Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Đinh Quang Thịnh, Lm.
Bài Viết Của
Đinh Quang Thịnh, Lm.
LỜI CHÚA MỖI NGÀY TRONG TUẦN TỪ 20/12/2010 ĐẾN 24/12/2010 - NĂM A

Đinh Quang Thịnh

o0o


Chúa Nhật IV - Mùa Vọng

Ngày 20 Tháng 12

Ngày 21 Tháng 12

Ngày 22 Tháng 12

Ngày 23 Tháng 12

Ngày 24 Tháng 12


o0o

Chúa Nhật IV - Mùa Vọng

NĂM A

Is 7,10-14 ; Rm 1,1-7 ; Mt 1,18-24

BÀI ĐỌC I : Is 7,10-14

10 Khi ấy, Đức Chúa sai ngôn sứ nói với vua A-khát rằng : 11 "Ngươi cứ xin Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi một dấu dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh." 12 Vua A-khát trả lời : "Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách Đức Chúa." 13 Ông I-sai-a bèn nói: "Nghe đây, hỡi nhà Đa-vít! Các ngươi làm phiền thiên hạ chưa đủ sao, mà còn muốn làm phiền cả Thiên Chúa của tôi nữa ?14 Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu : Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.

ĐÁP CA : Tv 23

Đ. Chúa sẽ ngự vào :

Chính Người là Đức Vua vinh hiển. (7c.10b)

1 Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài, làm chủ hoàn cầu với toàn thể dân cư.2 Nền trái đất, Người dựng trên biển cả, đặt vững vàng trên làn nước mênh mông.

3 Ai được lên núi Chúa ? Ai được ở trong đền thánh của Người ? 4ab Đó là kẻ tay sạch lòng thanh, chẳng mê theo ngẫu tượng.

5 Người ấy sẽ được Chúa ban phúc lành, được Thiên Chúa cứu độ thưởng công xứng đáng.6 Đây chính là dòng dõi những kẻ kiếm tìm Người, tìm thánh nhan Thiên Chúa nhà Gia-cóp.

BÀI ĐỌC II : Rm 1,1-7

1 Tôi là Phao-lô, tôi tớ của Đức Ki-tô Giê-su; tôi được gọi làm Tông Đồ, và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa.2 Tin Mừng ấy, xưa Người đã dùng các ngôn sứ của Người mà hứa trước trong Kinh Thánh.3 Đó là Tin Mừng về Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. 4 Nhưng xét như Đấng đã từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng. 5 Nhờ Người, chúng tôi đã nhận được đặc ân và chức vụ Tông Đồ, làm cho hết thảy các dân ngoại vâng phục Tin Mừng hầu danh Người được rạng rỡ.6 Trong số đó, có cả anh em, là những người đã được kêu gọi để thuộc về Đức Giê-su Ki-tô.7 Kính gửi tất cả anh em ở Rô-ma, những người được Thiên Chúa yêu thương, được kêu gọi làm dân thánh. Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giê-su Ki-tô ban cho anh em ân sủng và bình an.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Mt 1,23

Hall-Hall : Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Hall.

TIN MỪNG : Mt 1,18-24

18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ."22 Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ:23 Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta."24 Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà.



ĐẤNG GIẢI PHÓNG ĐÍCH THỰC !

Chúa nhật cuối cùng của Mùa Vọng này, tâm hồn người tín hữu nào cũng nao nức hướng về niềm vui ơn cứu độ, mà Thiên Chúa bắt đầu thực hiện lời hứa từ ngày nguyên tổ loài người phạm Luật, như lời Ngài đe phạt con rắn : “Miêu duệ người phụ nữ sẽ đạp nát đầu mi, còn mi rình táp gót chân Ngài mà không nổi” (St 3,15 – Bản văn của NTT). Phụng Vụ hôm nay khai triển cho chúng ta gía trị Lời Chúa hứa được thực hiện, để chúng ta còn có sứ mệnh loan báo Tin Mừng cứu độ đến với mọi người thành tâm.

1- CON THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI ĐỂ GIẢI PHÓNG TA KHỎI ÁCH LỀ LUẬT.

Để nhận ra chân lý này chúng ta phải tìm hiểu lý do :

Tại sao chỉ có tác gỉa Mát-thêu ghi lại cuộc Truyền Tin cho ông Giu-se ?

Có hai lý do chính mà thánh sử Mat-thêu đã ghi lại cuộc Truyền Tin này :

a- Để Đức Giê-su vừa là con loài người, vừa là Con Thiên Chúa. Vì 17 câu đầu của Tin Mừng Mt viết về gia phả của Đức Giê-su : “Đức Ki-tô Giê-su là con vua Đa-vít, con Ab-ra-ham, Ab-ra-ham sinh I-sa-ác, I-sa-ác sinh Gia-cóp, Gia-cóp sinh Giu-đa, … sinh Giu-se chồng của Đức Ma-ri-a, bà là Mẹ Đức Giê-su, cũng gọi là Đấng Ki-tô” (x Mt 1,1-17).

Nếu ông Mát-thêu chỉ viết như thế thì độc gỉa hiểu Đức Giê-su là con của ông Giu-se và bà Ma-ri-a, người con theo nghĩa xác thịt ! Do đó trình thuật Truyền Tin cho ông Giu-se có ý xác định : Đức Giê-su là con bởi xương thịt của Đức Ma-ri-a, đồng thời là Con Thiên Chúa. Do ý muốn của Thiên Chúa qua tác động của Chúa Thánh Thần, mà Đức Ma-ri-a sinh Đức Giê-su, chứ không phải do ý muốn của ông Giu-se và bà Ma-ri-a. Ông Giu-se chỉ là cha nuôi, hoặc là cha theo pháp luật, để Con Thiên Chúa sinh ra thuộc dòng tộc vua Đa-vít. Vì thế mà thánh Tông Đồ xác quyết : “Chính từ dòng dõi Đa-vit, Thiên Chúa chiếu theo lời hứa đã dẫn đến cho Israel Vị Cứu Tinh Giê-su” (x Cv 12,23).

b- Để Đấng Cứu Thế được sinh ra cho loài người. Thực vậy, cuộc Truyền Tin thứ nhất của sứ thần Gabriel, làm cho Con Thiên Chúa sinh trong lòng Đức Ma-ri-a, nếu sứ thần Gabriel không Truyền Tin cho ông Giu-se, thì Con Thiên Chúa không thể sinh vào đời cách tốt đẹp được !

Do đó ông Giu-se được gọi là đấng công chính, có nghĩa là ông đã để cho Thiên Chúa đoạt lấy Ma-ri-a, người yêu của ông, và như vậy Ma-ri-a không còn thuộc quyền của ông nữa, vì ông đã hiến dâng vợ mình cho Thiên Chúa, còn hơn ông A-ben xưa đã tiến dâng cho Chúa con chiên qúy nhất trong đàn, tiên báo Chúa Giê-su là Của Lễ Con Chiên Thiên Chúa, mới được Cha trên trời ưng nhận. Ta lại biết ngôn sứ Na-tan gọi người vợ là con chiên của chồng (x 2Sm 12). Đó là lý do mà tác gỉa Tin Mừng Mat-thêu gọi ông Giu-se và ông A-ben là đấng công chính ! (x Mt 1,19 = Mt 23,35). Bởi lẽ được liên hệ với Hy Tế của Chúa Giê-su.

Vậy thái độ lúng túng của ông Giu-se trước bào thai của Đức Ma-ri-a đã diễn tả sự bất lực của Lề Luật.

* Nếu ông Giu-se không biết Thai Nhi do Chúa Thánh Thần, thì theo Luật ông phải tố cáo Ma-ri-a đã ngoại tình nên phải ly hôn (x Dnl 22,13-27).

* Nếu ông biết Thai Nhi đó là do Chúa Thánh Thần, cứ theo Luật ông nhận Ma-ri-a, thì đương nhiên ông là cha Đấng Cứu Thế, nhiệm vụ cao cả này, khi chưa được trao trách nhiệm, làm sao ông dám nhận ?

* Nếu ông âm thầm trốn đi, thì đó là cách gián tiếp tố cáo Ma-ri-a ngoại tình !

Rõ ràng ông Giu-se hành động cách nào cũng là có hại cho người vợ hiền và Thai Nhi vô tội! Qủa thật, Luật bất lực giải quyết cho lương tâm của ông ! Bởi thế thánh Phao-lô qủa quyết : “Luật giam chúng ta trong tội !” (Gl 3,22). Trong lúc còn đang bối rối như thế thì chính tiếng Chúa nói qua lương tâm ông (được mộng báo), soi sáng cho ông phải quyết định đón Ma-ri-a về, để Con Thiên Chúa thuộc dòng Đa-vít theo pháp luật, vì “Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử.” (Gl 4,4) Nghĩa là nhờ ông Giu-se theo lệnh Chúa truyền nhận Ma-ri-a, Ma-ri-a không bị Luật lên án, để qua đó Đức Maria cũng theo lệnh Đức Giê-su nhận ta, để ta khỏi bị án của Lề Luật ! (x Ga 19,27 ; Gl 3,24).

Nhờ lòng yêu thương đặc biệt của Thiên Chúa, mà Người đã giải phóng cho Mẹ Maria và Hài Nhi thoát án phạt của Lề Luật, trở thành lý do Thiên Chúa muốn giải phóng cho cả loài người. Điều này đã được tiên báo qua ngôn sứ I-sai-a (x Is 7,10-14 : Bài đọc I) : Tình thương của Thiên Chúa đã giải phóng cho dân Do-Thái đang trong hoàn cảnh tuyệt vọng :

Vào năm -733, Teglat Phalasar làm vua đế quốc Át-sua, muốn thôn tính các nước nhỏ xung quanh làm chư hầu. Nghe tin này, hai nước Sy-ri-a và Is-ra-el rủ A-khát, vua Giu-đa liên minh chống lại đế quốc Át-sua, nhưng vua A-khát không đồng ý với hai nước láng giềng, lại đi cầu cứu với Át-sua, và tự nhận mình là con của Teglat Phalasar, hòng Is-ra-en thoát ách nô lệ Át-sua. Do đó, Sy-ri-a và Is-ra-el kéo quân chinh phạt A-khát, vua Át-sua biết thế cũng không bênh đỡ ! Thấy vậy, vua A-khát liền lấy châu báu trong đền thờ Giê-ru-sa-lem dâng vua Át-sua để cầu viện ! Vua A-khát lại còn thiêu sống con trai mình để tế cho thần Đa-ma, ông còn lập tế đàn thờ thần ngoại ngay trong đền thờ Giê-ru-sa-lem! Cách sống của vua A-khát như thế, qủa thật là đắc tội với Chúa! Do đó Thiên Chúa sai ngôn sứ đến qủơ trách ông:

    • Làm phiền lòng người ta còn cho là qúa ít sao ?” (x Is 7,13a) Tức là ông không chịu liên minh với Syria và Israel để chống lại Át-sua.
    • Lại còn  làm phiền lòng Thiên Chúa”(x Is 7,13b). Ông đã tế con cho thần ngoại giáo, xưng mình là con của vua Teglat, tự hạ thấp dân tộc mình, vì dân Do-Thái vẫn tự hào là con Thiên Chúa ! (x Tv 2,7) Lấy đồ phụng tự dâng cho vua ngoại giáo là ngạo nghễ với Thiên Chúa, trông cậy vào thế lực trần gian, nghịch lại với niềm tin dân Do-Thái : chỉ cậy dựa vào danh Gia-vê mà thôi ! (x Tv 20/19,8)

Dù tội lỗi của ông nặng đến thế, Thiên Chúa vẫn sai ngôn sứ đến động viên ông cầu nguyện xin Chúa cho ông một dấu, vì chỉ có Chúa mới là Đấng cứu độ triều đại của ông. Nhưng ông nói không dám xin Chúa, hoặc là vì ông không đủ lòng trông cậy vào Thiên Chúa, hoặc ông mặc cảm vì tội lỗi, hoặc là ông không hiểu được lòng khoan dung của Thiên Chúa. Thế mà Chúa vẫn thương, ban cho một dấu : “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-el.” (Is 7,14) Vì ai có Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng – thì họ :

    • Được Chúa trao nhiệm vụ vượt khả năng và Ngài giúp họ thành đạt hơn lòng mơ ước, đan cử như Thiên Chúa ở cùng ông Mô-sê, Ngài giúp ông làm nhiều phép lạ phi thường, để vua Pharaon phải chấp nhận cho ông đưa dân Do Thái ra khỏi đất Ai Cập (x Xh 3,12).
    • Các Tông Đồ được Chúa trao nhiệm vụ làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Ngài, quả thật là vượt quá khả năng của các ông. Nhưng khi được Chúa ở cùng, các ông lên đường thi hành sứ mệnh, ngay bài giảng đầu tiên của thủ lãnh Phê-rô, ông đã tập họp thêm 3.000 người về cho Chúa (x Mt 28, 19-20 ; Cv 2,41).
    • Không có sự dữ nào thắng được các Tông Đồ, dù uống nhằm thuốc độc, dù bị rắn cắn cũng không hề hấn chi ! (x Mc 16,14-20)
    • Được Chúa ban tràn đầy ơn phúc như lời thiên thần chào mừng Đức Ma-ri-a (x Lc 1,28).

Như vậy, Thiên Chúa cứu độ chúng ta không phải vì ta xứng đáng, mà vì danh dự của Chúa (x Tv 143/142,11). Ngôn sứ I-sai-a nói : “Chúa mà để con trong âm phủ, thì lấy ai ca tụng Chúa ?” (Is 38,18). Và khi Thiên Chúa chính thức ban ơn cứu độ cho muôn dân, Ngài còn ban ơn cho ta vì Đức Tin của Đức Ma-ri-a : “Xin Chúa làm cho con theo lời sứ thần nói.” (Lc 1,38). Rõ ràng Đức Tin của Bà hoàng Ma-ri-a hơn hẳn ông hoàng A-khát xưa ! Vì Đức Maria tuyệt đối tin vào quyền năng, tình thương của Chúa, nên Chúa để cho Mẹ làm ứng nghiệm Lời Chúa đã hứa ban Đấng Cứu Độ : “Thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuel” (Is 7,14b : Bài đọc I).

Thực ra, lời ngôn sứ I-sai-a (7,14) theo bản văn Hipri, người nữ ấy là “Ălmah” chỉ có nghĩa là cô vợ trẻ hay một thiếu nữ (không xác định còn trinh) ; nhưng Bản 70, bằng tiếng Hy Lạp và bản Vulgata (bản Phổ Thông) bằng tiếng La Tinh, thì lại xác định người nữ ấy là “Parthenos” (trinh nữ).

Truyền thống Do-Thái thời ấy không mong Đấng Cứu Thế sinh ra bởi một trinh nữ. Đối với họ, “trinh” là một sự tủi nhục, như con gái ông Giép-tê than khóc suốt hai tháng vì cô còn là trinh nữ, không xứng đáng để làm hiến vật tạ ơn Thiên Chúa đã giúp cha cô thắng quân thù ! (x Tp 11, 29-40)

Sự trinh khiết của Đức Maria vừa để xác định Mẹ sinh Con bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, vì Con Mẹ là Con Một Chúa Cha ; vừa trở nên dấu chỉ Hội Thánh Chúa Ki-tô như những cô trinh nữ khôn ngoan (x Mt 25,1-13), diễn tả Hội Thánh không liên hệ xác thịt với ai mà vẫn sinh các Ki-tô hữu là chi thể trong Thân Mình Mầu Nhiệm Chúa Ki-tô.

2- CHÚA MUỐN TA CỘNG TÁC.

Chúng ta cũng phải ngoan ngoãn tùng phục và thực hành ý Chúa để cộng tác với Thiên Chúa như ông Giuse. Ngôn sứ I-sai-a nói về tên Đấng Cứu Thế là Emmanuel (x Is 7,14), nhưng tại sao thiên thần lại bảo ông Giu-se đặt tên cho con trẻ là Giê-su ?

Thực ra, danh hiệu “Emmanuel” (viết tắt là No-en), nghĩa là “Chúa ở cùng loài người” báo trước về sự phục sinh của Đấng Cứu Thế. Vì chỉ khi Đức Giê-su sống lại, Ngài mới nói với các Tông Đồ : “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20b). Như vậy, tác gỉa Mát-thêu có ý nói : Con Thiên Chúa sinh ra được an toàn là nhờ ông Giu-se đã tùng phục ý Chúa, nên ông mau mắn đón Ma-ri-a về, ông đã làm cho Con Thiên Chúa ở cùng loài người, để cứu chuộc con người, đúng như ý nghĩa tên Giê-su mà thiên thần báo cho Đức Maria và ông Giu-se đặt cho Con Trẻ (x Lc 1, 31 ; Mt 1,21) [Giê-su phiên âm bởi tiếng Hy-Bá là Yehôshua, hoặc Yéshua có nghĩa Gia-vê là sự cứu độ], và Ngài chỉ thực sự cứu độ khi Ngài từ cõi chết sống lại, để mọi ngày ở cùng những ai sống trong Hội Thánh. Bởi thế, thánh sử Mát-thêu viết câu mở đầu Tin Mừng: “Nữ trinh sẽ thụ thai và sinh Con, và người ta sẽ gọi tên Ngài là Emmanuel, được dịch làThiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23 : Tung Hô Tin Mừng). Để rồi cuối Tin Mừng, ông ghi Lời Chúa hứa với các môn đệ : “Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (x Mt 28,20b).

Dù Thiên Chúa thương loài người đến thế, và dù Ngài tỏ quyền năng cứu độ, vì danh dự Ngài, vì Đức Ma-ri-a, Mẹ Ngài, nhưng Chúa vẫn muốn mời gọi ta cộng tác theo mẫu gương thánh Giu-se : ba lần ông mau mắn chỗi dậy làm theo Lời Chúa để thoát tay thần chết, đem ơn cứu độ đến cho mọi người :

  1. Mt 1,24 : Được mộng báo, ông Giu-se đã mau mắn chỗi dậy rước Ma-ri-a về nhà, để mẹ con khỏi bị ném đá, khỏi chết nhục vì Luật !
  2. Mt 2,13 : Được mộng báo, ban đêm ông Giu-se chỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Ngài trốn qua Ai-Cập, thoát khỏi bàn tay độc ác của vua Hê-rô-đê.
  3. Mt 2,20 : Được mộng báo, ông Giu-se lại chỗi dậy đưa mẹ con Ma-ri-a trở về quê nhà, để thực hiện sứ mệnh cứu dân như ông Mô-sê.

Tông Đồ Phao-lô nhận thức được nguồn ơn cứu độ Chúa đã thực hiện qua Mầu Nhiệm Nhập Thể của Con Một Ngài, và đã nhận ra ơn gọi của mình được Chúa tách riêng để chuyên lo việc loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Nhưng Chúa không chỉ trao trách nhiệm riêng cho ông Phao-lô, mà Ngài còn cho cả chúng ta nữa, những kẻ đã được hiệu triệu theo Chúa Ki-tô để giảng truyền sự vâng phục Đức Tin cho mọi dân tộc (x Rm 1,1-7 : Bài đọc II). Vì Emmanuel không chỉ ứng nghiệm nơi Thánh Gia Thất, mà còn ứng nghiệm nơi tâm hồn mọi người. Ơn này đã được tiên báo qua hình ảnh tấm lông chiên của ông Ghê-đê-ôn :

Ông Ghê-đê-ôn khi làm thủ lãnh dân Do-Thái, đang bị áp lực do quân Mê-đi-an. Ông lo lắng không biết có nên xuất chinh đánh Mê-đi-an hay xin hàng ? Ông đã cầu nguyện xin Chúa cho ông một dấu : Nếu tấm lông chiên đặt ngoài sân, qua một đêm mà tấm lông chiên đẫm sương, còn chung quanh đất khô ráo, thì đó là dấu Chúa ủng hộ ông xuất quân. Qủa nhiên, sáng hôm sau, ông vắt được cả tô nước từ tấm lông chiên, đất xung quanh vẫn khô ráo ! Đó là dấu chỉ lần thứ nhất Thiên Chúa chiếm đoạt Ma-ri-a – trong cuộc truyền tin – để Ma-ri-a trở nên nguồn ơn cứu độ cho muôn dân.

Hôm sau, ông lại đặt tấm lông chiên ngoài sân, và cầu xin : Nếu Chúa ủng hộ ông xuất binh, thì cho tấm lông chiên khô ráo, còn đất chung quanh thì ướt đẫm. Qủa đúng như lời ông xin. Thế là ông hạ lệnh xuất quân chinh phạt Mê-đi-an trong chiến thắng lẫy lừng ! (x Tp 6,36-40) Đó là dấu chỉ lần thứ hai, Thiên Chúa chiếm đoạt ông Giu-se – trong cuộc truyền tin cho ông – để ông Giu-se làm cho mọi người nhận biết Lời Đức Giê-su cứu độ muôn dân. Thực vậy, từ khi Đức Giê-su bắt đầu giảng ở đền thờ Giê-ru-sa-lem (Hội Thánh) lúc lên 12 tuổi, thì không còn ai biết đến ông Giu-se nữa, vì ông đã hoàn tất nhiệm vụ của mình ! (x Lc 2,41t)

Vì thế mùa Vọng nào trong các Giáo Đường cũng vang lên tiếng ca : “Trời cao hãy đổ sương xuống, mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính” (x Is 45,8) trong niềm xác tín:

      • Sương trời là Ngôi Hai.
      • Tấm lông chiên là Đức Ma-ri-a, thánh Giu-se.
      • Đất là mọi người trong Hội Thánh.

Vậy Đấng Emmanuel đã ở cùng Đức Ma-ri-a, ở cùng thánh Giu-se (sương đẫm lông chiên) chưa đủ bảo đảm chắc chắn ơn cứu độ cho ta, mà Đấng Emmanuel còn phải ở với tâm hồn mỗi người (đất đẫm sương trời), đặc biệt lúc ta rước Lễ mới bảo đảm ơn cứu độ cho người được Chúa thương ! Để “Chúa sẽ ngự vào, chính Người là Đức Vua vinh hiển” (Tv 24/23,7c.10b : Đáp ca).

THUỘC LÒNG.

Trời cao hãy đổ sương xuống, mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính! (Is 45,8)


o0o

Ngày 20 Tháng 12

MÙA VỌNG

Is 7,10-14 ; Lc 1,26-38

BÀI ĐỌC : Is 7,10-14

10 Khi ấy, Đức Chúa sai ngôn sứ I-sai-a nói với vua A-khát rằng:11 "Ngươi cứ xin Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi một dấu dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh."12 Vua A-khát trả lời: "Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách Đức Chúa." 13 Ông I-sai-a bèn nói: "Nghe đây, hỡi nhà Đa-vít! Các ngươi làm phiền thiên hạ chưa đủ sao, mà còn muốn làm phiền cả Thiên Chúa của tôi nữa? 14 Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.

ĐÁP CA : Tv 23

Đ. Chúa sẽ ngự vào : Chính Người là Đức Vua vinh hiển. (x c 7c và c 10b)

1 Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài, làm chủ hoàn cầu với toàn thể dân cư. 2 Nền trái đất, Người dựng trên biển cả, đặt vững vàng trên làn nước mênh mông.

3 Ai được lên núi Chúa? Ai được ở trong đền thánh của Người? 4ab Đó là kẻ tay sạch lòng thanh,chẳng mê theo ngẫu tượng,

5 Người ấy sẽ được Chúa ban phúc lành, được Thiên Chúa cứu độ thưởng công xứng đáng.6 Đây chính là dòng dõi những kẻ kiếm tìm Người, tìm thánh nhan Thiên Chúa nhà Gia-cóp.

TUNG HÔ TIN MỪNG :

Hall-Hall : Lạy Đức Ki-tô, Ngài nắm giữ chìa khóa nhà Đa-vít, Ngài mở cửa đưa vào Nước vĩnh hằng. Xin Ngài đến đem ơn giải thoát, cho tù nhân khỏi hết xích xiềng, cho họ không còn ngồi dưới bóng đêm. Hall.

TIN MỪNG : Lc 1,26-38

26 Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét,27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà." 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

30 Sứ thần liền nói: "Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.31 Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su.32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người.33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận."

34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng! "

35 Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng.37 Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được." 38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi.


ƠN CHÚA BAN LÀ ƠN NHƯNG KHÔNG

Thánh Gioan định nghĩa : “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,8). Dấu hiệu của tình yêu là quà tặng. Ở đâu có tình yêu ở đó có quà tặng, đặc biệt chỉ có Thiên Chúa tặng quà cho con người một cách nhưng không, tức là không do công nghiệp của ai, cũng không do sự cân xứng công lao mà được nhận quà, hoặc chẳng phải do người ta van xin, nhưng tất cả vì Thiên Chúa yêu thương con người cách vô vị lợi. Cụ thể :

  • Trước khi Thiên Chúa có ý định tạo dựng con người, thì Ngài đã tạo dựng vạn vật trong vũ trụ, mọi sự đều tốt đẹp, rồi tặng ban hết cho loài người (x St 1.2).
  • Khi con người phản bội Thiên Chúa, Ngài có sáng kiến đi tìm con người trước, dù nghe tiếng Chúa đến, họ lẩn trốn, nhưng cuối cùng khi Ngài tìm được họ, Ngài đứng về phía họ và hứa ban Con Một của Ngài đến bênh vực họ chống lại satan, như tác giả sách Sáng thế ghi lại Lời tiền Tin Mừng Thiên Chúa hứa cứu loài người : “Miêu duệ người nữ đạp nát đầu rắn” (St 3,15).
  • Thời vua Akhaz lâm cảnh bí trước áp lực của quân thù dũng mãnh, Chúa sai ngôn sứ Isaia đến báo cho vua biết Chúa sẽ cho một thiếu nữ sinh người con có tên là Emmanuel : Nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, để làm cho chúng ta khỏi phải khiếp sợ, dù ơn ấy vua Akhaz không xứng đáng được Chúa ban và ông cũng không dám xin Chúa (x Bài đọc : Is 7,10-14).
  • Ơn trọng đại nhất là vào ngày Thiên Chúa cứu độ loài người đã được loan báo trước qua các ngôn sứ, Chúa đã ban tặng Con Một của Ngài đến cứu loài người qua Đức Ma-ri-a, mà Đức Ma-ri-a không bao giờ nghĩ tưởng tới và Mẹ cũng chẳng bao giờ dám xin Chúa ơn ấy.

Để hiểu rõ thời hiệu Chúa thực hiện ơn cứu độ, khởi đi từ lời tiên báo của ngôn sứ Isaia cho nhà Akhaz, chúng ta hãy tìm hiểu hoàn cảnh xã hội và chính trị lúc ấy, cũng như Đức Tin và lòng đạo đức của vua này.

1/ ƠN NHƯNG KHÔNG CHÚA BAN CHO TRIỀU ĐẠI VUA AKHAZ.

Ông Teglat Phalasar III là vua của đế quốc Assur, triều đại từ năm 745 – 727 trước Công nguyên, ông này có tham vọng chiếm các miền Syria, Palestin, thế nên vào năm -740, ông bắt đầu chiếm miền bắc Syria, và vào năm – 738 sau khi hạ được Đamakus, ông chiếm trọn miền Syria. Đến năm – 734, ông tiến quân đến Gora, vua thành Gora là Hanun phải bỏ thành mà trốn sang Ai-Cập. Teglat Phalasar thành công : tất cả những nước nhỏ trên giải đất Syria - Palestin đều nằm dưới quyền của ông. Ông đã tách chúng ra khỏi ảnh hưởng của Ai-Cập, đã đặt ách đô hộ và bắt tất cả các nước chư hầu phải nộp thuế.

Vào năm -733, hai nước chư hầu là Syria và Israel liên kết với nhau để lật đổ ách thống trị của vua Assur, hai nước này rủ vua Akhaz nước Giuda thành một khối đồng minh. Nhưng vua Akhaz muốn chơi mảnh, ông từ chối sự liên minh này, để bợ đỡ Teglat Phalasar : xưng tụng vua này là cha của mình. Trước khi Syria và Israel tiến đánh Assur, thì hai nước này họp lại trừng phạt Giuda, muốn tiêu diệt dòng Đavid, để thay một vua khác gốc người Aram (x Is 7,6).

Trong sách Các Vua quyển thứ II (16,5t) còn thuật lại rõ hoàn cảnh này : Syria và Israel bao vây Giê-ru-sa-lem , vua Akhaz sai xứ đến với Teglat Phalasar mà tâu rằng : “Tôi là nô bộc, là con của ngài. Xin ngài lên cứu tôi khỏi bàn tay vua Aram và Israel, vì họ đang dấy lên đánh tôi” (2V 16,7). Teglat Phalasar đưa quân đến giải vây cho Giê-ru-sa-lem.

Trong bối cảnh thành Giê-ru-sa-lem bị bao vây, nhà Đavid bị khủng hoảng, dân mất niềm tin vào Akhaz, vì vua không tin vào Thiên Chúa che chở, lại tin tưởng vào thế lực của người đời, đã xin Teglat Phalasar ra tay che chở, trong khi ông này đang bắt dân Giu-đa nộp thuế. Như thế vua Akhaz vô tình tạo thêm hai kẻ thù là Syria và Israel, vì nếu ông liên kết với hai nước này thành một khối, thì ông chỉ có một kẻ thù là Teglat Phalasar. Trong tình thế bế tắc như vậy, vua Akhaz bèn đi coi bói và thiêu sống con để tế thần theo lời thầy tướng số dạy để cầu may. Tội ác ấy khiến ngôn sứ Isaia lên tiếng khiển trách : “Ông làm phiền lòng người ta chưa đủ lại còn làm phiền lòng Thiên Chúa nữa ư?”

  • Làm phiền lòng người ta” : Tức là vua Akhaz đã không liên minh với Syria và Israel, lại đi cầu cứu với vua Teglat Phalasar đang thống trị nước Giu-đa. Ông là vua dẫn dắt dân tôn thờ Thiên Chúa mà lại đi coi bói, làm theo lời thầy tướng số. Hành động đó quả là gương mù đối với dân, ông đã tự làm mất uy tín của mình đối với dân.
  • Làm phiền lòng Thiên Chúa” : Vì vua Do-Thái là con Thiên Chúa, như Chúa đã nói với vua trong ngày ông được xức dầu tấn phong : “Con là con của Cha, hôm nay Cha đã sinh ra con” (Tv 2,7), thế mà ông lại xưng con với vua ngoại giáo ! Thay vì ông cầu khẩn với Thiên Chúa là Cha của mình, thì ông lại dựa vào thế lực của người đời, nhất là hành động mê tín của ông đã xúc phạm đến giới răn I là tôn thờ Thiên Chúa duy nhất, đồng thời ông cũng xúc phạm đến giới răn V là thiêu sống con trai mình (x 2V 16,2-3).

Thế mà ngôn sứ Isaia vẫn động viên ông hãy cầu nguyện với Thiên Chúa để Chúa ban cho một dấu đến cứu dân tộc ông. Ông thưa lại : “Tôi không xin Thiên Chúa, vì tôi không dám thử thách Ngài” (Is 7,12 : Bài đọc). Thế mà Chúa vẫn ban cho ông một dấu : “Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh con trai và đặt tên là Emmanuel” (Is 7,14 : Bài đọc). Thiên Chúa ở cùng ai thì phần chiến thắng luôn luôn thuộc về họ, nên không còn phải khiếp sợ !

2/ ƠN NHƯNG KHÔNG CHÚA BAN CHO LOÀI NGƯỜI QUA SỰ VÂNG PHỤC CỦA ĐỨC MARIA.

Cuộc Truyền Tin cho Đức Ma-ri-a, tác giả Luca làm nổi bật sự vâng phục và tin tưởng vào Lời Chúa của Đức Ma-ri-a một cách tuyệt đối : “Xin Chúa làm cho con điều Chúa nói” (Lc 1,38 : Tin Mừng), để cho Lời Chúa hoạt động nơi Mẹ thành sự như Lời Ngài đã hứa : “Bà sẽ sinh con Đấng Tối Cao, Thiên Chúa ban cho Người ngai vàng vua Đavid, Người sẽ cai trị nhà Giacop và triều đại Người vô tận” (Lc 1,30-33 : Tin Mừng).

Sau khi Đức Maria được Thiên thần giải thích đó là việc của Chúa Thánh Thần thực hiện, Mẹ thưa ngay : “Tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Rõ ràng Mẹ sẵn sàng cúi đầu tùng phục trước Lời Chúa phán, để chính Lời Chúa mà Mẹ đã nghe sinh “Quả” nơi lòng Mẹ (x Lc 1,42).

Quả thật, loài người không xứng đáng được Chúa trao ban Con Một là quà tặng cao quý nhất, vì loài người quá tội lỗi, tầm cỡ như vua Akhaz, thuộc dòng giống Adam-Eva sau khi phạm tội, không muốn nghe tiếng Chúa, nên khi Ngài đến, họ chạy trốn !(x St 3,8) Và Mẹ cũng không hề nghĩ đến việc xin Thiên Chúa làm cho mình trở thành Nữ Hoàng, Mẹ Thiên Chúa, để Mẹ đưa Con Đấng Tối Cao vào đời hầu cứu muôn dân.

Ôi tình Chúa thật lạ lùng, Ngài là Đấng chạnh thương, huệ ái, bao dung, đầy nhân nghĩa, tín thành. Giữ nghĩa cho đến ngàn đời, chịu đựng lỗi lầm, quá phạm, tội khiên, nhưng không coi tội dường thể vô can” (Xh 34,6-7), để muôn đời muôn dân nước phải cất lời ca khen, bởi vì “Chúa sẽ ngự vào : Chính Người là Đức Vua vinh hiển” (Tv 24/23, 7c.10b : Đáp ca).

Vậy chúng ta hãy cùng với Hội Thánh cầu nguyện : “Lạy Đức Ki-tô, Ngài nắm chìa khóa nhà Đavid, Ngài mở cửa đưa vào Nước vĩnh hằng. Xin Ngài đến đem ơn giải thoát, cho tù nhân khỏi hết xích xiềng, cho họ không còn ngồi dưới bóng đêm” (Tung Hô Tin Mừng).

THUỘC LÒNG

Chúa nói : “Các ngươi đã không công mà được, thì cũng hãy cho không” (Mt 10,8b).


o0o

Ngày 21 Tháng 12

MÙA VỌNG

Dc 2,8-14 ; Lc 1,39-45

BÀI ĐỌC : Dc 2,8-14

8 Tiếng người tôi yêu văng vẳng đâu đây, kìa chàng đang tới,nhảy nhót trên đồi, tung tăng trên núi.9 Người yêu của tôi chẳng khác gì linh dương,tựa hồ chú nai nhỏ. Kìa chàng đang đứng sau bức tường nhà, nhìn qua cửa sổ, rình qua chấn song. 10 Người yêu của tôi lên tiếng bảo :"Dậy đi em, bạn tình của anh,người đẹp của anh, hãy ra đây nào ! 11 Tiết đông giá lạnh đã qua,mùa mưa đã dứt, đã xa lắm rồi. 12 Sơn hà nở rộ hoa tươi và mùa ca hát vang trời về đây.Tiếng chim gáy văng vẳng trên khắp đồng quê ta.13 Vả kia đã kết trái non, vườn nho hoa nở hương thơm ngạt ngào. Dậy đi em, bạn tình của anh, người đẹp của anh, hãy ra đây nào ! 14 Bồ câu của anh ơi,em ẩn trong hốc đá, trong vách núi cheo leo. Nào, cho anh thấy mặt, nào, cho anh nghe tiếng, vì tiếng em ngọt ngào và mặt em duyên dáng."

ĐÁP CA : Tv 32

Đ. Người công chính, hãy reo hò mừng Chúa,

nào dâng Chúa một khúc tân ca. (c.1a và c.3a)

2 Tạ ơn Chúa, gieo vạn tiếng đàn cầm,kính mừng Người, gảy muôn cung đàn sắt.3 Nào dâng Chúa một khúc tân ca,rập tiếng hoan hô, nhã nhạc vang lừng.

11 Chương trình Chúa ngàn năm bền vững,ý định của lòng Người vạn kiếp trường tồn.12 Hạnh phúc thay quốc gia được Chúa làm Chúa Tể,hạnh phúc thay dân nào Người chọn làm gia nghiệp.

20 Tâm hồn chúng tôi đợi trông Chúa,bởi Người luôn che chở phù trì. 21 Vâng, có Người, chúng tôi mừng rỡ,vì hằng tin tưởng ở Thánh Danh.

TUNG HÔ TIN MỪNG :

Hall-Hall : Muôn lạy Đức Emmanuel, Đấng nắm giữ vương quyền và ban hành Luật pháp. Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, xin ngự đến và cứu độ chúng con. Hall.

TIN MỪNG : Lc 1,39-45

39 Hồi ấy, bà Ma-ri-a vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa. 40 Bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bét.41 Bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần,42 liền kêu lớn tiếng và nói rằng: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc.43 Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?44 Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng.45 Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em."



CHÚA GIÊ-SU MUỐN CƯỚI LOÀI NGƯỜI

Để nói lên tình Chúa ưu ái đặc biệt dành cho loài người, Thánh Kinh đã dùng tất cả tương quan giữa người với người :

+ Chúa là Chủ, ta là đầy tớ (x Lc 17,7t).

+ Chúa là Cha, là Mẹ, ta là con cái (x Lc 15,11t ; Is 49,15).

+ Chúa với ta là bạn hữu (x Ga 15,15).

+ Chúa là Tân Lang, ta là tân nương (x Is 62,5 ; Ga 3,29 ; 2Cr 11,2).

Trong những tương quan trên, tương quan chủ tớ diễn tả tình yêu tuyệt đỉnh ; còn tương quan phu thê diễn tả tình yêu bền vững và vinh quang nhất.

1/ ĐỨC GIÊSU HẠ MÌNH XUỐNG NHƯ TÔI TỚ ĐỂ DIỄN TẢ TÌNH YÊU TUYỆT HẢO NHẤT DÀNH CHO CON NGƯỜI.

Thực vậy, để diễn tả tình yêu tuyệt vời nhất, người ta thích làm nô lệ cho nhau. Chúng ta cứ nhìn người mẹ chăm sóc tận tình đứa con thơ bé, dù em phóng uế ra mẹ, người mẹ vẫn trìu mến vừa nựng con, vừa làm vệ sinh cho con. Việc làm và tâm tình này cả đến tên nô lệ cũng không có được. Trong mối tình lứa đôi, khi cô cậu yêu nhau, họ thích làm nô lệ cho nhau mà không cảm thấy mình bị xúc phạm, chẳng vậy mà các cô cậu ở Việt Nam thích ca bài : “Trái tim ngục tù”.

Đức Giê-su phục vụ như người tôi tớ (nô lệ). Cụ thể, trong bữa Tiệc Ly, Ngài đã rửa chân cho các môn đệ (x Ga 13,1t). Đây là một hành động nghịch lý đối với quan niệm của người Do-Thái, bởi vì việc rửa chân cho khách là bổn phận của kẻ nô lệ dành cho dân ngoại, trong khi đó Đức Giê-su là người Do-Thái, là Thầy của họ, đặc biệt là Chúa của họ, thế mà Ngài tự làm công việc này để diễn tả tình yêu của Ngài đối với các môn đệ, Ngài làm như thế để nêu gương cho các ông tiếp tục phục vụ đồng loại như Ngài, nhất là khi các ông ở địa vị cao cả, thì lại càng cần phải hạ mình xuống giống Đức Giê-su : “Ngài phận là phận của một Vì Thiên Chúa, nhưng Ngài đã không nghĩ phải giằng cho được chức vị đồng hàng cùng Thiên Chúa. Xong Ngài đã hủy mình ra không, là lãnh lấy thân phận tôi đòi, trở thành giống hẳn người ta, đem thân đội lốt người phàm, Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở thành vâng phục cho đến chết và là cái chết trên thập giá” (Pl 2,6-8).

Tinh thần phục vụ như một tôi tớ hèn mọn nhất trong xã hội mà Đức Giê-su đã diễn tả trong cuộc đời của Ngài, chính là Ngài đã nối dài và mở rộng tâm tình phục vụ của Mẹ Maria. Cụ thể như khi Mẹ vừa nghe tin người chị họ Êlysabeth đã có thai sáu tháng, Mẹ vội vã lên đường, dù có cỡi lừa đi đường bộ từ miền bắc xuống miền nam, thời gian ít nhất phải mất khoảng hai tuần, Mẹ đến phục vụ tại nhà chị họ như một kẻ nô lệ, như lời Mẹ thưa cùng Chúa tại nhà bà Êlysabeth : “Người đã đoái thương nhìn thân phận mọn hèn tớ nữ của Người” (Lc 1,48a : Tin Mừng), mặc dù lúc ấy Mẹ biết mình đã là Mẹ Thiên Chúa. Người chị họ cũng đã nhận ra địa vị cao cả của Đức Ma-ri-a như thế, như lời bà nói : “Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến với tôi” (Lc 1,43 : Tin Mừng).

2/ SỐNG MỐI TÌNH PHU THÊ ĐỂ DIỄN TẢ TÌNH YÊU CAO CẢ NHẤT, VỮNG BỀN NHẤT, TIN TƯỞNG NHẤT, VINH QUANG NHẤT.

Ngôn sứ Isaia loan báo vào ngày Chúa ra tay cứu độ loài người, Ngài muốn đến cưới lấy phàm nhân : “Chẳng ai còn réo tên ngươi “đồ bị ruồng bỏ”, xứ sở ngươi hết bị tiếng là “phận bạc duyên đơn”. Nhưng ngươi được gọi : “Ái khanh lòng Ta hỡi !” Xứ sở ngươi nức tiếng là “Duyên thắm chỉ hồng”. Vì ngươi sẽ được Đức Chúa đem lòng sủng ái, và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở ngươi. Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 62,4-5).

Tình yêu cao cả này Thiên Chúa đã dành cho ta khởi đi từ lúc ta lãnh Bí tích Thánh Tẩy. Như thánh Phao-lô nói với giáo đoàn Corintho : “Tôi đã đính hôn anh em với một người độc nhất là Đức Ki-tô, để tiến dâng anh em cho Người như một trinh nữ thanh khiết” (2Cr 11,2).

Dù ông Gioan Tẩy Giả được Đức Giê-su khen là “người cao cả nhất trong những người do người nữ sinh ra, nhưng ông còn thua kẻ nhỏ trong Nước Thiên Chúa” (Mt 11,11-12). “Kẻ bé nhỏ trong Nước Thiên Chúa” chính là những người được Đức Giê-su cứu độ, người thuộc về Hội Thánh (x Mt 18,3 ; Ga 13,33 ; 1Ga 2,1.12.14.18.28). Nhưng ông Gioan Tẩy Giả vẫn thua xa người Công Giáo là Hiền Thê của Chúa Ki-tô, vì ông Gioan chỉ là chú phù rể của Tân Lang Giêsu (x Ga 3,29), như lời ông nói : “Ai có tân nương mới là tân lang, còn bạn của tân lang, kẻ đứng kề bên mà nghe Ngài, thì khấp khởi mừng vui, vì tân lang lên tiếng. Vậy đó là sự vui mừng của tôi : thực nó đã được sung mãn” (Ga 3,29).

Niềm vui của Gioan Bt là được làm phù rể của Tân Lang Giê-su, đã được Chúa mạc khải cho ông biết ngay khi ông còn trong bụng mẹ. Thực vậy, khi Mẹ Maria mang thai Đức Giê-su đến nhà bà Êlysabeth, thì “Gioan còn trong bụng mẹ đã khấp khởi nhảy mừng” (x Lc 1,44 : Tin Mừng). Rõ ràng chú phù rể khi còn trong bụng mẹ, gặp Tân Lang Giêsu cũng còn trong dạ mẹ, đã khấp khởi nhảy mừng, vì sứ mệnh của ông sẽ trở thành phù rể, giới thiệu những “Tân Nương” đến với Tân Lang Giê-su (x Ga 1,19t), chính Tân Lang Giêsu sẽ giải phóng họ hơn thuở xưa nhờ công đức và mưu kế của bà Giudith đã cắt đầu tướng Holopherne để giải phóng cho dân tộc Do Thái, làm cho toàn dân nhảy mừng trước chiến thắng này (x Gd 13,18-19). Và như thế, ông Gioan nhảy mừng trong dạ mẹ đã trở nên dấu chỉ Tân Lang Giêsu đem chiến thắng về cho Tân Nương (Hội Thánh) của mình. Chính vì vậy mà Ngài đã nói với các môn đệ : “Hãy vững lòng, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33b), dù nhờ Tân Lang Giê-su, ta trở thành những Tân Nương, nhưng vẫn còn thuộc loại “điếm” (x Rm 7,18-19), tầm cỡ như vợ của ngôn sứ Hô-sê : Mỗi khi chồng vắng nhà cô lại đi hoang, tìm các tình lang, hưởng thụ khoái lạc của tình dục, thế mà ông Hô-sê vẫn ra sức đi tìm cô vợ điếm này, “tâm hồn ông thổn thức mỗi khi tìm lại được người vợ, ông lại dụ nàng vào nơi vắng vẻ, lòng kề lòng nói khó với vợ, rồi tặng nhiều báu vật, vì muốn đính hôn với cô vợ điếm bằng công minh chính trực, nhân nghĩa và xót thương” (Hs 2,16-21). Thế thì khi ta biết sám hối trở về với Tân Lang Giê-su, ta cũng làm cho Ngài và cả tầng trời rúng động niềm vui mừng (x Lc 15,7). Niềm vui này, Kinh Thánh đã mượn những hình ảnh và ngôn từ của một chàng thanh niên si tình tìm đến nhà người yêu làm cho tim nàng rung động, hồi hộp trước tình yêu nồng cháy như lửa : “Tiếng người tôi yêu văng vẳng đâu đây, kìa chàng đang tới,nhảy nhót trên đồi, tung tăng trên núi. Người yêu của tôi chẳng khác gì linh dương,tựa hồ chú nai nhỏ. Kìa chàng đang đứng sau bức tường nhà, nhìn qua cửa sổ, rình qua chấn song” (Dc 2,8-9 : Bài đọc).

Khát vọng được vui thỏa nhất đối với người chồng là vợ phải “đẻ” cho ông đứa con nối dòng. Do đó, khi người Ki-tô hữu ý thức mình là Hiền Thê của Tân Lang Giê-su, thì cũng phải “đẻ con” cho Ngài, như Chúa đã dùng ngôn sứ Mikha nói : “Người sẽ phó nộp cho chúng đến thời “Đẻ” sẽ sinh con” (Mk 5,2a – Bản dịch NTT). Lời ngôn sứ này đã được ứng nghiệm nơi Đức Ma-ri-a khi Chúa cho Mẹ sinh Con Đấng Tối Cao, và Chúa Giê-su cũng muốn các Ki-tô hữu phải biết “đẻ” giống như Mẹ Ma-ri-a, như lời Ngài đã nói : “Mẹ tôi và anh em tôi là những người nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8,21). Quả thực, khi người Ki-tô hữu sống yêu thương phục vụ cả kẻ hại mình và biết loan báo Lời Chúa cho mọi người, thì họ được Đức Giê-su xác nhận là “Con Đấng Tối Cao”, đồng danh với Ngài (x Lc 1,32 = Lc 6,35). Sống như thế, họ đã quy tụ được nhiều người trở thành con Thiên Chúa, đó là lễ vật Chúa ưa chuộng, như lời thánh Tông Đồ nói : “Làm tư tế của Đức Ki-tô Giê-su nơi dân ngoại, mà hành lễ là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, ngõ hầu lễ vật là dân ngoại được Thiên Chúa vui lòng chiếu nhận, bởi được tác thánh trong Thánh Thần” (Rm 15,16).

Chính vì vậy mà Chúa Giê-su Phục Sinh trước khi về trời, Ngài sai các môn đệ đi khắp thế gian “đẻ” thêm môn đệ cho Ngài, rồi nuôi dưỡng và giáo dục họ bằng Lời Chúa (x Mt 28,19-20). Để làm cho nhiều người cất tiếng tạ ơn : “Người công chính hãy reo hò mừng Chúa, nào dâng Chúa một khúc tân ca” (Tv 33/32, 3a : Đáp ca).

Vậy để làm tròn nhiệm vụ “đẻ” cho Thiên Chúa, ta hãy cùng với Hội Thánh cầu nguyện : “Muôn lạy Đức Emmanuel, Đấng nắm giữ vương quyền và ban hành Luật pháp. Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, xin ngự đến và cứu độ chúng con” (Tung Hô Tin Mừng).

Vào năm 1934 giáo lý viên Gioan Caduna được linh mục Palexi sai đến vùng Ramxi miền bắc Ấn-Độ để truyền giáo cho dân làng Majoribua, là những người rất sùng kính tôn thờ vật linh. Sau 18 năm (1952), cha Palexi trở lại vùng này, thấy cả làng đã theo đạo và sống Đức Tin rất sốt sắng! Cha Palexi hỏi thăm về giáo lý viên Gioan Caduna, thì được biết anh đã chết lâu rồi. Họ kể lại rằng:

Thời gian đầu mới đến, anh Caduna bị dân làng tẩy chay, và nói :

- Ở đây không có chỗ cho Chúa của mày!

Gioan Caduna đáp :

- Tôi không thể đi nơi khác, vì tôi đã được sai đến đây để nói về Thiên Chúa, Đấng sáng tạo và làm Chủ muôn loài, Ngài yêu thương hết mọi người, nên đã chấp nhận chết bi đát trên thập giá, nhưng chưa tới ba ngày sau, Ngài đã sống lại, ai tin vào Ngài thì được Ngài cứu độ!

Thế mà thái độ dân làng vẫn quyết liệt không muốn nghe lời anh Caduna giảng dạy.Họ đuổi anh đi. Anh đành phải chấp nhận ra khỏi làng và đã dựng một cái chòi bên cạnh ngôi làng để hằng ngày cầu nguyện cho dân đừng cứng lòng tin! Dân làng mỗi khi đi qua lều anh ở, đều phỉ nhổ và mạt sát Caduna :

- Cút đi cho xa, chúng tôi không muốn thấy mặt anh, và chúng tôi càng không muốn nghe anh nói về ông Giê-su nào đó!

Caduna trả lời :

- Tôi không đi đâu được, Chúa Giê-su đã chết vì yêu mọi người, nên tôi cũng muốn chết ở đây, để chứng tỏ lòng tôi rất yêu dân Majoribua.

Thời gian sau, anh Caduna chết vì bị bệnh sốt rét và sống quá túng thiếu. Chính nhờ cái chết của anh mà ít lâu sau, tất cả dân trong làng xin theo đạo Công Giáo hết!

Anh Gioan Caduna đã đáp trả được tiếng Chúa Giê-su hỏi : “Con có yêu Thầy hơn nhưng người này không?” (Ga 21,15-17). Vì “thế giới sẽ thuộc về tay ai biết yêu!” (Lm. Gioan Maria Vianey).

Vậy giáo lý viên Gioan Caduna xứng đáng là Hiền Thê của Đức Ki-tô, anh đã sinh nhiều con cho Thiên Chúa trong nước mắt và chết trong cô đơn !

THUỘC LÒNG

Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về, như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ (Is 62,5).


o0o

Ngày 22 Tháng 12

MÙA VỌNG

1Sm 1,24-28 ; Lc 1,46-56

BÀI ĐỌC : 1Sm 1,24-28

24 Hồi ấy, bà An-na đưa Sa-mu-en đưa lên với mình, mang theo một con bò mộng ba tuổi, hai thùng bột và một bầu da đầy rượu. Bà đưa con vào Nhà Đức Chúa tại Si-lô; đứa trẻ còn nhỏ lắm.25 Họ sát tế con bò và đưa đứa trẻ đến với ông Ê-li.26 Bà nói: "Thưa ngài, xin thứ lỗi, tôi xin lấy mạng sống ngài mà thề: tôi là người đàn bà đã đứng bên ngài, tại đây, để cầu nguyện với Đức Chúa. 27 Tôi đã cầu nguyện để được đứa trẻ này, và Đức Chúa đã ban cho tôi điều tôi đã xin Người.28 Đến lượt tôi, tôi xin nhượng nó lại cho Đức Chúa. Mọi ngày đời nó, nó sẽ được nhượng cho Đức Chúa." Và ở đó, họ thờ lạy Đức Chúa.

ĐÁP CA : 1Sm 2

Đ. Tâm hồn con hỷ hoan vì Chúa, là Đấng cứu độ con. (x c 1a)

1 "Tâm hồn con hoan hỷ vì Đức Chúa ,nhờ Đức Chúa , con ngẩng đầu hiên ngang. Con mở miệng nhạo báng quân thù: Vâng, con vui sướng vì được Ngài cứu độ.

4 Cung nỏ người hùng bị bẻ tan,kẻ yếu sức lại trở nên hùng dũng. 5 Người no phải làm mướn kiếm ăn,còn kẻ đói được an nhàn thư thái. Người hiếm hoi thì sinh năm đẻ bảy, mẹ nhiều con lại ủ rũ héo tàn.

6 Đức Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên. 7 Đức Chúa bắt phải nghèo và cho giàu có, Người hạ xuống thấp, Người cũng nhắc lên cao.

TUNG HÔ TIN MỪNG :

Hall-Hall : Lạy Đức Ki-tô là Vua muôn nước, là Đá Tảng góc tường của tòa nhà Giáo Hội. Xin ngự đến và cứu độ con người, Chúa đã lấy đất mà dựng nên. Hall.

TIN MỪNG : Lc 1,46-56

46 Ngày ấy, bà Ma-ri-a nói:"Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, 47 thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. 48 Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. 49 Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn! 50 Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người. 51 Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. 52 Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.53 Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng. 54 Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người,55 như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời." 56 Bà Ma-ri-a ở lại với bà Ê-li-sa-bét độ ba tháng, rồi trở về nhà.



DÂNG CON ĐẦU LÒNG CHO THIÊN CHÚA

Theo Luật của Mô-sê, tất cả các con đầu lòng từ loài vật đến loài người phải dâng cho Thiên Chúa, để nhớ ơn Ngài đã giết tất cả các con đầu lòng trong nước Ai-Cập, kể cả con của vua Pharaon. Có thế vua Pharaon mới để cho ông Mô-sê dẫn dân thoát nô lệ Ai-Cập (x Xh 11). Vì thế sau khi sinh con trai đầu lòng là Samuel, bà Anna đã dâng con trẻ vào Đền Thờ, và chúc tụng Thiên Chúa đã cất nỗi khổ nhục của bà trong tuổi già (x 1Sm 1,24-28 : Bài đọc).

Vào thời Tân Ước, Cha Mẹ Đức Giêsu đã tỏ ra rất cẩn thủ giữ Luật Mô-sê, đến nỗi trong ngày hai ông bà vào Đền Thờ dâng Con đầu lòng cho Thiên Chúa, tác giả Luca đã lập đi lập lại tới 5 lần “giữ Luật” (x Lc 2,22.23.24.27.39). Nhưng đối với Thiên Chúa, việc giữ Luật phải nhắm phục vụ đồng loại, đó là lý do trong Hiến Chương Nước Trời, Đức Giêsu dạy loài người sống tốt với nhau, để có một lương tâm ngay thẳng bước theo giáo lý của Chúa (x Mt 5,3-11). Bởi thế, trước khi Đức Giêsu được dâng vào Đền Thờ theo Luật, Mẹ Maria đã cho chúng ta thấy Mẹ đã cùng với Giêsu trong dạ Mẹ đến phục vụ tại nhà ông bà Dacarya và Elysabeth (x Lc 1,46-56 : Tin Mừng). Việc này báo trước sau này Con của Mẹ phục vụ loài người tội lỗi, nên bị giết ! Như thế, xưa Chúa giết các con đầu lòng của kẻ ác để giải phóng cho dân Do Thái ; nay loài người tội lỗi lại giết Con đầu lòng của Mẹ Maria, để ai biết ăn năn sám hối tội mình đã nhúng tay vào tội ác này, thì lại được nhờ Con đầu lòng Mẹ giải phóng họ thoát nô lệ satan, vì thần chết đã bị đánh gục, khởi đi từ lúc ta lãnh Bí tích Thánh Tẩy, hầu cho ta được sống hạnh phúc viên mãn đời đời trong Nước Thiên Chúa, hơn xưa dân Do Thái thoát nô lệ Ai Cập, được định cư trong miền đất Chúa hứa chảy sữa và mật (x Xh 3,8).

Bởi thế ý muốn cứu độ của Thiên Chúa đưa loài người vào Nước Trời, thì loài người phải được thấm nhuần Lời Chúa, chính Lời Chúa tái sinh họ nên một với Chúa Giêsu, họ cũng trở nên con đầu lòng của Mẹ Maria, và trở nên của lễ đầu mùa trong các loài thụ tạo dâng Chúa (x Gc 1,18).

Mẹ Maria là mẫu cho chúng ta phải được thấm nhuần Lời Chúa như Mẹ qua lời Mẹ chúc tụng Chúa tại nhà bà Êlysabeth. Lời cầu này dài nhất trong sáu lần Mẹ nói mà Thánh Kinh ghi lại (x Lc 1,34.38.40t ; Lc 2,48 ; Ga 2,3.5). Đặc biệt khi Mẹ cầu nguyện, Mẹ không tự biên tự diễn lấy ý mình mà tạ ơn Chúa, nhưng Mẹ đã nối kết các Lời Kinh Thánh, phần lớn lấy trong Thánh vịnh, một số câu trong sách Samuel, sách ngôn sứ Isaia, sách ngôn sứ Habacuc, sách Sáng thế, sách Gióp và sách ngôn sứ Mikha (x Lc 1,46-56 : Tin Mừng). Ta phải vô cùng thán phục Mẹ, vì thời ấy phụ nữ không được ai dạy Thánh Kinh cho, mà Mẹ lại rất thuộc Lời Chúa hơn ai hết. Để làm nổi bật việc phục vụ của Mẹ tại bà Êlysabeth, ông Luca không cho chúng ta thấy một việc nào Mẹ làm như những người tôi tớ khác, mà ông chỉ cho chúng ta thấy Mẹ đọc Lời Chúa để cầu nguyện, tạ ơn, đã làm cho vợ chồng Dacarya hân hoan và cả hài nhi Gioan trong dạ mẹ cũng nhảy mừng.

Chúa đã đặt Mẹ làm Mẹ của Hội Thánh (x Ga 19,27), thì việc Mẹ cầu nguyện phải trở nên mẫu cho các Ki-tô hữu, con của Mẹ noi theo. Chính vì vậy mà giáo huấn của Công Đồng Vat.II trong Hiến Chế Mạc Khải số 25 dạy : “Việc cầu nguyện phải đi đôi với việc đọc Thánh Kinh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì chúng ta ngỏ lời với Thiên Chúa khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc ta đọc Thánh Kinh”. Để cụ thể việc này, Hội Thánh tha thiết cổ võ toàn thể dân Chúa cùng tham dự giờ Kinh Phụng Vụ với hàng giáo sĩ. Vì trong Kinh Phụng Vụ, Hội Thánh là Hiền Thê của Chúa Ki-tô đã trích dẫn Lời Chúa để cầu nguyện. Thánh Phao-lô nói : “Chúng ta không biết cầu xin thế nào cho phải, thì chính Thánh Thần chuyển cầu cho chúng ta bằng những tiếng rên khôn tả” (Rm 8,26)

[cần xem lại Hiến Chế Phụng Vụ chương 4 nói về Kinh Phụng Vụ và Tông Hiến Laudis Caticum của Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI công bố sách Nguyện Mới. Tông Hiến này được in ngay đầu sách Kinh Phụng Vụ].

Thế nên, khi ta đã được thấm Lời Chúa như Mẹ Maria, để khi ta cầu nguyện, ta đã nối dài và mở rộng lời cầu của Mẹ : “Tâm hồn con hoan hỷ vì Chúa,là Đấng cứu độ con  (1Sm 2,1.6-7 = Lc 1,46-47 : Đáp ca). Có thế Chúa mới thực hiện cho chúng ta những điều cao cả như Ngài đã làm cho Mẹ, để đáng được muôn thế hệ khen ta giống Mẹ là người có phúc hơn mọi người. Muốn được như thế ta hãy cùng với Hội Thánh cầu nguyện trong Thánh Lễ này : “Lạy Đức Ki-tô là Vua muôn nước, là Đá Tảng góc tường của tòa nhà Giáo Hội. Xin ngự đến và cứu độ con người, Chúa đã lấy đất mà dựng nên” (Tung Hô Tin Mừng).

Điều ta cần lưu ý nhất, sau lời cầu nguyện của Đức Ma-ri-a, ông Luca ghi câu kết Tin Mừng hôm nay xem ra vô lý : “Maria đã lưu lại với Êlysabeth chừng ba tháng, rồi trở về nhà” (Lc 1,56). Không lẽ Mẹ Maria tới nhà chị họ và chỉ ở đó ba tháng, lúc ấy bà Êlysabeth đang mang thai đến tháng thứ chín, tức là gần tới ngày bà sinh con, thì Mẹ lại bỏ trở về quê ư ? Sở dĩ ông Luca ghi như vậy là vì ông muốn độc giả hiểu rằng : việc Đức Mẹ đến nhà ông Dacarya và bà Êlysabeth là Mẹ chủ ý diễn tả chương trình phục vụ của Con Mẹ, để cứu độ muôn người. Nói cách khác, Mẹ Maria đã phác họa chương trình hành động của Con Mẹ, mà Ngài sẽ thực hiện để cứu độ loài người.

Ta hãy so sánh :

MẸ MARIA PHỤC VỤ
  1. Mẹ cầu nguyện làm cho mọi người trong gia đình Dacarya nhảy mừng (x Lc 1,46-55) : Đó là dấu loài người được Chúa cứu độ.
  2. Mẹ phục vụ tại nhà bà Ê lysabeth ba tháng (Lc 1,56a).
  3. Mẹ trở về nhà, mười ngày sau bà Êlysabeth mới sinh Gioan (Lc 1,56b).
CHÚA GIÊ-SU PHỤC VỤ

1’ Đức Giê-su cầu nguyện và Ngài đã thắng ma quỷ khi thi hành sứ mệnh (Lc 4,1-13 ; 23,34).

2’ Đức Giê-su phục vụ ba năm, bị giết chết và nằm trong mồ ba ngày.

3’ Chúa Giê-su về trời, mười ngày sau Chúa Thánh Thần hiện xuống, lúc ấy Hội Thánh mới sinh các Ki-tô hữu (Cv 2).

Vậy vào mùa Noel, người Ki-tô hữu nào muốn được Chúa ở cùng, thì phải dự Lễ cách trọn vẹn : nghe Lời và rước Lễ, để Ngài giúp sống và hoạt động giống như Chúa Giê-su, mà Mẹ Maria đã diễn tả tại nhà bà Êlysabeth, và như thế ta sống được Lời Kinh Thánh nói : “Ai nói mình ở lại trong Chúa, thì phải đi trên con đường Đức Giê-su đã đi” (1Ga 2,6), hầu chúng ta quy tụ được nhiều người về cho Chúa. Vì càng nhiều người thuộc về Chúa, thì Chúa càng được vinh hiển, như thánh I-rê-nê nói : “Vinh quang Thiên Chúa là cộng lại những người được Chúa Ki-tô cứu độ”.

THUỘC LÒNG

  • Hiến Chế Mạc Khải số 25 dạy : “Việc cầu nguyện phải đi đôi với việc đọc Thánh Kinh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì chúng ta ngỏ lời với Thiên Chúa khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc ta đọc Thánh Kinh”.
  • Ai có nói thì nói Lời Thiên Chúa (như Mẹ Maria), ai phục vụ thì phục vụ bằng sức lực Chúa ban (như Chúa ở trong lòng Mẹ), có thế trong mọi việc chúng ta làm mới tôn vinh Thiên Chúa nhờ Đức Ki-tô Giê-su (1Pr 4,11).

o0o

Ngày 23 Tháng 12

MÙA VỌNG

Ml 3,1-4.23-24 ; Lc 1,57-66

BÀI ĐỌC : Ml 3,1-4.23-24

1 Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này : “Này Ta sai sứ giả của Ta đến dọn đường trước mặt Ta. Và bỗng nhiên Chúa Thượng mà các ngươi tìm kiếm, đi vào Thánh Điện của Người. Kìa, vị sứ giả của giao ước mà các ngươi đợi trông đang đến, - Đức Chúa các đạo binh phán.2 Ai chịu nổi ngày Người đến? Ai đứng được khi Người xuất hiện? Quả thật, Người như lửa của thợ luyện kim, như thuốc tẩy của thợ giặt.3 Người sẽ ngồi để luyện kim tẩy bạc; Người sẽ thanh tẩy con cái Lê-vi và tinh luyện chúng như vàng, như bạc. Bấy giờ, đối với Đức Chúa, chúng sẽ là những kẻ đến dâng lễ vật, theo lẽ công chính.4 Lễ vật của Giu-đa và của Giê-ru-sa-lem sẽ làm đẹp lòng Đức Chúa như những ngày xa xưa, như những năm thuở trước.

23 Này Ta sai ngôn sứ Ê-li-a đến với các ngươi, trước khi Ngày của Đức Chúa đến, ngày trọng đại và kinh hoàng.24 Nó sẽ đưa tâm hồn cha ông trở lại với con cháu và đưa tâm hồn con cháu trở lại với cha ông, kẻo khi Ta đến, Ta sẽ đánh phạt xứ sở đã bị án tru diệt.”

ĐÁP CA : 24

Đ. Hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc. (Lc 21,28)

4 Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết, lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con. 5ab Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài và bảo ban dạy dỗ, vì chính Ngài là Thiên Chúa cứu độ con.

8 Chúa là Đấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân, 9 dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính, dạy cho biết đường lối của Người.

10 Tất cả đường lối Chúa đều là yêu thương và thành tín đối với những kẻ nào giữ Giao Ước và lề luật Chúa.14 Chúa xử thân tình với những ai kính sợ Chúa và cho họ biết giao ước của Người.

TUNG HÔ TIN MỪNG :

Hall-Hall : Lạy Đức Ki-tô là Vua muôn nước, là Đá Tảng góc tường của tòa nhà Giáo Hội. Xin ngự đến và cứu độ con người, Chúa đã lấy đất mà dựng nên. Hall.

TIN MỪNG : Lc 1,57-66

57 Tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà Ê-li-sa-bét sinh hạ một con trai.58 Nghe biết Chúa đã quá hương bà như vậy, láng giềng và thân thích đều chia vui với bà.59 Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì, và tính lấy tên cha là Da-ca-ri-a mà đặt cho em.60 Nhưng bà mẹ lên tiếng nói: "Không, phải đặt tên cháu là Gio-an."61 Họ bảo bà: "Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả."62 Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em bé là gì.63 Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết: "Tên cháu là Gio-an." Ai nấy đều bỡ ngỡ.64 Ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông lại mở ra, ông nói được, và chúc tụng Thiên Chúa.65 Láng giềng ai nấy đều kinh sợ. Và các sự việc ấy được đồn ra khắp miền núi Giu-đê.66 Ai nghe cũng để tâm suy nghĩ và tự hỏi: "Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây? " Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em.

NGÀY 23 THÁNG 12

MÙA VỌNG

Ml 3,1-4.23-24 ; Lc 1,57-66



PHẢI GIÀU RỒI TRỞ NÊN NGHÈO CHO ANH EM GIÀU

Tác giả Luca hữu ý ghi hai trình thuật về ngày Sinh Nhật của ông Gioan Bt và ngày Sinh Nhật của Đức Giê-su song đối với nhau, để làm nổi bật Gioan Bt ra đời được vinh hiển là nhờ cuộc đời của ông được tham chiếu song đối với cuộc đời của Đức Giê-su. Ta hãy so sánh ngày Sinh Nhật của Gioan và ngày Sinh Nhật của Đức Giê-su :

SINH NHẬT CỦA GIOAN TẨY GIẢ
  1. Gioan là con của gia đình tư tế giàu có, ở thành Giê-ru-sa-lem, đây là trung tâm tôn giáo của Do-Thái.


2- Gioan sinh ra trong cảnh giàu có, được tất cả những người láng giềng và thân thích, thuộc giai cấp quý tộc đến chúc mừng, chắc chắn không phải bằng môi miệng, mà là quà cáp (x Lc 1,57-58 : Tin Mừng).

3- Thiên thần Gabriel truyền lệnh cho vợ chồng Dacarya và Êlysabeth đặt tên cho trẻ là Gioan, có nghĩa là “người được Chúa thương xót”, hoặc là “quà tặng của Thiên Chúa ban” (x Lc 1,59 : Tin Mừng).

4- Vào ngày thứ 8, sau khi Gioan chào đời, em được làm phép cắt bì, khi ấy ông Dacarya lấy bảng viết tên con là Gioan, thì miệng ông được mở ra, hết câm để ca tụng Thiên Chúa (x Lc 1,64 : Tin Mừng).

5- Tác giả Luca không cho ta thấy trẻ Gioan được dâng vào Đền Thờ, dù Gioan là con đầu lòng, mà theo Luật Mô-sê thì cha mẹ phải dâng con cho Chúa (x Xh 13,11t) : Báo trước Chúa không nhận của lễ vật chất loài người dâng.

SINH NHẬT CỦA ĐỨC GIÊ-SU

1’ Đức Giê-su là Thiên Chúa còn giàu có và danh dự hơn Gioan gấp bội, nhưng lại cư ngụ tại miền quê Nazareth nghèo khó, nơi mà người ta cho rằng chẳng có gì hay (x Ga 1,46).

2’ Đức Giê-su sinh ra trong cảnh nghèo khó, bị những người giàu trong thành xua đuổi : “Không có chỗ cho ông bà” (x Lc 2,7a). Nên Mẹ sinh Con lấy tã bọc và đặt nằm trong máng cỏ (x Lc 2,7b), và chỉ có các chú mục đồng nghèo khó đến chiêm bái, quà tặng Hài Nhi là hơi thở của các con thú : chiên, cừu, bò, lừa (x Lc 2,8).

3’ Thiên thần Gabriel truyền lệnh cho Giuse và Maria đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su, có nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ” (x Lc 2,21 ; Mt 1,21).

4’ Vào ngày thứ 8, cha mẹ Đức Giê-su đưa Ngài lên Đền Thờ để chịu cắt bì. Có ông Simêon và bà Anna đã lâu năm mong đợi Đấng Cứu Thế. Hôm ấy họ được Chúa mở mắt Đức Tin để nhận ra Đấng họ hằng mong đợi. Ông Simêon quá sung sướng, ông mong được chết về với Chúa, để nắm chặt ơn huệ này ; còn bà Anna thì giới thiệu Đấng Cứu Thế cho mọi người sáng mắt mà mù về Đức Tin, nên có miệng mà câm ! (x Lc 2,25-34)

5’ Đức Giê-su là Con đầu lòng của Đức Ma-ri-a, cha mẹ Ngài đã dâng Con vào Đền Thờ đúng theo Luật Mô-sê (x Lc 2,22t) :Báo trước Chúa Cha nhận Của Lễ là Con Một Ngài.

 



Khi đã so sánh hai ngày Sinh Nhật của ông Gioan và của Chúa Giêsu như trên, cho ta hai xác tín :

1- Khi Đức Giê-su xuất hiện trong Đền Thờ, Chúa Cha chỉ nhận Con đầu lòng là Con chí ái của Ngài, mà Ngài không nhận con đầu lòng của loài người nữa, đó là lý do tác giả Luca không cho thấy bé Gioan được dâng vào Đền Thờ. Nói cách khác, ai muốn dâng mình cho Thiên Chúa, người ấy phải được kết hợp trong Chúa Giê-su, nên một của lễ mới trong Hy Tế của Ngài, mới được Chúa Cha chấp nhận (x Ga 4,23-24).

2- Ngày Sinh Nhật của Gioan Bt vinh quang hơn ngày Sinh Nhật của Đức Giê-su, bởi vì Đức Giêsu vốn dĩ là Đấng giàu có, nhưng Ngài sinh ra trong cảnh nghèo khó, đó là dấu Ngài đã chia sẻ hết cho Gioan, để Gioan được giàu có, còn Ngài thì chấp nhận thân phận nghèo khó. Đức Giê-su đã sống yêu thương một cách cụ thể như thế, để Ngài dạy chúng ta phải bắt chước Ngài, vì thế thánh Phao-lô nói : “Làm sao anh em phải giàu có như Đức Giê-su, mà vì chúng ta Ngài đã trở nên nghèo khó, để chúng ta được giàu có nhờ sự nghèo khó của Ngài” (2Cr 8,9).

Vậy, ngày Sinh Nhật của Đức Giê-su làm ứng nghiệm lời ngôn sứ Malaki đã báo trước Đấng Mêsia đến để thanh tẩy : “Ai chịu nổi ngày Người đến? Ai đứng được khi Người xuất hiện? Quả thật, Người như lửa của thợ luyện kim, như thuốc tẩy của thợ giặt. Người sẽ ngồi để luyện kim tẩy bạc; Người sẽ thanh tẩy con cái Lê-vi và tinh luyện chúng như vàng, như bạc.” (Ml 3,2-3a : Bài đọc)

“Ngài như lửa của thợ luyện kim, như thuốc tẩy của thợ giặt” :

a- Ngài tự thanh tẩy chính mình, từ Đấng vốn dĩ là giàu sang, quyền uy, Ngài trở thành người nghèo khó như một nô lệ để làm cho loài người được giàu có.

b- Nhất là Ngài thanh tẩy tội lỗi loài người, đan cử như tư tế Dacarya, vì không tin vào quyền năng của Chúa cho ông bà già sinh con, nên đã bị phạt câm, thì nhờ mầu nhiệm Nhập Thể, Ngài mở miệng cho ông biết ca tụng Chúa (x Lc 1,64 : Tin Mừng).

Ông Dacarya được mở miệng vào ngày thứ 8 sau khi người con chào đời và chịu cắt bì, lại trở thành dấu chỉ nhờ Mầu Nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài : ngày thứ 8. Ngài thanh tẩy tội ác của cả kẻ đã chủ mưu giết Ngài, đan cử như ông sĩ quan Roma thi hành bản án tử tòa đã ra cho Ngài, thì chính lúc Ngài bị đâm, nước và máu từ tim Ngài dốc ra, đã làm cho miệng ông này bật lên lời tuyên xưng Đức Tin : “Người này đích thực là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Đây là lời tuyên xưng Đức Tin đầu tiên của loài người. Thực vậy, trong suốt Tin Mừng Marco, không có ai, kể cả các môn đệ theo Đức Giê-su, luôn thắc mắc : “Thầy mình là ai?” (x Mc 4,41). Tức là cả các môn đệ cũng bị câm về Thầy! Ta lại biết, người nào tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa, người đó được Ngài cứu độ (x Ga 17,3).

Chính những người được Đức Giê-su thanh tẩy như thế, họ “sẽ là những kẻ đến dâng lễ vật, theo lẽ công chính.  Lễ vật của Giu-đa và của Giê-ru-sa-lem sẽ làm đẹp lòng Đức Chúa như những ngày xa xưa, như những năm thuở trước” (x Ml 3,3b-4 : Bài đọc). Đây là những người đã làm ứng nghiệm Lời Đức Giêsu kêu gọi : “Hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc” (Lc 21,28 : Đáp ca).

Vậy chúng ta hãy cùng với Hội Thánh cầu nguyện cho mọi người được ơn cứu độ : “Lạy Đức Ki-tô là Vua muôn nước, là Đá Tảng góc tường của tòa nhà Giáo Hội. Xin ngự đến và cứu độ con người, Chúa đã lấy đất mà dựng nên” (Tung Hô Tin Mừng).

THUỘC LÒNG

Làm sao anh em phải giàu có như Đức Giê-su, mà vì chúng ta Ngài đã trở nên nghèo khó, để chúng ta được giàu có nhờ sự nghèo khó của Ngài (2Cr 8,9).


o0o

Ngày 24 Tháng 12

MÙA VỌNG

Thánh lễ Ban Sáng

2Sm 7,1-5.8b-12.14a.16 ; Lc 1,67-79

BÀI ĐỌC : 2Sm 7,1-5.8b-12.14a.16

Khi vua Đa-vít được yên cửa yên nhà và Đức Chúa đã cho vua được thảnh thơi mọi bề, không còn thù địch nào nữa,2 thì vua nói với ngôn sứ Na-than: "Ông xem, tôi được ở nhà bằng gỗ bá hương, còn Hòm Bia Thiên Chúa thì ở trong lều vải."3 Ông Na-than thưa với vua: "Tất cả những gì ngài ấp ủ trong lòng, xin ngài cứ đi mà thực hiện, vì Đức Chúa ở với ngài."

4 Nhưng ngay đêm ấy, có lời Đức Chúa phán với ông Na-than rằng:5 "Hãy đi nói với tôi tớ của Ta là Đa-vít: Đức Chúa phán thế này: Ngươi mà xây nhà cho Ta ở sao? 8b Chính Ta đã cất nhắc ngươi, từ một kẻ lùa chiên ngoài đồng cỏ, lên làm người lãnh đạo dân Ta là Ít-ra-en. 9 Ngươi đi đâu, Ta cũng đã ở với ngươi; mọi thù địch ngươi, Ta đã diệt trừ cho khuất mắt ngươi. Ta sẽ làm cho tên tuổi ngươi lẫy lừng, như tên tuổi những bậc vĩ nhân trên mặt đất.10 Ta sẽ cho dân Ta là Ít-ra-en một chỗ ở, Ta sẽ định cư chúng, và chúng sẽ ở luôn tại đó, chúng sẽ không còn run sợ, và quân gian ác cũng không còn tiếp tục áp bức chúng như thuở ban đầu,11 kể từ thời Ta đặt các thủ lãnh cai quản dân Ta là Ít-ra-en. Ta sẽ cho ngươi được thảnh thơi, không còn thù địch nào nữa, Đức Chúa báo cho ngươi biết là Đức Chúa lập cho ngươi một nhà.12 Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi -một người do chính ngươi sinh ra-, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền.14a Đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con. Khi nó phạm lỗi, Ta sẽ sửa phạt nó bằng roi của người phàm, bằng đòn của con người. 16 Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi."

ĐÁP CA : Tv 88

Đ. Lạy Chúa, tình thương Chúa, đời đời con ca tụng. (x c 2a)

2 Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng,qua muôn ngàn thế hệ miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài.3 Vâng con nói: "Tình thương ấy được xây dựng tới thiên thu, lòng thành tín Chúa được thiết lập trên trời."

4 Xưa Chúa phán: "Ta đã giao ước với người Ta tuyển chọn, đã thề cùng Đa-vít, nghĩa bộc Ta, 5 rằng: dòng dõi ngươi, Ta thiết lập cho đến ngàn đời, ngai vàng ngươi, Ta xây dựng qua muôn thế hệ."

27 Người sẽ thưa với Ta: "Ngài chính là Thân Phụ,là Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con được cứu độ! " 29 Ta sẽ yêu thương Người đến muôn thuở và thành tín giữ giao ước với Người.

TUNG HÔ TIN MỪNG :

Hall-Hall : Lạy Đức Ki-tô là Vầng Đông xuất hiện, là hào quang tỏa ánh sáng muôn đời, là Mặt Trời chiếu tỏ đường công chính, xin Ngài thương ngự đến soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần. Hall.

TIN MỪNG : Lc 1,67-79

67 Hồi ấy, ông Da-ca-ri-a,cha của Gio-an, được đầy Thánh Thần, liền nói tiên tri rằng:

68 "Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Ít-ra-en đã viếng thăm cứu chuộc dân Người. 69 Từ dòng dõi trung thần Đa-vít,Người đã cho xuất hiện Vị Cứu Tinh quyền thế để giúp ta,70 như Người đã dùng miệng các vị thánh ngôn sứ mà phán hứa tự ngàn xưa: 71 sẽ cứu ta thoát khỏi địch thù,thoát tay mọi kẻ hằng ghen ghét; 72 sẽ trọn bề nhân nghĩa với tổ tiên và nhớ lại lời xưa giao ước; 73 Chúa đã thề với tổ phụ Áp-ra-ham rằng sẽ giải phóng ta khỏi tay địch thù,74 và cho ta chẳng còn sợ hãi, 75 để ta sống thánh thiện công chính trước nhan Người, mà phụng thờ Người suốt cả đời ta.76 Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao : con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người, 77 bảo cho dân Chúa biết: Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên.78 Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta, 79 soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an".



SỐNG MẦU NHIỆM GIÁNG SINH

Ông Dacarya nói tiên tri về con ông có sứ mệnh dọn đường mở lối cho Đấng Cứu Thế đến, Ngài là “Vầng Đông (Mặt Trời) từ chốn cao vời (trên Trời) đến viếng thăm ta, Ngài đến soi sáng cho những ai ngồi nơi tăm tối (tội lỗi), và trong bóng tử thần, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an” (Lc 1,76-79 : Tin Mừng).

Như thế, ông Dacarya gọi Chúa là “Mặt Trời”, còn Đức Giê-su gọi ông Gioan là “cây đèn cháy sáng” (x Ga 5,35). Người ta chỉ cần dùng “cây đèn Gioan” sáu tháng đầu sau ngày ông ra đời ; sau đó “Mặt Trời Công Chính Giê-su” xuất hiện : Ngài sinh ra, thì “cây đèn” bị cất đi. Có nghĩa là từ ngày Sinh Nhật của Gioan đến ngày Chúa Giê-su giáng sinh, láng giềng thân thích giàu có đến chúc mừng hài nhi (x Lc 1,57-58) ; thì ngày Sinh Nhật của “Mặt Trời Giê-su” xuất hiện, còn làm cho cả loài người rộn lên niềm vui ơn cứu độ ! Vì Ngài đến làm ứng nghiệm lời ngôn sứ Samuel đã tiên báo, mà ông Dacarya nhắc đến trong ngày lễ cắt bì con ông để ca tụng Thiên Chúa : “Từ dòng dõi trung thần Đavid, Ngài đã cho xuất hiện Vị Cứu Tinh để giúp ta” (x Lc 1,60 : Tin Mừng = 2Sm 7,12-16 : Bài đọc).

Vị Cứu Tinh đến cứu giúp ta cụ thể “Ngài giải thoát ta khỏi địch thù (satan, tội lỗi), và cho ta chẳng còn gì phải sợ hãi, để ta sống thánh thiện công chính trước nhan Người, mà phụng thờ Người suốt cả đời ta” (Lc 1,71-73 : Tin Mừng). Như thế, là ứng nghiệm lời ngôn sứ Samuel đã tiên báo trong Bài đọc (x 2Sm 7,11t).

Chúng ta phụng thờ Ngài trong tâm hồn của chính ta là Đền thờ Thiên Chúa ưa chuộng (x 1Cr 3,16-17). Vì Đền thờ tâm hồn ta đã được xây dựng bằng chính máu thịt của Ngài theo chỉ thị của Chúa Cha, và Chúa Thánh Thần vừa là Kiến Trúc Sư, vừa là Đấng thi công, gắn mọi ngày trong đời ta đã kết hợp với Chúa Giê-su, để “ta trở nên viên đá sống được Chúa Thánh Thần dùng xây Tòa Nhà Hội Thánh Chúa Ki-tô” (x 1Pr 2,4-5). Vì Hội Thánh cũng là Ngôi Nhà của Thiên Chúa đã hứa xây dựng cho dòng vua Đavid, chứ không phải Đavid xây Nhà cho Thiên Chúa được Ngài ưa chuộng (x 2Sm 7,5t : Bài đọc). Vì cho dẫu Nhà Đavid có xây cho Thiên Chúa đền Giê-ru-sa-lem vô cùng tráng lệ, thì Ngài cũng đã để cho dân ngoại đến phá hai lần : Lần I, bị triệt hạ do đế quốc Babylon vào năm -587 ; rồi Đền thờ này được tái thiết sau thời lưu đày Babylon vào năm -515, nhưng rồi Chúa lại để cho dân ngoại Roma đến triệt hạ vào năm 70.

Chỉ có Đền thờ tâm hồn con người được xây dựng bởi Lời Chúa và Chúa Giê-su Thánh Thể mới có giá trị tồn tại muôn đời, một khi Đền thờ tâm hồn con người chúng ta theo mẫu cuộc đời Chúa Giê-su đã sống : Ưu tiên cho việc cầu nguyện, thứ đến lo tìm hiểu học hỏi Lời Chúa rồi đem ra thực hành, đi con đường Đức Giê-su đã đi (x Lc 4,42-44 ; 1Ga 2,6).

Nếu Chúa để ta sống 100 tuổi, tức là 36.500 ngày, mà suốt đời ta chỉ đi dự lễ Chúa nhật theo Luật, thì Chúa chỉ ở với ta 5.200 ngày, còn 31.300 ngày ta không muốn ở với Ngài. Nói cách khác, đời ta chỉ ở cùng Chúa 1/7 thời gian, 6 phần thời gian còn lại ta ở với ai ? Ta thích ở với ai nhiều, Chúa cũng chiều ta như thế ! Nhưng nếu, sống trên đời, ngày nào ta cũng Chúa rước lễ để được Chúa ở cùng, đến khi lìa cõi thế, ta mới hân hoan cảm tạ Ngài : “Tình thương Chúa đời đời con ca tụng” (Tv 89/88,2 : Đáp ca).

Vì Hội Thánh muốn ta mỗi ngày mời Chúa đến ở cùng, nên sáng nào Hội Thánh cũng dạy ta cầu nguyện trong Kinh Phụng Vụ : “Chúa giải phóng ta khỏi tay địch thù, và cho ta chẳng còn sợ hãi, để ta sống thánh thiện công chính trước nhan Chúa, mà phụng thờ Chúa suốt cả đời ta” (Lc 1,73-75). Hãy thuộc lòng câu này.

Tác giả: Đinh Quang Thịnh, Lm.
   dunglac@gmail.com