Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Đinh Quang Thịnh, Lm.
Bài Viết Của
Đinh Quang Thịnh, Lm.
ĐẤNG GIẢI PHÓNG ĐÍCH THỰC ! (CN IV MÙA VỌNG A)

CHÚA NHẬT 4 MÙA VỌNG

NĂM A

Is 7,10-14 ; Rm 1,1-7 ; Mt 1,18-24

BÀI ĐỌC I : Is 7,10-14

10 Khi ấy, Đức Chúa sai ngôn sứ nói với vua A-khát rằng : 11 "Ngươi cứ xin Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi một dấu dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh." 12 Vua A-khát trả lời : "Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách Đức Chúa." 13 Ông I-sai-a bèn nói: "Nghe đây, hỡi nhà Đa-vít! Các ngươi làm phiền thiên hạ chưa đủ sao, mà còn muốn làm phiền cả Thiên Chúa của tôi nữa ?14 Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu : Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.

ĐÁP CA : Tv 23

Đ. Chúa sẽ ngự vào :

Chính Người là Đức Vua vinh hiển. (7c.10b)

1 Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài, làm chủ hoàn cầu với toàn thể dân cư.2 Nền trái đất, Người dựng trên biển cả, đặt vững vàng trên làn nước mênh mông.

3 Ai được lên núi Chúa ? Ai được ở trong đền thánh của Người ? 4ab Đó là kẻ tay sạch lòng thanh, chẳng mê theo ngẫu tượng.

5 Người ấy sẽ được Chúa ban phúc lành, được Thiên Chúa cứu độ thưởng công xứng đáng.6 Đây chính là dòng dõi những kẻ kiếm tìm Người, tìm thánh nhan Thiên Chúa nhà Gia-cóp.

BÀI ĐỌC II : Rm 1,1-7

1 Tôi là Phao-lô, tôi tớ của Đức Ki-tô Giê-su; tôi được gọi làm Tông Đồ, và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa.2 Tin Mừng ấy, xưa Người đã dùng các ngôn sứ của Người mà hứa trước trong Kinh Thánh.3 Đó là Tin Mừng về Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. 4 Nhưng xét như Đấng đã từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng. 5 Nhờ Người, chúng tôi đã nhận được đặc ân và chức vụ Tông Đồ, làm cho hết thảy các dân ngoại vâng phục Tin Mừng hầu danh Người được rạng rỡ.6 Trong số đó, có cả anh em, là những người đã được kêu gọi để thuộc về Đức Giê-su Ki-tô.7 Kính gửi tất cả anh em ở Rô-ma, những người được Thiên Chúa yêu thương, được kêu gọi làm dân thánh. Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giê-su Ki-tô ban cho anh em ân sủng và bình an.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Mt 1,23

Hall-Hall : Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Hall.

TIN MỪNG : Mt 1,18-24

18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ."22 Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ:23 Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta."24 Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà.

ĐẤNG GIẢI PHÓNG ĐÍCH THỰC !

Chúa nhật cuối cùng của Mùa Vọng này, tâm hồn người tín hữu nào cũng nao nức hướng về niềm vui ơn cứu độ, mà Thiên Chúa bắt đầu thực hiện lời hứa từ ngày nguyên tổ loài người phạm Luật, như lời Ngài đe phạt con rắn : “Miêu duệ người phụ nữ sẽ đạp nát đầu mi, còn mi rình táp gót chân Ngài mà không nổi” (St 3,15 – Bản văn của NTT). Phụng Vụ hôm nay khai triển cho chúng ta gía trị Lời Chúa hứa được thực hiện, để chúng ta còn có sứ mệnh loan báo Tin Mừng cứu độ đến với mọi người thành tâm.

1- CON THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI ĐỂ GIẢI PHÓNG TA KHỎI ÁCH LỀ LUẬT.

Để nhận ra chân lý này chúng ta phải tìm hiểu lý do :

Tại sao chỉ có tác gỉa Mát-thêu ghi lại cuộc Truyền Tin cho ông Giu-se ?

Có hai lý do chính mà thánh sử Mat-thêu đã ghi lại cuộc Truyền Tin này :

a- Để Đức Giê-su vừa là con loài người, vừa là Con Thiên Chúa. Vì 17 câu đầu của Tin Mừng Mt viết về gia phả của Đức Giê-su : “Đức Ki-tô Giê-su là con vua Đa-vít, con Ab-ra-ham, Ab-ra-ham sinh I-sa-ác, I-sa-ác sinh Gia-cóp, Gia-cóp sinh Giu-đa, … sinh Giu-se chồng của Đức Ma-ri-a, bà là Mẹ Đức Giê-su, cũng gọi là Đấng Ki-tô” (x Mt 1,1-17).

Nếu ông Mát-thêu chỉ viết như thế thì độc gỉa hiểu Đức Giê-su là con của ông Giu-se và bà Ma-ri-a, người con theo nghĩa xác thịt ! Do đó trình thuật Truyền Tin cho ông Giu-se có ý xác định : Đức Giê-su là con bởi xương thịt của Đức Ma-ri-a, đồng thời là Con Thiên Chúa. Do ý muốn của Thiên Chúa qua tác động của Chúa Thánh Thần, mà Đức Ma-ri-a sinh Đức Giê-su, chứ không phải do ý muốn của ông Giu-se và bà Ma-ri-a. Ông Giu-se chỉ là cha nuôi, hoặc là cha theo pháp luật, để Con Thiên Chúa sinh ra thuộc dòng tộc vua Đa-vít. Vì thế mà thánh Tông Đồ xác quyết : “Chính từ dòng dõi Đa-vit, Thiên Chúa chiếu theo lời hứa đã dẫn đến cho Israel Vị Cứu Tinh Giê-su” (x Cv 12,23).

b- Để Đấng Cứu Thế được sinh ra cho loài người. Thực vậy, cuộc Truyền Tin thứ nhất của sứ thần Gabriel, làm cho Con Thiên Chúa sinh trong lòng Đức Ma-ri-a, nếu sứ thần Gabriel không Truyền Tin cho ông Giu-se, thì Con Thiên Chúa không thể sinh vào đời cách tốt đẹp được !

Do đó ông Giu-se được gọi là đấng công chính, có nghĩa là ông đã để cho Thiên Chúa đoạt lấy Ma-ri-a, người yêu của ông, và như vậy Ma-ri-a không còn thuộc quyền của ông nữa, vì ông đã hiến dâng vợ mình cho Thiên Chúa, còn hơn ông A-ben xưa đã tiến dâng cho Chúa con chiên qúy nhất trong đàn, tiên báo Chúa Giê-su là Của Lễ Con Chiên Thiên Chúa, mới được Cha trên trời ưng nhận. Ta lại biết ngôn sứ Na-tan gọi người vợ là con chiên của chồng (x 2Sm 12). Đó là lý do mà tác gỉa Tin Mừng Mat-thêu gọi ông Giu-se và ông A-ben là đấng công chính ! (x Mt 1,19 = Mt 23,35). Bởi lẽ được liên hệ với Hy Tế của Chúa Giê-su.

Vậy thái độ lúng túng của ông Giu-se trước bào thai của Đức Ma-ri-a đã diễn tả sự bất lực của Lề Luật.

* Nếu ông Giu-se không biết Thai Nhi do Chúa Thánh Thần, thì theo Luật ông phải tố cáo Ma-ri-a đã ngoại tình nên phải ly hôn (x Dnl 22,13-27).

* Nếu ông biết Thai Nhi đó là do Chúa Thánh Thần, cứ theo Luật ông nhận Ma-ri-a, thì đương nhiên ông là cha Đấng Cứu Thế, nhiệm vụ cao cả này, khi chưa được trao trách nhiệm, làm sao ông dám nhận ?

* Nếu ông âm thầm trốn đi, thì đó là cách gián tiếp tố cáo Ma-ri-a ngoại tình !

Rõ ràng ông Giu-se hành động cách nào cũng là có hại cho người vợ hiền và Thai Nhi vô tội! Qủa thật, Luật bất lực giải quyết cho lương tâm của ông ! Bởi thế thánh Phao-lô qủa quyết : “Luật giam chúng ta trong tội !” (Gl 3,22). Trong lúc còn đang bối rối như thế thì chính tiếng Chúa nói qua lương tâm ông (được mộng báo), soi sáng cho ông phải quyết định đón Ma-ri-a về, để Con Thiên Chúa thuộc dòng Đa-vít theo pháp luật, vì “Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử.” (Gl 4,4) Nghĩa là nhờ ông Giu-se theo lệnh Chúa truyền nhận Ma-ri-a, Ma-ri-a không bị Luật lên án, để qua đó Đức Maria cũng theo lệnh Đức Giê-su nhận ta, để ta khỏi bị án của Lề Luật ! (x Ga 19,27 ; Gl 3,24).

Nhờ lòng yêu thương đặc biệt của Thiên Chúa, mà Người đã giải phóng cho Mẹ Maria và Hài Nhi thoát án phạt của Lề Luật, trở thành lý do Thiên Chúa muốn giải phóng cho cả loài người. Điều này đã được tiên báo qua ngôn sứ I-sai-a (x Is 7,10-14 : Bài đọc I) : Tình thương của Thiên Chúa đã giải phóng cho dân Do-Thái đang trong hoàn cảnh tuyệt vọng :

Vào năm -733, Teglat Phalasar làm vua đế quốc Át-sua, muốn thôn tính các nước nhỏ xung quanh làm chư hầu. Nghe tin này, hai nước Sy-ri-a và Is-ra-el rủ A-khát, vua Giu-đa liên minh chống lại đế quốc Át-sua, nhưng vua A-khát không đồng ý với hai nước láng giềng, lại đi cầu cứu với Át-sua, và tự nhận mình là con của Teglat Phalasar, hòng Is-ra-en thoát ách nô lệ Át-sua. Do đó, Sy-ri-a và Is-ra-el kéo quân chinh phạt A-khát, vua Át-sua biết thế cũng không bênh đỡ ! Thấy vậy, vua A-khát liền lấy châu báu trong đền thờ Giê-ru-sa-lem dâng vua Át-sua để cầu viện ! Vua A-khát lại còn thiêu sống con trai mình để tế cho thần Đa-ma, ông còn lập tế đàn thờ thần ngoại ngay trong đền thờ Giê-ru-sa-lem! Cách sống của vua A-khát như thế, qủa thật là đắc tội với Chúa! Do đó Thiên Chúa sai ngôn sứ đến qủơ trách ông:

    • Làm phiền lòng người ta còn cho là qúa ít sao ?” (x Is 7,13a) Tức là ông không chịu liên minh với Syria và Israel để chống lại Át-sua.
    • Lại còn  làm phiền lòng Thiên Chúa”(x Is 7,13b). Ông đã tế con cho thần ngoại giáo, xưng mình là con của vua Teglat, tự hạ thấp dân tộc mình, vì dân Do-Thái vẫn tự hào là con Thiên Chúa ! (x Tv 2,7) Lấy đồ phụng tự dâng cho vua ngoại giáo là ngạo nghễ với Thiên Chúa, trông cậy vào thế lực trần gian, nghịch lại với niềm tin dân Do-Thái : chỉ cậy dựa vào danh Gia-vê mà thôi ! (x Tv 20/19,8)

Dù tội lỗi của ông nặng đến thế, Thiên Chúa vẫn sai ngôn sứ đến động viên ông cầu nguyện xin Chúa cho ông một dấu, vì chỉ có Chúa mới là Đấng cứu độ triều đại của ông. Nhưng ông nói không dám xin Chúa, hoặc là vì ông không đủ lòng trông cậy vào Thiên Chúa, hoặc ông mặc cảm vì tội lỗi, hoặc là ông không hiểu được lòng khoan dung của Thiên Chúa. Thế mà Chúa vẫn thương, ban cho một dấu : “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-el.” (Is 7,14) Vì ai có Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng – thì họ :

    • Được Chúa trao nhiệm vụ vượt khả năng và Ngài giúp họ thành đạt hơn lòng mơ ước, đan cử như Thiên Chúa ở cùng ông Mô-sê, Ngài giúp ông làm nhiều phép lạ phi thường, để vua Pharaon phải chấp nhận cho ông đưa dân Do Thái ra khỏi đất Ai Cập (x Xh 3,12).
    • Các Tông Đồ được Chúa trao nhiệm vụ làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Ngài, quả thật là vượt quá khả năng của các ông. Nhưng khi được Chúa ở cùng, các ông lên đường thi hành sứ mệnh, ngay bài giảng đầu tiên của thủ lãnh Phê-rô, ông đã tập họp thêm 3.000 người về cho Chúa (x Mt 28, 19-20 ; Cv 2,41).
    • Không có sự dữ nào thắng được các Tông Đồ, dù uống nhằm thuốc độc, dù bị rắn cắn cũng không hề hấn chi ! (x Mc 16,14-20)
    • Được Chúa ban tràn đầy ơn phúc như lời thiên thần chào mừng Đức Ma-ri-a (x Lc 1,28).

Như vậy, Thiên Chúa cứu độ chúng ta không phải vì ta xứng đáng, mà vì danh dự của Chúa (x Tv 143/142,11). Ngôn sứ I-sai-a nói : “Chúa mà để con trong âm phủ, thì lấy ai ca tụng Chúa ?” (Is 38,18). Và khi Thiên Chúa chính thức ban ơn cứu độ cho muôn dân, Ngài còn ban ơn cho ta vì Đức Tin của Đức Ma-ri-a : “Xin Chúa làm cho con theo lời sứ thần nói.” (Lc 1,38). Rõ ràng Đức Tin của Bà hoàng Ma-ri-a hơn hẳn ông hoàng A-khát xưa ! Vì Đức Maria tuyệt đối tin vào quyền năng, tình thương của Chúa, nên Chúa để cho Mẹ làm ứng nghiệm Lời Chúa đã hứa ban Đấng Cứu Độ : “Thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuel” (Is 7,14b : Bài đọc I).

Thực ra, lời ngôn sứ I-sai-a (7,14) theo bản văn Hipri, người nữ ấy là “Ălmah” chỉ có nghĩa là cô vợ trẻ hay một thiếu nữ (không xác định còn trinh) ; nhưng Bản 70, bằng tiếng Hy Lạp và bản Vulgata (bản Phổ Thông) bằng tiếng La Tinh, thì lại xác định người nữ ấy là “Parthenos” (trinh nữ).

Truyền thống Do-Thái thời ấy không mong Đấng Cứu Thế sinh ra bởi một trinh nữ. Đối với họ, “trinh” là một sự tủi nhục, như con gái ông Giép-tê than khóc suốt hai tháng vì cô còn là trinh nữ, không xứng đáng để làm hiến vật tạ ơn Thiên Chúa đã giúp cha cô thắng quân thù ! (x Tp 11, 29-40)

Sự trinh khiết của Đức Maria vừa để xác định Mẹ sinh Con bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, vì Con Mẹ là Con Một Chúa Cha ; vừa trở nên dấu chỉ Hội Thánh Chúa Ki-tô như những cô trinh nữ khôn ngoan (x Mt 25,1-13), diễn tả Hội Thánh không liên hệ xác thịt với ai mà vẫn sinh các Ki-tô hữu là chi thể trong Thân Mình Mầu Nhiệm Chúa Ki-tô.

2- CHÚA MUỐN TA CỘNG TÁC.

Chúng ta cũng phải ngoan ngoãn tùng phục và thực hành ý Chúa để cộng tác với Thiên Chúa như ông Giuse. Ngôn sứ I-sai-a nói về tên Đấng Cứu Thế là Emmanuel (x Is 7,14), nhưng tại sao thiên thần lại bảo ông Giu-se đặt tên cho con trẻ là Giê-su ?

Thực ra, danh hiệu “Emmanuel” (viết tắt là No-en), nghĩa là “Chúa ở cùng loài người” báo trước về sự phục sinh của Đấng Cứu Thế. Vì chỉ khi Đức Giê-su sống lại, Ngài mới nói với các Tông Đồ : “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20b). Như vậy, tác gỉa Mát-thêu có ý nói : Con Thiên Chúa sinh ra được an toàn là nhờ ông Giu-se đã tùng phục ý Chúa, nên ông mau mắn đón Ma-ri-a về, ông đã làm cho Con Thiên Chúa ở cùng loài người, để cứu chuộc con người, đúng như ý nghĩa tên Giê-su mà thiên thần báo cho Đức Maria và ông Giu-se đặt cho Con Trẻ (x Lc 1, 31 ; Mt 1,21) [Giê-su phiên âm bởi tiếng Hy-Bá là Yehôshua, hoặc Yéshua có nghĩa Gia-vê là sự cứu độ], và Ngài chỉ thực sự cứu độ khi Ngài từ cõi chết sống lại, để mọi ngày ở cùng những ai sống trong Hội Thánh. Bởi thế, thánh sử Mát-thêu viết câu mở đầu Tin Mừng: “Nữ trinh sẽ thụ thai và sinh Con, và người ta sẽ gọi tên Ngài là Emmanuel, được dịch làThiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23 : Tung Hô Tin Mừng). Để rồi cuối Tin Mừng, ông ghi Lời Chúa hứa với các môn đệ : “Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (x Mt 28,20b).

Dù Thiên Chúa thương loài người đến thế, và dù Ngài tỏ quyền năng cứu độ, vì danh dự Ngài, vì Đức Ma-ri-a, Mẹ Ngài, nhưng Chúa vẫn muốn mời gọi ta cộng tác theo mẫu gương thánh Giu-se : ba lần ông mau mắn chỗi dậy làm theo Lời Chúa để thoát tay thần chết, đem ơn cứu độ đến cho mọi người :

  1. Mt 1,24 : Được mộng báo, ông Giu-se đã mau mắn chỗi dậy rước Ma-ri-a về nhà, để mẹ con khỏi bị ném đá, khỏi chết nhục vì Luật !
  2. Mt 2,13 : Được mộng báo, ban đêm ông Giu-se chỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Ngài trốn qua Ai-Cập, thoát khỏi bàn tay độc ác của vua Hê-rô-đê.
  3. Mt 2,20 : Được mộng báo, ông Giu-se lại chỗi dậy đưa mẹ con Ma-ri-a trở về quê nhà, để thực hiện sứ mệnh cứu dân như ông Mô-sê.

Tông Đồ Phao-lô nhận thức được nguồn ơn cứu độ Chúa đã thực hiện qua Mầu Nhiệm Nhập Thể của Con Một Ngài, và đã nhận ra ơn gọi của mình được Chúa tách riêng để chuyên lo việc loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Nhưng Chúa không chỉ trao trách nhiệm riêng cho ông Phao-lô, mà Ngài còn cho cả chúng ta nữa, những kẻ đã được hiệu triệu theo Chúa Ki-tô để giảng truyền sự vâng phục Đức Tin cho mọi dân tộc (x Rm 1,1-7 : Bài đọc II). Vì Emmanuel không chỉ ứng nghiệm nơi Thánh Gia Thất, mà còn ứng nghiệm nơi tâm hồn mọi người. Ơn này đã được tiên báo qua hình ảnh tấm lông chiên của ông Ghê-đê-ôn :

Ông Ghê-đê-ôn khi làm thủ lãnh dân Do-Thái, đang bị áp lực do quân Mê-đi-an. Ông lo lắng không biết có nên xuất chinh đánh Mê-đi-an hay xin hàng ? Ông đã cầu nguyện xin Chúa cho ông một dấu : Nếu tấm lông chiên đặt ngoài sân, qua một đêm mà tấm lông chiên đẫm sương, còn chung quanh đất khô ráo, thì đó là dấu Chúa ủng hộ ông xuất quân. Qủa nhiên, sáng hôm sau, ông vắt được cả tô nước từ tấm lông chiên, đất xung quanh vẫn khô ráo ! Đó là dấu chỉ lần thứ nhất Thiên Chúa chiếm đoạt Ma-ri-a – trong cuộc truyền tin – để Ma-ri-a trở nên nguồn ơn cứu độ cho muôn dân.

Hôm sau, ông lại đặt tấm lông chiên ngoài sân, và cầu xin : Nếu Chúa ủng hộ ông xuất binh, thì cho tấm lông chiên khô ráo, còn đất chung quanh thì ướt đẫm. Qủa đúng như lời ông xin. Thế là ông hạ lệnh xuất quân chinh phạt Mê-đi-an trong chiến thắng lẫy lừng ! (x Tp 6,36-40) Đó là dấu chỉ lần thứ hai, Thiên Chúa chiếm đoạt ông Giu-se – trong cuộc truyền tin cho ông – để ông Giu-se làm cho mọi người nhận biết Lời Đức Giê-su cứu độ muôn dân. Thực vậy, từ khi Đức Giê-su bắt đầu giảng ở đền thờ Giê-ru-sa-lem (Hội Thánh) lúc lên 12 tuổi, thì không còn ai biết đến ông Giu-se nữa, vì ông đã hoàn tất nhiệm vụ của mình ! (x Lc 2,41t)

Vì thế mùa Vọng nào trong các Giáo Đường cũng vang lên tiếng ca : “Trời cao hãy đổ sương xuống, mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính” (x Is 45,8) trong niềm xác tín:

      • Sương trời là Ngôi Hai.
      • Tấm lông chiên là Đức Ma-ri-a, thánh Giu-se.
      • Đất là mọi người trong Hội Thánh.

Vậy Đấng Emmanuel đã ở cùng Đức Ma-ri-a, ở cùng thánh Giu-se (sương đẫm lông chiên) chưa đủ bảo đảm chắc chắn ơn cứu độ cho ta, mà Đấng Emmanuel còn phải ở với tâm hồn mỗi người (đất đẫm sương trời), đặc biệt lúc ta rước Lễ mới bảo đảm ơn cứu độ cho người được Chúa thương ! Để “Chúa sẽ ngự vào, chính Người là Đức Vua vinh hiển” (Tv 24/23,7c.10b : Đáp ca).

THUỘC LÒNG.

Trời cao hãy đổ sương xuống, mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính! (Is 45,8)

Tác giả: Đinh Quang Thịnh, Lm.
   dunglac@gmail.com