÚA để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cùng trở nên tôi tớ của Người, hết những ai giữ ngày sa-bát mà không vi phạm, cùng những ai tuân thủ giao ước của Ta, 7 đều được Ta dẫn lên núi thánh và cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta. Trên bàn thờ của Ta, Ta sẽ ưng nhận những lễ toàn thiêu và hy lễ chúng dâng, vì nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân. 8 Sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa, Đấng tập hợp những người Ít-ra-en tản lạc về:Ngoài những người đã được tập hợp, Ta sẽ còn tập hợp thêm nữa về với Ít-ra-en.

ĐÁP CA : Tv 66

Đ. Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa,

chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài. (c 4)

2 Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc,xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con, 3 cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài.

5 Ước gì muôn nước reo hò mừng rỡ, vì Chúa cai trị cả hoàn cầu theo lẽ công minh, Người cai trị muôn nước theo đường chính trực và lãnh đạo muôn dân trên mặt đất này.

7 Đất đã sinh ra mùa màng hoa trái: Chúa Trời, Chúa chúng ta, đã ban phúc lộc. 8 Nguyện Chúa Trời ban phúc lộc cho ta! Ước chi toàn cõi đất kính sợ Người!

TUNG HÔ TIN MỪNG :

Hall-Hall : Lạy Chúa, xin ngự đến : được Ngài thăm viếng là được phúc bình an, vì chỉ trước nhan Ngài, chúng con mới tìm được niềm vui trọn vẹn. Hall.

TIN MỪNG : Ga 5,33-36

33 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do Thái rằng : “Chính các ông đã cử người đến gặp ông Gio-an, và ông ấy đã làm chứng cho sự thật.34 Phần tôi, tôi không cần lời chứng của một phàm nhân, nhưng tôi nói ra những điều này để các ông được cứu độ.35 Ông Gio-an là ngọn đèn cháy sáng, và các ông đã muốn vui hưởng ánh sáng của ông trong một thời gian.36 Nhưng phần tôi, tôi có một lời chứng lớn hơn lời chứng của ông Gio-an: đó là những việc Chúa Cha đã giao cho tôi để tôi hoàn thành; chính những việc tôi làm đó làm chứng cho tôi rằng Chúa Cha đã sai tôi.”


o0o

Ngày 17 Tháng 12

St 49,2.8-10 ; Mt 1,1-17

BÀI ĐỌC : St 49,2.8-10

2 Hồi đó, ông Gia-cóp gọi các con trai lại và nói : “Hỡi các con của Gia-cóp, hãy tụ tập lại mà nghe,hãy nghe Ít-ra-en, cha các con. 8 Giu-đa, con sẽ được anh em con ca tụng,tay con sẽ đặt trên ót các địch thù, anh em cùng cha với con sẽ sụp xuống lạy con.9 Giu-đa là sư tử con. Con ơi, săn mồi xong con lại trở về. Nó quỳ xuống, nằm phục như sư tử và như sư tử cái: ai sẽ làm cho nó đứng dậy? 10 Vương trượng sẽ không rời khỏi Giu-đa, gậy chỉ huy sẽ không lìa đầu gối nó, cho tới khi người làm chủ vương trượng đến, người mà muôn dân phải vâng phục.”

ĐÁP CA : Tv 71

Đ. Triều đại Người, đua nở hoa công lý

và thái bình thịnh trị đến muôn đờ. (x c 7)

1 Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương, trao công lý Ngài vào tay Thái Tử, 2 để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý, và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.

3 Núi đem lại cảnh hoà bình trăm họ, đồi rước về nền công lý vạn dân. 4ab Người sẽ bảo toàn quyền lợi dân cùng khổ,ra tay cứu độ kẻ khó nghèo.

7 Triều đại Người, đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn. 8 Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ, từ Sông Cả đến tận cùng cõi đất.

17 Danh thơm Người sẽ trường tồn vạn kỷ,nức tiếng gần xa dưới ánh mặt trời.Ước gì mọi sắc tộc trần gian, nhờ Người được chúc lành,và muôn dân thiên hạ ngợi khen Người có phúc.

TUNG HÔ TIN MỪNG :

Hall-Hall : Lạy Ngôi Lời khôn ngoan của Đấng Tối Cao, Ngài an bài mọi sự, mạnh mẽ nhưng dịu dàng. Xin đến mà chỉ dạy đường khôn ngoan cho chúng con. Hall.

TIN MỪNG : Mt 1, 1-17

1 Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham:

2 Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác; I-xa-ác sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-đa và các anh em ông này;3 Giu-đa ăn ở với Ta-ma sinh Pe-rét và De-rác; Pe-rét sinh Khét-xơ-ron; Khét-xơ-ron sinh A-ram;4 A-ram sinh Am-mi-na-đáp; Am-mi-na-đáp sinh Nác-son; Nác-son sinh Xan-môn;5 Xan-môn lấy Ra-kháp sinh Bô-át; Bô-át lấy Rút sinh Ô-vết; Ô-vết sinh Gie-sê;6 ông Gie-sê sinh Đa-vít.

1 Vua Đa-vít lấy vợ ông U-ri-gia sinh Sa-lô-môn7 Sa-lô-môn sinh Rơ-kháp-am; Rơ-kháp-am sinh A-vi-gia; A-vi-gia sinh A-xa;8 A-xa sinh Giơ-hô-sa-phát; Giơ-hô-sa-phát sinh Giô-ram; Giô-ram sinh Út-di-gia;9 Út-di-gia sinh Gio-tham; Gio-tham sinh A-khát; A-khát sinh Khít-ki-gia;10 Khít-ki-gia sinh Mơ-na-se; Mơ-na-se sinh A-môn; A-môn sinh Giô-si-gia;11 Giô-si-gia sinh Giơ-khon-gia và các anh em vua này; kế đó là thời lưu đày ở Ba-by-lon.

12 Sau thời lưu đày ở Ba-by-lon, Giơ-khon-gia sinh San-ti-ên; San-ti-ên sinh Dơ-rúp-ba-ven;13 Dơ-rúp-ba-ven sinh A-vi-hút; A-vi-hút sinh En-gia-kim; En-gia-kim sinh A-do;14 A-do sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh A-khin; A-khin sinh Ê-li-hút;15 Ê-li-hút sinh E-la-da; E-la-da sinh Mát-than; Mát-than sinh Gia-cóp;16 Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.

17 Như thế, tính chung lại thì: từ tổ phụ Áp-ra-ham đến vua Đa-vít, là mười bốn đời; từ vua Đa-vít đến thời lưu đày ở Ba-by-lon, là mười bốn đời; và từ thời lưu đày ở Ba-by-lon đến Đức Ki-tô, cũng là mười bốn đời.


CHÚA LÀM NGƯỜI CHO CON NGƯỜI LÀM CHÚA

(thánh Gioan Kim Khẩu)

Ta biết cao điểm của Mùa Vọng là tuần chín ngày trước lễ Giáng Sinh, tức là từ ngày 17 tháng 12. Hội Thánh ru ta vào niềm hy vọng : Chúng ta sẽ được thừa hưởng lời chúc phúc của Thiên Chúa, khởi đi từ đức tin của ông Abraham. Ông là người cha của những người có lòng tin vào Thiên Chúa : “Những kẻ cùng được thừa hưởng Lời Chúa hứa làm cơ nghiệp,vì ông ngóng đợi một thành trì có nền móng, mà Thiên Chúa là kiến trúc sư và là hóa công (thi công)” [x Dt 11,8-10].

Thành trì ông Abraham ngóng đợi đó chính là Hội Thánh Chúa Ki-tô. Thực vậy, chính Hội Thánh được thừa hưởng lời chúc phúc của Thiên Chúa khởi đi từ đức tin và lòng mến của ông Abraham luôn luôn nhạy bén thực hành tiếng Chúa gọi : Ông sẵn sàng từ bỏ quê hương ra đi đến miền đất mới mà không biết mình đi đâu… Một ngày kia vợ chồng Abraham và Sara trong tuổi già cảm thấy gần đất xa trời, Chúa đã hứa cho họ sinh một con trai tên là Isaac. Cậu bé là cái gậy của vợ chồng già bám vào để bước đi trong niềm hân hoan vui sướng, thế mà như tiếng sét đánh vào tai ông Abraham : “Chúa ra lệnh cho ông đưa con sát tế dâng cho Ngài, dù ai cũng biết lệnh độc ác trái lương tri ! Nhưng ông Abraham không do dự, một mau mắn làm theo lệnh Chúa đã truyền. Cuối cùng Chúa chỉ nhận đức tin và lòng yêu mến của ông, và bảo ông bắt con chiên sát tế thay cho con ông, từ đó Chúa hứa cho dòng giống ông được đông như sao trời như cát biển, dòng giống ông sẽ chiếm đoạt cửa thành quân địch, mọi dân thiên hạ sẽ lấy dòng giống ông mà cầu phúc cho nhau, vì ông đã vâng nghe Lời Thiên Chúa” (x St 22,1-19).

Lời chúc phúc của Chúa cho dòng tộc Abraham để xây cho ông một thành trì vững chắc, thắng mọi thù địch, khởi đi từ lời chúc phúc của ông Giacóp là cháu đích tôn của ông Abraham cho ông Giuđa (x St 25,19t ; 49,8-10 : Bài đọc), để được thừa kế gia tài tinh thần và vật chất của ông nội Abraham.

Chúng ta tìm hiểu phúc lành Chúa hứa cho dòng tộc Abraham qua lời chúc phúc của ông Gia-cóp cho các con ông, và lời chúc phúc được thực hiện vào ngày Thiên Chúa viếng thăm loài người.

I. TẠI SAO ÔNG GIA-CÓP LẠI CHÚC LÀNH CHO GIU-ĐA HƠN 11 NGƯỜI CON KIA ?

Ta biết ông Giacóp muốn cưới nàng Rakel, con gái thứ của cậu Laban, nhưng cậu bắt cháu chăn chiên 7 năm, mới gả Rakel cho. Nhưng ông Giacop bị cậu gạt gẫm, trong ngày cưới thay vì cô em thì lại là cô chị tên là Lêa !Giacop cứ đòi cậu phải gả cô em, cậu lại bắt cháu tiếp tục chăn chiên thêm 7 năm nữa, tức là sau 14 năm làm tôi nhà cậu mới lấy được cô Rakel làm vợ, và như vậy Giacop miễn cưỡng có hai vợ (x St 29).

Cô chị Lêa ăn ở với ông Giacop sinh được 4 người con, Giuđa là người con thứ tư. Bà Rakel vẫn chưa có con bị người chị khinh dể, nên Rakel đưa nữ tỳ của mình cho ông Giacop ăn ở sinh được 2 người con ; bà Lêa cũng không vừa, bà cũng đưa nữ tỳ sống với ông Giacop và sinh được 2 con, rồi bà Lêa lại sinh thêm 2 người con nữa. sau đó Chúa mới cho bà Rakel sinh 2 người con : con cả là Giuse, con thứ là Benyamin. Như thế ông Giacop có 12 người con : 6 con do Lêa người vợ không chính thức, 4 người con do hai nữ tỳ, và 2 con do bà Rakel người vợ chính thức (x St 28.30.35,16-19).

12 người con này làm nên dòng giống Israel được Chúa chúc phúc, đây là tiền trưng cho 12 môn đệ của Đức Giê-su làm nên Hội Thánh của Ngài là Israel mới. Từ dòng giống này mới thực sự được hưởng trọn vẹn Lời Chúa chúc phúc cho giống nòi ông Abraham khởi đi từ lời chúc phúc của ông Giacop cho Giuđa : “Con sẽ được các anh em con ca tụng, tay con đặt trên ót các địch thù, anh em con cùng cha với con sẽ sụp lạy con” (St 49,8 : Bài đọc). Lời chúc phúc của ông Giacop làm chúng ta ngạc nhiên, vì đúng ra theo pháp luật của Do-thái, thì ông Giacop phải chúc phúc cho Giuse là con trai trưởng của ông do bà vợ chính thức, thế mà ta lại thấy ông Giacop chúc phúc cho chi họ Giuđa, dù Giuđa là con thứ 4 của bà Lêa, vợ không chính thức.

Sở dĩ ông Giacop chúc lành cho chi họ Giuđa vì ông này có công bảo vệ Giuse : Ông đã ngăn cản anh em của ông không được giết Giuse, ông bày mưu để bán Giuse cho người Ai-cập, hy vọng Giuse thoát chết. Bởi vì các anh em của ông quyết định giết Giuse (x St 37,26-27). Sau này ông Giuse đã trở nên vị cứu tinh, làm cho cả thế giới khỏi chết đói vì 7 năm mất mùa, đặc biệt là cứu sống anh em ông, những kẻ có dã tâm muốn giết ông (x St 40t).

Vậy ai ra tay cứu người của Thiên Chúa, người ấy đáng được thừa hưởng phúc lành của Chúa như Đức Giê-su đã chúc phúc :

  • Phúc cho người hiền lành, họ được đất làm cơ nghiệp.
  • Phúc cho người đói khát sự công chính, vì họ được no thỏa.
  • Phúc cho người biết thương xót, vì họ sẽ được Chúa xót thương.
  • Phúc cho ai tác tạo hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. (x Mt 5,4.6.7.9)


II. PHÚC LÀNH CỦA ÔNG GIACOP ĐƯỢC CHÚA THỰC HIỆN VÀO NGÀY CHÚA CHA SAI CON MỘT CỦA NGÀI XUỐNG THẾ CỨU ĐỜI, BÀY TỎ MỌI PHÚC LÀNH CHÚA ĐÃ HỨA BAN CHO DÒNG TỘC ABRAHAM, DÒNG TỘC GIACOP.

1/ Đức Giê-su thuộc dòng dõi vua Đavid, thể hiện phúc lành Chúa ban ơn cứu độ loài người.

Đavid thuộc gốc tổ Giacop, chi họ Giuđa, là người đã được Giacop chúc phúc (x Bài đọc). Chúa đã dùng miệng các ngôn sứ hứa cho nhà Israel một vị vua – Đấng Mêsia – là hiện thân của vua Đavid. Đó là vị vua tài đức nhất trong các vua của Israel (x 2Sm 7,12 ; Ed 37,24-35 ; Is 44,28).

Để minh chứng Đức Giê-su thuộc dòng vua Đavid đến thực hiện lời hứa cứu độ, ông Mat-thêu mở đầu Tin Mừng giới thiệu Đức Giê-su là Con vua Đavid (x Mt 1,1 : Tin Mừng), và kết thúc Tin Mừng, ông khéo léo nhấn mạnh vai trò quan trọng của vua Đavid mới là Đức Giê-su : Ba lần ông nhắc đến tên Đavid bằng cách chơi chữ : 14 đời. 14 đời là tổng số 3 phụ âm của tên Đavid : DaWiD (D = 4 ; W = 6), như thế tên của Đavid viết bằng số là : 4a6i4 = 14 (x Mt 1,17 : Tin Mừng).

Vậy những gì Chúa đã hứa cho chúng ta, không bao giờ Ngài quên thực hiện, như lời Ngài đã nói : “Trời đất qua đi, nhưng Lời tôi nói không bao giờ qua” (Mt 24,35).

2/ Đức Giê-su xóa bỏ giai cấp trong nhân loại.

Người Do-thái khinh dể phụ nữ, đến nỗi họ tưởng nghĩ phụ nữ là loài không có linh hồn, cho nên truyền thống của Do-thái khi viết gia phả của ai, không bao giờ người ta đưa tên phụ nữ vào danh sách đó. Thế mà ông Mat-thêu một người Do-thái, viết Tin Mừng cho người Do-thái, khi ông đề cập đến gia phả của Đức Giê-su, thì ông đã xé truyền thống Do-thái : tự đưa vào gia phả Đức Giê-su có tên 5 người phụ nữ : Bà Thamar, bà Rahab, bà Rut, bà Bat Shêba (vợ Uria), và bà Maria, Mẹ Đức Giê-su (x Mt 1,3.5.6.16). Năm bà chỉ năm Châu chứ ơn cứu độ không dừng lại cho Do Thái.

Vậy sống tâm tình con cái Thiên Chúa, không ai được khinh dể người khác, thánh Phao-lô nói : “Trong Chúa không nam thì cũng chẳng có nữ, không nữ thì cũng chẳng có nam” (1Cr 11,11). Vì thế hình ảnh “kẻ bé nhỏ” : người không được xã hội quan tâm, nhất là những cô nhi quả phụ, Đức Giê-su lại luôn dùng họ làm mẫu cho những người được vào Thiên Đàng (x Mt 18,3 ; Ga 13,33 ; 1Ga 2,1.4.12.14.18.28).

3/ Đức Giê-su đến cứu cả dân ngoại.

Người Do-Thái tự tôn và tự hào : Chúa chỉ cứu dân Do-Thái, chính vì vậy mà ông Giona không tuân lệnh Chúa đi giảng Lời cảnh cáo dân ngoại Ninivê, vì ông nghĩ như những người Do-thái khác : Chúa không cứu dân ngoại, nên có đến giảng cho chúng cũng là vô ích (x sách Giona). Thế mà trong gia phả của Đức Giê-su, tác giả Mat-thêu lại đưa vào bốn người phụ nữ ngoại giáo : bà Thamar, bà Rahab, bà Rut, bà Bat Shêba. Bốn bà chỉ dân khắp bốn phương.

Như vậy ơn cứu độ Thiên Chúa thực hiện là ơn phổ quát cho hết mọi dân tộc.

4/ Đức Giê-su đến cứu những kẻ tội lỗi và dùng họ ban phát ơn Thiên Chúa.

Thực vậy, trong gia phả của Đức Giê-su, thánh sử Mat-thêu làm nổi bật những khuôn mặt kẻ có tội lỗi :

  • Bà Thamar, chỉ muốn ông Giuđa là bố chồng phải giữ Luật Do-thái, tức là người con cả của ông Giuđa lấy bà Thamar đã chết, thì ông Giuđa phải bắt cậu em lấy người chị dâu. Nhưng ông Giuđa dối gạt bà Thamar bày mưu tính kế cho Thamar về quê ngoại, biết âm mưu đó, bà đã giả vờ làm cô gái điếm ăn ở với ông Giuđa để sinh con nối dòng cho ông, và như vậy bà cũng được thuộc về dân của Chúa (x St 38).
  • Bà Rahab, là cô gái điếm, nhưng đã có công bảo vệ người của Thiên Chúa, khi ba thám tử của Thiên Chúa đến dò thám thành Giê-ri-cô, bà đã che mắt bọn lính thành để cho các thám tử thoát mạng, vì bà tin rằng dân của Chúa sẽ chiến thắng thành Giê-ri-cô và bà xin các thám tử cứu bà (x Gs 2.3.6).
  • Bà Rut, dù là người ngoại giáo, chồng bà là người Do-thái đã chết, mẹ chồng không còn người con trai nào để chắp nối với bà theo luật. Trong lúc còn tuổi xuân, bà không về quê ngoại để tái giá theo đề nghị của mẹ chồng, nhưng bà quyết ở lại đi mót lúa nuôi mẹ chồng, vì bà chỉ ước ao được mẹ chồng coi là dân của mẹ (x sách Rut).
  • Bà Bat Shêba, vợ của Uria, đã ăn ở bất chính với vua Đavid, cũng chỉ vì áp lực của vua Đavid mà bà phải chiều theo (x 2Sm 11).
  • Đặc biệt nhất là các vua trong gia phả của Đức Giê-su mà tác giả Mat-thêu ghi, đều có đời sống tồi tệ về đức tin và luân lý : Họ đã thờ ngẫu tượng và sống gian ác với nhiều người, trừ có hai vua : Salathiel và Zorobabel, là hai vua sau thời lưu đày có đời sống gương mẫu mà thôi (x Mt 1,12-13 : Tin Mừng).

Vậy đúng như Lời Đức Giê-su đã nói : “Tôi không đến để kêu gọi những người công chính, mà là những kẻ tội lỗi” (Mt 9,13).

5/ Đức Giê-su đặc biệt cứu độ người có tấm lòng tuyệt đối tùng phục Lời Chúa, đó chính là Đức Ma-ri-a, Mẹ của Ngài (x Mt 1,16 : Tin Mừng).

Ta biết, Đức Mẹ được truyền tin sinh Con Thiên Chúa trong một hoàn cảnh éo le, vì lúc ấy Mẹ đã đính hôn với ông Giuse, tuy chưa về chung sống một nhà, nhưng đã là vợ chồng chính thức trước pháp luật. Theo sách Ngụy kinh còn kể lại cho chúng ta : Cô Maria rất xinh đẹp và đầy nhân đức, cho nên chàng trai nào cũng muốn lấy làm vợ, vì quá đông các chàng theo đuổi, nên họ xin với vị thượng tế cầu nguyện cho họ, và chàng nào cũng mong mình trúng số lấy được cô Maria. Vị thượng tế có sáng kiến, bảo các chàng trai mỗi người cầm cây gậy và cùng đến cầu nguyện, gậy cậu nào nở bông, cậu ấy được lấy cô Maria. Thật là may mắn cho Giuse, gậy của ông đã nở hoa huệ. Cũng vì lý do đó mà hôm nay các tượng thánh Giuse, người ta thấy ngài cầm bông huệ, điều ấy xác nhận ngài là chồng của Đức Ma-ri-a đã được Thiên Chúa se định. Thế mà khi Thiên thần báo tin cho Đức Ma-ri-a thụ thai, thì Thiên thần lại nói Mẹ Maria là một trinh nữ, có nghĩa là Maria không trở thành vợ của ông Giuse như những người phụ nữ khác có đời sống lứa đôi! Điều ấy có trái với định mệnh của ông Giuse và Maria lấy nhau hay không ? Vì gậy của ông đã được Chúa cho

nở bông ? Và như vậy Mẹ cũng đã xác định rằng : mình là vợ chính thức của Giuse, vì đã được tiền định, bây giờ không ăn ở với ông Giuse mà lại mang bầu, thì biết ăn nói thế nào với xã hội, và liệu có tâm sự với Giuse, thì ông có tin hay không ? Chính ông Giuse khi biết Maria có thai, ông “đã định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo” (x Mt 1,18t).

Mẹ Maria vâng nghe Lời Chúa để sinh Con Đấng Tối Cao vào đời, đối với Mẹ là một đau khổ hơn là vinh dự, bởi vì Mẹ phải đối phó với bao nghịch cảnh luật xã hội thời bấy giờ.

Đặc biệt hơn nữa là khi Mẹ đứng dưới chân thập giá Đức Giê-su, tất cả lời Thiên Chúa hứa trong ngày Truyền Tin : “Con Bà là Con Đấng Tối Cao, Ngài sẽ làm Vua, triều đại của Ngài vô cùng tận” (Lc 1,32-33), và “Bà là người có phúc giữa các người phụ nữ” (Lc 1,42). Chắc chắn những lời ấy đâm tim Mẹ Maria khi Mẹ đứng nhìn Con bị treo trên thập giá (x Ga 19,25). Cứ như suy nghĩ của người đời thì Thiên Chúa đã dối gạt Mẹ Maria, thế mà Mẹ vẫn vững tin vào quyền năng và tình thương của Thiên Chúa, Mẹ đứng nhìn Con như một dũng tướng giữa chiến trường, Mẹ đứng lèo lái con thuyền Hội Thánh đang gặp sóng gió của niềm tin kinh hoàng nhất!

Do đó Mẹ Maria là mẫu của những người được Thiên Chúa cứu độ, Mẹ là hình ảnh Hội Thánh viên mãn trong ngày cánh chung.

Vậy nhờ Con Thiên Chúa làm người, Ngài đến thực hiện những lời chúc phúc cho dòng giống của ông Abraham, mà trong gia phả Đức Giê-su, tác giả Mat-thêu đã ghi nhận, để Ngài làm cho chúng ta trở thành cùng một xương thịt, cùng một sự sống, cùng vinh hiển với Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện (x Dt 2,11 ; Ga 6,57 ; Gl 2,20 ; 2Tm 2,10). Và ta hãy cầu nguyện : “Lạy Ngôi Lời khôn ngoan của Đấng Tối Cao, Ngài an bài mọi sự, mạnh mẽ nhưng dịu dàng. Xin đến mà chỉ dạy đường khôn ngoan cho chúng con” (Tung Hô Tin Mừng).

Những người như thế mới xứng đáng mở miệng tuyên xưng đức tin để ca tụng Thiên Chúa : “Triều đại Người, đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị đến muôn đời” (Tv 72/71,7 : Đáp ca).

THUỘC LÒNG

Thiên Chúa dùng quyền năng đang hoạt động nơi chúng ta mà làm gấp ngàn lần điều chúng ta dám cầu xin hay nghĩ tới (Ep 3,20).


o0o

Ngày 18 Tháng 12

Gr 23, 5-8 ; Mt 1, 18-24

BÀI ĐỌC : Gr 23, 5-8

5 Này, sẽ tới những ngày - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA - Ta sẽ làm nẩy sinh cho nhà Đa-vít

một chồi non chính trực.Vị vua lên ngôi trị vì sẽ là người khôn ngoan tài giỏi trong xứ sở, vua sẽ thi hành điều chính trực công minh.6 Thời bấy giờ, Giu-đa sẽ được cứu thoát, Ít-ra-en được sống yên hàn.Danh hiệu người ta tặng vua ấy sẽ là: "ĐỨC CHÚA, sự công chính của chúng ta." 7 Vì thế, này đây sẽ tới những ngày - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA - người ta không còn nói như sau nữa: "Nhân danh ĐỨC CHÚA hằng sống, Đấng đưa con cái Ít-ra-en lên khỏi đất Ai-cập! ",8 nhưng sẽ nói: "Nhân danh ĐỨC CHÚA hằng sống, Đấng đã đưa dòng dõi nhà Ít-ra-en lên khỏi đất phương Bắc và khỏi mọi miền đất Người đã xua họ đến, để họ được cư ngụ trên đất của họ! "

ĐÁP CA : Tv 71

Đ. Triều đại Người, đua nở hoa công lý

và thái bình thịnh trị đến muôn đờ. (x c 7)

1 Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương, trao công lý Ngài vào tay Thái Tử, 2 để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý, và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.

12 Người giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, 13 chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ.

18 Chúc tụng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa Ít-ra-en, chỉ có Ngài làm nên những công trình kỳ diệu. 19 Muôn muôn đời xin chúc tụng danh Chúa hiển vinh, ước gì vinh quang Chúa chiếu toả khắp hoàn cầu!

TUNG HÔ TIN MỪNG :

Hall-Hall : Lạy Chúa là Thủ Lãnh nhà Israel, Người đã ban Lề Luật cho ông Mô-sê trên núi Sinai. Xin ngự đến mà ra tay cứu chuộc loài người. Hall.

TIN MỪNG : Mt 1, 18-25

18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo.20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ."22 Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ:23 Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta."24 Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà.25 Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su.


CHÚA GIÊ-SU LÀ VUA ĐAVID MỚI ;

ĐẤNG GIẢI PHÓNG

Lý do thánh sử Mát-thêu đã ghi lại cuộc Truyền Tin cho ông Giu-se, chồng Đức Ma-ri-a (x Mt 1,18-24 : Tin Mừng), để xác tín rằng :

  • Đức Giê-su vừa là con của loài người, vừa là Con Thiên Chúa.
  • Đức Giê-su làm ứng nghiệm lời các ngôn sứ đã báo trước về Ngài.
  • Để người ta gọi con trẻ là Emmanuel : Thiên Chúa Ở Cùng Chúng Ta .
  • Mẹ Ma-ri-a sinh Con vẫn là một Trinh Nữ : Khuôn mẫu của Hội Thánh.

1/ ĐỨC GIÊ-SU VỪA LÀ CON LOÀI NGƯỜI, VỪA LÀ CON THIÊN CHÚA.

Ta biết 17 câu đầu của Tin Mừng Mát-thêu viết về gia phả của Đức Giê-su : “Ab-ra-ham sinh I-sa-ác, I-sa-ác sinh Gia-cóp, Gia-cóp sinh Giu-đa, … sinh Giu-se chồng của Đức Ma-ri-a, bà là Mẹ Đức Giê-su, cũng gọi là Đấng Ki-tô” (x Mt 1,1-17).

Nếu ông Mát-thêu chỉ viết như thế thì độc gỉa hiểu Đức Giê-su là con của ông Giu-se và bà Ma-ri-a theo nghĩa xác thịt ! Do đó trình thuật Thiên thần Truyền Tin cho ông Giu-se nhằm xác định : Đức Giê-su là Con bởi xương thịt của Đức Ma-ri-a, đồng thời là Con Thiên Chúa. Bởi vì Ma-ri-a có thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần, chứ không phải do ý muốn xác thịt của ông Giu-se và bà Ma-ri-a. Ông Giu-se chỉ là cha nuôi, người cha theo pháp luật, để Con Thiên Chúa sinh ra thuộc dòng tộc vua Đa-vít, vì ông Giu-se thuộc dòng Đa-vít. Và như thế là để ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã báo trước : “Ta sẽ làm nảy sinh cho nhà Đa-vít một chồi non chính trực. Vị vua lên ngôi trị vì sẽ là người khôn ngoan tài giỏi, danh hiệu là “Đức Chúa Sự Công Chính Của Chúng Ta”. Ngài giải phóng dân Ngài như ông Mô-sê đưa dân ra khỏi ách nô lệ Ai-Cập ; như vua Kyros giải phóng cho dân Chúa khỏi ách nô lệ Babylon trở về tái thiết đền thờ Giê-ru-sa-lem” (Gr 23,5-8 : Bài đọc). Để “triều đại Ngài đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị đến muôn đời” (Tv 72/71,7 : Đáp ca).

2/ ĐỨC GIÊ-SU LÀM ỨNG NGHIỆM LỜI CÁC NGÔN SỨ ĐÃ BÁO TRƯỚC VỀ NGÀI.

Thực vậy, cuộc Truyền Tin thứ nhất của sứ thần Ga-bri-en báo cho Đức Ma-ri-a sinh Con Thiên Chúa, do quyền năng Chúa Thánh Thần. Nếu sứ thần Ga-bri-en không Truyền Tin cho ông Giu-se, thì Con Thiên Chúa không thể sinh vào đời cách tốt đẹp được ! Bởi vì lúc ấy ông Giu-se “định tâm bỏ Ma-ri-a trốn đi một cách kín đáo” (Mt 1,19-20 : Tin Mừng). Vì trước khi ông Giu-se được giao phó trách nhiệm, ông rất lúng túng khi thấy Ma-ri-a có thai. Sự lúng túng của ông Giu-se trước bào thai của Đức Ma-ri-a đã diễn tả sự bất lực của Lề Luật :

* Nếu ông Giu-se không biết Thai Nhi do Chúa Thánh Thần, thì theo Luật ông phải tố cáo Ma-ri-a đã ngoại tình và ly hôn (x Dnl 22,13-27). Điều này ông không dám, vì ông biết Ma-ri-a là người rất nhân đức.

* Nếu ông biết Thai Nhi đó là do Chúa Thánh Thần, cứ theo Luật ông nhận Ma-ri-a, thì đương nhiên ông là cha Đấng Cứu Thế, nhiệm vụ cao cả này, khi chưa được trao trách nhiệm, làm sao ông dám nhận ?

* Nếu ông âm thầm trốn đi, thì đó là cách gián tiếp tố cáo Ma-ri-a ngoại tình, chắc chắn sẽ bị dân ném đá! Làm sao ông dám trốn ? Nhất là khi ông đã biết rõ Ma-ri-a có thai là do Chúa Thánh Thần !?

Rõ ràng ông Giu-se hành động cách nào cũng là có hại cho người vợ hiền và Thai Nhi vô tội! Qủa thật Luật bất lực giải quyết cho lương tâm của ông ! Bởi thế thánh Phao-lô qủa quyết : “Luật giam chúng ta trong tội !” (Gl 3,22) Trong lúc còn đang bối rối như thế thì chính tiếng Chúa nói qua lương tâm ông (được mộng báo), soi sáng cho ông phải quyết định đón Ma-ri-a về, để Con Thiên Chúa thuộc dòng Đa-vít theo pháp luật, vì “Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh bởi một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử.” (Gl 4,4). Nghĩa là nhờ ông Giu-se theo lệnh Chúa truyền đã đón Ma-ri-a về, nhờ vậy Ma-ri-a không bị Luật lên án, để qua đó Đức Maria cũng theo lệnh Đức Giê-su nhận ta, cho ta khỏi bị án của Lề Luật (x Ga 19,27 ; Gl 3,24), nhờ Hy Tế của Chúa Giê-su mà ông Giuse đã báo trước, vì ông được gọi là “người công chính” (x Mt 1,19), có nghĩa là ông đã dâng hiến Ma-ri-a người yêu của ông cho Thiên Chúa. Như thế, sự dâng hiến của ông Giu-se khác nào ông A-bel dâng con chiên cho Thiên Chúa và được Ngài chấp nhận (x St 4,4). Bởi lẽ hình ảnh con chiên mà ngôn sứ Nathan đã dùng để ám chỉ về một người vợ (x 2Sm 12). Nói cách khác ông Giuse dâng hiến người vợ cho Thiên Chúa, báo trước Hy Tế của Chúa Giê-su, Ngài chính là Con Chiên, làn Của Lễ trong Hy Tế mới được Chúa Cha chấp nhận. Đó là lý do mà chỉ có thánh sử Mát-thêu gọi ông Giu-se và ông A-bel là “người công chính” (x Mt 1,19 = Mt 23,35).

3/ LÝ DO NGƯỜI TA GỌI CON TRẺ LÀ EMMANUEL.

Người ta gọi Đấng Cứu Thế là Emmanuel, viết tắt là No-en, nghĩa là “Thiên Chúa Ở Cùng Chúng Ta” (x Mt 1,23 : Tin Mừng), báo trước sự Phục Sinh của Ngài. Vì chỉ khi Chúa Giê-su sống lại, Ngài mới nói với các Tông Đồ : “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (x Mt 28,20), đồng nghĩa với “Thiên Chúa Ở Cùng Chúng Ta”. Như vậy, tác gỉa Mát-thêu có ý nói : Con Thiên Chúa được sinh ra an toàn nhờ ông Giu-se tùng phục ý Chúa, làm cho Con Thiên Chúa ở cùng loài người để cứu chuộc nhân loại. Đúng như ý nghĩa tên Giê-su mà Thiên thần đã báo Đức cho Maria và ông Giu-se đặt cho Con Trẻ (x Lc 1,31 ; Mt 1,21 : Tin Mừng) [Giê-su phiên âm bởi tiếng Hy-Bá là Yehôshua, hoặc Yéshua có nghĩa Gia-vê là sự cứu độ], và Ngài chỉ thực sự cứu độ khi tự quyền từ cõi chết sống lại.

4/ MẸ MA-RI-A SINH CON VẪN LÀ MỘT TRINH NỮ : KHUÔN MẪU CỦA HỘI THÁNH.

Ta biết truyền thống Do Thái thời Cựu Ước không mong Đấng Cứu Thế sinh ra bởi một trinh nữ. Đối với họ, “trinh” là một sự tủi nhục, như con gái ông Giép-tê than khóc suốt hai tháng vì cô còn trinh, không xứng đáng để cha sát tế làm hiến vật tạ ơn Thiên Chúa đã giúp cha cô thắng quân thù ! (x Tp 11, 29-40)

Thực ra, lời ngôn sứ I-sai-a (7,14) theo nguyên bản bằng tiếng Hipri chỉ nói người nữ ấy là “Almah” có nghĩa là cô vợ trẻ hay một thiếu nữ (không xác định là còn hay mất trinh) ; nhưng Bản 70, viết bằng tiếng Hy Lạp lại xác định người nữ ấy là “Parthenos” (trinh nữ). Đức Giê-su và các Tông Đồ dùng bản văn này để giảng dạy, và sau này thánh Giê-rô-ni-mô dịch bản văn này sang tiếng La Tinh, gọi là bản văn Vulgata (bản Phổ Thông), ông cũng xác định là Trinh Nữ như bản 70, bản này được Hội Thánh dùng trong Phụng Vụ.

Vậy đức đồng trinh của Mẹ Maria báo trước về Hội Thánh là Trinh Nữ, Hiền Thê của Chúa Ki-tô (x Mt 25,1t ; 2 Cr 11,2).

Tới đây, người Công Giáo có dịp đối thoại với anh em Tin Lành, khi họ dựa vào ba chứng từ trong Thánh Kinh để phủ nhận việc Đức Ma-ri-a sau khi sinh Con không còn đồng trinh. Điều này nghịch với giáo lý Công Giáo, chúng ta phải trả lời thế nào?

  • Đức Giê-su đang giảng dạy, Mẹ Ngài và ANH EM đến tìm” (Lc 8,20). Anh em Tin Lành hiểu đó là anh em ruột của Đức Giê-su.

Giáo lý Công giáo trả lời : Từ “ANH EM” trong tiếng Hipri (Do Thái) là Ăch hoặc trong tiếng Hy Lạp là Adelphoi, từ này vừa có nghĩa là anh em ruột, cũng có nghĩa là anh em họ, giống như tiếng Việt Nam, con chú gọi là em, con bác thì gọi là anh. Ông Lót là cháu của ông Abraham, và Abraham là chú của Lót, thế mà ông Abraham gọi cháu Lót bằng từ Adelphoi (x St 13,8 ; 14,12 ; 29,10).

Nếu Đức Giê-su còn những người anh em khác, thì không lẽ trước giờ chết Ngài không để cho anh em ruột đưa Mẹ về nhà mình, mà Ngài lại phải nhờ ông Gio-an? (x Ga 19,25-27).

Về mặt tín lý, Đức Ma-ri-a là khuôn mẫu của Hội Thánh, là hình ảnh Hội Thánh vẹn toàn thời cánh chung, mà Hội Thánh được Đức Giê-su ví như những cô trinh nữ đi đón chàng rể vào dự tiệc cưới (x Mt 25,1-13). Do đó, Hội Thánh tin Đức Ma-ri-a là hiện thân những cô trinh nữ khôn ngoan theo chàng rể vào dự tiệc cưới. Hội Thánh được gọi là Trinh Nữ giống Đức Ma-ri-a, có nghĩa là Đức Ma-ri-a sinh Đức Giê-su là Đầu của Hội Thánh, Mẹ không liên hệ tới một người khác phái, thì Hội Thánh sinh các Ki-tô hữu là chi thể trong Thân Mình Mầu Nhiệm Chúa Giê-su Phục Sinh : Cả Đức Ma-ri-a, cả Hội Thánh đều sinh Chúa Giê-su Phục Sinh cách mầu nhiệm, mà không liên hệ với một người trần thế nào.

Anh em Tin Lành lại vịn vào câu : “Bà Ma-ri-a đã sinh CON ĐẦU LÒNG” (Lc 2,7), mà đã sinh con đầu lòng thì có nghĩa là còn sinh những người con khác !

Giáo lý Công Giáo trả lời : Tác giả Lu-ca ghi người con đầu lòng của Đức Ma-ri-a là có ý nhấn mạnh : gia đình Nadaret rất cẩn thủ giữ Lề Luật Chúa (x Lc 2,22-40). Do đó nói đến con đầu lòng chỉ có ý nhấn mạnh : Ma-ri-a dâng con đầu lòng cho Thiên Chúa theo Luật Do Thái quy định (x Xh 13).

Anh em Tin Lành lại dựa vào câu : “Giu-se và Ma-ri-a không ăn ở với nhau CHO ĐẾN KHI bà sinh con” (Mt 1,25). Có nghĩa là anh em Tin Lành vẫn tin Đức Giê-su được sinh ra là do quyền năng Chúa Thánh Thần, lúc ấy Đức Ma-ri-a vẫn còn là một trinh nữ. Nhưng sau đó lại ăn ở với ông Giu-se và sinh nhiều người con khác !

Giáo lý Công Giáo trả lời : Thành ngữ “CHO ĐẾN KHI” trong Thánh Kinh sử dụng có ý công bố một điều đã có, đang có và không bao giờ mất, như Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20), thì không có nghĩa là Chúa chỉ ở với Hội Thánh cho đến ngày tận thế là thôi ! Mà phải hiểu rằng Chúa đã ở với Hội Thánh, đang ở với Hội Thánh và ở với Hội Thánh mãi mãi ! Do đó, “Giu-se và Ma-ri-a không ăn ở với nhau cho đến khi bà sinh con” thì phải hiểu theo nghĩa này.

Sau khi chúng ta đã tìm hiểu và suy niệm cuộc Truyền Tin cho Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se, để chúng ta phải xác quyết : Dù Thiên Chúa thương chúng ta đến thế, và dù Ngài là Đấng toàn năng và giàu lòng xót thương (x Ep 2,4), nhưng Ngài vẫn cần đến Mẹ Ma-ri-a và thánh Giu-se cộng tác : Thánh Giu-se và Mẹ Ma-ri-a đã hy sinh hưởng đời sống vợ chồng, để hoàn toàn làm theo ý Chúa : Mẹ Ma-ri-a là E-và mới không giống như E-và xưa, Mẹ hoàn toàn xin vâng nghe Lời Chúa, để quyền năng Lời Chúa hoạt động nơi Mẹ (x Lc 1,38), còn thánh Giu-se, ba lần ông mau mắn chỗi dậy làm theo ý Chúa, để Con Thiên Chúa hai lần thoát chết, trở thành Mô-sê mới giải phóng cho muôn dân thoát satan, thoát tử thần .

  1. Mt 1,24 : Được mộng báo, ông Giu-se đã mau mắn chỗi dậy rước Ma-ri-a về nhà, để mẹ con khỏi bị ném đá, khỏi chết nhục vì Luật !
  2. Mt 2,13 : Được mộng báo, ban đêm ông Giu-se chỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Ngài trốn qua Ai-Cập, thoát khỏi bàn tay độc ác của vua Hê-rô-đê.
  3. Mt 2,20 : Được mộng báo, ông Giu-se lại chỗi dậy đưa mẹ con Ma-ri-a trở về quê nhà, để thực hiện sứ mệnh cứu dân như ông Mô-sê.

Ba lần ông Giu-se chỗi dậy làm theo ý Chúa là báo trước : Đức Giê-su con ông Giu-se sau ba ngày được an táng trong mồ, Ngài cũng chỗi dậy (Phục Sinh), để đưa cả loài người thoát sự dữ vào cõi sống hạnh phúc vĩnh hằng, giống như ông Giu-se chỗi dậy thực thi ý Chúa để làm cho Đức Ma-ri-a và Hài Nhi Giê-su thoát sự dữ, hầu cả hai Mẹ-Con cũng đưa cả loài người thoát sự dữ vào sự sống hạnh phúc vĩnh hằng.

Nhưng Chúa không chỉ trao trách nhiệm cho thánh Giu-se và Mẹ Ma-ri-a, mà còn muốn trao cho cả chúng ta nữa, “những kẻ đã được hiệu triệu theo Đức Ki-tô để giảng truyền sự vâng phục Đức Tin cho mọi dân tộc”(x Rm 1,6). Vì Em-ma-nu-en không chỉ ứng nghiệm nơi Thánh Gia Thất, mà còn ứng nghiệm nơi tâm hồn mọi người. Ơn này đã được tiên báo qua hình ảnh tấm lông chiên của ông Ghê-đê-ôn :

Ông Ghê-đê-ôn khi làm thủ lãnh dân Do-Thái, đang bị áp lực của quân Mê-đi-an. Ông lo lắng không biết có nên xuất chinh đánh Mê-đi-an hay xin hàng ? Ông đã cầu nguyện xin Chúa cho ông một dấu : Nếu tấm lông chiên đặt ngoài sân, qua một đêm mà tấm lông chiên đẫm sương, còn chung quanh đất khô ráo, thì đó là dấu Chúa ủng hộ ông xuất quân. Qủa nhiên, sáng hôm sau, ông vắt được cả tô nước từ tấm lông chiên, đất xung quanh vẫn khô ráo ! Đó là dấu chỉ lần thứ nhất Thiên Chúa chiếm đoạt Ma-ri-a – trong cuộc truyền tin – để Ma-ri-a trở nên nguồn ơn cứu độ cho muôn dân.

Hôm sau, ông lại đặt tấm lông chiên ngoài sân, và cầu xin : Nếu Chúa ủng hộ ông xuất binh, thì cho tấm lông chiên khô ráo, còn đất chung quanh thì ướt đẫm. Qủa đúng như lời ông xin. Thế là ông hạ lệnh xuất quân chinh phạt Mê-đi-an trong chiến thắng lẫy lừng ! (x Tp 6,36-40) Đó là dấu chỉ lần thứ hai, Thiên Chúa chiếm đoạt ông Giu-se – trong cuộc truyền tin cho ông – để ông Giu-se làm cho mọi người nhận biết Lời Đức Giê-su cứu độ muôn dân. Thực vậy, từ khi Đức Giê-su bắt đầu giảng ở đền thờ Giê-ru-sa-lem (Hội Thánh) lúc lên 12 tuổi, thì sau đó không còn ai biết đến ông Giu-se nữa, vì ông đã hoàn tất nhiệm vụ của mình ! (x Lc 2,41t)

Mùa Vọng nào trong các Giáo đường cũng vang lên tiếng ca : “Trời cao hãy đổ sương xuống, mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính” (x Is 45,8) trong niềm xác tín:

  • Sương trời là Ngôi Hai.
  • Tấm lông chiên là Đức Ma-ri-a (thấm sương trời).
  • Đất là thánh Giu-se và mọi người trong Hội Thánh(cũng thấm sương trời).

Vậy Đấng Em-ma-nu-en đã ở cùng Đức Ma-ri-a, ở cùng thánh Giu-se (sương đẫm lông chiên) chưa đủ bảo đảm chắc chắn ơn cứu độ cho ta, mà Đấng Em-ma-nu-en còn phải ở với tâm hồn mọi người (đất đẫm sương trời), đặc biệt nhất là lúc ta rước Lễ, mới đảm bảo ơn cứu độ cho người được Chúa thương ! Ta hãy cầu nguyện : “Lạy Chúa là Thủ Lãnh nhà Israel, Ngài đã ban Lề Luật cho ông Mô-sê trên núi Sinai, xin ngự đến mà ra tay cứu chuộc loài người” (Tung Hô Tin Mừng).

THUỘC LÒNG.

Trời cao hãy đổ sương xuống, mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính! (Is 45,8)

 

Tác giả: Đinh Quang Thịnh, Lm.
   dunglac@gmail.com