Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Thái Hợp, Gm.
paulthaihop@yahoo.com
Bài Viết Của
Nguyễn Thái Hợp, Gm.
Phỏng vấn Tân Giám Mục Nguyễn Thái Hợp của Web Giáo Phận Vinh
Để Họ Lớn Lên (Lời Mở Đầu)
Mời đọc sách: Yves Congar, con người & tư tưởng
Yves Congar, thần học gia khai mở
Tương quan phong phú giữa Văn hóa và Đức tin (BTDL 1)
Liên đới theo quan điểm Công giáo
Nghĩ về người trẻ hôm nay
Tôn giáo đối diện với toàn cầu hóa
Tương quan phức tạp giữa Công giáo với Nhà Nước Việt Nam
Thử Nhận Diện Con Người Việt Nam
TƯƠNG QUAN PHONG PHÚ GIỮA VĂN HÓA VÀ ĐỨC TIN (BTDL 1)

 

 P. Nguyễn Thái Hợp, O.P. 

Tương quan giữa đức tin và văn hoá đang là một trong những thách đố gay gắt cho thần học Kitô giáo và cho sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Trong mấy thập niên vừa qua, nhiều văn kiện của Toà Thánh và của các Hội Đồng Giám mục đã đề cập đến vấn đề nóng bỏng này. Nội dung của các văn kiện này rất đa diện: đi từ những suy nghĩ về bộ áo văn hoá của các công thức đức tin cho đến hành động tích cực dấn thân của Giáo Hội trong việc phát triển văn hoá, cho đến những thách đố về hội nhập văn hoá trong sứ vụ loan báo Tin Mừng và thái độ của Giáo Hội đối với các nền văn hoá mới [1]. 

Những dòng dưới đây sẽ giới thiệu sơ lược quan điểm của Giáo Hội về văn hóa, đặc biệt mối tương quan phức tạp giữa văn hóa với sứ vụ loan báo Tin Mừng. 


1- Khái niệm về văn hoá 

Trong truyền thống Tây phương, Văn hoá (culture, cultura, kultur) bắt nguồn từ tiếng La Tinh “cultus“. Theo nguyên ngữ, cultus có nghĩa là canh tác đất đai, gieo trồng thực vật và nuôi dưỡng động vật. Với thời gian, “cultus” mang ý nghĩa chăm sóc, nuôi dưỡng con người về thể chất, cũng như tinh thần. 

Trong cổ thư của Trung Hoa, văn hoá cũng mang ý nghĩa giáo dục: văn trị và giáo hoá. Theo nghĩa thông thường, văn hóa luôn ám chỉ cái đẹp, thanh cao, tao nhã. Chữ “văn” ám chỉ những nét vẽ diễn tả “vẻ đẹp” bên ngoài và thường đối lập với “võ”. Do đó, văn hóa chứa đựng cái đẹp, bao gồm văn chương và nghệ thuật, với tất cả các bộ môn như ca, nhạc, vũ, kịch, điện ảnh, hội họa, điêu khắc, kiến trúc. Theo nghĩa này, văn hóa được dùng khi nói tới các công trình nghệ thuật, các tác phẩm văn chương, cũng như tất cả các giá trị chân, thiện, mỹ. 

Đối với người Trung Hoa cũng như người Hy Lạp và La Mã ngày xưa, văn hóa thường được sử dụng theo nghĩa hẹp ám chỉ kiến thức và học vấn. Nói đến “văn hoá“ là người ta liên tưởng đến hình ảnh lớp người có học, có kiến thức, thuộc tầng lớp ưu tú và ưu đãi trong xã hội, đối lập với đám lê dân, phàm phu tục tử. Quan niệm văn hoá này đề cao “cái có” hơn là “cái là”: người văn hoá là người có học, có kiến thức, có thời giờ, có chức quyền... Đây là lớp người được ưu đãi: tầng lớp trí thức, sĩ phu, giới nho sĩ, quan lại hay giàu có. 

Nhìn từ góc độ này, văn hoá bao hàm việc phân chia và đối lập không những giữa các thành phần dân chúng trong cùng một nước, mà hơn nữa giữa các nước trên thế giới. Thật vậy, đối với người Hy Lạp cổ đại, văn hoá chỉ là đặc quyền của những công dân tự do. Người La Mã vẫn coi những người sống bên ngoài đế quốc của họ là bọn “man di, mọi rợ”. Người Trung Hoa cũng nghĩ như vậy khi tự cho mình là “tinh hoa của nhân loại”, còn các dân tộc khác là chỉ bọn “bán khai” hay “man di, mọi rợ”. Trong thời kỳ chiến tranh chiếm thuộc địa, các nước Tây phương cũng luôn vỗ ngực tự xưng là những dân tộc có văn hóa và có sứ mệnh khai hóa các dân tộc “bán khai” khác. 

Từ hậu bán thế kỷ XIX, những biến đổi về khoa học kỹ thuật, nhân chủng học và xã hội học đã giúp nhiều học giả Tây phương nhìn văn hoá dưới một góc độ khác: văn hoá thuộc về nếp sống, có chức năng tổ chức xã hội và gắn liền với bản chất con người. Như vậy, văn hóa bao gồm nhiều yếu tố độc đáo, phức tạp, phong phú và trở thành thước đo các giá trị sáng tạo cũng như nhân bản của mỗi xã hội. 

Hôm nay, mọi người đã công nhận có rất nhiều văn hoá khác nhau, do đó cũng có nhiều khái niệm và định nghĩa về văn hoá [2]. Ngay từ giữa thế kỷ XX, hai nhà văn hoá học Hoa Kỳ, A. Kroeber và C. Kluckholn, đã liệt kê khoảng 300 định nghĩa về văn hóa [3]. Với sự phát triển của xã hội nói chung và văn hoá học nói riêng, quan niệm về văn hoá càng gia tăng và phong phú hơn. Các chuyên viên ước lượng có hàng ngàn ý nghĩa văn hóa khác nhau. Sự đa dạng này vừa do tính phức tạp của văn hoá, vừa do người ta đã nhìn văn hoá dưới những khía cạnh khác nhau như dân tộc học, nhân văn học, xã hội học, triết học, tôn giáo học ... Đây là những cái nhìn khác biệt, nhưng không nhất thiết loại trừ nhau, mà trái lại còn bổ túc và phong phú hoá cho nhau.  

Nhìn chung, văn hoá bao gồm toàn bộ năng lực và thành quả sáng tạo mà con người đạt được trong quá trình thực tiễn xã hội, vì vậy nó mang dấu ấn nhân văn và lịch sử. Cho nên văn hóa khác biệt rõ rệt với những gì tồn tại trong thiên nhiên. Vì là sản phẩm của con người, văn hóa có xu hướng không ngừng sáng tạo và thích nghi: biết loại bỏ những cái cũ không còn thích hợp, tiếp thu cái mới của người và luôn phát triển trên cơ sở những giá trị mới. 

Nhà văn hoá học E.B. Taylor (1832-1917) quan niệm văn hoá như tổng hợp tất cả những yếu tố phân biệt con người với động vật và thế giới tự nhiên. Nói một cách tổng quát, văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình lịch sử, kể từ lối sống, nếp nghĩ, ngang qua những mối tương quan với vũ trụ cho đến cách thức tổ chức xã hội. Ông định nghĩa văn hóa một cách cô đọng như sau: văn hoá bao gồm “tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lượng và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [4]. 

Tự điển của Hàn lâm viện Pháp cũng định nghĩa văn hóa theo chiều hướng tổng hợp: Văn hóa bao gồm “toàn bộ những thụ đắc về văn chương, nghệ thuật, thủ công nghệ, kỹ thuật, khoa học, phong hóa, luật lệ, cơ chế, tập quán, truyền thống, nếp nghĩ và lối sống, đường lối ứng xử và sử dụng thuộc mọi lãnh vực, lễ nghi, thần thoại và tín ngưỡng tạo thành một di sản cộng đồng và cá tính của một nước, một dân tộc hay một nhóm dân tộc, một quốc gia” [5].

Theo Bách khoa Tự điển của Vương quốc Anh, “văn hóa được định nghĩa như bao gồm ngôn ngữ, tư tưởng, tín ngưỡng, phong tục, những cấm kỵ, luật lệ, cơ chế, dụng cụ, kỹ thuật, tác phẩm nghệ thuật, nghi thức, lễ nghi và những thành phần liên hệ khác. Phát triển văn hóa tùy thuộc vào khả năng của con người biết tiếp thu và truyền đạt kiến thức cho các thế hệ kế tiếp” [6]  

Ông Federico Mayor, cựu Tổng Giám đốc UNESCO, cho rằng “ban đầu người ta dùng từ văn hóa để đối lập với thiên nhiên, để phân biệt loài người có sáng tạo với loài vật chỉ biết tuân theo các quy luật tự nhiên. Từ văn hóa cũng được sử dụng để phân biệt giữa lao động giáo dục trí óc với lao động chân tay sản xuất hàng hóa. Nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa đã được nêu lên: có cái rộng, cái hẹp. Đối với một số người, văn hóa chỉ bao hàm các kiệt tác tuyệt vời trong lãnh vực tư tưởng và sáng tạo; đối với một số người khác, văn hóa bao hàm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp ở Venise năm 1970” [7].  

Với quan niệm rộng mở này, văn hóa có một ý nghĩa rất phong phú. Cũng chính Tổ chức UNESCO đã đúc kết sự phức tạp và đa diện của văn hóa qua một định nghĩa súc tích, mà hiện nay được nhiều người chấp nhận: “Văn hoá phản ảnh vàthểhiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân cũng như các cộng đồng) đã thể hiện trong quá khứ, một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân cũng như các cộng đồng) đã thể hiện trong quá khứ, đồng thời đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ nó đã cấu tạo nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [8]. UNESCO cũng nhìn nhận vai trò chủ động của văn hoá trong công cuộc phát triển hôm nay: văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực, sức bật và hệ điều tiết của mọi công cuộc phát triển: kinh tế, xã hội, chính trị.

 

2- Quan điểm của Giáo Hội Công giáo 

Giáo huấn Xã hội Công giáo công nhận ý nghĩa tổng quát và bao trùm của văn hoá trên cuộc sống của con người. Công đồng Vatican II cũng diễn tả văn hoá theo chiều hướng của các nhà văn hoá học hiện đại. Theo Công đồng, “văn hoá bao gồm tất cả những gì nhờ đó con người trau dồi và phát triển các năng khiếu đa dạng về tinh thần và thể xác; cố gắng chế ngự trái đất bằng tri thức và lao động; nhân bản hoá đời sống xã hội, cuộc sống gia đình cũng như toàn thể đời sống dân sự nhờ việc cải tiến các tập tục và định chế; sau hết, diễn tả, truyền thông và bảo tồn trong các tác phẩm những kinh nghiệm tinh thần và những hoài bão lớn lao của con người trải qua các thời đại, ngõ hầu giúp cho nhiều người và toàn thể nhân loại tiến bộ hơn”. 

Trong viễn tượng ấy, “văn hoá nhân loại thiết yếu có chiều kích lịch sử và xã hội, và chữ “văn hoá“ thường mang thêm một ý nghĩa xã hội và nhân chủng. Trong ý nghĩa này, người ta nói đến đa nguyên văn hoá. Bởi vì, những lối sống khác biệt và những mức thang giá trị khác nhau bắt nguồn nơi cách thế đặc biệt mà con người sử dụng sự vật, lao động, diễn tả tư tưởng, thực hành tôn giáo, nếp sống đạo đức, làm luật, thiết lập cơ cấu pháp lý, phát triển khoa học, nghệ thuật và trau dồi thẩm mỹ. Như vậy, từ các tập quán thừa kế hình thành một di sản riêng của mỗi cộng đồng nhân loại“ [9]. 

Các văn kiện của Giáo Hội luôn đề cao chiều kích lịch sử và xã hội của văn hoá: chính con người tạo nên văn hóa của mỗi xã hội riêng biệt [10]. Quan điểm này được đức Gioan Phaolô II trình bày một cách hết sức rõ nét trong bài diễn văn lịch sử đọc tại trụ sở UNESCO: “Văn hoá là một cách thế riêng biệt để hiện hữu và để làm người. Con người luôn sống trong một nền văn hoá. Đây là nền văn hoá riêng biệt của mỗi người, nhưng đồng thời nó lại tạo nên một mối dây liên hệ đặc biệt giữa người với nhau, xác định tính chất liên nhân vị và xã hội của cuộc sống nhân loại” [11].

Hiểu như vậy, văn hoá vừa là chiếc nôi của cuộc sống vừa là điều kiện thiết yếu để con người trở thành người. Bởi vì, “nhờ văn hóa, con người trở thành người hơn (...). Văn hóa luôn luôn hệ tại tương quan căn bản và thiết yếu với cái mà con người là, trong khi đó mặc dù không phủ nhận mối tương quan với cái có, nhưng nó chỉ tương đối thôi. Tất cả “cái có” của con người không quan trọng đối với văn hóa và cũng không phải là yếu tố sáng tạo của văn hóa, ngoại trừ ngang qua “cái có” đó con người có thể “trở nên” người trọn vẹn hơn trong mọi chiều kích của sự hiện hữu và trong tất cả những gì được xem như đặc trưng của nhân tính” [12].  

Chúng ta gặp thấy nơi đây hai xác quyết căn bản luôn quyện lẫn, nối kết và bổ sung nhau: một mặt, con người và chỉ duy con người là tác giả của văn hóa; mặt khác, văn hóa chính là môi trường sống của con người. Cuộc sống nhân loại là văn hoá, bởi vì nhờ văn hoá con người tự phân biệt và khác biệt với tất cả những gì hiện hữu trong thế giới khả giác: con người không thể tự thực hiện và trở thành người nếu vắng bóng văn hoá. Vì vậy, “không thể tưởng tượng một văn hóa mà vắng bóng chủ thể tính hay nguyên nhân tính nhân loại. Trái lại, trong lãnh vực văn hóa, con người luôn luôn là yếu tố tiên quyết: con người là yếu tố thứ nhất và nền tảng của văn hóa” [13]. 

Thật thế, nhờ văn hoá con người chế ngự được sức mạnh mù quáng của thiên nhiên và vượt khỏi thế giới động vật để vươn tới cõi nhân sinh. Nói cách khác, “con người chỉ có thể đạt tới đặc điểm đích thực và trọn vẹn nhân bản ngang qua văn hoá, nghĩa là nhờ việc trau dồi những ưu phẩm và những giá trị của bản tính. Vì vậy, trong những gì liên hệ đến cuộc sống nhân loại, nhân tính và văn hoá liên kết chặt chẽ với nhau” [14]. 

Nhìn từ góc độ này, văn hoá tương đồng với nhân hoá (humanisation): chính qua văn hoá, con người xây dựng thế giới loài người và “trở thành người” hơn. Cũng nhờ văn hoá, con người nhân hoá thiên nhiên và giải thoát mình khỏi thế giới hoang dã, bán khai, tiền nhân bản. Do đó tiến trình văn hoá đồng nghĩa với tiến trình giải phóng. Chính văn hoá đã giải phóng con người khỏi những sức mạnh mù quáng, những nỗi sợ thiên thu vạn đại và đặt con người lên vị trí làm người. Vì thế, không thể quan niệm một xã hội nhân loại mà lại thiếu vắng văn hoá. 

Trong thông điệp “Bách chu niên“, đức Gioan Phaolô II nêu rõ mối tương quan hỗ tương giữa văn hoá và ý nghĩa nhân sinh: “Không thể hiểu con người nếu chỉ dựa trên lãnh vực kinh tế, cũng như không thể xác định con người là gì nếu chỉ căn cứ vào việc họ thuộc về một giai cấp nào đó. Ta hiểu biết con người một cách trọn vẹn hơn nếu đặt con người vào bối cảnh văn hoá của họ, bằng cách lưu ý đến ngôn ngữ, lịch sử của họ, quan điểm của họ trước các biến cố nền tảng của đời sống, chẳng hạn như việc chào đời, tình yêu, lao động và cái chết. Trọng tâm của mọi nền văn hoá là thái độ của con người trước huyền nhiệm lớn lao nhất: mầu nhiệm Thiên Chúa. Từ căn bản, các nền văn hoá khác nhau là những cách thức khác nhau để đối diện với vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi người. Nếu loại bỏ vấn đề này thì nền văn hoá và đời sống luân lý của các quốc gia sẽ bị băng hoại” [15].  

Khi diễn tả tính chất lịch sử và nhân chủng học như thế, chúng ta đã cảm nghiệm sự hiện diện khắp nơi của văn hóa trong cuộc sống nhân loại. Văn hóa mang đặc tính đa chiều, đa phương và đa diện, bởi vì nó bao trùm toàn diện cuộc sống của một dân tộc: toàn diện giá trị và phi giá trị, những nét độc sáng và đặc trưng của mỗi dân tộc. Có lẽ vì vậy văn hóa trở thành “bản sắc” hay một thứ “lương tâm tập thể” [16] của mỗi dân tộc.

 

3- Trước sứ vụ loan báo Tin Mừng 

Loan báo Tin Mừng là nhiệm vụ căn bản của mọi Kitô hữu. Trên nguyên tắc, Tin Mừng không cần một mảnh đất riêng nào để sống và cũng chẳng hề đồng hóa với bất cứ một nền văn hóa, một chế độ chính trị, cơ cấu xã hội hay hệ thống kinh tế nào. Tuy nhiên, sứ vụ làm “men trong bột” đòi hỏi các Kitô phải tích cực sống và rao truyền Tin Mừng ở mọi thời mọi nơi, khi gặp “thiên thời địa lợi nhân hòa”, cũng như khi gặp nghịch cảnh và phải trả bằng chính giá của sự sống. Thư Mục vụ năm 2003 của Hội đồng Giám mục Việt Nam mời gọi người Công giáo tích cực đảm nhiệm sứ vụ loan báo Tin Mừng trong xã hội Việt Nam hôm nay. Đặc biệt, cần mạnh dạn dấn thân vào những môi trường mới: “Đó là những môi trường văn hoá, chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật … Đó là những lãnh vực cần có sự hiện diện của Chúa Kitô, chứng tá của Hội Thánh và ánh sáng của Tin Mừng” [17]. 

Trong thời đại toàn cầu hóa này, ngày càng hiện rõ mối tương quan vừa phức tạp, vừa phong phú giữa đức tin và văn hóa. Ngay từ đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, công đồng Vatican II đã nhìn nhận: “Có nhiều mối tương quan giữa sứ điệp cứu độ và văn hóa. Bởi vì, từ khi mạc khải cho dân Ngài cho tới khi biểu lộ tròn đầy trong Chúa Con Nhập thể, Thiên Chúa đã nói với con người qua các loại văn hóa riêng biệt của từng thời đại. Cũng thế, trải qua những hoàn cảnh khác nhau của lịch sử, Giáo Hội đã sử dụng tài nguyên của các nền văn hóa khác nhau để, qua lời rao giảng, phổ biến và trình bày sứ điệp của Đức Kitô cho muôn dân” [18]. 

Sứ vụ loan báo Tin Mừng cho thời đại đa phức tôn giáo và đa văn hóa hôm nay đòi hỏi chúng ta phải tích cực dấn thân đối thoại với con người thời đại, với các trào lưu tư tưởng, với các tôn giáo và các nền văn hóa. Đây là mối tương quan giao thoa giữa “Phúc Âm hóa” với “hội nhập văn hóa”: Một mặt, Tin Mừng cần được diễn tả bằng những chất liệu và âm sắc độc đáo của mỗi nền văn hóa; mặt khác người tín hữu có nhiệm vụ tạo cơ hội để Tin Mừng thanh luyện và chiếu sáng các vùng tối nơi mỗi nền văn hóa. “Tin Mừng không ngừng thanh luyện và nâng cao phong hóa các dân tộc. Nhờ thiên ân, Tin Mừng phong phú hóa, từ bên trong, những phẩm tính thiêng liêng và những đặc tính của mỗi dân tộc và mỗi thời đại. Tin Mừng củng cố, bổ túc và tái tạo chúng trong Đức Kitô” [19]. 

Các Giám mục Á châu có lý khi cho rằng công cuộc loan báo Tin Mừng không thể hoàn toàn tách rời khỏi các nền văn hóa, bởi vì, “văn hóa là không gian sống trong đó con người đến với Tin Mừng, mặt giáp mặt. Nếu đích thực văn hóa là thành quả của cuộc sống và hoạt động của một nhóm người, thì những con người thuộc nhóm đó cũng được uốn nắn một phần bởi nền văn hóa trong đó họ đang sống (...). Từ viễn tượng đó, ta nhận thức rõ hơn tại sao Phúc Âm hóa và hội nhập văn hóa tương quan với nhau cách tự nhiên và mật thiết. Tin Mừng và công cuộc loan báo Tin Mừng chắc chắn không đồng nhất với văn hóa. Tuy nhiên, Nước Thiên Chúa đến với những con người gắn bó sâu xa với một nền văn hóa, và do đó, công cuộc xây dựng Vương Quốc không tránh khỏi việc vay mượn các yếu tố rút ra từ các nền văn hóa nhân loại” [20]. 

Chính vì thế, trong mấy thập niên vừa qua Giáo Hội đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của mối tương quan giao thao giữa đức tin và văn hóa. Trong văn thư thành lập “Hội Đồng Giáo hoàng về Văn hóa”, đức Gioan Phaolô II diễn tả một cách rõ rệt mối tương quan sinh tử này như sau: “Một đức tin mà chưa biến thành văn hóa, là đức tin chưa được đón nhận trọn vẹn, chưa thực sự suy tư, chưa sống một cách chân thành” [21]. 

Đây cũng là những băn khoăn và thao thức hàng đầu của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu: Làm sao trình bày mầu nhiệm Chúa Kitô cho các dân tộc Á châu, theo cung cách văn hóa và lối suy nghĩ của người Á châu? Làm sao tái khám phá khuôn mặt Á châu của Đức Giêsu và tìm ra những cách thế thích hợp để người Á châu lãnh hội ý nghĩa của sứ điệp cứu độ phổ quát của Ngài? [22]. 

Cuối cùng, theo các Nghị phụ của Thượng hội đồng các Giám mục Á châu “khi con người và xã hội thay đổi, thì nền văn hóa cũng bị thay đổi theo. Vì văn hóa biến đổi, con người và xã hội cũng biến đổi theo” [23]. Như vậy, vấn đề nền tảng là làm sao đưa ra những nguyên tắc và giá trị đạo đức có khả năng xây dựng một văn hóa vừa nhân bản, vừa thấm đậm tinh thần Tin Mừng. Đối với Giáo huấn Xã hội Công giáo, phẩm giá con người và tình liên đới phải là yếu tố nền tảng của nền văn hóa đó. Hai yếu tố này diễn tả sự ưu việt của con người và của lòng yêu thương trong cuộc sống nói chung và trong văn hóa nói riêng [24]. 

Đối diện với nền văn hóa tiêu thụ, ích kỷ, bạo động và chết chóc hiện nay, Giáo Hội hô hào xây dựng “văn minh tình thương” [25]. Giáo huấn Xã hội Của Công giáo đề nghị lấy tình thương làm nguyên tắc, tiêu chuẩn và định hướng cho xã hội mới. “Tình thương này có thể gọi là “bác ái xã hội” [26] hay “bác ái chính trị” [27] và phải bao trùm toàn thể nhân loại. Chính “tình yêu xã hội” này là phản đề của ích kỷ chủ nghĩa và cá nhân chủ nghĩa. Mặc dù không muốn tuyệt đối hóa đời sống xã hội (...), chúng ta không thể quên rằng việc phát triển toàn diện con người và tăng trưởng xã hội có ảnh hưởng hỗ tương. Do đó, ích kỷ là kẻ thù độc hại nhất của một xã hội có trật tự: Lịch sử cho thấy nhân tâm trở nên cằn cỗi khi con người không còn khả năng để nhìn nhận một giá trị và một thực tại hữu hiệu nào khác ngoài những của cải vật chất, mà nỗi khát khao đi tìm chúng làm chết ngạt và cản trở khả năng trao ban chính mình của con người” [28]. 

Nhiều người đồng ý là không thể xây dựng một xã hội nhân bản mà thiếu vắng công lý. Tuy nhiên, chẳng bao giờ người ta có thể giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống chỉ dựa vào công lý mà thôi. Chúng ta chỉ có thể làm cho xã hội nhân bản hơn khi tình thương trở thành chuẩn mực cho đời sống xã hội. Thông điệp “Thiên Chúa giàu lòng thương xót” đưa ra một so sánh sâu sắc như sau: Nếu công lý “tự thân thích hợp với vai trò “trọng tài” giữa người với người để phân phối của cải một cách công bằng, thì trái lại, tình thương và chỉ duy tình thương (bao gồm cả lòng từ tâm mà chúng ta gọi là “lòng xót thương”), mới có thể làm cho con người trở nên chính mình” [29].  

Dĩ nhiên để phát triển, chúng ta cần một cơ chế dân chủ, một khung trời tự do, một sự tự trị chính đáng trong lãnh vực của mình và những điều kiện kinh tế – xã hội cần thiết. Nhưng nói cho cùng, chúng không hề có giá trị “tuyệt đối”, mà phải tuân theo tiêu chuẩn đạo đức, nhằm làm tăng trưởng công thiện công ích và sự phát triển con người toàn diện [30]. Như vậy, phải chăng cần nối kết văn hóa với chân, thiện, mỹ? Phải chăng tình yêu cần hiện diện và thâm nhập vào môi trường văn hóa? Và phải chăng, quan điểm “văn dĩ tải đạo” lại được đạt ra một cách khẩn thiết, dưới những dạng thức khác và trong hoàn cảnh mới?

 


Chú thích

[1]. Xin coi Pontificio Consiglio della Cultura, Fede e Cultura, Lib. Edit. Vaticana, 2003.

[2]. Xem Phạm Cao Dương, Nhập môn Lịch sử các nền Văn minh Thế giới, Sàigòn, 1972; Nguyễn Văn Huyên, Văn Minh Việt Nam, NXB Hội Nhà Văn, 2005; Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Hội Nhà văn, 2000 ; Trần Ngọc Thêm, Tìm về Bản sắc Văn hóa Việt Nam, Nxb Tp HCM, 1997; Đỗ Trọng Huề, “Văn hóa và văn chương”, Đặc san Gió Việt 1998, Calgary, Canada.

[3]. Xem A.L. Kroeber, C. Kluckholn, Culture: A Critical Review of Concepts and Definitions : Papers of Peabody Museum 47, 1952,1 ; E. Chiavacci, Principi di morale sociale, Bologna, 1971,51.

[4]. E.B. Taylor, Văn hoá nguyên thuỷ, bản dịch VN của Huyền Giang, Hà Nội, 2001, tr. 13.

[5]. Le Dictionnaire de l’Accad émie française, 9me Edit. Paris, France.

[6]. The New Encyclopedia Britannica, vol.3, 15th Edition 1997, 784.

[7]. Người đưa tin UNESCO, 11-1989, tr. 5.

[8]. Uỷ ban Quốc gia về thập kỷ phát triển văn hoá: Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá, Bộ Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1992, tr. 23.

[9]. Vatican 2, Gaudium et Spes, số 53.

[10]. Về vấn đề này, xin đọc Hội Đồng Tòa Thánh về Văn hóa, Fede e Cultura, Antología di testi del Magistero Pontificio da Leone XIII a Giovanni Paolo II, Vaticano, 2003.

[11]. Gioan Phaolô II, Diễn văn đọc tại UNESCO, ngày 2 -6-1980, trong Ecclesia, số 1986 (14-6-1980), số 17; đăng lại trong Fede e Cultura, sđd., số 1129.

[12]. Ibidem, số 1130.

[13]. Ibidem, số 1131.

[14]. Vatican II, Gaudium et Spes, số 53.

[15]. Gioan Phaolô II, Bách chu niên, số 24.

[16]. HĐGM Mỹ châu La Tinhh, Peubla, số 387.

[17]. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Sứ mạng loan báo Tin Mừng của Hội Thánh Việt Nam hôm nay, 10.10.2003, số 8.

[18]. Vatican II, Gaudium et Spes, số 58.

[19]. Ibidem.

[20]. Gioan Phaolô II, Giáo Hội tại Á châu, số 21,

[21]. Ngày 20 tháng 5 năm 1982.

[22]. Giáo Hội tại Á châu, số 20.

[23]. Ibidem, số 21.

[24]. Hội Đồng Giáo hoàng về Công lý & Hòa bình, Compedium de la Doctrine sociale de l’Eglise, Vatican, 2005, 328-329 ; Per una pastorale della cultura, 1999.

[25]. Cf. Phaolô VI, Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 1977 ; Gioan Phaolô II, Bách chu niên, số 10.

[26]. Thánh Tôma Aquinô, De caritate, a. 9, c.

[27]. Phaolô VI, Octogesima adveniens, 46.

[28]. Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, Tóm lược ..., 581.

[29]. Gioan Phaolô, Dives in misericordia, 14.

[30]. Theo Công đồng Vatican II, “văn hóa phải nhằm phục vụ việc phát triển con người toàn diện, phục vụ lợi ích của cộng đoàn và của toàn thể nhân loại” (Gaudium et Spes, số 59).

Tác giả: Nguyễn Thái Hợp, Gm.
   dunglac@gmail.com