Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Đinh Quang Thịnh, Lm.
Bài Viết Của
Đinh Quang Thịnh, Lm.
SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ

NGÀY  24 THÁNG 6

SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ

Lễ Trọng

Is 49,1-6 ; Cv 13,22-26 ; Lc 1,57-66.80

Thánh lễ Chính Ngày

BÀI ĐỌC I : Is 49,1-6

1 Hỡi các đảo, hãy nghe tôi đây, hỡi các dân tộc miền xa xăm, hãy chú ý : Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ,  lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi. 2 Người đã làm cho miệng lưỡi tôi nên như gươm sắc bén, giấu tôi dưới bàn tay của Người. Người đã biến tôi thành mũi tên nhọn,cất tôi trong ống tên của Người.3 Người đã phán cùng tôi : "Hỡi Ít-ra-en, ngươi là tôi trung của Ta. Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang." 4 Phần tôi, tôi đã nói: "Tôi vất vả luống công, phí sức mà chẳng được gì." Nhưng sự thật, đã có Đức Chúa minh xét cho tôi, Người dành sẵn cho tôi phần thưởng. 5 Giờ đây Đức Chúa lại lên tiếng. Người là Đấng nhào nặn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ để tôi trở thành người tôi trung, đem nhà Gia-cóp về cho Người  và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người.Thế nên tôi được Đức Chúa trân trọng, và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi. 6 Người phán: "Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta để tái lập các chi tộc Gia-cóp, để dẫn đưa các người Ít-ra-en sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít. Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất."

ĐÁP CA : Tv 138

Đ.         Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng. (c 14a)

1 Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, 2 biết cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, 3 đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.

13 Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con. 14ab Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu!

14c Hồn con đây biết rõ mười mươi. 15 Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì, khi con được thành hình trong nơi bí ẩn,được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu.

BÀI ĐỌC II : Cv 13,22-26

22 Khi đến An-ti-ô-khi-a, ông Phao-lô đứng giữa hội đường và nói : “Sau khi truất phế vua Sa-un, Thiên Chúa đã cho ông Đa-vít xuất hiện làm vua cai trị dân Ít-ra-en. Người đã làm chứng về ông rằng: Ta đã tìm được Đa-vít, con của Gie-sê, một người đẹp lòng Ta và sẽ thi hành mọi ý muốn của Ta.23 Từ dòng dõi vua này, theo lời hứa, Thiên Chúa đã đưa đến cho Ít-ra-en một Đấng Cứu Độ là Đức Giê-su.24 Để dọn đường cho Đức Giê-su, ông Gio-an đã rao giảng kêu gọi toàn dân Ít-ra-en chịu phép rửa tỏ lòng sám hối.25 Khi sắp hoàn thành sứ mệnh, ông Gio-an đã tuyên bố: "Tôi không phải là Đấng mà anh em tưởng đâu, nhưng kìa Đấng ấy đến sau tôi, và tôi không đáng cởi dép cho Người.

26 “Thưa anh em, là con cái thuộc dòng giống Áp-ra-ham, và thưa anh em đang hiện diện nơi đây, là những người kính sợ Thiên Chúa, lời cứu độ này được gửi tới chúng ta.”

           

TUNG HÔ TIN MỪNG : Lc 1,76

            Hall-Hall : Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao : Con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người. Hall.

TIN MỪNG : Lc 1,57-66.80

                        57 Tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà Ê-li-sa-bét sinh hạ một con trai.58 Nghe biết Chúa đã quá thương bà như vậy, láng giềng và thân thích đều chia vui với bà.

            59 Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì, và tính lấy tên cha là Da-ca-ri-a mà đặt cho em.60 Nhưng bà mẹ lên tiếng nói: "Không, phải đặt tên cháu là Gio-an."61 Họ bảo bà: "Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả."62 Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em bé là gì.63 Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết: "Tên cháu là Gio-an." Ai nấy đều bỡ ngỡ.64 Ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông lại mở ra, ông nói được, và chúc tụng Thiên Chúa.65 Láng giềng ai nấy đều kinh sợ. Và các sự việc ấy được đồn ra khắp miền núi Giu-đê.66 Ai nghe cũng để tâm suy nghĩ và tự hỏi: "Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây? " Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em.

            80 Cậu bé càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Cậu sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en.

CON GÌ LỚN NHẤT ?

            Trong những sinh vật được Chúa tạo dựng, con người lớn lao cao trọng nhất, vì Chúa chỉ lấy mẫu hình ảnh của Ngài để sáng tạo con người sau cùng trong muôn loài Ngài dựng nên, và sau đó xem ra Chúa không còn sáng kiến nào để tạo dựng cái gì khác nữa, đặc biệt là Chúa trao cho con người quyền làm chủ muôn loài trong vũ trụ Ngài đã tạo dựng (x St 1). Như thế, con người lớn nhất trong muôn loài Chúa đã dựng nên. Tuy vậy, Đức Giê-su lại nói về ông Gio-an Tẩy Giả : “Trong những kẻ sinh bởi người nữ, chưa một người nào lớn hơn ông Gio-an Tẩy Giả đã trỗi dậy ; nhưng kẻ nhỏ hơn trong Nước Trời lại lớn hơn ông” (Mt 11,11).

            Lời này của Đức Giê-su nói về ông Gio-an Tẩy Giả có hai phần :

-          Ông là con người lớn nhất.

-          Ông lại là người bé hơn “kẻ nhỏ” trong Nước Trời .

I. ÔNG GIO-AN TẨY LÀ CON NGƯỜI LỚN NHẤT.

            Đức Giê-su, Đức Ma-ri-a cũng đều do người nữ sinh ra, không lẽ các Đấng lại nhỏ hơn ông Gio-an Tẩy Giả sao?

            Thưa không, Đức Giê-su nói về ông Gio-an Tẩy Giả là Ngài chỉ muốn xác nhận rằng : ông Gio-an Tẩy Giả lớn nhất chỉ vì trong loài người, riêng mình ông Gio-an xét về mặt con người với sứ mệnh ngôn sứ của ông giống Con Thiên Chúa làm người, từ khi được tượng thai trong lòng mẹ cho đến lúc chết.

            Thực vậy :

            1- Ông Gio-an Tẩy Giả và Đức Giê-su cùng một sứ mệnh ngôn sứ :

            Đức Giê-su và ông Gio-an đều là ngôn sứ của Thiên Chúa từ bẩm sinh như ngôn sứ I-sai-a trong Bài đọc I : “Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, lúc tôi chưa chào đời,  Người đã nhắc đến tên tôi, Người đã làm cho miệng lưỡi tôi nên như gươm sắc bén” (Is 49,1-2).

            2- Ông Gio-an Tẩy Giả và Đức Giê-su cùng được sinh ra trong gia đình bất thường :

            Cha mẹ Đức Giê-su không ăn ở với nhau (x Lc 1,34) ; cha mẹ của ông Gio-an thì đã cao niên hết thời sinh nở (x Lc 1,7).

            3- Ông Gio-an Tẩy Giả và Đức Giê-su cùng do một thiên thần đến báo tin :

            Thiên thần Gabriel báo tin cho ông Da-ca-ry-a : “Vợ ngươi sẽ sinh cho ngươi một con trai” (Lc 1,13b) ; và cũng thiên thần Gabriel báo tin cho Đức Ma-ri-a : “Nơi lòng dạ người sẽ thụ thai và sinh con” (Lc 1,31).

            4- Ông Gio-an Tẩy Giả và Đức Giê-su cùng được thiên thần chỉ định đặt tên :

            Thiên thần bảo ông Da-ca-ry-a phải tên cho con là Gio-an, có nghĩa Thiên Chúa là Đấng thương xót (x Lc 1,13) ; thiên thần cũng cho Đức Ma-ri-a biết phải đặt tên cho con là Giê-su, có nghĩa là Thiên Chúa cứu độ (x Lc 1,31).

            5- Ông Gio-an Tẩy Giả và Đức Giê-su cùng giàu có nhưng lại sống nghèo khó :

            Ông Gio-an Tẩy Giả là con của tư tế Da-ca-ry-a, một gia đình giàu có ở Giê-ru-sa-lem, nên khi Gio-an chào đời, láng giềng thân thích đến chung vui chúc mừng (x Lc 1,58 : Tin Mừng). Vậy mà sau đó Gio-an lại được lớn lên trong sa mạc cho đến ngày thụ mệnh đến với Israel (x Lc 1,80 : Tin Mừng), và sau này ông chỉ mặc áo lông lạc đà, ăn châu chấu, mật ong dại (x Mt 3,4) ; còn Đức Giê-su vốn dĩ là Đấng giàu có, vì Ngài là Con Một Chúa Cha trên trời, nhưng khi chào đời, cha mẹ Ngài không tìm được nơi ấm cúng trong thành để sinh con, nên Đức Ma-ri-a phải đặt con nơi hang bò lừa, nằm trong máng cỏ, chỉ có tã bọc thân ! (x Lc 2,7) Khi Đức Giê-su vào đời làm việc không có nơi gối đầu, như thế còn thua chim có tổ, cáo có hang (x Lc 9,58), cuối đời lại chết trần trụi trên thập giá, được an táng trong ngôi mộ đá mượn của người khác đã khoét sẵn ! (x Lc 23,53)

            6- Ông Gio-an Tẩy Giả và Đức Giê-su cùng dọn đường cho người ta đón nhận được Đấng Cứu Độ :

            Sứ mệnh của ông Gio-an là dọn đường cho người ta đón nhận Đức Giê-su (x Cv 13,23-24 : Bài đọc II) ; còn Đức Giê-su thì dọn đường cho người ta đón nhận Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho con người được kết hợp với Đức Giê-su để được cứu độ ! (x Ga 16,7-15 ; Cv 1,5).

            7- Ông Gio-an Tẩy Giả và Đức Giê-su cùng một chương trình hành động :

            Ông Gio-an và Đức Giê-su khi khai mào sứ mệnh đều chung một lời kêu gọi mọi người : “Hãy hối cải vì Nước Trời đã gần bên!” (Mt 3,2 = Mt 4,17) ; ông Gio-an Tẩy Giả bắt đầu thi hành sứ mệnh từ trong hoang địa (x Lc 1,80 : Tin Mừng) ; Đức Giê-su bắt đầu đời hoạt động công khai, Thánh Thần thúc đẩy Ngài vào sa mạc (x Mt 4,1) ; cả hai Đấng đều muốn mọi người phải sám hối tội mình và xin ơn được thanh tẩy từ sông Gio-đan (x Mt 3,13-17).

            8- Ông Gio-an Tẩy Giả và Đức Giê-su cùng giảng dạy với tinh thần không khoan nhượng :

            Ông Gio-an nói : “Lưỡi rìu đã sẵn gốc cây, cây nào không sinh trái sẽ bị chặt và quăng vào lửa” (Mt 3,10), có nghĩa là phải diệt ngay kẻ ác ; còn Đức Giê-su nhìn cây vả lớn lá xum suê, dù không phải là mùa vả nên nó không có trái, vậy mà Ngài nói : “Cho đến đời đời, không quả nào sinh bởi mày nữa, tức khắc cây vả chết khô” (x Mt 21,18t), có nghĩa là những người trưởng thành mà không tin vào Đức Giê-su, thì không thể làm việc gì tốt lành, tự diệt mình ! (x Ga 15,5)

            9- Ông Gio-an Tẩy Giả và Đức Giê-su cùng cảm giác sứ mệnh mình thi hành như vô ích :

            Ông Gio-an giảng về Đấng Mê-si-a sẽ đến diệt kẻ ác (x Mt 3,10), thế mà kẻ ác như Hê-rô-đê lại nhốt ông vào tù làm ông hoảng, sinh hồ nghi lời giảng của mình, nên sai môn đệ đến hỏi Đức Giê-su : “Ngài có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi đợi Đấng khác ?” (Mt 11,2-3) Còn Đức Giê-su than cho sứ mệnh của mình : “Không biết ngày tôi trở lại, liệu còn gặp được niềm tin trên mặt đất này nữa không?” (Lc 18,8).

            Tâm tình này chẳng khác nào tâm tình của ngôn sứ I-sai-a trong Bài đọc I : “Tôi đã vất vả luống công phí sức mà chẳng được gì, nhưng sự thật, đã có Đức Chúa minh xét cho tôi, vì phần thưởng của tôi ở nơi tay Ngài” (Is 49,4).

            10- Ông Gio-an Tẩy Giả và Đức Giê-su cùng chết vì sứ mệnh cứu người khỏi tội :

            Ông Gio-an bị vua Hê-rô-đê cắt đầu vì dám ngăn cản vua không được cướp vợ anh mình (x Mt 14,3-12) ; còn Đức Giê-su vì ngăn cản mọi người không được sống ác, nên bị treo trên thập giá ! (x Mt 27,39t)

            Ông Gio-an đã biết trước điều này nên ông nói : “Ngài phải lớn lên (trên thập giá) ; còn tôi thì nhỏ lại (bị mất đầu)   [Ga 3,30].

            Vậy những điểm giống nhau giữa ông Gio-an Tẩy Giả và Đức Giê-su trên đây minh chứng rằng : chưa có ai sinh ra đời sống giống như Đức Giê-su hay diễn tả về Đức Giê-su như ông Gio-an Tẩy Giả. Đó là lý do Đức Giê-su khen ông là người lớn nhất trong nhân loại và đây cũng là lý do Phụng vụ của Hội Thánh chỉ mừng ngày sinh nhật của ông Gio-an Tẩy Giả trên trần gian, các thánh khác, ngày sinh nhật lại mừng ngày Chúa cho về Thiên đàng (x Lời Nguyện Đầu Lễ của Các Thánh trong Phụng vụ). Dĩ nhiên Đức Giê-su và Mẹ Ma-ri-a đều là “kẻ nhỏ” trong Nước Trời còn lớn hơn ông Gio-an Tẩy Giả, nên hai Đấng này có lễ Sinh Nhật trên trần gian (gọi Đức Giê-su, gọi Đức Ma-ri-a là “kẻ nhỏ” trong Nước Trời, vì ông Gio-an làm phép rửa cho Đức Giê-su, lúc ấy người ta nhìn Đức Giê-su như các tội nhân khác xếp hàng xuống sông Gio-đan xin ông Gio-an làm phép rửa, và Đức Ma-ri-a tự xưng mình là nữ tỳ của Thiên Chúa).

II. ÔNG GIO-AN TẨY GIẢ LÀ KẺ BÉ HƠN “KẺ NHỎ” TRONG NƯỚC TRỜI.

            Đức Giê-su nói : “Kẻ nhỏ trong Nước Trời lại lớn hơn ông Gio-an” (Mt 11,11b).

            Thuật ngữ “kẻ nhỏ” trong Tân Ước, dành riêng chỉ về người được Đức Giê-su cứu độ, hay người thuộc về Hội Thánh Chúa Ki-tô. Đan cử :

            * Đức Giê-su nói :

               - Ai cho một người trong những kẻ bé mọn này uống một bát nước lã mà thôi vì danh nghĩa là môn đệ, thì quả thật Ta bảo các ngươi : nó sẽ không mất phần thưởng của nó” (Mt 10,42).

               - Cha Ta không mạc khải cho hạng khôn ngoan thông thái, mà đã mạc khải cho những kẻ bé mọn! (Mt 11,25)

               - Ai làm cớ vấp phạm cho một người nào trong các kẻ nhỏ đã tin vào Ta, thì thà nó bị khoanh cối lừa kéo treo cổ và nhận chìm đáy biển còn hơn! (Mt 18,6)

            * Thánh Gio-an viết thư cho các Ki-tô hữu, ông luôn luôn dùng từ “hỡi các con thơ bé” (x 1Ga 2,12.14.18.28).

            Vậy “kẻ nhỏ” trong Nước Trời còn lớn hơn ông Gio-an Tẩy Giả, có nghĩa là người Công giáo lớn hơn ông Gio-an Tẩy Giả, vì họ được lãnh Bí tích Khai tâm (Thánh Tẩy, Thêm Sức, Thánh Thể) là họ được trở nên một xương thịt, một sự sống với Thiên Chúa (x Dt 2,14 ; Ga 6,57), đến nỗi nói như thánh Phao-lô : “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi!”     (Gl 2,20) Nghĩa là được đồng hóa với Đức Giê-su cùng là Tư Tế, Ngôn Sứ và là Vương Đế ; lại được trở nên Hiền thê của Đức Ki-tô (x 2Cr 11,2 ; Ga 3,29a) ; còn ông Gio-an Tẩy Giả chỉ giống Đức Giê-su về kiếp người làm ngôn sứ cho Chúa, lại chỉ là chú phù rể của Tân Lang Giê-su mà thôi ! (x Ga 3,29b) Nên ông Gio-an Tẩy Giả nói : “Tôi không xứng đáng làm nô lệ cởi dép cho Đức Giê-su” (x Cv 13,25 : Bài đọc II), thì cũng có nghĩa là ông không xứng đáng cởi dép cho người Công giáo !

            Bởi đó người Công giáo có đức tin trưởng thành, không nên mừng ngày sinh ra đời, vì ngày đó còn là người bất chính ngay khi còn trong thai mẫu (x Tv 51/50,7 ; St 25,19t ; 38,27t). Nên phải mừng ngày lãnh Bí tích Thánh Tẩy mới thực là ngày sinh nhật của mình, vì ngày đó được sinh lại làm con Thiên Chúa lớn nhất !

            Đặc biệt người Ki-tô hữu khi ý thức sống chức linh mục cộng đoàn của mình trong ngày lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, là làm cho muôn dân quy phục Thiên Chúa, như sứ mệnh của ông I-sai-a (49,5-6 : Bài đọc I), cũng giống như sứ mệnh của ông Gio-an Tẩy Giả, thì người Ki-tô hữu đã báo hiếu được cha mẹ mình, như ông Gio-an lúc cha mẹ đặt tên cho là Gio-an có nghĩa là người được Chúa thương xót, báo hiệu thời Đấng Cứu Thế đến, thì người cha hết bị câm, bật miệng ca tụng Thiên Chúa (x Lc 1,46 : Tin Mừng). Đúng với lời Sách Thánh nói : “Cứ nhìn vào con cái của họ, người ta sẽ biết về cha mẹ nó” (Hc 11,28b).

            Lạy Chúa, con ca tụng Chúa, vì con được tạo thành cách lạ lùng (Tv 139/138 : Đáp ca).

THUỘC LÒNG.

            Trong những người do người nữ sinh ra, không ai cao trọng bằng Gio-an Tẩy Giả, nhưng “kẻ nhỏ” trong Nước Trời còn lớn hơn ông ! (Mt 11,11).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tác giả: Đinh Quang Thịnh, Lm.
   dunglac@gmail.com