Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Thái Hợp, Gm.
paulthaihop@yahoo.com
Bài Viết Của
Nguyễn Thái Hợp, Gm.
Phỏng vấn Tân Giám Mục Nguyễn Thái Hợp của Web Giáo Phận Vinh
Để Họ Lớn Lên (Lời Mở Đầu)
Mời đọc sách: Yves Congar, con người & tư tưởng
Yves Congar, thần học gia khai mở
Tương quan phong phú giữa Văn hóa và Đức tin (BTDL 1)
Liên đới theo quan điểm Công giáo
Nghĩ về người trẻ hôm nay
Tôn giáo đối diện với toàn cầu hóa
Tương quan phức tạp giữa Công giáo với Nhà Nước Việt Nam
Thử Nhận Diện Con Người Việt Nam
ĐỂ HỌ LỚN LÊN - PHẦN I : ĐÔI NÉT VỀ GIỚI TRẺ VIỆT NAM - THỬ NHẬN DIỆN CON NGƯỜI VIỆT NAM

Phần I : Đôi Nét Về Giới Trẻ Việt Nam

Thử Nhận Diện Con Người Việt Nam

    Một trong những câu hỏi nền tảng được nhiều người nêu lên và hầu như chưa ai tìm ra lời giải thoả đáng. Tại sao một dân tộc có truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm lại rất khó hợp tác với nhau để thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh? Tại sao một dân tộc đã anh dũng đánh bại tất cả những mưu đồ xâm lược đến từ bên ngoài, nhưng xem ra lại quá nhẫn nhục trong thời bình và hơn nữa bước đi quá khó nhọc trên con đường công nghiệp hoá? Tính cách nào mang lại cho dân tộc Việt Nam một sức sống mãnh liệt đến thế, để vẫn tồn tại, vẫn chiến đấu và chiến thằng qua mọi cuộc xâm lăng bạo tàn?... Nhưng tính cách nào đã có, đang có “trong ta”, để trở thành một lực cản, một sự níu kéo, làm ta bước khó khăn hơn trên con đường hiện đại hoá và công nghiệp hoá đất nước? Làm sao tạo ra trong xã hội một lối tư duy sáng tạo, một kiểu nghĩ nhất quán, dài hơi, chứ không chắp vá, “ăn xổi ở thì”?

    Trong “Cơ hội của Thánh Gióng”, tiến sĩ Vũ Minh Khương cũng thẳng thắn nói lên nỗi bức xúc của mình trước hiện tình của đất nước. Trả lời câu hỏi của phóng viên báo Tuổi Trẻ về nguyên nhân của những tiêu cực trong xã hội ta và đâu là Thánh Gióng hôm nay, ông nói: “Theo tôi, trước hết chúng ta phải nhìn thẳng vào mình và phải biết xấu hổ. Nếu cần, ta hãy tự hỏi: tại sao một dân tộc giàu nhân văn, yêu cái đẹp như vậy mà tỉ lệ người bị HIV, nghiện ma tuý lại cao hơn Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…? Tại sao người Việt vốn trọng tín nghĩa, khẳng khái, chân chính, thậm chí sẵn sàng chết vì lòng trung nghĩa mà nay lại bị xếp hạng nạn tham nhũng cao nhất nhì Đông Á? Giới trẻ ngày nay sao không có Trần Quốc Toản, Lê Hồng Phong, Kim Đồng…? Tại sao trong các cán bộ nhà nước không còn ai nói: bệ hạ muốn hàng xin chém đầu thần trước?

    Chúng ta từng làm nên Điện Biên Phủ, mùa xuân đại thằng 1975, vậy qua 30 năm hoà bình độc lập ta làm được gì để không hổ thẹn với cha ông? Chúng ta hoan hỉ về xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới là đúng. Nhưng hãy nhớ rằng cha ông ta đã từng đạt được danh hiệu này từ hàng thế kỷ trước. Trong tình huống nào đó ta phải chấp nhận tạm thời nhưng đừng quá vui về các chỉ số xuất khẩu lao động. Hãy luôn canh cánh về thể diện quốc gia, tự hào dân tộc”.

    Những dòng dưới đây không phải là những câu trả lời thoả đáng cho những câu hỏi hóc búa ở trên. Đây chỉ là đôi nét phác thảo để nhận diện con người VIệt Nam qua những giai đoạn thăng trầm của lịch sử, với hy vọng hiểu thêm đôi chút về con người Việt Nam hôm nay.

1. Mẫu người của Nho giáo

    Suốt dọc nhiều thế kỹ dưới chế độ quân chủ theo ý thức hệ Nho giáo, quyền lãnh đạo đất nước được đặt vào tay vua, chúa, quan quyền. Ngoài giới thượng lưu đó, xã hội Việt Nam ngày xưa được chia thành bốn giai tầng: sĩ, nông, công, thương. Trên thực tế, hai nhân vật chính của một nước công nghiệp theo ý thức hệ Nho giáo vẫn là nhà Nho và nhà nông. Thật vậy, thủ công nghệ và thương nghiệp chưa có vai trò quan trọng trong xã hội, hơn nữa còn bị đánh giá thấp, nhất là đối với người buôn bán.

    Giới sĩ phu, trái lại, được triều đình ưu đãi và nhân dân kính trọng. Tuy họ chưa thuộc thành phần quan lại, nên chưa được hưởng bổng lộc vua ban, nhưng giới sĩ phu cũng được triều đình miễn tô thuế và miễn lao dịch. Trong làng xã, nhà Nho có một thế lực tinh thần và đóng một vai trò đặc biệt. Họ sống dựa vào danh vị và vào uy tín, được dân làng và họ hàng vị nể, trọng vọng, biếu xén, giúp đỡ.

    Nhà nông chiếm đại đa số dân chúng và là lực lượng sản xuất nền tảng của quốc gia. Vì ruộng đất ít và phương tiện canh tác thô sơ, nên nông dân Việt Nam ngày xưa rất cơ cực. Ngoại trừ một thiểu số ít ỏi thuộc thành phân địa chủ, phú nông và trung nông, còn lại phần đông nông dân Việt Nam vừa thất học, vừa thiếu ăn, thiếu mặc, nhà cửa rách nát. Nhưng chính họ lại là lực lượng sản xuất và đóng góp kinh tế chủ yếu cho Nhà nước. Hàng năm họ phải nộp thuế bằng thóc, bằng tiền và bằng cả lao dịch (đi phu, đi xâu).

 Vì điều kiện cụ thể của sinh hoạt nông nghịep lệ thuộc rất nhiều vào thiên nhien, nhà nông Việt Nam gắn bó mật thiết với thiên nhiên và luôn hướng tới nếp sống hài hoà, nhưng có phần thiên về âm tính: lấy tĩnh làm gốc, cái vô hình trên cái hữu hình, tình nặng hơn lý, xu thế ổn định nổi trội hơn xu thế phát triển. Khuynh hướng hài hoà nặng âm tính này biểu hiện rõ rệt qua lối sống tình cảm, mềm dẻo, kín đáo, tế nhị, linh hoạt, du di, xuề xoà, tương đối, “chín bỏ làm mười”.

    Sinh hoạt nông nghiệp, đặc biệt nghề trồng lúa nước, với đặc tính thời vụ cao, đòi hỏi phải dựa vào nhau để sống. Chính vì vậy, tính cộng đồng, tinh thần tương thân tương trợ và tổ chức phường hội, tinh thần làng xã luôn được đặt nổi. Ngoài ra mỗi gia đình riêng lẻ cũng không đủ khả năng để đối phó một cách hữu hiệu với những bất trắc của môi trường tự nhiên, như thiên tai hay lụt lội, và điều kiện xã hội, như nạn trộm cướp chẳng hạn. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà ở Việt Nam tổ chức nông thôn theo huyết thống thường đặt căn bản trên yếu tố gia tộc. Các khái niệm truyền thống như “cửu tộc” (chín đời), “tộc trưởng” (trưởng họ); “từ đường” (nhà thờ họ), “gia phả”; “ruộng kị”; “giỗ họ”; “giỗ tỗ”… đều liên quan đến gia tộc chứ không phải gia đình.

    Ca dao Việt Nam diễn tả thật sắc nét vai trò của gia tộc, với khả năng yêu thương, cưu mang và đùm bọc nhau: “Con người có tổ, có tong. Như cây có cội, như sông có nguồn”. Hay “con có mẹ như măng ấp bẹ”. Trái lại, “con không cha như nhà không nóc”. Trong mọi trường hợp, chắc chắn “máu loãng còn hơn nước lã”.

    Trong hệ thống đại gia tộc của Việt Nam, “chú là cha” và “anh em như thể tay chân, rách lành đùm bọc dở hay đở đần”. Nhờ vậy, dù có sa cơ thất thế thế nào đi chăng nữa, con người cũng không cảm thấy bơ vơ côi cút, vì “sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”. Gia tộc không những hổ trợ về vật chất, mà còn là điểm tựa về tinh thần và xã hội. Người xưa thường nói: “Nó lú nhưng chú nó khôn”, và vẫn đinh ninh rằng “một người làm quan cả họ được nhờ”.

  Theo truyền thống, tổ chức gia tộc là quan hệ theo hàng dọc, có tôn ti trật tự, có cấp bậc trên dưới, với vai trò rõ rệt của tộc trưởng và gia trưởng. Mệnh lệnh và kiến thức thường cũng được truyền đạt theo tương quan chiều dọc từ trên xuống. Ngoài họ nội, còn có họ ngoại, họ đàng vợ, đàng mẹ, đàng bà. Mỗi người đều nằm trong một mạng lưới rộng lớn và phức tạp về họ hàng. Giữa những người thân thuộc, nội cũng như ngoại, không những có liên hệ tình cảm, mà còn có trách nhiệm liên đới với nhau.

    Nếu qui tắc xử thế của Tây phương là luật pháp, khách quan, rõ rệt nhưng cứng ngắc, thì qui tắc xử sự ở Việt Nam ngày xưa là tục lệ. Truyền thống thiên về tình cảm của người dân Việt đã làm “mềm đi” tính cứng ngắc của luật pháp bằng những tục lệ của làng xã. Vua được coi là Con Trời “Thiên Tử”, nắm trọn quyền sinh sát trong tay. Nhưng trong thực tại cuộc sống, có những lúc “phép vua thua lệ làng”. Nhiều làng giống như một hòn đảo biệt lập, chung quanh có lũy tre và ao hồ bao bọc. Sau lũy tre và cổng làng là một cuộc sống riêng biệt và đóng kín đến độ nhiều khi mỗi làng trở thành một thế giới riêng, với hương ước, tục lệ, nếp sống tinh thần và ngay cả điều kiện vật chất.

    Nho giáo chủ trương dùng sức để trị dân, nên phải giao phó công việc trị nước trong tay những người có đức, có tài. Lớp người này, nhà Ngo gọi là quân tử. Theo nguyên nghĩa, chử quân tử lúc đầu được sử dụng để diễn tả địa vị của tầng lớp sĩ phu, vua quan, đối lập với đám tiểu nhân là tầng lớp nông dân và thợ quyền.

    Vì thế, quân tử thì tốt đẹp, cao quý, còn tiểu nhân chỉ là bọn phàm phu tục tử, thất học, đê tiện, thấp hèn, lỗ mạng, vô lễ, nhỏ nhen, đáng khinh bỉ. Thành ra, sự so sánh rõ rệt trắng đen: quân tử thượng đạt, tiểu nhân hạ đạt (quân tử đạt về cái lý cao minh, tiểu nhân đạt về cái lý đê tiện); quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân (quân tử cầu ở mình, tiểu nhân cầu ở người); quân tử hoà nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hoà.

    Bên cạnh nghĩa nguyên thủy đó, còn hai ý nghĩa chính nữa, theo đó “quân tử” thuần túy ám chỉ tư cách, hoặc vừa địa vị vừa tư cách. Do đó, theo Khổng Tử, quân tử phải là người có đức nhân, hiểu rõ điều nghĩa (quân tử dụ ư nghĩa), giữ vững khí tiết trong hoàn cảnh bần cùng (quân tử cố cùng), trọng trung tín (quân tử..chủ trung tín), thận trọng trong lời nói mà hăng hái trong việc làm, biết thì nói là biết, không biết thì chịu là không biết (tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri giã), quân tử truy tầm đạo, không lo nghèo (quân tử ưu đạo bất ưu bần).

    Dưới ý thức hệ Nho giáo và trong môi trường cụ thể “làng - họ”, con người Việt Nam ngày xưa chỉ là một bộ phận phụ thuộc và hoàn toàn lệ thuộc vào tập thể. Cho đến cuối thể kỷ XIX, tại Việt Nam chưa xuất hiện mô hình nhân cách và nhân vị của con người độc lập, tự do, tự tại, với nếp sống và nếp nghĩ riêng. Con người Việt Nam lúc ấy là “con người của gia đình, của họ hàng, của làng nước. Bản thân họ không có gì là của mình: thân thể là của cha mẹ cho, phận vị là của vua cho, số mệnh là của Trời cho. Họ có được cái gì cũng là nhờ ơn vua, ơn Trời. Giá trị của nó được tính theo chỗ nó là con ai, thuộc họ nào, làng nào, có chức sắc gì, chứ không theo chỗ bản thân nó là gì. Trong xã hội tất cả là thần dân của vua, đều được xếp vào bậc thang tước vị, rồi lại phải chia thành hạng cha chú hay con cháu. Con người phải nhìn xuống, nhìn lên trong cái thang trật tự trên dưới đó, tự xác định vị trí của mình mà ăn mặc, nói năng, đi đứng cho phải phép. Đó là con người chức năng trong xã hội luân thường chứ không có nhân cách độc lập”.

    Thân phận người phụ nữ còn bi đát và thêm thảm hơn, vì suốt cuộc đời bị trói buộc bởi “Tam tong”: khi còn sống trong gia đình phục tùng cha, khi lấy chồng phục tùng chồng, chồng chết phải theo con, nghĩa là không được bước thêm bước bữa. Rút cục suốt đời phải quên hạnh phúc riêng tư và chính bản thân để tận tụy lo lắng, hy sinh cho chồng con. Hầu như người phụ nữ lúc ấy không thể nghĩ đến chuyện phát triển bản thân, mà phải tận lực cho giang sơn nhà chồng, để rồi suốt đời luẩn quẩn bên cái cối xay sau lũy tre làng.

    Hẳn chúng ta chưa quên câu nói đã được người xưa lặp đi lặp lại như một điệp khúc, từ đời nọ sang đời kia: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một con trai kể là có, mười con gái vẫn kể là không). Lý do xâu xa của việc đối xử phân biệt này nằm ở quan niệm Khổng Mạnh về việc nối dõi tông đường, nghĩa là triệt để đặt lợi ích của gia đình và dòng họ trên quyền lợi của con người cụ thể. Do đó trong ba tội bất hiếu, tội lớn nhất vẫn là không có con trai để nối dõi tông đường (bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại).

    Mẫu gia đình xây dựng theo tư tưởng Nho giáo là gia đình nề nếp. Trong gia đình này, mỗi thành viên đều biết và cố gắng thi hành cặn kẽ nhiệm vụ, lễ tiết và vị thế của mình. Giáo dục giữ một vai trò rất quan trọng và là trách vụ đặc biệt của người gia trưởng. Nguyễn tắc nam tôn nữ ti, chồng chính vợ tùy, con cái phải có hiêế, anh em hoà thuận…là nguyên tắc căn bản. Riêng người con gái, phải gắn liền với “tàm tòng tứ đức”. Nhưng trong thực tế, ở những gia đình nề nếp không ai vì nguyên tắc nam tôn nữ ti mà khinh thường người phụ nữ, trái lại chồng luôn tôn trọng và nể vợ. Không giáo quy định đôi vợ chồng phải “tương kính như tân”. Và cha mẹ dù tin yêu con ruột mình hơn, vẫn giao việc nhà cho con dâu, nghĩa là tôn trọng chức năng người chủ phụ.

    Sau khi phân tích hai mẫu người cổ điển, giáo sư Trần Đình Hượu còn thêm một mẫu người thứ ba: “bên cạnh mô hình người quân tử, ta có một mô hình khác, cũng là người nông dân, nhưng không phải nhìn theo cách nhà Nho, mà tổng hợp từ thực tế cuộc sống của nền kinh tế cống nạp và tự túc, của đời sống gia đình, làng, họ, của trật tự trên dưới vua quan với dân, cha chú với con em…”. Ông gọi rất đúng “con người đó là “tiểu kỉ” – cái tôi bé nhỏ - cam chịu thân phận hèn mọn, bị động, nhờ ân huệ, vun quén, xà xẻo, khôn khéo lẩn tránh… Con người đó cũng có quan niệm thế giới của họ, ý thức về bản thân và chọn lực cho mình cả lí tưởng, cả cách ứng xử, cách đánh giá lợi hại, khôn dại…”.

 Dĩ nhiên “con người tiểu kỉ” này có lý do và vai trò của nó trong một số hoàn cảnh nhất định nào đó. Phải chăng đây là một hình thức tự vệ cần thiết, giúp người nông dân bảo toàn sinh mạng trong những giai đoạn lịch sử khắc nghiệt? Tuy nhiên, hôm nay khi đất nước đang nỗ lực đi vào dòng chảy chung của nhân loại thì “con người tiểu kỉ” nói trên lại trở thành lực cản. Não trạng khép kín, luồn cúi, khúm núm, an phận, phụ thuộc, manh mún, tiểu xảo, rình được một cơ hội nào đó thuận tiện thì tìm cách xoay xở, vun quén chút ít cho cái tôi nhỏ bé…đang làm thui chột óc sáng tạo, tính khách quan, tinh thần tự lập, tự chủ của mô hình nhân cách mới.

2. Dưới thời Pháp thuộc

   Vào cuối thế kỷ XIX, bộ máy cai trị của thực dân Pháp đã ổn định. Năm 1887, nghĩa quân của Mai Xuân Thưởng ở Bình Định – Phú Yên bị Trần Bá Lộc đánh tan tành. Tám năm sau 1895, Phan Đình Phùng bị bệnh lị và từ trần ở Hà Tĩnh. Nghĩa quân của ông, số tuẫn tiết, số chạy trốn ra nước ngoài, số còn lại ra đầu thú để mong được an thân, nhưng rồi cũng bị người Pháp giết gần hết. Hai năm sau, ở Bãi Sậy tiếng sung đã im bặt và Nguyễn Thiện Thuật phải trống sang Tàu. Cũng vào cuối năm đó, Đề Thám tạm giảng hoà với Pháp để lập ấp ở gần Nhã Nam, nhưng chỉ ít lâu sau ông bị Pháp bắt tại Nhã Nam vào năm 1898.

    Được rảnh tay với công việc bình định thuộc địa, nhà cầm quyền Pháp bắt đầu khai thác và phát triển Việt Nam. Một mô mình xã hội mới đang hình thành với nữhng thay đổi rõ rệt về cơ cấu chính trị, sinh hoạt thương mại, tổ chức xã hội, đường hướng giáo dục, nếp sống, lối nghĩ. Đường giao thô ng, cơ sở hành chánh, trường học, bệnh viện và thị trấn thi nhau mọc lên. Đô thị chiếm vai trò chủ yếu trong mọi sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Văn hoá Tây phương và nếp sống mới bắt đầu lan toả, thâm nhập ngay cả đàng sau lũy tre làng và bên trong các gia đình.

    Ngay các nhà Nho yêu nước vào đầu thế kỷ XX như Phan Bội Châu, nhất là Phan Chu Trinh, Trần Cao Vân, Huỳnh Thúc Kháng… cũng nhìn nhận sự thấp kém và bế tắc của chế độ quân chủ chuyên chế theo ý thức hệ Nho giáo, so với ưu thế của văn mình Tây phương. Thấm thía nỗi nhục của người dân mất nước, họ kịch liệt lên án chế độ phong kiến của ta và ca ngợi chế độ dân chủ của người. Các tư tưởng dân chủ của các tác giả nước ngời như J.J.Rousseau, Voltaire, Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu được đề cao.

    Thay vì giải pháp bạo động và vọng ngoại, Phan Chu Trinh đề nghị phát động phong trào duy tân nhằm mục đích “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”.

    Ngược với quan điểm của đại đa số nhà cách mạng lúc đó muốn cầu việc Nhật hay Tàu, Phan Chu Trinh chủ trương “tự lực khai hoá”. Mấy dòng ngắn ngủi sau đây, viết tại Côn đảo, bọc lộ tâm huyết và chí hướng của ông: “Chưa có tư cách quốc dân độc lập, dẫu có nhờ cậy sức nước ngoài chỉ diễn cái trò “đổi chủ làm đầy tớ lần thứ hai”, không ích gì (…). Mình không tự lập, ai cũng là cừu địch của mình, Triều Tiên, Đài Loan, cái gương rõ ràng, người nhật chắc gì hơn người Pháp”.

    Phong trào duy tân chủ trường Âu hoá theo mô hình Nhật Bản và coi đó như con đường cứu quốc khả thi nhất. yêu cầu bãi bỏ lối học đường từ chương và con đường khoa cử ngày xưa để mở học đường theo kiểu phương Tây. Họ đề nghị lập hiệu buôn và phát triển thương hiệu và khuyến quốc dân theo lối sống mới: cắt tóc ngắn, bỏ tục nhuộm răng, mặc Âu phục…

    Vào khoảng cuối thập niên 20, chế độ thuộc địa đã khai sinh ra lớp người mới theo Tây học và làm biến đổi xã hội nho phong cũng như thôn ấp ngày xưa. Trước hết, việc khia thác kinh tế thuộc địa đã tạo ra một lớp doanh nhân bản xứ. Họ chính là lớp phú hào mới và hấp thụ nhanh chóng nếp sống Tây phương. Việc phát triển kinh tế, khuyếch trương thương mại và mở mang hay kiến thiết đô thị tạo thêm nhiều việc làm: công chức, tiểu thương, công nhân, thủ công nghệ... Đông đảo quần chúng rời nông thôn để lên thành thị kiếm sống. Với thời gian, họ trở thành dân thành phố, với nếp sống, nếp nghĩ và tâm lý khác hẳn với quần chúng tại nông thôn. Đặc biệt, việc thay thế Hán học cổ truyền bằng chương trình Pháp đã tạo ra một lớp trí thức mới xuất thân từ trường Tây, thông tạo ngôn ngữ, hiểu rõ văn hoá, tư tưởng và nếp sống phương Tây hơn các nhà Nho yêu nước trước đây.

    Ba thành phần này có điểm gặp gở chung là sống gần người Pháp, trong khung cảnh đô thị và đường lối sinh hoạt do chính quyền thuộc địa tạo ra. Họ tiếp thu nhanh văn hoá phương Tây. Về kinh tề, nếp sống của họ tiện nghi và thoải mái hơn dân quê chân lấm tay bùn. Về văn hoá, đời sống thành thị văn minh, cởi mở, tự do và dân chủ hơn nếp sống u buồn sau lũy tre xanh.

    Từ khung cảnh văn hoá Tây phương và điều kiện sống mới ở thành thị, giới trí thức trẻ gắt gao đã phá xã hội nho phong cũ và hăng say truyền bá lối sống mới. Họ cương quyết loại trừ mô hình đại gia đình “tứ đại đồng đường”, với chế độ gia trưởng, với những bổn phận hiếu dễ, tam tòng, tứ đức. Theo họ, những tục lệ cũ như cúng tế lễ bái, kiêng kị húy nhất, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó… được coi là lạc hậu, cần phá vỡ để giải thoát con người. Cần tôn trọng nhân phẩm, hạnh phúc và quyền tự do lựa chọn của cá nhân trong hôn nhân.

    Nhóm Tự Lực Văn Đoàn được thành lập với mục đích hô hào bỏ bũ theo mới. Văn Đoàn triệt để chủ trương đổi mới và thẳng tay phá đổ tất cả những cái cũ cản trở bước tiến của họ. Trong cuộc chiến này, Văn Đoàn sử dụng nhiều thứ khí giới khác nhau, nhưng thứ khí giới lợi thế nhất vẫn là tiểu thuyết. Hai tác phẩm tiên phong là “Đoạn Tuyệt” của Nhất Linh và “Nửa Chừng Xuân” của Khái Hưng. Nhất Linh kịch liệt đả phá tất cả những tệ đoan, hủ tục, mê tín dị đoan… của xã hội cũ, để sau đó xây dựng một nếp sống tiến bộ hơn. Rất tiếc là hình ảnh xã hội mới còn rất mơ hồ và mông lung, ngay cả con đường cách mạng được giới thiệu qua nhân vậy Dũng cũng chưa có gì rõ nét.

    Qua ngòi bút của Nguyễn Tường Long, tức Hoàng Đạo, một nhà xã luận của nhóm, Tự Lực Văn Đoàn chủ trương bắn thằng vào Tam Giáo cổ truyền: “Những lý tưởng của các cụ xưa không hợp với trình độ học thức của thiếu niên nữa. Nho giáo lung lay sắp đổ, sắp sửa theo mấy nhà châm nho còn sót lại mà tiêu diệu với thời gian. Còn đạo Lão, đạo Phật chỉ đem lại cho thiếu niên những tư tưởng chán đời, ta không thể nương tựa vào đấy mà sống còn được”.

   Tạp chí Phong hoá và Ngày nay cũng lớn tiếng đòi cải cách hương thôn. Nguyễn Tường Long viết về nếp sống nông thôn như sau: “Ta phải thay thế cái mớ lễ nghi cũ rích nó phân đẳng cấp xằng, nó xướng lên rằng một miếng giữa làng bằng một sàng trong xó bếp bằng một cái lễ nghi mới. Những điều lễ nghi mới ấy dạy cho dân quê rằng một người trong làng là một người công dân, có đủ quyền tự do làm một người công dân, dù là một bạch đinh hay một ông Lý ông Chánh, quý hồ mình đóng góp đủ sưu thuế theo đúng luật lệ là không ai ức hiếp được mình, chớ không cần phải khoác cái chức nọ, chức kia”.

    Đối với nền luân lý cũ, Nguyễn Tường Long tuyên bố không úp mở: “Nền luân lý ấy bắt ta phải bái phục lời nói cổ nhân, dầu lời nói có sai cũng mặc, không được đem lý luận ra mà bẻ bác. Cha mẹ đẻ ra ta thì những câu bảo ban, ta phải cúi đầu vâng theo dù những câu ấy trái với tư tưởng của ta. Mà kể thực ra thì dưới chế độ đó ta chẳng còn có tư tưởng gì nữa, mà ta là của gia đình. Chữ tự do cá nhân là một chữ từ xưa đến nay ta không biết nghĩa là gì. Ngày nay, cái óc biết suy xét của ta bắt ta không nhắm mắt như xưa, mà bắt ta đem lẽ phải, lương tri, ra mà suy nghĩ cứu cánh mọi sự ở đời”.

    Cũng chính Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long đã đưa ra “Mười điều tâm niệm” để kết hợp các phần tử trẻ tiến bộ hầu tạo một lực lượng cách mạng trong tiến trình đòi hỏi tự do và dân chủ: Thanh niên nam nữ phải dứt khoát theo mới, phải tin ở sự tiến bộ, phải có lý tưởng dấn thân hành động, phải bỏ óc vị kỷ để góp sức xây dựng xã hội, phải cố gắng rèn luyện nghị lực và một thân thể cường tráng, phải loại trừ mê tín dị đoan, xây dựng tinh thần khoa học, bài trừ thói cẩu thả, học hỏi cách quản lý và tổ chức. Cuối cùng phải biết xem thường dạnh lợi nhỏ mọn của xã hội phong kiến và thực dân để lo xây dựng một sự nghiệp lớn lao cho ngày mai.

    Những nhận xét của Hoàng Đạo khá sát với một thực tế xã hội đang bị chìm ngập dưới lớp bùn của Tống Nho thời đó. Điều đáng tiếc là tác giả Mười điều tâm niệm chưa sáng suốt “gạn đục khơi trong”, chắt lọc và phát triển phần tinh hoa trong gia sản của dân tộc.

    Cùng với phong trào thể dục - thể thao, phong trào thẩm mỹ và cải cách y phục phụ nữ ra đời. Năm 1934, hoạ sĩ Nguyễn Cát Tường hô hào trên báo Phong Hoá: “Ngày xưa các cụ ăn mặc cốt để che khuất thân thể, nên làm ra một bề ngoài lụng thụng, bây giờ phải ăn mặc sao cho dáng điệu thân thể được tự nhiên phô bày. Hay có khi để chữa cái dáng điệu ấy được uyển chuyển tha thướt thêm”. Trong bối cảnh đó, chiếc áo dài Cát Tường xuất hiện và chẳng bao lâu lan tràn từ Hà Nội về các tỉnh, từ Bắc vào Nam.

    Nói chung, giới trí thức Tây học đã ý thức về hạnh phúc cá nhân, tự do kết hôn, quyền bình đẳng nam nữ, nhân cách tự lập, sáng tạo, trách nhiệm… Dĩ nhiên, đây chỉ là một thiểu số tiểu tư sản rất ít ỏi sống ở thành thị. Đại đa số người Việt Nam vẫn cam chịu thân phân người dân bị trị, nghèo khổ và lạc hậu. Vì điều kiện nghiệt ngã của lịch sử Việt Nam vào giai đoạn đó, mô hình “người trí thức tự do” vừa ló dạng và chưa kịp phát triển đã bị đi vào quên lãng. Nó chỉ để lại một số dấu ấn mờ nhạt ở thành thị và chưa có ảnh hưởng quan trọng nào trên nếp sống, cũng như lối nghĩ thâm căn cố đế ở nông thôn.

    Về phương diện kinh tế, Việt Nam lúc đó mới chập chững bắt đầu phát triền và bị chi phối nặng nề bởi chế độ thuộc địa. Trên tổng thể, Việt Nam vẫn là một nước nghèo, chậm tiến và bị đô hộ. Nhưng đó là tình trạng chung của các nước Đông Nam Á, nên sự khác biệt giữa Việt Nam với các nước láng giềng hầu như không có. Bảng đối chiếu sau đây của tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, cho chúng ta một ý niệm: “Nếu lấy mốc tính là năm 1950, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam bằng 80.5% của Thái Lan, thì năm 1999 chúng ta chỉ còn bằng 20%. So với Hàn Quốc thì năm 1950 ta bằng 85.5% tức là Hàn Quốc với Việt Nam lúc bây giờ cũng đói như nhau, còn bây giờ ta chỉ bằng khoảng 11,12% Hàn Quốc. Lúc bấy giờ ta giàu có hơn Trung Quốc, Trung Quốc lúc bấy giờ đói khổ hơn ta. Ta bây giờ thu nhập bình quân đầu người bằng khoảng 20% Trung quốc mà thôi”. Các con số ở trên cho thấy các nước láng giềng đã phát triển mạng trong mấy thập niên vừa qua, còn Việt Nam đã dậm chân tại chỗ hay tiến quá chậm. Kết quả hiển nhiên là sau 50 năm, khoảng cách giữa họ và ta hay vì thu hẹp lại, đã mới rộng thêm.

(Còn tiếp)

Tác giả: Nguyễn Thái Hợp, Gm.
   dunglac@gmail.com