Xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức bay lên trong cái thần dũng lực của rồng và an lạc của chim tiên.
Mạng Lưới Dũng Lạc Tủ Sách Dũng Lạc Phòng Ảnh Nghệ Thuật Hướng Dẫn
Nguyễn Thái Hợp, Gm.
paulthaihop@yahoo.com
Bài Viết Của
Nguyễn Thái Hợp, Gm.
Phỏng vấn Tân Giám Mục Nguyễn Thái Hợp của Web Giáo Phận Vinh
Để Họ Lớn Lên (Lời Mở Đầu)
Mời đọc sách: Yves Congar, con người & tư tưởng
Yves Congar, thần học gia khai mở
Tương quan phong phú giữa Văn hóa và Đức tin (BTDL 1)
Liên đới theo quan điểm Công giáo
Nghĩ về người trẻ hôm nay
Tôn giáo đối diện với toàn cầu hóa
Tương quan phức tạp giữa Công giáo với Nhà Nước Việt Nam
Thử Nhận Diện Con Người Việt Nam
VIỆT NAM ĐỐI DIỆN VỚI THÁCH ĐỐ CỦA THỜI ĐẠI

GS Nguyễn Thái Hợp[1]. 

 

 Chúng ta đang ở vào một giai đoạn đặc biệt của lịch sử nhân loại, trong đó thế giới thay đổi với tầm mức và tốc độ vũ bão chưa từng thấy. Người ta thường gọi một cách đơn giản là nền văn minh trí tuệ, nền kinh tế tri thức hay toàn cầu hóa. Mặc dù chưa có sự đồng thuận về ý nghĩa và tên gọi, nhưng không ai có thể phủ nhận đây là một tiến trình phức tạp, đa dạng, phong phú và bất khả phục hồi. Nó kiến tạo một thị trường thế giới duy nhất, bao gồm mọi lãnh vực văn hóa, chính trị, thông tin, khoa học kỹ thuật, tài chánh, mậu dịch, sản xuất, dịch vụ, lao động… Khuynh hướng thống nhất ngày càng hiện rõ không những nơi các chế độ chính trị, cơ cấu xã hội, tổ chức kinh tế, mô hình sản xuất, mà ngay cả trong tư duy và lối sống của người dân trên thế giới. Tất cả các biến cố, các quyết định, các hoạt động, các thành công hay thất bại… ở một nơi nào đó trên thế giới đều ảnh hưởng đến tất cả các cá nhân và các cộng đồng khác, bất kể ở tận nơi góc bể chân trời xa xăm nào đó.

Vươn ra biển lớn và hòa nhập vào dòng chảy chung của nhân loại, trở thành một trách nhiệm khẩn thiết của đất nước Việt Nam hôm nay. Nhưng cũng không thể chấp nhận hội nhập với bất cứ giá nào. Trong viễn tượng đó thách đố đang đặt ra cho chúng ta là làm sao lựa chọn một giải pháp thích hợp và làm sao sử dụng hữu hiệu kho tàng văn hóa truyền thống vào công cuộc phát triển hôm nay?


1- Nếp nghĩ và lối sống.

            Người Việt Nam vẫn rất tự hào về khả năng thích nghi của mình. Ca dao tục ngữ đầy dẫy những thành ngữ quen thuộc như: “Đáo giang tùy khúc/ Nhập gia tùy tục”, “Khéo ăn thì no/ Khéo co thì ấm” hay “Qua sông thì phải lụy đò” hoặc “Ở bầu thì tròn / Ở ống thì dài”, “Đi với bụt thì mặc áo cà sa / Đi với ma thì mặc áo giấy”. Trải qua những thế kỷ dài khó khăn để dựng nước, giữ nước và chống lại những ngoại xâm mạnh hơn chúng ta nhiều lần, chính khả năng thích nghi này đã giúp dân tộc Việt Nam tồn tại, chiến thắng và phát triển. Có người coi đây như một trong những điểm son của dân tộc Việt.

            Nhưng chúng ta đừng quên rằng lịch sử đã sang trang và thế giới đã đổi thay từ nền tảng. Những thành công trong thế giới nông nghiệp và dựa trên tinh thần liên đới cũ có còn thích hợp với hoàn cảnh mới nữa không? Những nếp nghĩ và lối sống quen thuộc trong môi trường đóng kín, hay thích hợp đối với miền hồ ao sông nước có còn hữu dụng cho cuộc hành trình ở đại dương không? Đâu là tư duy và lối sống người Việt Nam nên có trong thời hội nhập quốc tế này?

Suốt dọc nhiều thế kỷ dưới ý thức hệ Nho giáo, xã hội Việt Nam ngày xưa được chia thành bốn giai tầng : sĩ, nông, công, thương. Trên thực tế, hai nhân vật chính của nước ta ngày xưa là nhà Nho và nhà nông. Thật vậy, thủ công nghệ còn sơ khai, nên chỉ giữ một vai trò thật khiêm tốn trong nền kinh tế quốc gia. Và dưới ý thức hệ của một xã hội “trọng nông ức thương” thì thương nghiệp không những chỉ đóng vai trò phụ thuộc, mà còn bị khinh miệt. Bạch Thái Bưởi chỉ là một con chim én đơn độc trên bầu trời Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. 

Nhà nông, trái lại, chiếm đại đa số dân chúng và là lực lượng sản xuất nền tảng của quốc gia. Vì ruộng đất ít và phương tiện canh tác thô sơ, nên nông dân Việt Nam ngày xưa rất cơ cực. Ngoại trừ một thiểu số ít ỏi thuộc thành phần địa chủ, phú nông và trung nông, còn lại phần đông nông dân Việt Nam vừa thất học, vừa thiếu ăn, thiếu mặc, nhà cửa rách nát. Nhưng chính họ lại là lực lượng sản xuất và đóng góp kinh tế chủ yếu cho Nhà nước.

Do điều kiện cụ thể của sinh hoạt nông nghiệp, đặc biệt do nghề trồng lúa nước, với đặc tính thời vụ cao, nên người nông dân phải lệ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên và dựa vào nhau để sống. Không phải ngẫu nhiên mà ở Việt Nam tổ chức nông thôn thường đặt căn bản trên yếu tố gia tộc. Ca dao Việt Nam diễn tả thật sắc nét vai trò của gia tộc, với khả năng yêu thương, cưu mang và đùm bọc nhau : “Con người có tổ, có tông. Như cây có cội, như sông có nguồn”. Trái lại, “con không cha như nhà không nóc. Người xưa cũng thường nói : “Nó lú nhưng chú nó khôn”, và vẫn đinh ninh rằng “một người làm quan cả họ được nhờ”.

Nhưng trong rất nhiều trường hợp, mỗi gia đình riêng lẻ không đủ khả năng để đối phó một cách hữu hiệu với những bất trắc của môi trường tự nhiên, như thiên tai, lụt lội, hay với những điều kiện xã hội, như nạn trộm cướp chẳng hạn. Chính vì vậy, tính cộng đồng, tinh thần tương thân tương trợ và tổ chức phường hội, giáp thôn, làng xã luôn được đặt nổi. Nhiều làng được tổ chức giống như một hòn đảo biệt lập, chung quanh có luỹ tre và ao hồ bao bọc. Sau luỹ tre và cổng làng là một cuộc sống riêng biệt và đóng kín, đến độ nhiều khi mỗi làng trở thành một thế giới riêng, với hương ước, tục lệ, nếp sống tinh thần và ngay cả điều kiện vật chất. Dĩ nhiên, vua luôn được coi là “Thiên Tử”, thay Trời trị dân và nắm trọn quyền sinh sát trong tay. Nhưng trong thực tại cuộc sống, có những lúc “phép vua thua lệ làng”.

            Điều kiện cụ thể của sinh hoạt nông nghiệp nói trên đã tạo nên một cách thế sống và nếp nghĩ riêng. Nói chung, lối sống và cách xử thế của người Việt Nam ngày xưa luôn đặt nổi sự hài hòa: lấy tình làm gốc, tình nặng hơn lý, dĩ hòa vi quí, đại khái, du di linh động, xề xòa dễ dãi, chín bỏ làm mười, một sự nhịn chín sự lành, trên kính dưới nhường, lá lành đùm lá rách, giấy rách giữ lấy lề, cố gắng đóng cửa bảo nhau, không vạch áo cho người xem lưng... 

Tất cả biểu lộ một lối sống và một tấm lòng khoan nhượng, nhẫn nhịn, hiền hòa, thiên về xu hướng ổn định. Khuynh hướng hài hòa này biểu lộ rõ rệt qua lối sống nặng tình cảm, mềm dẻo, tế nhị, kín đáo, tương đối... Nhưng hoa hồng nào mà chẳng có gai và mề đay nào mà chẳng có mặt trái của nó. Nhược điểm cố hữu của nó là thói gia đình chủ nghĩa, bệnh ỷ lại, tùy tiện, xuề xòa, đại khái, lờ mờ, thiếu công bằng, không khách quan và chính xác. Thành ra, “thương thì thương cả đường đi”, mà một khi đã ghét thì “ghét cả tông ti họ hàng”, hoặc “thương thì trái ấu cũng tròn”, mà không thương thì “trái bồ hòn cũng méo”.

Không ai phủ nhận giá trị của tình liên đới trong gia tộc và làng xã  ngày xưa, nhưng tính cộng đồng theo lối “khép kín sau lũy tre làng” nhiều lần cũng dẫn đến thói “đố kị cào bằng”, với chủ trương tai hại “xấu đều hơn tốt lỏi” hay “khôn độc không bằng ngốc đàn”. Trong rất nhiều trường hợp tình gia tộc đã biến thành một thứ tình cảm ích kỷ, khép kín, bất công, trong khi đó tình liên đới làng xóm lại trở thành óc địa phương,   hẹp hòi, thiển cận…

Ngoài ra, bối cảnh kinh tế nông nghiệp, tình trạng chậm tiến và hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt còn tạo ra nếp nghĩ, lối sống và cách làm việc dễ dãi, tạm bợ, “ăn xổi ở thì”, lấy sự sinh tồn làm cốt yếu. Thôi thì tùy cơ ứng biến, du di đại khái, chín bỏ làm mười... miễn sao sống sót hay tai qua nạn khỏi là được. Phải chăng cái sức nặng của “đất lề, quê thói” và cái vòng kim cô “Kế, Thuật, Vô cải” (nối tiếp, làm theo, không thay đổi) của hệ tư tưởng Nho gia đã làm cho xã hội Việt nam suốt nhiều thế kỷ không thể tiến lên được? Phải chăng cái tâm thức “ăn xổi ở thì” và “khôn vặt” đã tạo cho đất nước rất nhiều người cái gì cũng làm được, nhưng không làm được cái gì cho ra hồn, không trở thành chuyên gia, không có những tác phẩm và công trình tầm cỡ quốc tế?[2]

Điều kiện hội nhập quốc tế và hoàn cảnh mới của đất nước đòi hỏi phải có tư duy mới, lối sống và cách làm việc khác. Việt Nam đang cần thiết lối tư duy sáng tạo, nhất quán, chuyên nghiệp, khách quan, dài hơi, không bắt chước, không chắp vá, không dựa dẫm hay ỷ lại. Đất nước cũng đang cần những con người có nội lực, có thực tài, có tấm lòng, biết tự trọng và tôn trọng người khác.

 

2- Con người Việt Nam

Trong xã hội theo truyền thống Nho giáo ngày xưa, mỗi người chỉ là một thành phần hoàn toàn dựa dẫm, lệ thuộc vào gia tộc và tập thể để sống còn. Chưa hề xuất hiện mô hình nhân cách và quan niệm con người như một nhân vị, một cá thể tự do, tự tại. Khuynh hướng dĩ hòa vi quí, chín bỏ làm mười, du di, đại khái, nương tựa nhau mà sống... vẫn là một nguyên tắc phổ biến. Thông thường, ít ai dám vượt qua hương ước hay lệ làng. Có những trường hợp, ý thức tập thể, và ngay cả tâm lý bầy đàn, trở thành tiêu chuẩn của cuộc sống: “xấu đều hơn tốt lỏi”, “khôn độc không bằng ngốc đàn” hay “chết một đống hơn sống một mình”.

Vào giữa thế kỷ XX, học giả Đào Duy Anh đã nhận định về con người Việt Nam như sau: “Về tính chất tinh thần thì người Việt Nam đại khái thông minh, nhưng xưa nay ít thấy có người trí tuệ lỗi lạc phi thường. Sức ký ức thì phát đạt lắm, mà giàu trí nghệ thuật hơn trí khoa học, song thích văn chương phù hoa hơn là thực học (...). Não sáng tác thì ít, nhưng mà bắt chước, thích ứng và dung hóa thì rất tài”[3].

Ngay từ đầu thập niên 40, nhà dân tộc học Nguyễn Văn Huyên đã viết những dòng sâu sắc và vẫn còn âm hưởng đến hôm nay: “Nếu như xưa kia ở Việt Nam có một kỷ luật tinh thần, thì lại chưa hề có một nền giáo dục liên tục, một sự phát triển liên tục việc trau dồi trí tuệ. Người ta đưa quá nhiều vào trí nhớ của trẻ em, điều đó làm thui chột một số năng lực não bộ của người Việt, óc suy diễn, rất cần thiết cho nghiên cứu khoa học, chưa bao giờ được phát triển một cách có hệ thống.

Thành ra ở người Việt có sự lười biếng về trí óc, có xu hướng dễ dàng chấp nhận hết thảy và bắt chước hết thảy. Nhà Nho xưa kia, ra làm quan sau khi học nhiều kinh sách chất đầy trí nhớ, phần lớn chẳng còn nghĩ đến sự trau dồi trí tuệ nữa. Họ già trước tuổi. Hoặc là, họ can đảm chịu nhẫn nhục để khỏi bị một ai đó ganh tị mà kiếm chuyện lôi thôi. Hoặc là, họ sa đà vào một thú chơi ngông, đôi khi cũng tinh tế đấy, nhưng dễ làm cạn kiệt đi ở nòi giống cái năng lực phát minh hoặc thậm chí năng lực lập luận khoa học”[4].

 Nhìn chung, văn hóa truyền thống của chúng ta đã xây dựng trên cơ sở xã hội nông nghiệp và mang nhiều nét đặc trưng của hệ tư tưởng Nho giáo. Dưới ý thức hệ Nho giáo và trong môi trường cụ thể của “gia tộc & làng xã”, con người Việt Nam ngày xưa chỉ là một bộ phận phụ thuộc và lệ thuộc vào tập thể. Giáo sư Cao Xuân Huy cho rằng xã hội phong kiến Trung Quốc và Việt Nam… bảo lưu nhiều tàn tích thị tộc và tông pháp, do đó… càng chèn ép cá nhân, ngăn cản sự phát triển ý thức cá nhân. Quyền lợi vật chất hay tinh thần của cá nhân đều bị hạn chế gắt gao. Thêm vào đó, quan niệm luân lýdanh phận đóng vai trò độc tôn tuyệt đối và hoàn toàn không có chỗ cho khái niệm tự do, bình đẳng vốn xuất hiện kể từ những cuộc cách mạng tư sản.

 Cho đến đầu thế kỷ XX, tại Việt Nam chưa xuất hiện mô hình nhân cách và nhân vị của con người độc lập, tự do, tự tại, với nếp sống và nếp nghĩ riêng. Con người Việt Nam lúc ấy là “con người của gia đình, của họ, của làng, nước. Bản thân họ không có gì là của mình: thân thể là của cha mẹ cho, phận vị là của vua cho, số mệnh là của Trời cho. Có được cái gì cũng là nhờ ơn vua, ơn Trời. Giá trị của nó được tính theo chỗ nó là con ai, thuộc họ nào, làng nào, có chức sắc gì, chứ không theo chỗ bản thân nó là gì. Trong xã hội tất cả là thần dân của vua, đều được xếp vào bậc thang tước vị, rồi lại chia thành hạng cha chú hay con cháu. Con người phải nhìn xuống, nhìn lên trong cái thang trật tự trên dưới đó, tự xác định vị trí của mình mà ăn mặc, nói năng, đi đứng cho phải phép. Đó là con người chức năng trong xã hội luân thường chứ không có nhân cách độc lập”[5].

Trong tác phẩm “Đến hiện đại từ truyền thống”, khi suy nghĩ về mô hình nhân cách Việt Nam, ngoài hai mẫu người cổ điển, là nhà nho và nhà nông, giáo sư Trần Đình Hượu còn thêm một mẫu người thứ ba: đó là “tiểu kỉ”. Theo ông, “bên cạnh mô hình người quân tử, ta có một mô hình khác, cũng là gười nông dân, nhưng không phải theo cách nhìn nhà Nho, mà tổng hợp từ thực tế cuộc sống của nền kinh tế cống nạp và tự túc, của đời sống gia đình, làng, họ, của trật tự trên dưới vua quan với dân, cha chú với con em… Tôi gọi con người đó là “tiểu kỉ”– cái tôi bé nhỏ – cam chịu thân phận hèn mọn, bị động, nhờ ân huệ, vun quén, xà xẻo, khôn khéo lẩn tránh… Con người đó cũng có quan niệm thế giới của họ, ý thức về bản thân và lựa chọn cho mình cả lí tưởng, cả cách ứng xử, cách đánh giá lợi hại, khôn dại…”[6].

Dĩ nhiên con người “tiểu kỉ” và “tiểu nông” có lý do và vai trò của họ trong một số hoàn cảnh nhất định nào đó. Nhưng, hôm nay khi đất nước đang nỗ lực đi vào dòng chảy chung của nhân loại thì cần phải vượt qua cái tâm lý thích an cư lạc nghiệp và ngại thay đổi của “con người tiểu nông”, cũng như thói dựa dẫm, khúm núm, luồn cúi, tiểu xảo của “con người tiểu kỷ”, để xây dựng một nhân cách tự lập, có sáng kiến, biết lãnh trách nhiệm, tự trọng và biết tôn trọng người khác.

Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã tạo nên một sự thay đổi lớn lao và triệt để trong mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… Chính quyền cách mạng được thành lập để thay thế cơ cấu chính trị cũ, Hiến pháp mới được ban hành, nhiều đoàn thể cách mạng ra đời. Vai trò của Đảng và Nhà nước được đề cao, trong khi vị trí của cá nhân trong cuộc sống toàn xã hội bị giảm nhẹ và thu hẹp. “Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa xây dựng trên cơ sở cộng đồng xã hội, coi cá nhân chỉ tồn tại trong  cộng đồng xã hội bằng hành động tập thể, bằng nhà nước tập quyền, hành động theo kế hoạch không gián đoạn để thực hiện một lí tưởng chung đã vạch sẵn là chủ nghĩa Cộng sản để đem lại tự do hạnh phúc cho mọi người”[7].

Thêm vào đó, điều kiện nghiệt ngã của cuộc chiến tranh chống ngoại xâm đòi hỏi phải triệt để “tiêu thổ kháng chiến” và di tản tất cả về nông thôn. Dần dần đi đến chỗ nông thôn hoá đô thị, cũng như nông thôn hóa nếp nghĩ và lối sống của toàn xã hội. Về mặt tổ chức, “chính quyền và hợp tác quản lí hộ khẩu, quản lí lao động, không để làm ăn riêng lẻ và chạy ngoài. Việc đi lại khỏi làng : nhập ngũ, đi học nghề, làm công nhân hay viên chức phụ thuộc khá nhiều vào ý kiến nhận xét của xã. Người nông dân gắn chặt với xã, đóng kín chỉ có môi trường xã hội ở xã, khó năng động, linh hoạt trong việc kiếm sống”[8]. Vô hình trung đã nẩy sinh một thứ “lũy tre làng mới”, với “hương ước” và “tập tục” riêng, nhưng tựu trung vẫn trói buộc con người một cách khắt khe và nghiệt ngã như “lũy tre làng cũ”.

Nhiều người lấy làm tiếc là đáng lẽ ra phải dồn tất cả năng lực để hiện đại hoá nông thôn và cải tạo con người tiểu nông cũng như tiểu kỉ, thì dưới thời bao cấp người ta lại nông thôn hoá đô thị và đề cao quá đáng tính cách của người nông dân tiểu kỉ như cam phận hèn mọn, tính toán ích kỷ, sự phục tùng tuyệt đối, thái độ khôn ngoan vụn vặt. Hậu quả của nó là đã tái sinh nhiều mê tín dị đoan cũ và dẫn đến một thứ chủ nghĩa xã hội của nông dân công xã. Giáo sư Trần Đình Hượu nhận định: “Nếu chủ nghĩa xã hội, hiểu là sở hữu công cộng với chính quyền chuyên chính vô sản chỉ huy cả kinh tế, sắp xếp cả công việc làm ăn cho từng người, lo chuyện tương cà mắm muối, và xây dựng bằng cách xác lập quan hệ sản xuất, đã dẫn đến quan liêu bao cấp, đến trói buộc cả xã hội, thì làng – họ, với nền sản xuất nông nghiệp tự túc và cống nạp, với tính cộng đồng, tính đóng kín của nó, cũng dẫn đến cách hiểu chủ nghĩa xã hội “trại lính ” với bệnh địa phương, nạn phe phái, tệ cường hào”[9].

Nói chung, dưới thời bao cấp, vai trò của Nhà nước, tổ chức, đoàn thể được triệt để đề cao, trong khi đó vị trí của cá nhân bị thu hẹp quá đáng. Con người xã hội chủ nghĩa chủ yếu sống cho đoàn thể, có thói quen hành xử như một thành viên của tổ chức, một bộ phận phụ thuộc và triệt để phục tùng tổ chức, chứ không phải là một nhân vị tự tại, tự lập, dám lấy quyết định, có trách nhiệm và sáng tạo. Nhà văn Nguyễn Khải thú nhận: “Cuộc sống tập thể đã nhấn chìm cuộc sống cá nhân, cuộc sống trong chiến tranh đã xóa nhòa mọi thói quen của cuộc sống thời bình. Lúc nào cũng có kẻ thù rình rập đâu đó để tìm cớ lật đổ chế độ bằng vũ trang, hay bằng diễn biến hòa bình. Lúc nào cũng được đồng chí trong chi bộ, bạn bè cơ quan giám sát mọi tư tưởng và hành vi để ngăn chặn mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân của mỗi thành viên. Lúc nào cũng phải đề phòng, phải đề cao cảnh giác cách mạng, không tin cậy bất cứ ai, kể cả bạn bè!”[10]

Ngay từ thập niên 60’ một số thức giả đã cảm nhận được sự bế tắc của mô hình này. Nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi là một thí dụ. Nhân dịp kỷ niệm 10 năm từ trần của Từ Chi, nhà nghiên cứu Huệ Chi đã kể lại một nhận định sắc bén của người anh họ, mà gần như chưa ai đề cập đến : “Ông (Nguyễn Từ Chi) là một người sớm nhạy cảm với những bế tắc của con đường nghiên cứu khoa học xã hội chính thống ở Việt Nam. Sự nhạy cảm này bắt nguồn từ một năng khiếu cũng khá đặc biệt, ấy là nhận thức tỉnh táo của ông về mọi chuyển động âm thầm của thời cuộc, hay đúng hơn là một nhãn quan minh mẫn về chính trị. Kể từ năm 1963, sau hai năm làm chuyên gia giáo dục và mải mê điền dã dân tộc học ở Guinée và một số nước trên hai bờ con sông Niger của châu Phi, trên đường trở về ghé qua Moskova khoảng một tuần lễ, khi gặp lại người thân, ông đã có một nhận xét khiến nhiều người trong gia đình sửng sốt : “Mô hình xã hội chủ nghĩa xem ra không ổn rồi, vì nó sans humanité (không người)”[11].


3-  Bỏ lỡ cơ hội quý báu

Biến cố 1975 đã mở ra nhiều cơ hội và vận hội mới cho Việt Nam để xây dựng một đất nước hòa bình, thống nhất và phát triển. Đối với GS. Nguyễn Đăng Mạnh, “đây là những ngày rất vui. Tuy nhiên, về đời sống vật chất thì vẫn khổ, có khi còn khổ hơn cả thời chiến tranh. Vẫn cơm độn mì hay bo bo. Vẫn xếp hàng chầu chực từ rất sớm để mua gạo mậu dịch. Mì để lâu bị mọt, sinh ra dòi bọ. Tôi đã thấy một lần như thế trong bát cơm của mình(...). Làm gì cũng phải xếp hàng, phải chầu chực. Quyền thế nhất lúc bấy giờ là bà chủ kho gạo, là cô hàng mậu dịch… Hồi ấy hay nói đùa: “Đẹp nhất là hình ảnh một người ngồi giữa hai bao gạo đầy”[12]

Phân tích tình hình kinh tế trong giai đoạn 1975-1979, GS Đặng Phong, chủ nhiệm chương trình “60 năm kinh tế Việt Nam 1945-2005”, đã nhận định tổng quát như sau: “Miền Nam, tuy có mặt bị chiến tranh tàn phá khốc liệt, nhưng mặt khác trong nền kinh tế và trong đời sống đã được gieo cấy vào những mầm mống của kinh tế thị trường, những thói quen trong các quan hệ hàng hóa, tiền tệ, không chỉ trong phạm vi nội địa mà cả trên phạm vi quốc tế. Những cơ cấu hạ tầng, những luồng lưu thông hàng hóa, hững thiết chế tài chính ngân hàng đã làm cho cả sản xuất và tiêu dùng gắn bó rất nhiều với mô hình kinh tế thị trường hiện đại.

Qua 20 năm chiến tranh, viện trợ Mỹ theo nhiều hình thức khác nhau đã đem tới những hàng hóa phong phú và rẻ, cũng tràn ngập thị trường: Ti vi, tủ lạnh, xe gắn máy, đồ uống thuốc lá, áo quần, dày dép… Về đường sá, viện trợ Mỹ đã giúp chính quyền Sàigòn cải tạo toàn bộ hệ thống quốc lộ. Hầu hết các cầu quan trọng đã được xây dựng lại thay cho những cầu hẹp thời Pháp thống trị. Trong hệ thống đường thủy, thì sông nước không thay đổi bao nhiêu, nhưng phương tiện đi lại trên sông đã thay đổi một cách căn bản. Chỉ sau 5 – 7 năm có viện trợ Mỹ ở miền Nam, hầu hết các ghe xuồng đã được gắn máy, không còn cảnh chèo thuyền bằng tay. Việc vận tải hàng hóa đi và về tăng lên về khối lượng, về tốc độ, về chủng loại. Về mặt kinh tế, đời sống tương đối dễ chịu, hàng hóa phong phú, giá rẻ hơn nhiều so với ở những vùng giải phóng và so với miền Bắc … Gạo, thịt, cá, rau … vẫn là những thứ mà ở miền Nam chưa bao giờ thấy thiếu thốn”[13].

Sau 30 tháng 4, rất nhiều người băn khoăn thao thức kiếm tìm một mô hình phát triển thích hợp cho Việt Nam trong giai đoạn mới, một sự phát triển dựa vào công nghệ, vào kinh tế thị trường và tư bản nhân văn (human capital). Chính Tổng Bí thư Lê Duẩn cũng đã phát biểu trong cuộc họp trù bị của Hội nghị Trung ương lần thứ 24, ngày 13-8-1975, như sau: “Xưa nay ở miền Bắc chúng ta có một số sai lầm, là vì chúng ta đã đi sai quy luật. Nếu chúng ta đi sai quy luật mà đưa vào miền Nam thì càng sai lắm. Vì vậy, nay có được miền Nam là để chúng ta thấy lại rõ hơn nữa. Tại sao chúng nó là tư bản, chúng nó bóc lột người ta dữ mà năng xuất của nó vẫn cao? Vì nó là tư bản nhưng nó đi theo quy luật của nó, nó bóc lột nhưng mà vẫn tiến lên. Còn ta chủ nghĩa xã hội nhưng chưa đi đúng quy luật xã hội chủ nghĩa của ta, đúng mặt này mà không đúng mặt kia, cho nên ta cứ chập chờn mãi, tròng trành mãi”[14].

Rất tiếc, vì chủ trương giáo điều, thái độ duy ý chí và bầu không khí  say men chiến thắng[15], Hội nghị Trung ương 24, vào tháng 9 năm 1975, đã quyết định cải tạo cả nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa miền Bắc thay vì hiện đại hóa đất nước.

Nhà nước thực hiện chủ trương triệt để cải tạo công thương nghiệp, “xóa bỏ tư sản mại bản bằng cách quốc hữu hóa cơ sở kinh tế của họ, biến thành sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý”[16]. “Bọn con buôn” ngày xưa trở thành “lũ con phe”, phải đào tận gốc, trốc tận rễ. Nhà nước độc quyền làm kinh tế và quản lý các quan hệ kinh tế đối ngoại.

Nghị quyết Trung ương về cải tạo nông nghiệp quyết định “đưa nông nghiệp tiến nhanh lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”, theo đó “nông trường quốc doanh là đầu tàu, là nòng cốt của nền nông nghiệp mới”[17]. Rút cục, lại một lần nữa Nhà nước đã triệt để thực hiện chính sách nông thôn hóa đất nước, cưỡng bức dân thành phố về nông thôn, đưa những người buôn bán, phi sản xuất và tất cả các nghệ sĩ, kỹ sư, bác sĩ, công nhân viên chế độ cũ… về các vùng kinh tế mới. Chủ nghĩa “Tân trọng nông” cực đoan, xây dựng trên lao động cơ bắp, đã đẩy đất nước đến bờ vực thẳm và đẩy hàng triệu người phải bỏ nước ra đi.

Thật vậy, những năm 1976 – 1985 là giai đoạn khủng hoảng trầm trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam. “Năm 1976, sản lượng lúa cả năm là 11.827,2 nghìn tấn. Kế hoạch 5 năm định là năm 1980 sẽ nâng lên gấp đôi, tức là 21 triệu tấn, nhưng trong thực tế, đến năm 1980 chỉ đạt được 11.647,4 triệu tấn, tức là còn chưa bằng điểm xuất năm 1976. Còn sản lượng bình quân đầu người thì giảm sút ngoài sức tưởng tượng: từ 211kg năm 1976 xuống còn 157 kg năm 1980. Mức huy động lương thực của Nhà nước năm 1976 là 2,04 triệu tấn, năm 1979 chỉ còn 1,45 triệu tấn. Miền Nam là vựa lúa của cả nước thì mức giảm sút còn nặng hơn: Từ 1,1 triệu tấn năm 1976 còn hơn 8 trăm ngàn tấn năm 1979, tức là giảm khoảng một nửa”[18].

Nói về những năm dài mê muội đó, có người đã ngậm ngùi vo tròn nó trong cái công thức thời danh của Lenin: Nhiệt tình cách mạng + ngu dốt = phá hoại. Việc đổi mới tư duy vào thập niên 80’ được đặt ra như một nhu cầu khẩn thiết nhất. Theo Trường Chinh, trong điều kiện cụ thể lúc đó, “chúng ta chỉ có hai khả năng lựa chọn: Đổi mới để tiến lên hay đi theo con đường cũ để chết”[19]. Rất may là Trương Chinh và nhất là Nguyễn Văn Linh đã cương quyết đổi mới để tiến lên.

Nhờ chủ trương “Đổi mới” đó Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế cao trong 20 năm qua. Tuy nhiên, bất chấp những thành quả đáng khích lệ đó, đất nước chúng ta vẫn còn tụt hậu về nhiều phương diện so với các nước láng giềng. Bảng đối chiếu sau đây của TS Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, cho chúng ta thấy rõ hơn vấn đề: “Nếu lấy mốc tính là năm 1950, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam bằng 80.5% của Thái Lan, thì năm 1999 chúng ta chỉ còn bằng 20%. So với Hàn Quốc thì năm 1950 ta bằng 85.5%, tức là Hàn Quốc với Việt Nam lúc bấy giờ cũng đói như nhau, còn bây giờ ta chỉ còn bằng khoảng độ 11, 12% Hàn Quốc. Lúc bấy giờ ta giàu có hơn Trung Quốc, Trung Quốc lúc bấy giờ đói khổ hơn ta. Ta bây giờ thu nhập bình quân đầu người bằng khoảng 20% Trung quốc mà thôi”[20]. Nói rõ hơn, trong 60 năm qua, các nước láng giềng đã phát triển mạnh, trong khi đó  có những giai đoạn Việt Nam đã giật lùi hay dậm chân tại chỗ, chính vì vậy, khoảng cách giữa họ và ta vẫn còn rất lớn.  


4Cần đổi mới “triết lý giáo dục”.

            Nhân loại đang tiến từ thời công nghiệp sang giai đoạn hậu công nghiệp, trong đó tư bản nhân văn (Human Capital) trở thành yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế - xã hội. Hàm lượng về vật chất như năng lượng, nguyên liệu thiên nhiên, lao động cơ bắp… trong mỗi sản phẩm cao cấp ngày càng giảm thiểu, nhưng ngược lại thông tin và hàm lượng trí tuệ ngày một gia tăng. Chất xám được coi là tấm hộ chiếu của thế kỷ 21 và tài nguyên tương lai của mỗi quốc gia hoàn toàn tùy thuộc ở óc sáng tạo, khả năng nhận diện xu hướng của thế giới, kỹ năng khai thác tiềm năng của bộ não, tốc độ và tài sử dụng thông tin để tạo thêm những giá trị gia tăng.

            Yếu tố tri thức đang đóng vai trò rất quan trọng trong vận hội mới. Theo định nghĩa của WB, kinh tế tri thức là "nền kinh tế dựa vào tri thức như động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Đó là nền kinh tế trong đó kiến thức được lĩnh hội, sáng tạo, phổ biến và vận dụng để thúc đẩy phát triển". Nói rõ hơn, kinh tế tri thức không đồng nghĩa với việc sử dụng công nghệ thông tin, mà là nền kinh tế lấy tri thức, sáng tạo và các chính sách liên quan đến chúng làm trọng tâm chiến lược phát triển. Sự thành công của Singapore và Hàn Quốc là nhờ chiến lược phát triển dài hạn và đúng đắn về lãnh vực này. 

            Theo WB, bất cứ quốc gia nào muốn chuyển sang nền kinh tế tri thức cần phải thực hiện bốn trụ cột căn bản sau đây: lực lượng lao động có giáo dục và kỹ năng, hệ thống sáng tạo hiệu quả, cơ sở hạ tầng thông tin (ICT) hiện đại, hệ thống thể chế và kinh tế được cập nhật. Căn cứ trên bốn trụ cột kinh tế tri thức đó, báo cáo của WB cho thấy Việt Nam đang tụt hậu so với các nước trong khu vực:

            a)-   Giáo dục: Chỉ số giáo dục của Việt Nam giảm nhẹ từ 3,56 (1995) còn 3,50 trong năm 2006. Chỉ số này dưới mức bình quân của thế giới (4,35) và dưới bình quân của khu vực (5,26). So với châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam bị xếp hạng thấp hầu như ở tất cả khía cạnh: từ chất lượng quản lý các trường, đào tạo cán bộ và giáo dục trung học mặc dù số công nhân có tay nghề nhìn chung tăng 12,3% (1996) lên 27% (2005).

            b)-  Sáng tạo: Khác với các nước tiên tiến, tại Việt Nam khu vực công đóng vai trò chính trong hệ thống sáng tạo. Cho đến đầu thập niên 1990, công tác nghiên cứu & phát triển chủ yếu thực hiện trong phạm vi các viện nghiên cứu và đại học, tách biệt khỏi các đối tác sáng tạo khác. Mặt khác, sự kiện con số nhà khoa học gia tăng lại không dẫn đến việc gia tăng các phát minh, như đáng lẽ ra phải có.

            c)-  ICT: Đây là chỉ số tăng mạnh nhất của Việt Nam trong bốn trụ cột của kinh tế tri thức, tới 1,29 điểm, đạt 3,49 điểm (so sánh với điểm bình quân của thế giới là 6,00, của châu Á - Thái Bình Dương là 7,04, của Malaysia là 7,30 và Singapore là 9,19). Nhưng lực lượng lao động IT của Việt Nam còn ít và chưa có kinh nghiệm. Trong 40 triệu công nhân Việt Nam, chỉ có 20.000 lao động trong lĩnh vực IT và chỉ vỏn vẹn khoảng 3.500-4.000 sinh viên tốt nghiệp với các bằng cấp IT hằng năm.

            d)-  Chế độ các định chế và kinh tế: Việt Nam bị xếp hạng thấp trên các tiêu chí về quản trị, nhất là về nạn tham nhũng, chất lượng (thực thi) luật pháp. Thậm chí  tính hiệu quả của quản trị và nguyên tắc pháp trị tại Việt Nam còn bị đặt thành vấn đề. Chỉ có sự ổn định chính trị là yếu tố mạnh nhất của Việt Nam, trong lãnh vực này mà thôi[21]

            Có nhiều nguyên nhân làm cho Việt Nam tụt lại phía sau hầu hết các nước Đông Á - Thái Bình Dương về chỉ số kinh tế tri thức. Một trong những nguyên nhân đó là tình trạng giáo dục. Hiện nay, hầu như mọi người đều ý thức  rằng “môi trường tập thể” của thời bao cấp không tạo nên những con người có nội lực, có bản lãnh, biết khẳng định mình bằng tài năng và sáng tạo. Đáng lẽ ra giáo dục phải giữ vai trò quan trọng và đi tiên phong trong công cuộc “đổi mới” vào giữa thập niên 80 của thế kỷ trước. Rất tiếc là chúng ta chỉ mở cửa về kinh tế, trong khi đó nền giáo dục vẫn bị khống chế bởi “cơ chế bao cấp” và hệ tư tưởng cũ. Kết quả thê thảm là hệ thống giáo dục của chúng ta như một ngôi nhà cổ lỗ, chẳng theo qui củ thông thường, càng phát triển, cơi nới và sửa chữa thì càng dị dạng[22].

Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng “giáo dục của chúng ta hiện nay đang có vấn đề trong cả hệ thống của nó, hầu như tất cả các lãnh vực của nó đều có vấn đề, cái hỏng của nó có tính chất hệ thống chứ không phải cục bộ”. Nói cho cùng  giáo dục dù sao cũng chỉ là “hệ thống con trong hệ thống mẹ, hệ thống con không thể không có vấn đề khi cả hệ thống mẹ có vấn đề”. Cuộc canh tân giáo dục hiện nay, do đó, trở nên phức tạp và nan giải, bởi vì muốn giải quyết tận gốc vấn đề giáo dục đòi hỏi phải thay đổi cả hệ thống mẹ. Và ông thú nhận “làm việc đó ở đây, bây giờ, là ảo tưởng”. Tuy nhiên, ông rất có lý để tin rằng “không phải khi hệ thống mẹ chưa có chuyển biến thì hệ thống con cứ phải bó tay ngồi đó mà chờ”. Trái lại, “những thay đổi tích cực trong hệ thống con theo một cách nào đó và ở một mức độ nào đó vẫn có thể có ảnh hưởng tích cực đến hệ thống mẹ”[23].

Trong viễn tượng đó, phải công nhận là một dấu hiệu tích cực việc Bộ GD- DT đã công bố bản Dự thảo “Chiến lược giáo dục Việt Nam 2009-2020, ngày 18-12-2008. Ngay từ những dòng đầu tiên, bản Dự thảo nhìn nhận: “Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Điều này đòi hỏi giáo dục phải có chiến lược phát triển đúng hướng, hợp quy luật, xu thế và xứng tầm thời đại”. Đặc biệt hơn, ở phần III về “Quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục”, bản Dự thảo xác định rõ rệt: “Phát triển sự nghiệp giáo dục phải dựa trên một hệ thống triết lý”.

Mấy năm vừa qua, dư luận bàn nhiều đến “triết lý giáo dục” và coi nó là chìa khóa của vấn đề giáo dục hiện nay[24]. Đại đa số cho rằng nguyên nhân cuộc khủng hoảng giáo dục ở nước ta là do cái “triết lý giáo dục” vừa lạc hậu, vừa mất định hướng. Cần cấp tốc thay đổi cái “triết lý giáo dục” nặng giáo điều và bao cấp hiện tại, rồi sau đó mới bàn tới việc thay đổi phương thức quản lý giáo dục, phân bố lại chương trình học, bỏ hay thay đổi chế độ thi cử, thiết lập Đại học cộng đồng, trường công hay trường tư, trường quốc tế hay quốc nội, soạn sách giáo khoa, lương giáo viên, tăng học phí, dạy thêm,v.v.

Có khá nhiều quan niệm về “triết lý giáo dục”. Tôi tạm hiểu triết lý giáo dục là một quan niệm nhất quán về định hướng, mục tiêu, bản chất và lí tưởng của giáo dục. Nó bao gồm một nhân sinh quan, xã hội quan và vũ trụ quan chi phối tất cả bộ máy giáo dục, cơ cấu tổ chức và phương thức quản lý. Mục đích của giáo dục là gì? Phải chăng là để tạo ra những con người có nhân cách, có đạo đức, có suy nghĩ độc lập, tư duy sáng tạo, biết lấy quyết định, dám nhận trách nhiệm, có khả năng vận dụng kiến thức mới và trả lời cho những thách đố của thời đại? Phải chăng sứ vụ của giáo dục là chuyển giao một cách có phương pháp tri thức, kinh nghiệm, cũng như kỹ năng, lối sống và giá tri đạo đức để hình thành một nhân cách?

            Chính vì vậy, chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy bản Dự thảo vẫn hiểu một cách đơn giản và giáo điều “triết lý giáo dục” chỉ là “một hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước cần được vận dụng một cách sáng tạo phù hợp thực tiễn giai đoạn mới”. Chúng tôi nghĩ rằng nếu không cấp tốc thay đổi cái “triết lý giáo dục” vừa giáo điều, vừa lạc hậu này thì chẳng hy vọng đạt được một nền giáo dục tiên tiến, phát triển đúng hướng, hợp quy luật, xu thế và xứng tầm thời đại!

Rất may là rải rác trong bản Dự thảo chúng ta cũng gặp thấy một số khái niệm liên quan tới “triết lý giáo dục”. Chẳng hạn, ngay trong số 1 của “Quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục”, Dự thảo viết: “Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Và ở phần “Mục tiêu chiến lược giai đoạn 2009-2020”, Dự thảo đề nghị: “Trong vòng 20 năm tới, phấn đấu xây dựng một nền giáo dục Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc, làm nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững đất nước”.

Dự thảo muốn “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện”, những con người “có năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, có khả năng thích ứng, hợp tác và năng lực giải quyết vấn đề, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, có thể lực tốt, có bản lĩnh, trung thực, ý thức làm chủ và tinh thần trách nhiệm công dân”. Nhưng Dự thảo lại chỉ nhấn mạnh đến ba thuộc tính: hiện đại, khoa học và dân tộc. Dĩ nhiên, đó là những thuộc tính quan trọng của một nền giáo dục hiện đại. Tuy nhiên, vẫn chưa đủ. Để có một nền giáo dục hiện đại và quân bình, thiết tưởng cần bổ sung thêm hai thuộc tính quan trọng khác là nhân bản đạo đức.

Cuộc khủng hoảng hiện tại đòi hỏi chúng ta phải đề cao vai trò nhân bản và đạo đức trong giáo dục, vì một nền  giáo dục chân chính phải giúp  mỗi cá nhân triển nở trọn vẹn và thực hiện được lí tưởng làm người của mình. Người xưa nói rất chính xác: dạy chữ để dạy người. Khi xa rời với mục tiêu “đào tạo con người” thì giáo dục đã đánh mất sứ vụ chính yếu của nó, không còn tạo nên “người thật”, mà chỉ còn sản xuất ra những thứ “người máy” mà thôi.

Bác học Albert Einstein đã nhận định thật sâu sắc về vai trò của chiều kích nhân bản và đạo đức trong giáo dục: học sinh “phải được dạy để có một ý thức sống động về cái đẹp và cái thiện”. Nền giáo dục có giá trị cần phát huy “lối tư duy phê phán độc lập”. Nếu “quá nhấn mạnh đến hệ thống ganh đua cũng như chuyên ngành quá sớm vì tính hữu dụng trực tiếp sẽ giết chết tinh thần”. Đường hướng giáo dục thực dụng và kỹ trị luôn có nguy cơ làm cho học sinh trở thành “một cái máy khả dụng nhưng không thể trở thành một con người với đầy đủ phẩm giá”[25].

Dự thảo giới thiệu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong mấy thập niên vừa qua bằng những con số lạc quan: “Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển mạnh với vị thế và diện mạo mới. Kinh tế Việt Nam liên tục phát triển; an ninh, quốc phòng được giữ vững. Thu nhập bình quân theo đầu người trong 10 năm qua tăng liên tục từ 337 USD năm 1997 đã lên đến 823 USD năm 2007. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng cường công nghiệp và dịch vụ. Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong GDP ngày càng giảm; tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng. Đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt”. Không ai có thể phủ nhận những thành quả đó, tuy nhiên chúng ta cũng không thể quên rằng khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam ngày một tăng cao, hiện tượng giả dối, lừa đảo… tràn lan, chất lượng cuộc sống ngày một giảm và đạo đức suy đồi. Nếu nhìn vào toàn cục, vào cả dân tộc, đúng là một thành công hiển nhiên, nhưng nếu nhìn vào từng gia đình, từng cá nhân, từng phận người cụ thể chưa được chuẩn bị đầy đủ trong văn hóa, trong lịch sử và trong cách thế làm người thì quả thật đầy dẫy rạn nứt và đổ vỡ đau thương!

Nhiều người vẫn băn khoăn tự hỏi: Tại sao một dân tộc có truyền thống văn hóa ngàn đời và một quốc gia luôn tự hào với các giá trị tinh thần và đạo đức mà bỗng chốc bị rơi vào tình trạng phi chuẩn mực thê thảm như vậy? Phải chăng đây là cái giá của những bước nhảy vọt hay đốt giai đoạn duy ý chí? Có cách nào tránh hay ít nhất giảm thiểu hiểm họa này không?

Suy nghĩ về nguyên nhân nẩy sinh cái xã hội rạn nứt, giả dối, lừa lọc, đảo điên, tàn nhẫn… này, nhà văn Nguyễn Khải nhìn thấy cốt lõi vấn đề nằm ở sự thiếu hụt về giáo dục và tình trạng thiếu quân bình giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển con người toàn diện: “Các cá nhân ấy sẽ rất dễ bị GÃY khi gặp phải sóng to gió lớn. Vì cái lõi của nó chưa đủ cứng, chưa đủ bền, chưa đủ những tố chất về di truyền, về giáo dục (rất cần có thời gian) để ứng phó hữu hiệu với những thay đổi quá nhanh của môi trường sống”[26].

 Giáo dục đạo đức cũng như đạo đức nghề nghiệp, vì vậy trở thành một nhu cầu khẩn thiết, nhưng cũng là một công tác rất khó khăn và tốn kém. Nhìn về tương lai, Bản Dự thảo nhìn nhận: “Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ trên thế giới có thể làm cho khoảng cách kinh tế và tri thức giữa Việt Nam và các nước ngày càng lớn hơn, nước ta có nguy cơ bị tụt hậu xa hơn”.

            Mấy năm qua Nhà nước đã tăng đầu tư cho giáo dục. Nhưng một nước nghèo như Việt Nam, mặc dù đầu tư trong ngân sách cho giáo dục đã tăng thì cũng chẳng thể đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục. Vì vậy, ở giải pháp 6 trong “Giải pháp chiến lược” cho giai đoạn 2008 – 2020, Dự thảo đề cập đến vấn đề xã hội hóa giáo dục, hay nói theo ngôn ngữ quốc tế thì đây chính là vấn đề tư nhân hóa giáo dục: “Khuyến khích và tạo điều kiện cho việc mở các trường đại học 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam”.

            Chúng tôi hoàn toàn tán thành giải pháp chiến lược mời gọi các thành phần xã hội dân sự cộng tác vào công cuộc cải tổ và hiện đại hóa giáo dục để giúp đất nước hội nhập quốc tế thành công. Muốn đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng nghèo đói và lạc hậu để trở thành một nước phát triển bậc trung, nhất là muốn kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội, cũng như giữa hiện đại hóa đất nước và bảo vệ giá trị truyền thống, cần biết nối kết Nhà nước pháp quyền với cơ chế thị trườngxã hội dân sự.

            Nhưng nhiều thành phần tôn giáo vẫn thắc mắc: Tại sao Nhà nước đang khuyến khích “các tổ chức tư nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và các tổ chức nước ngoài đầu tư cho giáo dục” thế mà lại không cho phép các tôn giáo trong nước tham gia trực tiếp vào lãnh vực Y tế và Giáo dục? Không biết nên vui hay buồn khi có quá nhiều trường quốc tế, vàng thau lẫn lộn, đang thi nhau mọc lên? Không biết đó là những cơ hội tốt hay đang giao trẻ em cho “Tây ba-lô dạy dỗ? Trong khi đó, không biết đến bao giờ các tu sĩ chuyên lo về giáo dục mới có cơ hội đóng góp tim – óc của mình cho giới trẻ Việt Nam?  


 

[1] Tham luận đọc tại Hội thảo “Đặc điểm tư duy và lối sống của người Việt thời hội nhập quốc tế” do Viện Triết học và CLB Phaolô Nguyễn Văn Bình tổ chức 3-2009.

[2] Xin coi Kim Định, Việt lý tố nguyên, Sàigòn, 1970; Sứ điệp trống đồng, San José, 1984; Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb, HCM 2001 ; Nhất Thanh, “Đất lề Quê Thói”, Đường Sáng, Sàigòn, 1970 ; Lê Gia, Tâm Hồn Mẹ Việt Nam, Nxb Văn Nghệ, 1993 ; Phan Canh, Thi Ca Bình Dân, Nxb Văn Học ,1993 ; Lê Văn Siêu, Nếp Sống Tình Cảm của Người Việt Nam, Nxb Mũi Cà Mau, 1993 ; Tương Lai, Những Nghiên Cứu Xã Hội Học Về Gia Đình Việt Nam, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1996 ; Trần Bá Chí, Tấm Gương Hiếu Thảo Thời Xưa, Nxb Văn Hoá Dân Tộc, Hà Nội, 2000; Mặc Giao, Một cách nhìn khác về Văn hóa Việt Nam, Tin Vui, Hoa Kỳ, 2004; Nhiều tác giả, Văn hóa thời hội nhập, NXB Trẻ – Tia Sáng, 2006; Nhiều tác giả, Người Việt (Phẩm chất & thói hư – tật xấu), NXB Thanh Niên, 2008.

[3] Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, Bốn Phương, Sàigòn, 1951, tr.23.

[4] Nguyễn Văn Huyên, Văn minh Việt Nam, NXB Hội Nhà Văn, 2005, tr. 52-53.

[5] Trần Đình Hượu, Đến hiện đại từ truyền thống, NXB Văn Hoá, in lần thứ hai, 1996, tr. 394-395.

[6] Trần Đình Hượu, sđd., tr. 390-391.

[7] Ibidem, tr.275-276.

[8] Ibidem, tr. 345.

[9] Ibidem, tr. 303.

[10] Nguyễn Khải, Đi tìm cái tôi đã mất, Tùy bút chính trị – 2006, số 5.

[11] Nguyễn Huệ Chi, “Từ Chi – Anh tôi“, www.talawas.org, ngày 11.8.05. Xc. Trần Đức Thảo, Vấn đề con người và chủ nghĩa “Lý luận không có con người“, Tp. HCM, 1988. 

[12] Nguyễn Đăng Mạnh, Hồi ký, Hà Nội 2008, 53.

[13] Đặng Phong, Tư duy kinh tế Việt Nam. Chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975-1989”, NXB Tri Thức, Hà Nội, 2008, 41.

[14] Dẫn theo Đặng Phong, sđd., 69.

[15] Hơn mười năm sau, trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ nghiên cứu dự thảo báo cáo chính trị cho Đại hội toàn quốc thứ VI, ngày 7-10-1986, Trường Chinh nhìn nhận: “Chúng ta đã phạm một số khuyết điểm sai lầm nghiêm trọng trong lĩnh vực xây dựng và quản lý kinh tế … Nguyên nhân chủ quan của chúng ta bao giờ cũng là chính. Rõ ràng là chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội quý báu … đáng tiếc là cho đến nay vẫn còn một số đồng chí chưa thấy đầy đủ tác hại sâu xa nhiều mặt của nó”.

[16] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 36, 1975, 412.

[17] Ibidem, 335.

[18] Đặng Phong, sđd., 124.

[19] Hoàng Tùng, Trường Chinh – Thân thế và sự nghiệp, trong Trường Chinh một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, 2002,153.

[20] Lê Đăng Doanh, Bài nói chuyện với các cán bộ, ngày 02/11/2004.

[21] Hội thảo “Phát triển các chiến lược kinh tế tri thức để cải tiến tính cạnh tranh”, tổ chức tại Seoul, ngày 14-18 tháng 7 năm 2008,

[22] Xem Hoàng Tụy, “Ba biện pháp cấp bách đưa giáo dục ra khỏi nguy kịch”, Tuổi Trẻ Chủ nhật, 28-12-2003, tr.8.

[23] Nguyên Ngọc, “Giáo dục ở nước ta hiện nay, đi ra bằng con đường nào?”, trong Những vấn đề giáo dục hiện nay…, sđd, tr. 261-263.

[24] Xem Hoàng Tụy và cộng sự, “Kiến nghị của Hội thảo về chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục”, trong Nhiều Tác giả, Những vấn đề của giáo dục hiện nay. Quan điểm & Giải pháp, NXB. Tri Thức, 2007,  tr. 31-48; Nguyên Ngọc, “Lại xôn xao chuyện triết lý giáo dục”, sđd., tr. 279-281; Phạm Hữu Quang, Thử bàn về triết lý giáo dục, Diễn Đàn Forum, ngày 25-2-2008; Phan Đình Diệu, Triết lý giáo dục bình đẳng, vì con người, Vietnam net, ngày 24-2-2008; Nguyễn Thái Hợp (Chủ biên), Tôn giáo – Giáo dục. Một cách tiếp cận, Tp. HCM, 2009; Trần Trung Phượng, “Sự cần thiết phải xây dựng một tư tưởng triết lý giáo dục mới”, tuần san CG & DT, số 1697,(03-09), 6-7.

[25] Albert Einstein, Thế giới như tôi thấy, NXB Tri thức, 2005, tr. 48-49.

[26] Nguyễn Khải,  Đi tìm cái tôi đã mất. Tùy bút chính trị, 2006, số 8.

Tác giả: Nguyễn Thái Hợp, Gm.
   dunglac@gmail.com